1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhà thơ Trần Nhuận Minh

14 922 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhà thơ Trần Nhuận Minh
Tác giả Trần Nhuận Minh
Trường học Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Giới thiệu về nhà thơ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh rể tôi công tác tại cơ quan lý luận tư tưởng văn hóa Quân đoàn 4 , biết tôi đang tìm tư liệu về một số tác phẩm thơ của nhà thơ Trần Nhuận Minh , để giúp tôi anh đã yêu cầu một số an

Trang 1

Giới thiệu đôi nét về con người và tác phẩm của nhà thơ Trần Nhuận Minh

Tên thật: Trần Nhuận Minh

Sinh năm: 1944 Nơi sinh: Nam Thanh - Hải Dương Bút danh: Trần Nhuận Minh, Trần Bình Minh

Thể loại: thơ, truyện ngắn

Các tác phẩm:

- Đấy là tình yêu (1971)

- Âm điệu một vùng đất (1980)

- Trước mùa mưa bão (1980)

- Thành phố bên này sông (1982)

- Nhà thơ áp tải (1989)

- Hoa cỏ (1992)

- Nhà thơ và hoa cỏ (thơ, 1993)

- Bản xônát hoang dã (2003)

Giải thưởng văn chương:

- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1980) - tập thơ Âm điệu một vùng đất

- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (1990) - tập thơ Nhà thơ áp tải

- Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (1979) - tập Trước mùa mưa bão

- Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng nhà nước về chuyên ngành văn học với hai tập thơ

+ Nhà thơ và hoa cỏ ( 1993 ) + Bản xonat hoang dã (2003 )

(Kèm theo Quyết định của Chủ tịch nướcSố /2007/QĐ-CTN, ngày tháng năm 2007)

Giới thiệu về thơ Trần Nhuận Minh

Mùa hè năm 2007 Tôi có dịp vào Bình Dương thăm anh chị tôi đang sống và làm việc ở đó Anh rể tôi công tác tại cơ quan lý luận tư tưởng văn hóa Quân đoàn 4 , biết tôi đang tìm tư liệu về một số tác phẩm thơ của nhà thơ Trần Nhuận Minh , để giúp tôi anh đã yêu cầu một số anh em trong quân đoàn

hỗ trợ Vô tình tôi biết đến “ Bản Xonat hoang dã “ của ông xuất bản năm 2003 do nhà xuất bản Văn học ấn hành Tập thơ đã được Tặng thưởng Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam , và vào ngày 10/3/2007 hai tập thơ “ Bản Xonat hoang dã “ và “ Nhà thơ và hoa cỏ “ của ông đã nhận giải thưởng Hồ Chí Minh chuyên ngành văn học

Cũng vô tình đọc Văn nghệ Quân Đội số 609 ,nhà báo Nguyễn Xuân Đức có bài viết về tập thơ này Nhân đây xin giới thiệu đến các bạn một phần nào đó về Trần Nhuận Minh và những bài thơ của ông

Thơ Trần Nhuận Minh

( Nguyễn Xuân Đức )

Những nhà thơ đích thực bao giờ cũng từ trực cảm tinh tế của mình tiến sát tới sự mình triết phương Đông để cảm nhận chân lý

Trong “ Nhà thơ và hoa cỏ “ Trần Nhuận Minh không đứng ngoài quan sát một cách duy lý mà tự hòa đồng để cảm nhận số phận của mỗi kiếp người Có thể nói anh không chỉ sống có một kiếp người

Trang 2

Ngay từ “ Nhà thơ và hoa cỏ “đặc biệt “ Bản xonat hoang dã “ Trần Nhuận Minh muốn vươn lên hòa đồng với trời đất để cảm nhận , để minh triết chân lý Anh đã:

Giầm mình trong than như cái rễ cây Hoàn toàn tự do trong đất tối

( Đá cháy )

Vâng , chỉ hoàn toàn hòa đồng vào than , tan biến vào than , tự do trong đất tối mới có thể cảm nhận :

Máu ta chảy qua địa tầng đen thẳm

( Bừng thức )

Phải tan thành mùa thu mới thấy:

Về thôi em , vàng thu đã rụng rồi Buồn và sáng những mảnh hồn xao xác

( Lời từ biệt )

Lần đầu tiên đọc câu thơ này , tôi cứ bâng khuâng tự hỏi câu thơ ấy từ đâu tới ! Liệu với tư duy duy lý thì có thể viết được câu thơ này chăng

Anh có phải đạo sĩ ngồi thiền để đạt tới minh triết không mà có thể quán tưởng đến độ

Thời gian lộng lẫy vàng …

Ta cởi trói các giác quan Phút chốc trăng ngập đầy tim phổi Không phải ta thở mà trăng thở Không phải ta nghe và trăng nghe Không phải ta nghĩ mà trăng nghĩ …

Vợ ta lên sân thượng tìm ta Xáo vào chân ta mà nàng không biết

Ta ôm nàng mà nàng không hay

( Bản xonat hoang dã – tr.13 )

Và :

Ôi đêm nay nhiều trăng quá

( Bản xonat hoang dã – tr.13 )

Khi hòa đồng với đất trời thì các nhà thơ , các nhà tư tưởng luôn đụng tới “ Những vấn đề muôn thuở của kiếp người “ ( Nhận xét của Iuri Konhetxki về thơ Trần Nhuận Minh )

Cuộc đời đến đau ư ? Con người là gì vậy ? Họa phúc có hay không ? Kiếp sau ai đã thấy ?

Trước những câu hỏi ấy mỗi con người như :

Những mảnh hồn thao thức

Bơ vơ trong sương mù

( Yên Tử - 1983 )

Phải đến 1992 trong “ Bừng thức “ – sau này anh đã lấy thay lời tựa cho “ Bản xonat hoang dã “ - mới xuất hiện câu hỏi

Trang 3

Hư ảo hỡi !! Giữa vô cùng Còn Mất

Ta là ai ? Thăm thẳm có Ta không

Những nhà tư tưởng thường tách thành bốn câu hỏi để suy ngẫm , để suy ngẫm , để chiêm nghiệm :

Ta là ai ? Ta từ đâu đến ? Ta đến đây để làm ? Ta sẽ về đâu ? Khúc triết sâu sắc nhưng vẫn có gì hơi duy lý Câu hỏi của Trần Nhuận Minh rất thơ , nó mông lung , đa nghĩa , rất gần với sự minh triết Ta

là ai ? Thì khá rõ ràng nhưng “ Thăm thẳm có ta không ? “ thì lại gợi biết bao trăn trở , suy tư : Ta từ cõi thăm thẳm xuống đây chăng – thiên hạ - rồi ta lại về cõi thăm thẳm chăng ? Nhưng , có cõi thăm thẳm không ? Nó là cõi nào vậy ?

Platon từng nói : Liệu có phải ta hiện diện trên trái đất này là cái bóng của ta ở thăm thẳm chăng : hay như các nhà duy vật quan niệm : ta ở đây tự tạo ra cái bóng mình ở cõi thăm thẳm …Và sự liên tưởng

có thể đẩy tới mọi chân trời … để cuối cùng chỉ còn

Ta một mình với một Đấng Mê Tơi

( Bừng thức )

Vâng , các nhà thiền sư , các hiền triết trong tĩnh lặng sẽ linh cảm về bản thể mà mỗi người có cách gọi tên riêng Phương tây gọi Thượng Đế : Phương đong gọi Trời : Tạo hóa thích ca gọi Chân Như : Lão tử gọi Đạo : Tago gọi một chữ Người và coi là bạn , là thày , là chúa tể : Các nhà khoa học hiện nay còn đặt một cái tên rất hiện đại : Trường thông tin toàn vẹn Trần Nhuận Minh gọi là Đáng Mê Tơi – hơi hài hước một chút – âu cũng là cái “ nghiệp “ của anh

Không chỉ cảm nhận mà anh thấy mình hòa làm một Đấng Mê Tơi trong linh cảm “ Bừng thức “ Cùng với quyền năng của Đấng Mê Tơi thi sĩ – thì có lạ gì Ngài không đem giọt rượu hạnh phúc :

Giọt rượu hồng ta vẩy khắp nhân gian

( Bừng thức )

Cũng với quyền năng ấy thì có gì ngăn trở khi Ngài cho chàng Trương Chi sống lại để chèo thuyền gỗ bạch đàn trên dòng sông Cửa Lục

Sau cái phút thăng hoa ấy anh muốn hư tâm để hòa làm một với Đấng Mê Tơi , để hóa thành chân lý Anh đã cố gắng biết bao mong tự xóa dấu chân mình ; tự xóa những cay đắng dập vùi , những yêu ghét và đau khổ ; tự xóa đi bao khát vọng để :

Như một sợi tơ trời Đến mức có thể tự bay lên

Và mất tích trong thinh không Như nó không hề có

( Bản xonat hoang dã – tr23 )

Và để rồi :

Hỡi Đấng Mê Tơi Bây giờ tôi sạch nợ trần ai

……

Những sung sướng Không còn làm tôi sung sướng

Những đau khổ Cũng không còn làm tôi đau khổ

( Bản xoonat hoang dã – tr.49 )

Anh mong ước :

Trang 4

Tôi gõ vào ngực tôi Tôi ơi , mở ra Cánh cửa tôi đã mở

Và tôi thấy chẳng có gì

( Bản xonat hoang dã – tr.37 )

Trong “ Hoàng lão tâm pháp “ Lão tử dạy người ta luyện tinh hóa khí , luyện khí hóa thần , luyện thần hoàn hư , đấy là con đường trở về với Đạo Và chỉ khi hoàn hư – Tôi chả là gì – cũng là lúc có thể gõ vào núi Bài Thơ để một

Thiếu nữ dịu dàng

E lệ cười xao xuyến

Hiện ra , gõ vào mặt nước vịnh Hạ Long để chàng Trương Chi hiện ra và gõ vào áng mấy để bầu trời xanh hiện ra với “ Những ngôi sao vàng như mắt quỷ “ vỡ tung tóe Không phải chỉ riêng Trần Nhuận Minh mà tự cổ chí kim biết bao người mơ ước quyền năng ấy !

Tuy nhiên ở chỗ khác anh lại hết sức chân thật :

Đấng Mê Tơi hỏi tôi Chả lẽ người cũng muốn gì ư Nhưng khi Đấng đâu có nghe tôi trả lời Ngay cả khi Đấng nhập vào hồn tôi

Đấng cũng tít tắp xa

( Bản xonat hoang dã – tr.41 )

Và đây mới đích thực Trần Nhuận Minh

Ta bàng hoàng trước cái không thể biết Đang nhào nặn ta trong cõi vu cùng Chả lẽ những chấm người mong manh trên trái đất Lại biểu hiện mơ hồ huyền bí của không trung

( Vô thức – Nhà thơ hoa và cỏ )

Cái mong muốn đạt tới chân lý đan xen với cảm giác bất lực không sao đạt tới Ai đã từng tu dưỡng

lẽ Đạo mà không bắt gặp cảm giác này

Thật ra thì Trần Nhuận Minh đặt ra cho mình một sứ mạng khiêm tốn và thiết thực hơn Anh muốn lắng nghe những âm thanh từ cây đàn của Đấng Mê Tơi , một cây đàn không thơ mà :

Muốn nhìn ư Phải nhắm mắt lại Muốn nghe ư Phải bịt tai lại

Mới có thể thấy được

Những bí ẩn xanh rờn Dạt dào tuôn chảy tự trời cao

Và để cho:

Cơ thể tôi vang động Nhưng âm thanh không có âm thanh

( Bản xoonat hoang dã –tr.29,30 )

Trang 5

Anh muốn họa lại bằng cây đàn thơ mà anh “đã lấy trộm “

Của những đêm trăng buồn Ngón tay hoang sơ của gió

Đã gẩy lên Tiếng nghẹn ngào Của những ngôi sao xanh Biêng biếc chết trên đầu ngọn cỏ

( Bản xonat hoang dã – tr.28 )

Anh muốn mọi người cùng được nghe

Những bí truyền của Đấng Mê Tơi Lặng lẽ theo giọt mưa xuống đất

… Và tiếng gào của đá Vào lúc nửa đêm Tiếng rì rào của gốc cây khô Vào cuối buổi đông tàn Tiếng đanh ròn tóe lửa Những cú nhảy giao hoan Của lũ côn trùng

( Bản xonat hoang dã – tr.75 )

Cùng anh nghe thấy chính anh:

Rất có thể tôi là vang vọng mơ hồ Của những ký thác xa xăm

Mà cha ông ta xưa từng bỏ lửng Giữa những trang sách

( Bản xonat hoang dã – tr.47 )

Nghe trong

Ánh trăng vặng lặng

Mà thổi thành gió hiu hiu Trong hồn cỏ cây

Mà ngân vang trong mọi tế bào tôi Như một tiếng đàn xa

( Bản xonat hoang dã – tr.61 )

Thời đại ngày nay ,các nhà khoa học nói chung và các nhà vật lý đỉnh cao nói riêng đang muốn từ phương pháp duy lý phương Tây vươn tới sự minh triết phương Đông , nhằm giao hòa với trường “ý thức thuần khiết không giới hạn “

Thơ lại càng như vậy Từ trực cảm với tình yêu ( theo nghĩa rộng ) làm trung tâm chuyển sang duy lý

mà ta thường gọi là thơ trí tuệ (!) tất yếu sẽ dẫn thới sự minh triết trong thơ

Thao hướng này Trần Nhuận Minh muốn đi trên đường của mình với 23độ nghiêng giống như trái đất nghiêng 23 độ trên mặt phẳng hoàng đạo khi bay trong quĩ đạo để tạo nên bốn mùa xuân , hạ , thu , đông và toàn bộ sự sống diệu kỳ trên hành tinh xanh yêu dấu của chúng ta

Mắt nào em ném trao anh Dao cau bổ dọc toang mành trời đêm

Trang 6

Môi nào rót mật say mềm

Mà giờ rơi rớt bên thềm lắt lay

Phút lâm chung của cụ Hãn

Nhờ ông viết giùm bài báo

Xin lỗi hàng ngàn trẻ con

Một đời tôi chuyên đánh chúng

Có đứa đến hộc máu mồm

Không tiền mà muốn xem phim

Chúng có trăm mưu ngàn kế

Vẫn không che nổi mắt tôi

Chiến sĩ thi đua là thế !

Trèo tường chui qua cửa sổ

Quấn mình trong tấm màn nhung

Nằm bẹp dưới gầm ghế lớn

Tôi cũng moi ra tận cùng

Đất nước chả giàu lên được

Dù tôi chắt bóp từng đồng

Muốn thiện lại thành ra ác

Có ai giống với tôi không ?

- Thưa cụ khó mà viết báo

Tôi làm thơ có được chăng ?

Úp mặt vào tường, từ đó

Cụ im chẳng nói chẳng rằng

Cụ đã giã từ cuộc sống

Vong linh muốn được thanh nhàn

Thương ôi !

- Hỡi các bạn trẻ

Tha cho lỗi lầm thế gian

Dặn con

Chẳng ai muốn thành hành khất

Tội trời đày ở nhân gian

Con không được cười giễu họ

Dù họ hôi hám úa tàn

Trang 7

Nhà mình sát đường, họ đến

Có cho thì có là bao

Con không bao giờ được hỏi

Quê hương họ ở nơi nào

Con chó nhà mình rất hư

Cứ thấy ăn mày là cắn

Con phải răn dạy nó đi

Nếu không thì con đem bán

Mình tạm gọi là no ấm

Ai biết cơ trời vần xoay

Lòng tốt gửi vào thiên hạ

Biết đâu nuôi bố sau này

Thơ Tình Ngày Không Em

Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng buộc em bao tội lỗi

Em đứng lặng mặt úp vào bóng tối

Khổ thân em có nói được gì đâu

Nếu biết rằng sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng hẹn em đêm ấy nữa

Để quá khứ chỉ còn là thương nhớ

Và tương lai chí ít cũng ngọt ngào

Nếu biết rằng ta sẽ chẳng gặp lại nhau

Anh đã chẳng trách em yêu người khác

Điều đơn giản bây giờ anh mới biết

Thì em xa, em đã quá xa rồi…

Đất Mũi

Hạt mưa li ti, lao vào rát mặt

Gió ù tai, phải nói bằng tay

Sông Cửa Lớn, xuồng chồm như ngựa trận.

Đồn biên phòng đỏ một sắc cờ bay.

Tôi nâng giọt phù sa vạn dặm

Phiêu bạt ngàn năm trong kênh rạch mỡ màu

Để một thoáng đất trời mộng ảo

Sinh thành cho Tổ quốc Mũi Cà Mau.

Sinh thành cho Tổ quốc Mũi Cà Mau

Bao căn lều buộc ngang rừng ẩm ướt

Những chiếc ghe vượt mưa bão bời bời

Cây đước sống choãi toàn thân giữ đất

Chết nhô lên phơi xương trắng như người.

Sóng biển đỏ ngầu ngổn ngang hoang dại

Cuồn cuộn táp vào tôi khi tôi đứng dầm chân như cây đước cuối cùng Chợt thấy người xưa giành lại giang sơn trên yên ngựa

Cuối trời, dựng kiếm, nhớ Thăng Long…

Trang 8

Màu Xưa

Em hắt lên anh màu thu biếc người

Em như vầng trăng sang bên kia trời

Mắt môi nào xưa thôi buồn mà chi

Gió đã lay rừng muôn chim bay đi

Bâng khuâng tìm ai cho gai lòng nhau

Đã qua sương thu rơi vàng hoa cau

Đã qua nồng hè mưa lan tan mau

Đã qua hanh đông lá đầy vườn sau

Còn chăng hương xuân trong đôi hoa tay

Chạm vào môi em hoang vu khô gầy

Xoa lên má em xanh mờ hồn xưa

Vuốt trên mi em mặn nhòa hơi mưa

Chiều Xanh

Có một chiều xanh thẳm ở trong nhau

Gian gác nhỏ mưa lan mờ bến bãi

áo em ngắn hết một thời con gái

Nỗi yêu anh còn biết giấu vào đâu

Có một chiều xa vắng ở bên nhau

Gió non thổi bậc thềm già nắng quái

Tóc em rối trăng lên chưa kịp chải

Đôi giọt buồn mơ mộng đọng trong mây

Có một chiều giếng đá lá khô bay

Con đường dốc em đi không trở lại

Mây trinh nữ che nghiêng trời xóm bãi

Chim le le gọi bạn cuối đầm sâu

Có một chiều yên ấm ở xa nhau

Anh chợt thấy vầng trăng rằm cũng khuyết

Tà áo bồng bềnh cơn gió rét

Thổi nao lòng từ tuổi chớm hoa bay

Nguyễn Du

Đến đâu con cũng gặp Người Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa Hạc Vàng một bóng lầu xa

Hồ Nam úa nắng chiều tà hanh heo Tiệc to thường ở nơi nghèo Đồng ngô khô xác, mái lều gió lay Người xưa đi sứ qua đây Bùn lưng bụng ngựa, sông đầy thuyền trôi

Cỏ cây, thành lũy khác rồi

Trang 9

Hoàng Hà đã cạn, thơ Người vẫn sâu Thời nào thì cũng như nhau Nõi buồn li biệt, nỗi đau dối lừa Tiền Đường sầm sập đêm mưa Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều Nghiệp Thành còn tiếng quạ kêu Lâm Tri bến cũ, cầu treo rực đèn Sắc tài chi để trời ghen Người đâu phải nước đánh phèn cho trong Cõi đời đâu cũng long đong Văn chương bạc phận, má hồng vô duyên Bời bời những cuộc đỏ đen Chính trường sấp mặt, đồng tiền xoay ngang

Đặt chân lên đỉnh Thiên Đàn Bốn bề mây trắng thu vàng lá rơi… Bâng khuâng con lại thấy Người Vái Người, con đứng ngang trời Trung Hoa…

Cố Cung, 21-9-1999

Nhà thơ áp tải

Tặng nhà thơ Thanh Tùng

Bạn từ Hải Phòng sang

Toả đầy sân mùi biển

Nói đủ mọi thứ chuyện

Tay vung hai phía trời

Bạn làm nghề áp tải

Đường bộ và đường sông

Thỉnh thoảng lại gặp cướp

Còn trộm thì mênh mông

Đất nước có một thời

Kẻ gian nhiều như nấm

Không ngờ một nhà thơ

Lại sống bằng nắm đấm

Đã từng cho một "chưởng"

Những thằng đến "mổ" hàng

Cũng từng bị nó đánh

Thuốc xoa vài ba thang

Đã từng uống chè vặt

Đói đến vàng mắt ra

Cũng từng ngày hai bữa

"Thả phanh" nhai thịt gà

Trang 10

Tải hàng không được mất

Đêm đêm thức cùng sao

Thơ trong đầu nổi loạn

Mà chẳng nên bài nào

Bạn "choảng" liền một mạch

Bọn sống chỉ vì tiền

Đứa viết gì cũng giả

Lại được đài, báo khen

Khi buồn đừng uống rượu

Lúc vui chớ lắm lời

Bạn rằng: Tao chấp tất

Miễn hàng đưa đến nơi

- Hãy áp tải sự thật

Đến những bến cuối cùng!

Chai rượu ngang dốc ngược

Đứng cùng trời

Uống chung

Chùm thơ lục bát của Trần Nhuận Minh VỚI BẠN

Mùa xuân như chén rượu đầy

Bạn ơi, cạn nỗi riêng này, với ta

Anh em ruột thịt trong nhà

Không chung chén rượu cũng là người dưng

Lòng vui thì uống rượu mừng

Lòng buồn thì uống để cùng thương nhau

Buồn vui trắng nửa mái đầu

Đời người đắng ngọt nông sâu đã từng Bạn ơi, nâng chén rượu mừng

Bao năm bom đạn, biển rừng, có nhau Sóng cao chẳng nản tay chèo

Gian nan cũng chẳng đặt điều kêu ca

Gần xa bạn đến thăm nhà

Mặn chua, đĩa mắm, quả cà, cũng ngon Làm thơ ở dốc Bồ Hòn

Câu khôn câu dại, câu còn dở dang

Niềm thơ đã chót đa mang

Còn mong của rỗi, tâm nhàn, được sao Bạn ơi, nâng chén rượu đào

Đắm say, bông bụt nghiêng vào mái hiên Một trời, một bạn, một em

Một thơ với một nỗi niềm khôn nguôi

Ngày đăng: 13/09/2013, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w