+ “Chịu” không phải “nhận”: • cũng là nhận lời nhưng là nhận lời trong tâm thế bị ràng buộc, khó có thể chối từ • sự thấu hiểu những thiệt thòi, hy sinh, khó xử nếu Thúy Vân nhận lời Thú
Trang 1ÔN TẬP NGỮ VĂN 10 CHÍ KHÍ ANH HÙNG (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
1 Giới thiệu chung
– Đoạn trích “Chí khí anh hùng” từ câu 2213 đến câu 2230, thuộc phần “Gia biến
và Lưu lạc” trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Đoạn trích miêu tả người anh hùng Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường
– Sau khi chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, Thúy Kiều và Từ Hải chung sống hạnh phúc bên nhau Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, nàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra
đi
2 Khái quát chung
– Từ Hải – giấc mơ anh hùng của Nguyễn Du – mẫu anh hùng cái thế, phi thường trong xã hội xưa Nhân vật anh hùng hoàn hảo cả về ngoại hình lẫn tính cách: Ngoại hình: “Râu hùm hàm én mày ngài/Vai năm tất rộng thân mười thước cao”; tính cách quy ước của người anh hùng xưa: với cái ngông ngang tàng: “Chọc trời khuấy đất mặc dầu/Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”
– Trong đoạn trích “Chí khí anh hùng” để làm nổi bật hình tượng người anh hùng
Từ Hải, Nguyễn Du đã đặt nhân vật này vào tình huống thử thách để thấy được những phẩm chất anh hùng Người xưa thường nói: anh hùng khó qua ải mĩ nhân Xưa nay những câu chuyện kinh điển từ chủ đề “anh hùng khó qua ải mĩ nhân” được người đời truyền tụng lại, như: Trụ Vương – từng là một vị vua văn võ song toàn cuối đời nhà Thương vì mê đắm Đát Kỷ - người phụ nữ xinh đẹp nhưng độc
ác, mà trở nên ham mê tửu sắc dẫn nhà Thương tới diệt vong sau thế 6 kỉ tồn tại Người anh hùng Từ Hải là một bậc anh hùng “giang hồ quen thói vẫy vùng” ấy thế
mà vì Thúy Kiều – người phụ nữ với vẻ đẹp “Một hai nghiêng nước nghiêng
nghiêng thành” mà tạm dừng chân yên bề gia thất
– Nhưng nếu người anh hùng trong giấc mơ của Nguyễn Du chỉ có thế thì tầm thường quá Vậy phải chăng Thúy Kiều là vật cản khát vọng xây dựng cơ đồ? Sau khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, Từ Hải đã có mĩ nhân, nhưng khát vọng “vẫy vùng” vẫn chưa thỏa chí Điều Từ Hải muốn là tạo dựng cơ đồ lớn lao để xứng đáng với Thúy Kiều vừa chẳng hổ thẹn với “chí làm trai”
3 Cảm nhận
a Hoàn cảnh chia ly và hình ảnh người anh hùng Từ Hải lên đường (4 câu đầu):
Trang 2“Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”
– Hoàn cảnh chia ly: “Nửa năm hương lửa đương nồng/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” “Nửa năm” là khoảng thời gian Từ Hải và Thúy Kiều chung sống bên nhau, kể từ thời điểm Từ Hải cứu nàng ra khỏi lầu xanh Cụm từ “hương lửa đương nồng” cho thấy khoảng thời gian “nửa năm” ấy hai người đã chung sống rất hạnh phúc, mặn nồng khó có thể rời xa Câu thơ thứ hai “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” tạo ra diễn biến bất ngờ trong chuyện tình Từ Hải – Thúy Kiều: chí làm trai trong bậc anh hùng trượng phu “đầu đội trời chân đạp đất” bừng thức tỉnh sau khoảng thời gian mê đắm hạnh phúc lứa đôi Về giá trị nghệ thuật, động từ “thoắt” linh hồn, thần thái của câu thơ, biểu đạt chính xác sự bừng tỉnh nhanh chóng, đột ngột niềm khao khát xây dựng cơ đồ của người anh hùng Từ Hải Đồng thời, động từ “thoắt” phần nào lột tả được tính cách của Từ - dứt khoát, mau
lẹ
– Hình ảnh người anh hùng Từ Hải lên đường mang tầm vóc vũ trụ, kì vĩ và ngang tàng vô cùng: “Trông vời trời bể mênh mang/Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”
+ Cách “Trông vời” không chỉ là ánh nhìn ra khoảng không trời đất mênh mông
mà còn là ánh nhìn chứa đựng niềm khao khát chinh phục mãnh liệt
+ Hình ảnh người anh hùng Từ Hải ra đi được đặt trong không gian rộng lớn, bao
la của trời bể Dẫu Từ Hải ra đi cô độc với một mình, một gươm, một ngựa đơn độc nhưng sự tương phản với không gian rộng lớn không làm hình ảnh Từ Hải nhỏ
bé mà đầy kiêu hùng, sánh ngang vũ trụ, đất trời bao la Sự tương phản ấy cũng tương đồng với hình ảnh người tráng sĩ “cầm ngang ngọn” giáo bảo vệ giang sơn trong bài thơ Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão): “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” vô cùng tráng lệ
+ Đằng sau Từ là mái ấm gia đình, là người phụ nữ, là người tri kỉ nhưng tư thế Từ
ra đi không hề lưu luyến, bịn rịn mà ngược lại, đầy dứt khoát, không ngoái đầu trông lại: “lên đường thẳng dong” Tư thế Từ Hải ra đi đầy lãng mạn, kiêu hùng
b Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải (10 câu tiếp):
“Nắng rằng: “Phận gái chữ tòng”,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri”,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình ?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường,
Trang 3Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu ?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì !”
Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải – tình huống thử thách để thấy rõ phẩm chất anh hùng của người anh hùng Từ Hải – giấc mơ người anh hùng của Nguyễn
Du
– Lời Thúy Kiều: “Nằng nằng: “phận gái chữ tòng”/Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi !” Kiều ứng xử theo lẽ thường của người vợ “xuất giá tòng phu”: muốn đi theo chăm sóc, chia sẻ ngọt bùi cùng Từ Hải kì thực không phải vì nghĩa vụ, trách nhiệm mà xuất phát từ lòng tự nguyện: vì Thúy Kiều yêu chồng và vì Thúy Kiều
nợ ơn Từ Hải Qua đó, phẩm chất của nàng được bộc lộ: thủy chung, một lòng son sắt Hiểu được tấm lòng Kiều, sao Từ Hải nỡ đành từ chối
– Lời Từ Hải:
+ Lời từ chối và khuyên nhủ: “Từ rằng: “tâm phúc tương tri/Sao chưa thoát khỏi
nữ nhi thường tình” Lời từ chối của Từ là lối nói sắt đá, kiên quyết nhưng không
hề vô tình Từ viện đạo tri kỉ để từ chối Thúy Kiều: “tâm phúc tương tri” – hai người là tri kỉ, hơn ai hết, Thúy Kiều là người hiểu rõ khát vọng xây dựng cơ đồ không thể không thực hiện mà chấp thuận để Từ Hải ra đi Đồng thời Từ Hải cũng khuyên Thúy Kiều thoát khỏi tình cảm nam nữ thông thường mà nghĩ đến hạnh phúc phi thường hơn: cùng chung vai cai trị thiên hạ với Từ Hải Hạnh phúc phi thường ấy được Từ Hải bộc bạch qua lời hứa hẹn với Thúy Kiều
+ Lời hứa hẹn: “Bao giờ mười vạn tinh binh/Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường/Làm cho rõ mặt phi thường/Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia/Bằng nay bốn
bể không nhà/Theo càng thêm bận biết là đi đâu?/Đành lòng chờ đó ít lâu/Chầy chăng là một năm sau, vội gì !” Từ Hải mong muốn xây dựng cơ đồ huy hoàng để xứng đáng với Thúy Kiều Khi nào xây dựng được sự nghiệp, Từ Hải hứa hẹn sẽ đưa Thúy Kiều lên địa vị phu nhân để nàng nở mặt, nở mày khi ở bên Từ Hải Những hình ảnh mang tính ước lệ như “mười vạn tinh binh”, “Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường” cho thấy được khát vọng lớn lao và đầy tự tin của Từ Hải Khát vọng của Từ Hải vô cùng lớn lao, phi thường của một bậc vương bá Đồng thời, Từ Hải cũng rất tự tin quả quyết rằng sẽ hoàn thành sự nghiệp bá vương kinh thiên động địa chỉ trong vòng một năm Quá đó mà ta thấy được tính cách
“đồi đội trời chân đạp đất” của người anh hùng Từ Hải
c Hình ảnh Từ Hải ra đi
– Hình ảnh Từ Hải hoành tráng, kì vĩ: “Quyết lời dứt áo ra đi/Gió mây bằng đã đến
kì dặm khơi” Lời nói, cử chỉ của Từ Hải khi ra đi cũng đầy quả quyết và dứt khoát của một bậc anh hùng làm nên việc lớn Hình ảnh Từ Hải ra đi mang tầm vóc
Trang 4hoành tráng, kì vĩ giữa càng khôn được Nguyễn Du xây dựng với bút pháp lý
tưởng hóa: trong đoạn mở đầu “Trông vời trời bể mênh mang/Thanh gươm, yên ngựa lên đường thẳng rong” và kết thúc bằng hình ảnh cánh chim bằng trong
không gian của “gió mây”, “dặm khơi” Ở đây tác giả đã sử dụng kết cấu đầu cuối tương ứng góp phần làm nổi bật tầm vóc của người anh hùng Từ Hải
– Với bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa, Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải – người anh hùng hoàn hảo trong giấc mơ của Nguyên Du
d Nghệ thuật xây dựng nhân vật
– Khi xây dựng nhân vật anh hùng Từ Hải, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa nhân vật Bên cạnh bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa, Nguyễn
Du cũng đồng thời sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, tượng trưng gây dựng nên tầm vóc phi thường tiêu biểu (mẫu hình) cho người anh hùng trong văn học trung đại Một số cụm từ, hình ảnh ước lệ truyền thống, như: “trượng phu”, “thanh gươm yên ngựa”, “mặt phi thường”, (chim) bằng, cử chỉ dứt khoát, mạnh mẽ “lên đường thẳng rong”, “quyết lời dứt áo ra đi”,…
– Đồng thời, Từ Hải còn là người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ thông qua nghệ thuật tương phản, đối lập quen thuộc của bút pháp lãng mạn Đối lập giữa hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ rộng lớn như: “bốn phương”, “trời bể mênh mang”, “gió mây”,
“dặm khơi”,…và hình ảnh Từ Hải: một người, một gươm, một ngựa hay chim bằng Nhưng chính tư thế kiêu hùng và hình ảnh ước lệ mang nét hồn gợi tầm vóc
đã làm nổi bật hình tượng người anh hùng giữa càng khôn
*Tài liệu tham khảo
1 SGK Ngữ văn 10, Cơ bản, tập 2, NXB Giáo dục, 2016
2 SGV Ngữ văn 10, tập 2, NXB Giáo dục
3 Phân tích và bình giảng Ngữ văn 10, NXB Giáo dục
4 Nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác trên internet và sách tham khảo
TRAO DUYÊN (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
I GIỚI THIỆU ĐOẠN TRÍCH
– Vị trí: Sau đêm thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, Kim Trọng phải về hộ tang chú ở Liêu Dương Tai nạn ập đến khi gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan Vương Ông và Vương Quan bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, tài sản bị cướp hết Kiều buộc phải bán mình chuộc cha và em Đêm trước ngày phải theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng
Trang 5– Nội dung: Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em.Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ,mình buộc phải phụ tình với Kim Trọng
II PHÂN TÍCH
1 Thúy Kiều nhờ cậy, thuyết phục TV thay mình kết duyên với KT
a Kiều thuyết phục Thúy Vân
– Lời lẽ tha thiết gửi gắm:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
+ “Cậy” (không phải “nhờ”):
• Nhờ với tất cả sự hy vọng, tin tưởng, tha thiết gửi gắm, phó thác tuyệt đối vào
em
• Âm nặng như dồn nén, chuyên chở, chứa chất sức nặng của một cõi lòng đang quằn quại, khó nói của một lời gửi gắm, nương tựa, trối trăng, một lời khẩn khoản thiết tha
+ “Chịu” (không phải “nhận”):
• cũng là nhận lời nhưng là nhận lời trong tâm thế bị ràng buộc, khó có thể chối từ
• sự thấu hiểu những thiệt thòi, hy sinh, khó xử nếu Thúy Vân nhận lời (Thúy Vân
sẽ phải kết duyên với người mình chưa hề quen biết) => Đòi hỏi phải có sự chia sẻ, thấu hiểu, cảm thông
– Thái độ, hành động khẩn khoản, chân thành: “lạy…thưa”
+ Phi lí: thay đổi thứ bậc, chị phải lạy em
+ Hợp lí:
• Tạo không khí thiêng liêng, trịnh trọng, hé lộ tính chất hệ trọng của sự việc sắp nói tới
• Kiều là người chịu ơn, muốn bày tỏ lòng biết ơn trước sự hy sinh to lớn của em, với Kiều thì Vân là ân nhân của mình vì đã hy sinh hạnh phúc cá nhân mình vị chị
=> Hiểu rõ việc mình sắp nhờ cậy em là một việc hết sức hệ trọng và tế nhị, Vân sẽ khó xử, vì vậy Kiều mở đầu lời trao duyên bằng những lời lẽ tha thiết gửi gắm, khéo léo ràng buộc và bằng cả một thái độ khẩn khoản, chân thành, đầy kính cần khiến Vân khó lòng từ chối
b Kiều tâm sự với Thúy Vân
* Về cảnh ngộ éo le của mình:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Trang 6Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Tình yêu thơ mộng với chàng Kim Thực tế đắng cay
+ Điệp ngữ “Khi ngày…khi đêm” + phép đối ngày > < đêm thể hiện sự gắn bó sâu nặng của 2 người
+ Quạt ước, chén thề: những kỉ niệm tình yêu hạnh phúc, những lời thề thủy chung son sắt
=> Tình cảm sâu nặng, thắm thiết, khó có thể phai mờ + “Giữa đường đứt gánh tương tư”: với người xưa, tình yêu là gánh nặng, lúc tình cảm đang đậm sâu nhất, đắm say nhất thì gánh đứt, không sao mang xách lại được
+ “Sóng gió bất kì”: hình ảnh ẩn dụ cho tai họa bất ngờ ập đến phá tan tất cả, gia biến do thế lực PK gây ra
=> Thực tế đắng cay,
=> Thực tế tàn nhẫn buộc nàng phải chọn lựa giữa “tình” và “hiếu”: ý thức sâu sắc
về tình cảnh ngang trái, éo le của mình + sự chọn lựa khó khăn, nghiệt ngã
• Quyết định: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
+ “Keo loan” là loại keo bền nhất được làm từ máu chim loan => Hy vọng Thúy Vân sẽ nối lại tình duyên với KT một cách bền chặt, dài lâu, vĩnh cữu chứ không bị đứt gánh giữa đường như Thúy Kiều
+ “Mối tơ thừa”: với TK thì đó là mối duyên nhưng với Thúy Vân đó là mảnh duyên do chị trao lại, là mối duyên không trọn vẹn => ý thức sâu sắc về sự thiệt thòi của Thúy Vân
+ “Mặc em”: quyết định phó mặc, dứt khoát, trông cậy mọi việc vào em
=> Lời Kiều nói với Vân tưởng như chỉ kể lể đơn thuần để Vân hiểu được tình cảnh của mình nhưng thật ra, bên trong đó là cả tấm lòng hiểu mình, hiểu người, hiểu đời và cả những đớn đau, mất mát, chia lìa
c Lời Kiều thuyết phục Thúy Vân
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
• “Ngày xuân”: ẩn dụ cho tuổi xuân của người con gái Vân vẫn còn trẻ, còn hạnh phúc, còn một tương lai đầy hứa hẹn (đồng thời ngầm so sánh với mình nay chẳng còn gì cả mất đi tình yêu, Kiều xem như mình đã không còn tuổi xuân, hy vọng, không còn hạnh phúc)
• “Xót tình máu mủ”: cách nói bình dân tác động đến tình cảm của TV, hãy vì tình cảm chị em ruột thịt thiêng liêng mà thay chị gánh lấy trách nhiệm nặng nề “thay lời nước non”
• “Thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”: thành ngữ dân gian thể hiện cái chết để ràng buộc em (nghĩa tử là nghĩa tận) Thúy Kiều sẽ thanh thản, toại nguyện
vì dẫu chết vẫn mang tiếng thơm bởi là người có tình nghĩa Đồng thời nàng mơ hồ
Trang 7nhận ra tương lai tăm tối đang chờ đợi mình phía trước, đó là dự cảm về cái chết đang chờ đợi
=> Với cách nói đầy thương cảm, thống thiết, Kiều đã đưa ra những lý lẽ rất thuyết phục, vừa có lý vừa có tình để TV nhận lời trao duyên Lúc này, con người lý trí đã chiến thắng những đau đớn, yêu thương đang trỗi dậy trong lòng
2 Trao kỉ vật cho Thúy Vân và dặn dò những chuyện sau này
a Trao kỉ vật
– Lí trí mách bảo: quyết định trao kỉ vật
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
+ Chiếc vành: chiếc vòng xuyến đeo tay của những thiếu nữ, là tín vật kỉ niệm mà
KT đã tặng nàng
+ Bức tờ mây: tờ giấy có trang trí hình mây ghi lời thề nguyền đôi lứa
=> Những kỉ vật gắn bó với tình yêu sâu đậm giữa Kim – Kiều Kiều quyết định trao kỉ vật là hành động thể hiện sự dứt khoát trao duyên cho em, để thuyết phục, tạo niềm tin cho em và sự giải phóng cho mình : LÍ TRÍ
– Con tim trù trừ, do dự:
+ Nhìn thấy kỉ vật, bao kỉ niệm, tình yêu bỗng ùa về Trao kết kỉ vật nghĩa là hoàn toàn đoạn tuyệt với mối duyên này, kể từ giây phút đó chàng Kim sẽ vĩnh viễn không thuộc về nàng nữa => Nhận thức đầy đủ nỗi mất mát của tình yêu tan vỡ + Trong đau đớn tột cùng, Kiều cố gắng giữ lấy một chút an ủi nhỏ nhoi
• “giữ” không có nghĩa là trao hẳn, chỉ là “giữ” mà thôi
• “của chung”: Kỉ vật đó giờ là của chung 3 người, Kiều vẫn lưu luyến, níu kéo, vẫn muốn có sự tồn tại, hiện diện của mình trong những kỉ vật đó
=> Kiều có thể trao em chữ “duyên”(nhân duyên, duyên phận, cơ duyên: sự run rủi cho số phận hai người gặp nhau, kết đôi với nhau và lấy nhau), còn chữ “tình” thì không thể trao đi Trao kỉ vật nhưng không thể trao hồn kỉ vật
<=>Lí trí đã quyết nhưng con tim vẫn trù trừ do dự Con tim muốn níu giữ tình yêu còn lí trí buộc phải dứt tình Điều này khiến nàng thêm đau đớn, giằng xé tâm can
b Tâm trạng sau khi trao kỉ vật
Trao duyên xong, Kiều dường như đã chết:
– Hình ảnh cõi âm hiện lên nửa thực nửa mộng: cách mặt khuất lời, dạ đài, người mệnh bạc, người thác oan, thân bồ liễu … => tâm trạng đau đớn tột cùng khiến con người rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh, chỉ nhìn thấy phía trước một màu tăm tối của cái chết, của đau đớn, của oan khuất, cô đơn
– Lời của Kiều là lời của một oan hồn mệnh bạc, âm dương cách trở, không nói được lời nào:
• Nhắc đến những kỉ niệm ngày xưa đầy xót xa “mảnh hương nguyền, phím đàn”,
Trang 8“lò hương”…trong đêm thề hẹn
• Hình dung oan hồn bơ vơ, thê thảm của mình: ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ
• Khao khát nhận được sự đồng cảm nơi người còn sống: “Dạ đài…thác oan”: bấy giờ, Kiều và Vân sẽ thuộc về hai thế giới cách biệt, không thấy được nhau và nghe được nhau Khi đó, Kiều mong em có thể rảy chén nước rửa nỗi oan khuất của Kiều => Trong hoàn cảnh ấy, Kiều vẫn ý thức sâu sắc về nỗi oan khuất của mình
và đấu tranh đến cùng với sự bất công của xã hội phong kiến đương thời
• Khát vọng trả món nợ nghĩa tình “Hồn còn…trúc mai” àMâu thuẫn trong Kiều: lúc thì cho rằng trao duyên xong sẽ ngậm cười nơi chín suối, khi trở thành oan hồn vẫn muốn đền đáp món nợ tình, lời thề năm xưa “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” Rõ ràng đây là tâm lý mâu thuẫn, phức tạp, day dứt => Tư tưởng thủy chung son sắt dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo
=>Chới với trước viễn cảnh tương lai, Kiều nửa tỉnh nửa mê, nửa như đang sống, nửa như người đã chết Nói với em mà lời Kiều như phảng phất từ cõi bên kia đang vọng về
3 Lời độc thoại nội tâm của Kiều
– Sau khi hoàn tất việc trao duyên, đáng lẽ Kiều phải thấy an tâm, yên lòng đằng này Kiều lại như thấy hụt hẫng, xót xa Tiếng nói thành tiếng than khóc, nói với em
mà như nói với chính mình, rời quên hẳn xung quanh, quên hẳn Vân trước mặt, chỉ còn lời độc thoại nội tâm:
• Ý thức được sự đối lập giữa:
+ Quá khứ: hạnh phúc, viên mãn “muôn vàn ái ân”, ân tình không đong đếm nổi + Hiện tại: bi kịch tình yêu tan vỡ, tâm hồn đau đớn nát tan “trâm gãy gương tan”,
“tơ duyên ngắn ngủi”
=> Thúy Kiều nghẹn ngào đau đớn, xót xa trước thực tại, giọng thơ chua chát, cay đắng Quá khứ giờ đây đã trở thành niềm khát khao mãnh liệt
=>Bi kịch càng thêm sâu sắc
• Hướng tới Kim Trọng: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân” thể hiện sự day dứt, giày
vò, đồng thời thấy được tình yêu cao thượng của Thúy Kiều (Tuy trao duyên cho
TV nhưng vẫn thấy mình chịu muôn vàn tội lỗi, cái lạy này là cái lạy tạ lỗi vô cùng thóng thiết Trong tình cảnh này, Kiều không thể làm gì hơn ngoài sự tạ lỗi với chàng Kim, cái lạy trong đau đớn, xót xa, trách đời, trách mình, đồng thời kết thúc mối tình đầu ngắn ngủi đầy tiếc nuối)
• Ý thức được tình trạng bi kịch của bản thân:
+ “Bạc như vôi”: số phận bất hạnh, cuộc đời bạc bẽo
+ “Nước chảy hoa trôi”:
=> Số phận long đong, lận đận, chịu kiếp dập vùi, trôi nổi trên dòng đời vô định, nhơ nhớp, cuộn xiết không thể nào cứu vãn
=> Thành ngữ thể hiện cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, tượng trưng cho tuổi
Trang 9thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều chấm dứt từ đây
• Bi kịch tình yêu đến đỉnh điểm, Kiều thốt lên tiếng kêu xé lòng:
+ Thán từ “ôi hỡi”, nhịp thơ 3/3 như một tiếng nấc đau thương, nghẹn ngào, tiếng kêu than thảng thốt của người phụ nữ tuyệt vọng
+ Lời gọi được lặp lại một cách trang trọng “Kim Lang”(cách xưng hô thể hiện quan hệ vợ chồng) như một lời kêu cứu tuyệt vọng
+ Điệp từ “thôi” vừa thể hiện sự dằn vặt, vừa xác nhận sự phụ bạc, nhịp thơ ngân dài như tiếng kêu than vọng mãi không có lời đáp
=> Kiều tự cho mình là người phản bội lại tình yêu, qua đó, ta nhận thấy thêm sự
vị tha, thủy chung, giàu đức hy sinh của Kiều
=> Cuộc trao duyên kết thúc trong đỉnh điểm nỗi đau, trong tiếng kêu than tuyệt vọng bởi tình yêu tan vỡ nhưng đó cũng là lúc khát vọng tình yêu lên tiếng
*** Đoạn trích kết lại bằng tiếng kêu xé lòng trong tột cùng đau đớn của Thúy Kiều khi nàng ý thức sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của mình Kiều thương mình thì ít, thương cho chàng Kim thì nhiều Nàng đã nhận hết mọi trách nhiệm của sự tan vỡ tình duyên về mình Có thể nói, trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên đi bất hạnh của mình để cảm thông cho người khác Đây là giây phút độc thoại thật nhất, nhân bản nhất
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch)
Đề 1: Cảm nhận đoạn thơ sau:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương “
(Trích Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm dịch)
Đề 2: Cảm nhận của anh/ chị về 8 câu cuối bài ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
“Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Trang 10Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
(Trích Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch)
GỢI Ý – HƯỚNG DẪN
ĐỀ 1:
1 Nêu hoàn cảnh sáng tác “Chinh Phụ Ngâm”
+Vào đầu thời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra chống lại triều đình Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha mẹ xa con, vợ xa chồng
+Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả
2.Nội dung chính của đoạn trích:
Đoạn trích miêu tả những cung bậc sắc thái tình cảm của người chinh phụ sau khi tiễn chồng ra mặt trận :Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác
về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được
3 Đọc hiểu chi tiết: Các em có thể tham khảo gợi ý sau:
+Người chinh phụ tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng Thấm thìa nỗi
cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy
+Đoạn thơ đã mở ra trước mắt người đọc một không gian chật hẹp,nơi thềm hiên vắng lặng,nơi mà người chinh phụ đang cố gắng vượt qua sự cô đơn trống vắng khi người chồng đã đi xa.Bằng cách sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình,Đặng Trần Côn đã vẽ nên bức tranh tâm trạng đầy xúc động,thể hiện nỗi sầu của người chinh phụ cũng như bút pháp tinh tế của ông trong việc miêu tả nội tâm nhân vật
+Trong đêm thanh vắng quạnh hiu này,chỉ có tiếng bước chân của nàng ,một mình