SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC VẦN CHO HỌC SINH LỚP 1 ĐẠT KẾT QUẢ CAO Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HUYỆ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC VẦN
CHO HỌC SINH LỚP 1 ĐẠT KẾT QUẢ CAO
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HUYỆN CẨM THỦY
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thúy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thị trấn Cẩm Thủy
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY LUYỆN NÓI CHO HỌC SINH LỚP 1 TRONG TIẾT 2 CỦA PHÂN MÔN HỌC VẦN Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA YÊN
Người thực hiện: Trần Thị Hương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Yên
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2018
Trang 26 2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
10 2.3.1 Giải pháp 1: Rèn cho học sinh kỹ năng nói đủ câu, đủ ý 6
11 2.3.2 Giải pháp 2: Rèn cho học sinh kỹ năng nói thành câu,
thành đoạn
6
12 2.3.3 Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề 7
13 2.3.4 Giải pháp 4: Lựa chọn hình thức, phương pháp và ĐDDH
giúp học sinh luyện nói theo khả năng
9
14 2.3.5 Giải pháp 5: Khắc phục tình trạng rụt rè, nhút nhát, thiếu
tự tin ở học sinh khi luyện nói
13
17 2.3.6 Giải pháp 6: Rèn cho học sinh các kĩ năng luyện nói thông
qua các môn học và các hoạt động khác
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Trang 3Nói là một trong những hoạt động giao tiếp cần thiết của mỗi con người.Trong cuộc sống hàng ngày, ở tất cả mọi người, mọi ngành nghề đều cần đếncác hoạt động giao tiếp Giao tiếp là quá trình người nói diễn đạt thông tin đếncác đối tượng cần giao tiếp, nhằm đạt đến kết quả cuối cùng của hoạt động giaotiếp Chính vì vậy mà ngay từ khi bước vào lớp 1, SGK đã rất chú trọng đến việcdạy 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh tiểu học.
Nói, là một trong 4 kỹ năng cơ bản( nghe, nói, đọc, viết) cần rèn luyện vàphải đạt được khi hoàn thành chương trình Tiếng Việt lớp 1 Rèn kỹ năng nói làgiúp học sinh phát triển ngôn ngữ nói, đặt nền móng cho việc phát triển ngônngữ nói, viết trong suốt bậc học và cả sau này Đồng thời, rèn kĩ năng nói sẽ tạocho các em có được sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp Các em biết sử dụng từngữ trong giao tiếp một cách chính xác, phong phú, phát huy trí tưởng tượng vềngôn ngữ theo 1 chủ đề, một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Việc rèn kỹ năng nói là giúp cho trẻ có khả năng giao tiếp, biết ứng xử vànhận xét sự vật, sự việc trên những nhận thức riêng, bằng sự cảm nhận ngây thơcủa con mắt trẻ thơ Vì thế, để học sinh luyện nói lưu loát, đạt hiệu quả, giáoviên cần phải có cách tổ chức dạy để khơi gợi, kích thích học sinh có hứng thúbộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình và diễn đạt suy nghĩ ấy bằng ngôn ngữ nói củamình, nhằm giúp trẻ sớm có tính cách mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn trongquá trình giao tiếp
Hiện nay phần đa giáo viên đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng củaviệc dạy kỹ năng nói cho học sinh tiểu học Tuy nhiên ngay từ lớp 1để rèn luyệncho học sinh kỹ năng nói thành câu, diễn đạt đủ ý, thành một đoạn văn cho họcsinh lớp 1 một cách có hiệu quả lại là vấn đề mà không phải tất cả giáo viên có
thể làm được Với lý do trên, tôi xin được trình bày kinh nghiệm “Một số biện
pháp dạy luyện nói cho học sinh lớp 1 trong tiết 2 của phân môn Học vần ở trường Tiểu học Nga Yên”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp học sinh lớp 1 có kĩ năng nói thành công, diễn đạt được ý một cách
rõ ràng Từ đó giúp các em khả năng mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu, tổng kết một số vấn đề về kinh nghiệm dạy học luyệnnói cho học sinh lớp 1 ở trưởng Tiểu học Nga Yên trong phân môn học vần, cụthể như: Nói đủ câu, đủ đoạn, nói đúng chủ đề, nói theo khả năng
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp dạy học thực tiễn trên lớp 1B
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Đối với học sinh lớp 1, đây là giai đoạn các em bắt đầu làm quen với mộtgiai đoạn học tập mới với môi trường, hình thức tiếp nhận kiến thức hoàn toànkhác với bậc học Mầm Non Ở giai đoạn này, các em còn đang gặp nhiều khókhăn về mức độ nhận thức, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ còn rất nhiều hạnchế
Chương trình Tiểu học thực hiện đổi mới đồng bộ về: Mục tiêu giáo dục;Nội dung và phương pháp dạy học; Cách thức đánh giá học tập của học sinh.Theo đặc trưng của môn Tiếng Việt tập trung vào sự hình thành và phát triển kĩnăng: Nghe - đọc - nói - viết, góp phần vào hình thành các giá trị mới như: Nănglực tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề; Tự chiếm lĩnh tri thức và thực hànhvận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ đó được thể hiệnqua 4 kĩ năng: Nghe - đọc - nói - viết Đối với lớp Một, Tiếng Việt là một mônhọc có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình vì nó đảm nhiệm bước đầutiên cho học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng Trong đó, “nói” là một kĩnăng hết sức quan trọng của bậc tiểu học
Nói là một hoạt động diễn ra thường xuyên của con người nhằm truyền tảinhững nội dung, suy nghĩ cần trao đổi của người nói Như vậy, luyện nói tốt tức
là tạo được cơ sở nền móng cho việc phát triển ngôn ngữ nói, viết trong suốt bậchọc và cả sau này cho học sinh Ngoài ra, luyện nói cho học sinh, sẽ giúp các emmạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, làm cho vốn từ ngữ của các em phong phúhơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: 2.2.1 Thực trạng:
* Thực trạng dạy học của giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy chương trình lớp 1, qua dự giờ thao giảng, sinhhoạt chuyên môn ở trường Tiểu học Nga Yên hay qua các kỳ thi giáo viên giỏicấp trường, huyện Tôi nhận thấy:
- Đa số giáo viên khối lớp 1 rất ngại dạy các tiết học vần tiết 2 vì trongcác tiết 2 thường có hoạt động luyện nói cho học sinh
- Nhiều giáo viên còn xem nhẹ hoạt động luyện nói, chỉ chú trọng chohoạt động đọc, viết Thời gian luyện nói ít, nhiều khi luyện nói chỉ mang tínhhình thức, ít học sinh được nói
- Giáo viên ít đầu tư cho các tiết 2 của tiết học vần, tập đọc
- Ngại chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy học
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện nói theo tranh còn sơ sài Hoặc đôikhi đi quá xa dễ lẫn sang như dạy học đạo đức hay tự nhiên xã hội
Trang 5- Khi hướng dẫn hoạt động luyện nói cho học sinh, giáo viên thường haylúng túng không biết hướng dẫn học sinh luyện nói như thế nào cho hiệu quả.
- Giáo viên sử dụng tranh minh hoạ để định hướng cho phần luyện nóichưa hiệu quả
* Thực trạng học của học sinh:
- Các em thường hay rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin nói trước đông người.Khi đến lớp các em thường nhút nhát, ít phát biểu, chưa tự tin trong luyện nói
- Khi đi học mầm non các em cũng không được hướng dẫn nói phải đủ câu,
đủ ý Chính vì vậy dẫn đến khả năng giao tiếp của các em là rất hạn chế
- Trong quá trình giao tiếp ở nhà, các em thường có thói quen nói không đủcâu, không đủ ý Khi được hỏi, các em chỉ trả lời trống không, không biết trả lờithế là chưa đủ câu
- Một số chủ đề lạ, chưa thật sự gần gũi với cuộc sống của các em như:ruộng bậc thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi núi… nên các em khóhình dung để phát huy khả năng nói của mình một cách phong phú
- Thời lượng dành cho phần luyện nói còn ít nên học sinh không đượcluyện nói nhiều
* Thực trạng của chương trình:
Tranh ảnh, đồ dùng học tập về chủ đề luyện nói còn hạn chế, chưa phong phú
và chưa được đầu tư nhiều trong các nhà trường
Một số chủ đề luyện nói còn mới, xa lạ chưa thật sự gần gũi với cuộc sốngcủa các em như: ruộng bậc thang, thung lũng, suối, đèo, lễ hội, vó bè, đồi núi…đối với học sinh vùng đồng bằng… Nên dù giáo viên có nói chi tiết thế nào các
em cũng khó hình dung được
2.2.2 Nguyên nhân :
* Đối với giáo viên:
- Giáo viên thường chưa nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, nội dung củachủ đề luyện nói và tài liệu, tranh, ảnh phục vụ cho bài luyện nói
- Giáo viên chưa thực sự nhận thức hết vai trò của hoạt động luyện nóicho học sinh trong quá trình dạy học nên dễ dẫn đến sa vào việc dạy luyện nóithành tiết dạy học đạo đức
- Thiếu một số tranh ảnh để minh hoạ cho chủ đề cần luyện nói Đôi khi cótranh nhưng một số giáo viên lại ngại thao tác tranh
- Giáo viên chưa có các hình thức động viên, khuyến khích học sinh luyệnnói
- Chưa áp dụng một cách triệt để các phương pháp đổi mới trong dạy học
* Đối với học sinh:
- Khả năng quan sát các sự vật, hiện tượng của học sinh lớp 1 còn hạn chế,thường thì học sinh không quan sát các sự vật được chi tiết
Trang 6- Đôi khi quan sát được nhưng lại không biết dùng từ để miêu tả, gọi tên,diễn đạt cho sự việc đó Do vốn từ của học sinh còn ít, nghèo nàn.
- Trong cuộc sống ở gia đình các em bố mẹ không chú ý đến việc sửa cáchnói, cách trả lời cho các em cho đúng, cho đủ ý, đủ câu
- Nhiều học sinh khi nói về một vấn đề gì thường bắt trước theo người lớn,nói rút gọn, chưa biết cách sắp xếp diễn đạt ý
2.2.3 Kết quả :
Trước những thực trạng mà thực tế dạy học của khối lớp 1 gặp phải, qua
dự giờ đồng nghiệp, năm học 2016- 2017, tôi đã theo dõi và đã tiến hành khảosát khả năng nói của học sinh lớp 1A ( sĩ số 27 học sinh) qua các giai đoạn họctập Và khảo sát kỹ năng nói của học sinh lớp 1C (sĩ số 27 học sinh) đầu nămhọc 2017- 2018 kết quả thu được như sau:
Nói đủ câu, lưu loát, đúng chủ đề
Nói chưa đủ câu, nói chưa lưu loát, chưa đúng chủ đề Số
lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
Ngay từ đầu năm học, để giúp học sinh nói một cách lưu loát, trôi chảy,thành câu, thành đoạn tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp khi dạy luyệnnói cho học sinh lớp 1
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong quá trình dạy học người giáo viên không ngừng tìm tòi, sáng tạo,lựa chọn các biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Với việcvận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học sẽ tạo được sự hứng thúhọc tập, giúp học sinh dễ tiếp thu bài nhanh, nắm vững kiến thức Để giúp họcsinh rèn luyện kĩ năng nói và phát triển khả năng diễn đạt ý một cách phong phú,
tự tin, hình thành kỹ năng giao tiếp cơ bản ngay từ khi bước chân vào lớp 1 tôi
đã tiến hành áp dụng một số biện pháp sau:
2.3.1 Giải pháp 1: Chú trọng việc rèn kỹ năng nói đủ câu, đủ ý cho học sinh ngay từ đầu năm học:
Trang 7Việc rèn kỹ năng nói đủ ý, đủ câu cho học sinh lớp 1 là việc làm hết sứcquan trọng, nó không chỉ hình thành cho học sinh nề nếp thói quen giao tiếptrong cuộc sống hằng ngày mà nó còn giúp cho học sinh học tập và làm văn ởcác lớp trên Đối với học sinh lớp 1, việc nói năng của các em còn mang tínhchất tự phát Trên thực tế, khi trả lời giáo viên hoặc trả lời các câu hỏi bài tập màgiáo viên đưa ra các em thường nói câu cụt lủn, nói trống không, không đầy đủcâu Mặt khác qua nhiều lần dự giờ thao giảng của đồng nghiệp, tôi nhận thấykhi học sinh trả lời như vậy, giáo viên cũng đã sửa câu trả lời cho học sinhnhưng chưa triệt để
Ví dụ: Khi dạy bài 5 về Dấu huyền
Giáo viên treo tranh con cò, hỏi: “Tranh vẽ gì?” Thay vì phải trả lời:
“Thưa cô, tranh vẽ con cò ạ” Thì học sinh thường chỉ trả lời: “con cò” Hay:Trong tiếng “cò” có dấu gì ? học sinh thường trả lời: “dấu huyền”, chứ khôngphải là: “Thưa cô, trong tiếng cò có dấu huyền” Bởi lẽ do thói quen hàng ngàygiao tiếp, do vốn từ và khả năng nhớ nội dung câu hỏi của học sinh còn hạn chế
Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu bước chân vào lớp 1, với 6 bài học đầutiên về âm và dấu thanh Tôi bắt đầu tập trung rèn luyện cho học sinh kỹ năngnói cho đủ câu, đủ ý, biết cách trả lời câu hỏi của giáo viên đưa ra
Ví dụ: Khi dạy bài 9: Giáo viên đưa tranh cho học sinh quan sát và hỏi:
“Tranh vẽ con gì ?” (cho học sinh trả lời)
Nếu học sinh trả lời “Con bò” hoặc không biết cách trả lời thì giáo viênhướng dẫn học sinh cách trả lời như: Nhắc lại một phần câu hỏi, khi trả lời phảikèm theo lời thưa cô (thầy) M: Thưa cô, tranh vẽ con bò Sau đó cho học sinhnhắc lại
Lúc đầu có thể giáo viên phải làm mẫu một vài lần, cho học sinh nhắc lạicâu trả lời với hình thức cá nhân, nối tiếp và đôi khi cho học sinh đọc câu trả lờiđồng thanh (cô đọc trước học sinh đọc lại sau) Với cách làm như vậy dần dầnhình thành thói quen cho học sinh nói đủ câu, đủ ý và trả lời câu hỏi rõ ràng đầy
đủ câu Quan tâm uốn nắn sửa sai kịp thời cho các em ở mọi lúc, trong bất kỳmôn học nào, sau vài lần sửa các em đã ý thức được việc nói phải đầy đủ câu
Mặt khác học sinh lớp 1 các em còn rất ngây thơ, trong tâm trí các em côgiáo luôn là hình mẫu chuẩn, lí tưởng Chính vì vậy mà mỗi lời nói, cử chỉ của
cô giáo luôn là tấm gương để học sinh bắt chước
* Với cách làm như vậy chỉ trong vòng 2 tháng đầu tiên khi bước vào lớp
1, Học sinh lớp tôi bước đầu đã biết cách trả lời câu hỏi đủ ý, đủ câu Học sinhkhông còn nói năng trống không, trả lời câu hỏi của giáo viên cụt lủn như cácnăm học trước Sau nhiều tiết thao giảng dự giờ tại lớp tôi, học sinh lớp tôi đượcđồng nghiệp và BGH nhà trường đánh giá là học sinh có kỹ năng trình bày và trảlời câu hỏi tốt
2.3.2 Giải pháp 2: Giúp học sinh hình thành kỹ năng nói thành đoạn
Trang 8Đối với học sinh lớp 1, để giúp học sinh nói, diễn đạt về một chủ đề nào
đó thành đoạn là việc làm vô cùng khó khăn, bởi học sinh chủ yếu là sống ởvùng nông thôn, ngôn ngữ giao tiếp ít, vốn từ của các em rất hạn chế, nghèo nàn.Chính vì vậy khi diễn đạt một vấn đề nào đó mà các em nhìn thấy thường rấtkhô khan và cụt ý
Ở mỗi bài học vần hay tập đọc thì sau mỗi chủ đề luyện nói thì mục tiêucuối cùng là học sinh phải nói được 2 đến 3 câu về chủ đề đó Chẳng hạn nhưmục tiêu cuối cùng của bài luyện nói : “Chia quà” này là học sinh phải nói được:
“Trong tranh vẽ cảnh bà đang chia quà cho các cháu Bà chia táo cho chị, chia
chuối cho em Hai chị em rất vui khi được bà chia quà”
Nâng cao hơn đối với học sinh nói tốt thì học sinh phải nói được: “Trong
tranh vẽ cảnh bà đang chia quà cho các cháu Bà chia táo cho chị, chia chuối cho em Hai chị em rất vui khi được bà chia quà Ở gia đình em, em thường được bà (ông) chia bánh(kẹo…) em rất thích mỗi khi được ông(bà) chia quà cho mình.”
Tuy nhiên phần đa học sinh chỉ có thể nói: “Tranh vẽ cảnh bà đang chia
quà cho bé Tranh vẽ bà chia táo cho chị, tranh vẽ bà chia chuối cho em”.
Chính vì vậy, giáo viên cần phải rèn cho học sinh kỹ năng diễn đạt chủ đềluyện nói thành đoạn ngắn, đủ ý, biết cách trả lời câu hỏi của giáo viên ngay từkhi bắt đầu vào lớp 1 Khi học sinh đã quen và đây cũng là lúc mà các em bướcvào các bài học âm vần, tập đọc bắt đầu có các chủ đề luyện nói tương ứng vớimỗi bài học Giáo viên bắt đầu tiếp tục rèn cho học sinh cách trình bày các chủ
đề luyện nói thành câu, thành đoạn, đúng chủ đề luyện nói
Ví dụ: Ở bài 39 chủ đề luyện nói là: Bà cháu Phần đa học sinh chỉ có thể
nói: “Tranh vẽ bà và cháu Bà đang kể chuyện cho các cháu nghe” Để giúp học
sinh có thể nói thành một đoạn về chủ đề trên, trước hết giáo viên phải hướngdẫn học sinh quan sát tranh, trả lời các câu hỏi gợi ý giáo viên đưa ra: Tranh vẽ
gì ? Bà đang làm gì? Ánh mắt bà nhìn các cháu như thế nào? Các cháu đang làmgì? Thái độ ra sao? Ở gia đình em ai là người thường kể chuyện cổ tích cho emnghe?
Với việc kết hợp các câu hỏi làm điểm tựa để giúp các em trả lời các vấn
đề xoay quanh chủ đề luyện nói, khi hướng dẫn học sinh luyện nói giáo viênphải thường xuyên chú ý cách trình bày, sửa cho các em câu, từ, cách dùng từngữ để diễn đạt Có như vậy mới hình thành cho học sinh nền nếp, thói quentrình bày một vấn đề nào đó phải có sự lô gíc Đây cũng là tiền đề để học sinh cókhả năng viết văn ở các lớp học tiếp theo
* Để giúp học sinh nói được thành đoạn ngắn đòi hỏi giáo viên phải kiênnhẫn, kiên trì hướng dẫn học sinh một cách thường xuyên Đồng thời phải đầu
tư dành nhiều thời gian nghiên cứu bài học Đặc biệt giáo viên phải coi việc giúphọc sinh luyện nói thành đoạn ở phần luyện nói trong các tiết 2 của tiết học vần
Trang 9lớp 1 không những giúp cho học sinh nói năng trôi chảy, trình bày 1 vấn đề nào
đó được rõ ràng, đủ ý, giúp người nghe hiểu được vấn đề mà nó còn giúp chohọc sinh lớp 1 hình thành một số kỹ năng học văn ở những lớp cao hơn Đâychính là kỹ năng cần thiết và rất quan trọng của các em học sinh
2.3.3 Giải pháp 3: Giúp học sinh nhận biết và có kỹ năng luyện nói đúng chủ đề:
Trong các chủ đề luyện nói ở phân môn Học vần lớp 1 được chia ra thành 2nhóm: Luyện nói theo chủ đề đã cho ở tất cả các tiết học vần và phần luyện nói– kể chuyện trong các tiết ôn tập
a) Luyện nói theo chủ đề:
Mỗi chủ đề luyện nói luôn gắn liền với cuộc sống, môi trường quen thuộc,gần gũi với sự hiểu biết của các em Đặc biệt ở mỗi bài học vần, tập đọc sẽ cóchủ đề nói tương ứng Chính vì vậy mà giáo viên cần xác định rõ, đúng mục tiêucủa chủ đề luyện nói để hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề
Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Giúp đỡ cha mẹ” ,”Con
ngoan trò giỏi””Những người bạn tốt”… Nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ lẫn
sang dạy đạo đức.Vì thế, để khắc phục điều này, tôi chỉ định hướng cho các emcâu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói:
- Em chỉ kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đãcảm ơn ai đó về điều gì?
- Kể những việc em đã làm để giúp đỡ cha mẹ của mình ?
- Kể những việc đã làm thể hiện em đã cố gắng để trở thành một ngườicon ngoan trong gia đình, một người trò giỏi của trường học? …
Hoặc khi dạy luyện nói những chủ đề về “Biển cả”; “Thung lũng, suối,đèo”; “Hươu, Nai, Gấu, Voi, Cọp”; “Sẻ, ri, bói cá, le le”; Gió, mây, mưa, bão,lũ”;…thường dễ lẫn sang dạy tự nhiên xã hội Do đó, tôi cũng cố gắng giúp họcsinh hiểu rõ nội dung chủ đề luyện nói bằng cách gợi ý những câu hỏi thật sátvới chủ đề, không sa vào tìm hiểu về đời sống của các động vật, sự vật, hiệntượng,…
Chẳng hạn với những chủ đề về các sự vật, hiện tượng xảy ra trong thiên
nhiên như: gió, mây, mưa, bão, lũ,…Tôi cho học sinh xem 1 số tranh ảnh liênquan đến các hiện tượng đó, học sinh sẽ nêu được tên của các sự vật trên Sau
đó, giáo viên chỉ cần nêu câu hỏi gợi ý để các em cùng thảo luận với nhau về cáchiện tượng thiên nhiên và tác hại của chúng
Với những chủ đề nói về động vật : Giáo viên có thể cho các em sắm vai
tên của các con vật trong chủ đề cần luyện nói Nêu lên nhận xét riêng của các
em về chúng như: Em thích hay không thích con vật đó? Hoặc nói lên cảm nhậncủa mình: Tại sao em lại thích, không thích con vật đó?
Điều đáng nói ở đây, trong chương trình phần gợi ý SGK qua hình vẽ haygợi ý ở SGV rất ít có khi chỉ có 1 - 2 câu gợi ý, hình ảnh không diễn tả hết nội
Trang 10dung chủ đề Bởi vậy, nếu người giáo viên chỉ làm theo SGK, SGV không mởrộng thêm thì học sinh khó có thể nói được Giáo viên chuẩn bị và đưa ra hệthống câu hỏi ngoài những gợi ý ở SGK để giúp các em tập trung những hiểubiết vốn có trong cuộc sống đề nói về chủ đề thông qua việc trả lời các câu hỏicủa giáo viên
Vì vậy, giáo viên phải đầu tư trong bài soạn, chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏigợi mở, có thể chẻ nhỏ các gợi ý đối với các đối tượng học sinh yếu thì mới cóthể phát huy vốn sống, kiến thức thực tế của trẻ trong tiết học
Ví dụ : Với chủ đề "Ngày chủ nhật” - bài 69, trong SGV chỉ có 2 câu hỏi
gợi ý Giáo viên có thể đưa thêm một số câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời: Trongtranh vẽ cảnh gì? Em thấy những gì trong công viên? Ở công viên thường cónhững gì? Ngày chủ nhật, bố mẹ cho em đi chơi ở đâu? Em hãy kể về một ngàychủ nhật của em? Tùy theo đối tượng học sinh, giáo viên có thể cho học sinh nóitheo khả năng của mình : 1 đoạn, 2 câu hay 1 câu
b) Luyện nói trong các tiết kể chuyện:
Trong chương trình Tiếng Việt 1 phần học vần, không có phân môn kểchuyện riêng, mà nó được lồng ghép tiết kể chuyện trong các bài ôn tập Họcvần Các tiết kể chuyện này mục đích cũng là giúp học sinh sau khi nghe xongcâu chuyện giáo viên vừa kể học sinh bằng sự tư duy của mình và vốn từ ngữnói (kể) lại được câu chuyện đó bằng ngôn ngữ của mình, không nhất thiết làphải thuộc lòng lời kể của câu chuyện mà vẫn giữ được nội dung câu chuyện
Ví dụ: khi học bài ôn tập 31 với chủ đề luyện nói là câu chuyện: Khỉ vàRùa
Giáo viên dùng tranh minh họa giới thiệu câu chuyện, nhân vật có trongcâu chuyện Sau đó giáo viên kể chuyện theo tranh 2-3 lần giúp học sinh nắmđược nội dung câu chuyện Sau đó giáo viên dùng hệ thống câu hỏi của mình đểhọc sinh nêu được nội dung câu chuyện Chia nhóm để học sinh đóng vai là cácnhân vật trong câu chuyện để kể lại từng đoạn chuyện, và cao hơn nữa là kể lạitoàn bộ câu chuyện Khỉ và Rùa bằng vốn từ ngữ và sự hiểu biết của mình
Trang 11dễ làm cho học sinh nhàm chán, không hứng thú với hoạt động luyện nói Đặcbiệt trong một lớp sẽ có nhiều đối tượng học sinh Chính vì vậy mà giáo viêncũng cần chia ra thành các nhóm chủ đề để chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý chotừng nhóm đối tượng, tuỳ nội dung từng bài.
* Đối với những chủ đễ gần gũi với cuộc sống
Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: Ba má; Quà quê;Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Điểm 10; Bữa cơm… Giáo viên gợi mởcho học sinh nói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, chọn lựa những hình thứctrò chơi học tập, v.v…Chẳng hạn như:
Với chủ đề nói về gia đình: Ba má, Bà cháu, Giúp đỡ cha mẹ, … giáo
viên có thể tổ chức cho học sinh sắm vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà,
ba mẹ đã yêu thương, quan tâm, chăm sóc em hoặc những tình cảm, việc làmcủa em thể hiện sự hiếu thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha
mẹ của mình Hay với những chủ đề nói về hoạt động, mối quan hệ của các em
ở trường như: Trong cặp sách của em, Các bạn lớp em, Xếp hàng vào lớp,…Giáo viên tổ chức cho các em sắm vai để các em tự giới thiệu, nói về chủ đề đóbằng chính thực tế của các em
Với chủ đề “Đá bóng” giáo viên có thể cho học sinh nhập vai kể lại một
pha tranh bóng đá mình đã tham gia
Với những chủ đề: Nặn đồ chơi; Ao choàng, áo len, áo sơ mi; Ghế đẩu,ghế xoay, ghế tựa; Phim hoạt hình; Đọc truyện tranh… Học sinh sẽ được thamgia chơi nặn hình bằng đất, tô màu, vẽ tranh, hay chọn các loại áo thích hợp vớithời tiết,…và nói về những sản phẩm mà các em đã hoàn thành hoặc nói lên vìsao lại có sự lựa chọn ấy
Khi học những chủ đề quen thuộc như: chủ đề “Hổ, báo, gấu, hươu, bài 42; chủ đề “ong, bướm, chim, cá cảnh”- bài 66,…giáo viên có thể khuyếnkhích học sinh sưu tầm hình ảnh, ảnh chụp các con vật, hoặc một số con vật nhỏthật có thể mang đến lớp để quan sát, thảo luận cùng nhau qua đó có thể cùngnhau luyện nói Chính đồ vật các em chuẩn bị có khi là sở thích của các em, các
nai”-em hiểu rõ về chúng hơn Bởi vậy sẽ tạo cho trẻ niềm vui, hứng thú khi các nai”-emđược nói, kể về chúng với bạn bè của mình Điều đó cũng góp phần giúp nộidung luyện nói của giáo viên đạt hiệu quả Đồng thời trong các buổi luyện nói
về các chủ đề quen thuộc này giáo viên cũng có thể cho học sinh nói theo hiểubiết của mình về những loài vật trong chủ đề
* Đối với các chủ đề khó nói
Với các chủ đề nói về cây cối, hoa trái, giáo viên có thể đưa những vậtthật hoặc tranh ảnh để học quan sát lấy điểm tựa để luyện nói
Ở những bài chỉ có 1- 2 câu gợi ý SGV, giáo viên có thể ứng dụng côngnghệ thông tin trong một phần nội dung của tiết học (ở phần luyện nói theo chủ