Hoạt động làm phát sinh doanh thu trong doanh nghiệp rất đa dạng, tùy thuộc vào đặc điểm, loại hình, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia: Hoạt động bán hàng, hoạt động
Trang 1Doanh thu – Chi phí
DOANH THU – CHI PHÍ
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
Giáo trình Nguyên lý kế toán – NXB Tài chính – TS Phạm Thành Long – TS Trần Văn Thuận
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Trang Web môn học
Nội dung
Khái niệm, ý nghĩa của doanh thu
Phân loại doanh thu trong doanh nghiệp
Đo lường và ghi nhận doanh thu
Phương pháp kế toán doanh thu
Trình bày và phân tích thông tin về doanh thu trên các báo cáo tài chính
Mục tiêu
Phân tích được ý nghĩa của doanh thu đối với hoạt động của doanh nghiệp
Nhận dạng các loại doanh thu trong doanh nghiệp
Giải thích được nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Mô tả cách thức và phương pháp kế toán doanh thu
Nhận dạng và phân tích được thông tin về doanh thu trên BCTC
Nêu được khái niệm về chi phí và tầm quan trọng của chi phí đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân loại được chi phí
Phân biệt được chi phí sản xuất và chi phí phi sản xuất
Trình bày được quy trình và phương pháp kế toán chi phí
Xác định được giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ
Giải thích sự khác nhau của chi phí về báo cáo tài chính trong doanh nghiệp sản xuất
và doanh nghiệp thương mại dịch vụ
Giúp sinh viên hiểu được bản chất và nắm được cách sử dụng tài khoản kế toán trong việc ghi chép và xử lý thông tin kinh tế
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Ghi nhận doanh thu tại Tập đoàn Computer Associates International
Tập đoàn Computer Associates International là một trong
những hãng sản xuất phần mềm độc lập lớn nhất trên thế
giới có trụ sở tại Islandia, New York, Mỹ Lĩnh vực hoạt
động chính của tập đoàn là chế tạo phần mềm máy tính, phân
phối thiết bị máy tính, và các lĩnh vực liên quan tới thương
mại điện tử Vào những thập năm 1980, 1990 với những đầu
tư mạnh mẽ và phương thức kinh doanh linh hoạt đã đưa lại
cho Computer Associates International bước phát triển nhanh
chóng với sự ra đời của hàng loạt sản phẩm mới có tính ứng dụng cao, thị trường nước ngoài mở rộng, hàng loạt các công ty lớn bị Computer Associates International thâu tóm Doanh thu của công ty đã lên đến hơn 3,5 tỷ USD vào năm 1996, giá cổ phiếu cũng tăng cao
Tuy nhiên, năm 2000, Computer Associates International bị cáo buộc vì đã có những hoạt động tài chính không minh bạch và sự việc trở nên trầm trọng hơn vào năm 2001 Từ năm 1999 cho tới đầu năm 2001, công ty đã thực hiện ghi nhận trước doanh thu để có thể đạt được mục tiêu doanh thu của từng quý Theo ước tính, công ty đã sớm báo cáo 3,3 tỷ USD doanh thu từ 363 hợp đồng phần mềm Vì vậy, trong bốn quý của năm tài chính 2000, Computer Associates International đã thổi phồng doanh thu của mình tương ứng lên 25%, 53%, 46% và 22% Đặc biệt, vào quý II năm 2000, đã có 557 triệu USD doanh thu trên 1.564 tỷ USD bị báo cáo khống Với kết quả kinh doanh được báo cáo như vậy đã hoàn toàn vượt xa các ước tính về thu nhập và lợi nhuận của giới phân tích, và đó không gì khác ngoài mục tiêu giữ giá cổ phiếu của công ty ngày một tăng cao
Khi sự việc bị phát giác, chủ tịch hội đồng quản trị của Computer Associates International là Charles Wang và hàng loạt các giám đốc điều hành cao cấp đã buộc phải từ chức Công ty bị phán quyết phải trả 225 triệu USD bồi thường cho các cổ đông để giải quyết vụ án dân sự được đưa ra bởi Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, đồng thời phải tiếp tục đối mặt với các cáo buộc hình sự từ Bộ Tư pháp Mỹ Khi sự việc bị công bố vào năm 2001, giá cổ phiếu của công ty lao dốc thảm hại, chỉ trong vài ngày giá cổ phiếu giảm từ 71USD/cổ phiếu xuống còn 27USD/cổ phiếu Đến năm 2003, công ty đã phải xác định lại doanh thu của mình trong hai năm 2000 và
2001, thấp hơn khoảng 2.2 tỷ USD so với kết quả công bố trước đó
Doanh thu là gì? Thời điểm hợp lý để ghi nhận doanh thu? Tại sao doanh thu và việc ghi nhận doanh thu lại có ý nghĩa đến mức khi có sai phạm xảy ra tại Computer Associates International thì hàng loạt các giám đốc điều hành đều bị
sa thải?
Trang 3Doanh thu – Chi phí
3.1 Kế toán doanh thu
Doanh thu là một trong những khoản mục quan
trọng và phức tạp trên báo cáo tài chính của doanh
nghiệp Tính chất phức tạp của khoản mục này
không chỉ do sự đa dạng của doanh thu, sự khó
khăn trong việc đo lường doanh thu mà còn ở việc
xác định thời điểm để ghi nhận doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các khoản lợi ích kinh tế
mà doanh nghiệp đạt được từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Sau một thời gian hoạt động nhất định của doanh nghiệp (thông thường là một kỳ kế toán), doanh thu sẽ được tổng hợp và báo cáo
Nghiệp vụ kế toán làm phát sinh doanh thu sẽ dẫn tới kết quả là sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tuy nhiên cần phân biệt nó với nghiệp vụ mà các cổ đông hoặc chủ sở hữu đóng góp thêm vốn – nghiệp vụ này cũng làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải
là doanh thu
Hoạt động làm phát sinh doanh thu trong doanh nghiệp rất đa dạng, tùy thuộc vào đặc điểm, loại hình, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia: Hoạt động bán hàng, hoạt động cung cấp dịch vụ, hoạt động cho vay, cho thuê tài sản, hoạt động đầu tư… Đồng thời, doanh thu có thể được diễn đạt dưới nhiều tên gọi khác nhau: Doanh số, tiền thu phí, tiền lãi, cổ tức…
Ví dụ: Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Mỹ chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính Nếu tính theo doanh thu thì Microsoft là hãng sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới Doanh thu của công ty bao gồm các hạng mục chính: Doanh thu từ hoạt động cung cấp các sản phẩm phần mềm máy tính (Microsoft Windows, Microsoft office, Microsoft Servers…); Doanh thu cung cấp các dịch vụ trực tuyến (MSN và nhóm dịch vụ Windows Live gồm: Bing, Windows Live Mail, Windows Live Messenger, )
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 18, các hoạt động kinh doanh thông thường làm phát sinh doanh thu của doanh nghiệp được chia làm 3 nhóm hoạt động sau:
và quy mô của khoản lợi ích nó mang lại cho doanh nghiệp thường không lớn Có thể
kể ra các khoản thu nhập khác như: Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ; Thu
Trang 4tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; Thu tiền bảo hiểm được bồi thường; Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước…
Trong phạm vi của chương này chỉ đề cập và nghiên cứu các vấn đề liên quan tới kế toán doanh thu
Khi nói tới mục tiêu hoạt động kinh tế của một doanh nghiệp, có thể kể ra rất nhiều mục tiêu khác nhau: Kinh doanh có lời, mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh bền vững… Nhưng mục tiêu cao nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng đó là tối
đa hóa giá trị của vốn chủ sở hữu
Với sự việc xảy ra tại tập đoàn Computer Associates International đã nêu trong phần tình huống, câu hỏi đặt ra: Mục đích của hành động ghi nhận trước doanh thu? Doanh thu có tầm vóc và ý nghĩa lớn như thế nào đối với doanh nghiệp mà khi sai phạm ghi nhận trước doanh thu bị phát giác, hàng hoạt các vị trí giám đốc điều hành cao cấp tại tập đoàn bị sa thải? Giá cổ phiếu của tập đoàn trên thị trường chứng khoán lao dốc thảm hại? Từ phân tích sau ta có thể tìm ra được câu trả lời chung cho tất cả các câu hỏi trên:
Nhắc lại phương trình kế toán cơ bản mà ta đã biết trong bài 1:
Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu Phương trình trên có thể viết lại dưới dạng phương trình mở rộng như sau với sự tham gia của doanh thu và chi phí:
Tài
sản =
Nợ phải trả +
Vốn đầu tư của chủ sở
(Doanh
Chi phí)
Như vậy, từ phương trình kế toán mở rộng ta thấy rằng: Khi doanh nghiệp có doanh thu đủ để bù đắp các khoản chi phí, phần dôi ra chính là lợi nhuận Doanh thu là nguồn gốc tạo ra lợi nhuận – một bộ phận của vốn chủ sở hữu Tăng doanh thu cũng chính là tăng giá trị vốn chủ sở hữu
Mặt khác, theo phương trình, khi một nghiệp vụ kinh tế có phát sinh doanh thu, nó sẽ dẫn tới sự tăng lên của tài sản trong doanh nghiệp hoặc kéo theo sự giảm xuống của khoản nợ phải trả để đảm bảo mối quan hệ cân bằng Tạo điều kiện tiếp tục đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh một cách bền vững, rút ngắn con đường đi tới mục tiêu cuối cùng
Theo IAS 18, xuất phát từ các nhóm hoạt động chính làm phát sinh doanh thu, doanh thu của một doanh nghiệp cũng được chia làm 3 loại:
Doanh thu bán hàng: Là khoản doanh thu thu được từ việc bán các loại sản
phẩm, hàng hóa cho khách hàng
Lợi nhuận
Vốn chủ sở hữu
Trang 5Doanh thu – Chi phí
Doanh thu cung cấp dịch vụ: Là khoản doanh thu thu được do thực hiện một
công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán
Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, cụ thể:
o Tiền lãi từ các hoạt động cho vay (Cho vay bằng tiền, tương đương tiền…)
o Tiền bản quyền: Tiền thu được từ việc cho thực thể khác sử dụng các tài sản như bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa…
o Cổ tức: Phần lợi nhuận được chia cho chủ sở hữu dựa trên khoản đầu tư góp
vốn theo một tỷ lệ xác định
Ở Việt Nam, doanh thu thường được phân chia thành hai nội dung: Doanh thu sản xuất kinh doanh thông thường và doanh thu hoạt động tài chính:
Doanh thu hoạt động kinh doanh thông thường: Là các khoản lợi ích phát sinh
trong kỳ từ việc bán sản phẩm hàng hoá, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh thu bao gồm cả các khoản trợ cấp của Nhà nước cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo nhiệm vụ Nhà nước giao mà thu không đủ
bù đắp chi
Doanh thu từ hoạt động tài chính bao gồm: các khoản thu phát sinh từ tiền bản
quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tiền lãi từ việc cho vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi cho thuê tài chính; chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ; lợi nhuận được chia từ việc đầu tư
ra ngoài doanh nghiệp…
3.1.3.1 Đo lường doanh thu
Doanh thu cần được đo lường tại giá trị hợp lý của khoản tiền thu được hoặc có thể thu được từ khách hàng
Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc
giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự
nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự
trao đổi ngang giá Giá trị hợp lý là một khái niệm
mới, được dùng phổ biến trong các giao dịch mua
bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư và nó rất
gần với giá thị trường hiện hành
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản
đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (–) các khoản giảm trừ doanh thu (bao gồm: chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại) Các khoản thu hộ cho bên thứ ba (thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng…) không phải là khoản lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được vì vậy cũng cần được loại trừ ra khỏi doanh thu
Trang 6Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
Chiết khấu bán hàng:
o Chiết khấu thương mại: Số tiền doanh nghiệp dành cho khách hàng do khách hàng mua hàng với số lượng lớn
o Chiết khấu thanh toán: Số tiền doanh nghiệp dành cho khách hàng khi họ thanh
toán tiền hàng sớm trong thời hạn được hưởng chiết khấu
Giảm giá hàng bán: Số tiền doanh nghiệp dành cho khách hàng khi doanh nghiệp
cung cấp hàng hóa sai quy cách, phẩm chất, thời gian trong hợp đồng
Doanh thu của hàng bán bị trả lại: Là doanh thu của số hàng mà khách hàng đã
mua nhưng trả lại
Doanh thu thuần = Doanh thu – Các khoản giảm trừ
Về phương pháp đo lường doanh thu, IAS 18 xác định:
Đối với những hợp đồng dài hạn, doanh thu được xác định theo tỷ lệ phần công việc
đã hoàn thành Phần công việc đã hoàn thành có thể được xác định theo nhiều cách thức khác nhau Doanh nghiệp sẽ sử dụng cách thức đúng đắn nhất để xác định lượng công việc đã hoàn thành Tùy thuộc vào bản chất công việc, IAS 18 đưa ra 3 phương pháp xác định phần công việc đã hoàn thành như sau:
Đánh giá phần công việc đã hoàn thành:
Được hiểu là bên cung cấp dịch vụ và bên nhận dịch vụ cùng tiến hành khảo sát, đánh giá và thống nhất về phần công việc đã hoàn thành Kết quả đánh giá thường được thể hiện bằng một biên bản Phương pháp này đưa ra bằng chứng khách quan về phần kết quả cung cấp dịch vụ và đảm bảo tương đối tốt cho khả năng thu được lợi ích kinh tế về cho người cung cấp
So sánh tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng
khối lượng công việc phải hoàn thành: Theo phương pháp này, cần so sánh khối
lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng theo hợp đồng ký kết để ước tính doanh thu
So sánh tỷ lệ phần trăm chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để
hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Nếu khi kết quả không ước tính được một cách đáng tin cậy, doanh thu chỉ được ghi nhận trong chừng mực những chi phí đã ghi nhận và chắc chắn có thể thu hồi được
Về mặt lý thuyết, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai cơ sở để tiến hành ghi nhận doanh thu (cũng như chi phí): Cơ sở tiền và cơ sở dồn tích
Như ta đã biết đến ở bài một, đối với kế toán theo cơ sở tiền, thu nhập và chi phí được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi tiền Vậy doanh nghiệp tiến hành ghi nhận doanh thu chỉ khi họ nhận được khoản tiền thanh toán từ khách hàng Nếu một công ty
đã hoàn thành nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ, nhưng nếu họ chưa thu được tiền từ khách hàng thì lúc đó doanh thu cũng chưa được ghi nhận
Trang 7Doanh thu – Chi phí
Kế toán theo cơ sở tiền rất đơn giản và có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bày thông tin trên báo cáo tài chính Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số tiền và thời điểm thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản trị doanh nghiệp
Tuy nhiên, áp dụng ghi nhận doanh thu theo cơ sở tiền có thể sẽ dẫn tới sai lầm khi không ghi nhận những khoản doanh thu đã phát sinh nhưng chưa thu được bằng tiền, đồng thời nó cũng không thỏa mãn nguyên tắc “Phù hợp” giữ doanh thu và chi phí trong kế toán vì vậy có thể đưa tới những sai sót khi lập báo cáo tài chính Vì vậy, việc
áp dụng kế toán trên cơ sở tiền chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, hoạt động chủ yếu dựa trên các luồng tiền ra, vào, ít phát sinh các khoản nợ phải thu, nợ phải trả
Tìm hiểu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về ghi nhận doanh thu theo cơ sở tiền:
Tháng 4/2012, công ty đồ gỗ Puma hoàn thành chuyển giao cho khách hàng một đơn hàng trị giá 247 triệu đồng Khách hàng cam kết thanh toán vào tháng tiếp theo Chi phí vận chuyển lô hàng trên: 4.5 triệu đồng Puma phải chịu và đã thanh toán ngay bằng tiền mặt Theo cơ sở tiền, khoản doanh thu bán hàng và chi phí vận chuyển sẽ được ghi nhận vào thời gian nào?
Trả lời: Doanh thu tuy phát sinh trong tháng 4 nhưng cho đến tháng 5 mới được
ghi nhận vì lúc đó khách hàng mới trả tiền Khoản chi phí vận chuyển lại được ghi nhận trong tháng 4 vì đã được thanh toán ngay.Vậy rõ ràng ta thấy rằng việc ghi nhận như trên không đảm bảo tính “Phù hợp” giữa doanh thu và chi phí
Đối với kế toán trên cơ sở dồn tích, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền Như vậy, doanh thu sẽ được ghi nhận trong kỳ mà nó thực tế phát sinh Nếu một doanh nghiệp
đã hoàn thành nghiệp vụ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ, dù khách hàng đã trả tiền hoặc còn nợ thì doanh thu vẫn được ghi nhận tại thời điểm đó
Theo cơ sở dồn tích, việc ghi nhận doanh thu sẽ đảm bảo được tính phù hợp với chi phí phát sinh, đồng thời nó cho phép doanh nghiệp có thể theo dõi và ghi nhận hợp lý các giao dịch kéo dài qua nhiều kỳ kế toán
Bên cạnh những ưu điểm, việc ghi nhận doanh thu theo cơ sở dồn tích đôi khi không đảm bảo được yêu cầu khách quan (không dựa vào dòng tiền thu vào mà dựa vào thời điểm phát sinh giao dịch), số liệu trên báo cáo tài chính có thể thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà quản lý
Tuy vậy, kế toán doanh thu trên cơ sở dồn tích được áp dụng với hầu hết các công ty
có quy mô từ nhỏ đến lớn, và nó là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất được thừa nhận rộng rãi và chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu (GAAP):
Nguyên tắc “Doanh thu thực hiện”: Doanh thu được ghi nhận khi quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ được chuyển giao và khách hàng chấp nhận thanh toán
Trang 8Nguyên tắc “Doanh thu thực hiện” là nguyên tắc đúng đắn và hợp lý, tuy nhiên, việc hiểu chưa sâu sắc về nguyên tắc sẽ dẫn tới một số quan điểm sai lầm trong ghi nhận doanh thu Trong thời gian đầu, doanh thu thường được hiểu là tiền thu từ nghiệp vụ bán hàng hay cung cấp dịch vụ và lấy thời điểm chuyển giao hàng hóa, dịch vụ làm cơ
sở ghi nhận Vì vậy dẫn tới quan điểm doanh thu phải được hạch toán tại thời điểm nghiệp vụ trao đổi hoàn tất, với một khoản dự phòng thích hợp cho các khoản phải thu khó đòi Tuy nhiên, với sự ra đời của khái niệm “Giá trị hợp lý” cùng thực tiễn kinh doanh có nhiều thay đổi đã làm nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng đến việc ghi nhận doanh thu, đặc biệt là sự gia tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của các nước Sự biến động của cơ cấu ngành trong nền kinh tế làm cho số lượng cũng như giá trị của các giao dịch về dịch vụ vượt trội so với các giao dịch về hàng hóa Do đó nếu căn cứ vào quan điểm truyền thống về doanh thu, các giao dịch về cung cấp dịch vụ này chỉ có thể được ghi nhận khi đã hoàn tất toàn bộ quá trình cung cấp và chuyển giao cho người mua Điều này gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp, khi họ không thể trình bày trên báo cáo tài chính khoản doanh thu ứng với phần công việc đã hoàn thành trong năm Kết quả là năm tài chính đó có một khoản lãi (lỗ) đã không được tính vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mặc dù kết quả của giao dịch và khả năng thu được doanh thu là đáng tin cậy
Trả lời câu hỏi về công ty Puma trong trường hợp Puma ghi nhận doanh thu dựa trên cơ sở dồn tích
Trả lời: Tháng 5 là tháng phát sinh và hoàn thành nghiệp vụ cung cấp hàng hóa cho
khách hàng, vì vậy doanh thu và chi phí vận chuyển sẽ được ghi nhận trong tháng 5 (mặc dù khách hàng chưa trả tiền)
Dựa trên nguyên tắc “Doanh thu thực hiện”, việc ghi nhận doanh thu đã được xây dựng cho từng loại doanh thu như sau:
Theo IAS 18, Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau:
Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Theo IAS 18, Doanh thu cung cấp dịch vụ được ghi nhận theo giai đoạn hoàn thành giao dịch vào ngày lập Bảng cân đối kế toán Doanh thu có thể được ước tính khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;
Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó
Trang 9Doanh thu – Chi phí
3.1.4 Phương pháp kế toán doanh thu
3.1.4.1 Đặc điểm tài khoản kế toán sử dụng
TK “Doanh thu” là tài khoản tạm thời nên nó không có số dư
Các tài khoản phản ánh các khoản giảm trừ doanh thu:
o TK “Chiết khấu mua hàng”
o TK “Giảm giá hàng bán”
o TK “Hàng bán bị trả lại”
Là các tài khoản điều chỉnh (contra – account) cho tài khoản doanh thu, ghi tăng bên Nợ, giảm bên Có và cũng là những tài khoản không có số dư
3.1.4.2 Phương pháp kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Sau đây là phương pháp kế toán một số khoản doanh thu chủ yếu phát sinh trong doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản giảm trừ doanh thu; Lãi cho vay; Cổ tức; Lãi nhượng bán chứng khoán
Kế toán doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ
Khi hoàn thành bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng, kế toán tiến hành hạch toán hai bút toán sau:
CPS: xxx CPS: xxx
TK GGHB, HBBTL, CKMH
CPS: xxx CPS: xxx
Trang 10o Ghi nhận doanh thu: ghi bên Nợ TK Tiền hoặc Phải thu khách hàng, ghi bên
Có TK doanh thu
o Ghi nhận giá vốn: ghi bên Nợ TK Giá vốn hàng bán, ghi bên Có TK Hàng hóa, thành phẩm…
Ví dụ: Ngày 2/1/2012, Công ty thương mại Sophan hoàn thành nghiệp vụ bán
hàng cho Mit với giá bán 124.000.000 đồng, giá vốn lô hàng: 91.000.000 đồng
Khách hàng đã thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng Nghiệp vụ trên tại Sophan được hạch toán như sau:
Ghi nhận doanh thu bán hàng:
Khi phát sinh hàng bán bị trả lại, doanh nghiệp sẽ tiến hành:
o Ghi nhận doanh thu hàng bán bị trả lại: Sophan ghi Bên Nợ TK Hàng bán bị trả lại, ghi bên Có TK Tiền/ Phải thu khách hàng
o Ghi giảm giá vốn tương ứng của hàng bán bị trả lại
Để hiểu rõ hơn, giả sử trong ví dụ trên, ngày 11/1/2012, Mit trả lại một lô hàng trị giá 11.000.000 đồng (giá vốn 5.700.000 đồng) vì hàng kém chất lượng Sophan đã nhận hàng và nhập kho đồng thời thanh toán cho Mit bằng tiền mặt Bút toán tại Sophan như sau:
Ghi nhận doanh thu hàng bán bị trả lại:
Ghi giảm giá vốn hàng bán:
Giá vốn hàng bán 5.700.000
Giả sử ngày 11/1/2012 , Sophan dành cho Mit khoản giảm giá 2.500.000 đồng
bằng tiền mặt để Mit vẫn chấp nhận toàn bộ lô hàng Bút toán ghi nhận khoản
giảm giá hàng bán: Sophan ghi Bên Nợ TK Giảm giá hàng bán, ghi bên Có TK
Tiền/ Phải thu khách hàng:
Tiền mặt 2.500.000
Trang 11Doanh thu – Chi phí
Ghi nhận chiết khấu bán hàng (chiết khấu thương mại hoặc chiết khấu thanh toán):
Tiếp tục ví dụ trên, Ngày 12/1, nếu Sophan dành cho Mit khoản chiết khấu bằng
tiền mặt 1.200.000 đồng vì thanh toán tiền hàng sớm, bút toán tại Sophan như sau:
ghi bên Nợ TK Chiết khấu bán hàng và ghi bên Có TK Tiền:
Kế toán lãi cho vay
Doanh nghiệp có thể tìm kiếm doanh thu thông qua hoạt động cho vay vốn dưới nhiều
hình thức Một hình thức phổ biến đó là đầu tư mua trái phiếu được trình bày qua ví
dụ sau:
Ngày 1/1/2012, Công ty Sophan mua 50 trái phiếu do chính phủ phát hành với giá
550.000.000 đồng Biết trái phiếu có mệnh giá 10.000.000 đồng, lãi suất 8%, thời hạn
10 năm Lãi trái phiếu được trả 2 lần bằng tiền gửi ngân hàng vào ngày 1/7 và 1/1
hằng năm bắt đầu từ 1/7/2012 Quy trình kế toán tại Sophan được thực hiện cho năm
2012 như sau:
Ngày 1/7/2012, ghi nhận nghiệp vụ nhận tiền lãi trái phiếu lần 1 cho 6 tháng đầu
năm (50 × 10.000.000 × 8% × 1/2 = 20.000.000 đồng): ghi Nợ TK Tiền gửi ngân
hàng, ghi Có TK Doanh thu về lãi trái phiếu
31/12/2012, Sophan ghi nhận khoản lãi dồn tích được hưởng của 6 tháng cuối
năm: ghi Nợ TK Phải thu về lãi trái phiếu, ghi Có TK Doanh thu về lãi trái phiếu
Ngày 1/1/2013 ghi nhận nghiệp vụ nhận tiền lãi trái phiếu cho lần 2 năm 2012: ghi
Nợ TK Tiền gửi ngân hàng, ghi Có TK Phải thu về lãi trái phiếu
Doanh thu về lãi trái phiếu 20.000.000
Doanh thu về lãi trái phiếu 20.000.000
Doanh thu về lãi trái phiếu 20.000.000
Kế toán doanh thu cổ tức
Giả sử công ty Sophan đang nắm giữ 100.000 cổ phiếu của công ty Hoa sen Ngày
19/8/2012, Sophan được trả cổ tức 1.000 đồng/1 cổ phiếu bằng tiền mặt Bút toán ghi
nhận doanh thu cổ tức ngày 19/12 của Comin như sau: ghi Nợ TK tiền và ghi Có TK
doanh thu cổ tức:
Trang 12Tháng, năm Ngày Nội dung Nợ Có
Kế toán lãi nhượng bán chứng khoán
Ngày 21/11/2012, Sophan bán 10.000 chứng khoán của Hoa sen thu được 210.000.000
đồng tiền gửi ngân hàng (đã trừ đi phí môi giới chứng khoán) (giá mua trước đây:
19.500/ 1 cổ phiếu) Bút toán ghi nhận nghiệp vụ bán cổ phiếu: ghi Nợ TK Tiền gửi
ngân hàng (210 triệu đồng), ghi Có TK chứng khoán đem bán (195 triệu đồng) và ghi
Có TK lãi về bán chứng khoán (210 – 195 = 15 triệu đồng):
Lãi về nhượng bán chứng khoán 15.000.000
3.1.5.1 Các bút toán điều chỉnh cuối kỳ liên quan tới doanh thu
Có 2 loại bút toán điều chỉnh doanh thu tại thời điểm cuối kỳ:
Điều chỉnh doanh thu nhận trước: Số tiền doanh nghiệp đã nhận trước cho toàn
bộ hợp đồng được thực hiện trong nhiều kỳ kế toán
Để làm rõ, giả sử ngày 20/4/2012, công ty Comin nhận tiền ứng trước của khách hàng 45.000.000 đồng cho toàn bộ dịch vụ Comin sẽ cung cấp Đến 30/4, Comin
đã thực hiện được 1/3 khối lượng dịch vụ, công ty tiến hành xác định và thực hiện bút toán điều chỉnh phần doanh thu tương ứng với khối lượng dịch vụ hoàn thành
trong tháng: ghi Nợ TK Doanh thu nhận trước, ghi Có TK Doanh thu:
Điều chỉnh doanh thu phải thu: Là phần giá trị công việc, dịch vụ mà doanh
nghiệp đã thực hiện, cung cấp cho khách hàng trong kỳ báo cáo nhưng chưa thu được tiền
Giả sử, ngày 30/4, Comin hoàn thành thực hiện dịch vụ quảng cáo cho Beal trị giá 100.000.000 đồng nhưng chưa nhận được hóa đơn thanh toán, công ty ghi nhận
khoản doanh thu phải thu từ Beal: ghi Nợ TK Phải thu khách hàng, ghi Có TK
Doanh thu:
Trang 13Doanh thu – Chi phí
3.1.5.2 Các bút toán khóa sổ liên quan tới doanh thu
Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu để xác định doanh thu thuần: Ghi Nợ TK
Doanh thu, ghi Có các TK phản ánh khoản giảm trừ doanh thu
TK Doanh thu là TK tạm thời, cuối kỳ kế toán sẽ được khóa sổ: Ghi Nợ các TK
Doanh thu và ghi Có TK Xác định kết quả
3.1.6.1 Trình bày thông tin về doanh thu trên báo cáo tài chính
Thông tin về doanh thu được trình bày trên Báo cáo thu nhập (còn được gọi là Báo cáo kết quả kinh doanh) Theo cách lập báo cáo thu nhập, có 2 phương pháp trình bày thông tin về doanh thu:
Trình bày thông tin về doanh thu theo báo cáo thu nhập một bước: Thông tin gồm
2 mục chính được trình bày theo thứ tự: Doanh thu và các khoản thu nhập khác, các khoản chi phí (Xem Bảng 1)
Trình bày thông tin về doanh thu theo báo cáo thu nhập nhiều bước:Doanh thu và chi phí được trình bày theo nhóm các hoạt động của doanh nghiệp (Xem Bảng 2)
3.1.6.2 Phân tích thông tin về doanh thu trên báo cáo tài chính
Căn cứ vào chỉ tiêu về Doanh thu trên Báo cáo thu nhập và một số chỉ tiêu khác trên các báo cáo tài chính, các chỉ tiêu sau thường được tính toán để phục vụ cho phân tích thông tin:
Tỷ số vòng quay của tài sản và tỷ suất sinh lời của doanh thu:
Doanh thu
Tỷ số vòng quay của tài sản =
Tổng giá trị tài sản bình quân Trong đó:
Doanh thu: Là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hoặc tổng giá trị tất cả các
loại doanh thu
Tổng giá trị tài sản bình quân: Được tính bằng cách lấy giá trị bình quân của
tổng giá trị tài sản đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu trên cho biết 1 đơn vị giá trị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn vị giá trị doanh thu,
hệ số này càng cao chứng tỏ việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng hiệu quả
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất sinh lời của doanh thu =
Doanh thu × 100
Trong đó mẫu số được xác định là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hoặc tổng
giá trị tất cả các loại doanh thu Tính toán chỉ tiêu trên cho biết lợi nhuận thuần chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu Chỉ tiêu này càng cao cho thấy lãi của doanh nghiệp của lớn
Trang 14Bảng 1: Báo cáo thu nhập một bước
Doanh thu:
Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ
Các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu thuần bán hàng, cung cấp dịch vụ
Doanh thu về lãi suất
Doanh thu cổ tức
Các loại doanh thu và thu nhập khác
Chi phí:
Giá vốn hàng bán
Chi phí tiền lương
Chi phí khấu hao
Chi phí quảng cáo
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Các khoản chi phí khác
Lợi nhuận thuần
Bảng 2: Báo cáo thu nhập nhiều bước
Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ
Các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu thuần bán hàng, cung cấp dịch vụ
Giá vốn hàng bán
Lợi nhuận gộp
Chi phí tiền lương
Chi phí khấu hao
Chi phí quảng cáo
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Tổng chi phí hoạt động
Lợi nhuận từ bán hàng, cung cấp dịch vụ
Các khoản doanh thu và thu nhập khác