Cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông THPT môn Ngữ Văn đã có những thay đổi để phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục, bao gồm hai kĩ năng: đọc hiểu và tạo lập văn bản của học si
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục " Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào đạo nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"( Trích NQ 29
-NQ/TW - Hội Nghị lần thứ VIII của BCH Trung ương Đảng khóa XI) Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành đổi bước đầu chương trình kế hoạch dạy học, đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm tập trung phát triển năng lực tổng thể của người học
Cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) môn Ngữ Văn đã
có những thay đổi để phù hợp với xu hướng đổi mới giáo dục, bao gồm hai kĩ năng: đọc hiểu và tạo lập văn bản của học sinh Từ năm 2014 đến nay, đề thi Ngữ Văn THPT đã thay thế những câu hỏi mang tính kiểm tra ghi nhớ truyền thống bằng câu hỏi đọc hiểu Các câu hỏi ở phần đọc hiểu được sắp xếp theo hướng đánh giá năng lực của người học ở các mức độ: Nhận biết Thông hiểu -Vận dụng
Phần đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT chiếm 3.0 điểm/10 điểm, tức
là chiếm 30% tổng số điểm toàn bài Để đạt tổng điểm toàn bài thi Ngữ Văn THPT từ khá trở lên, học sinh phải làm tốt và chắc chắn phần đọc hiểu Kết quả
đó đòi hỏi sự nỗ lực và nhạy bén của cả người dạy và người học Rèn luyện kĩ năng thực hành đọc hiểu cho học sinh không khó, quan trọng là cách thức thực hiện Giải quyết tốt phần đọc hiểu còn tạo tâm thế tốt cho học sinh trong quá trình làm bài Vì vậy, chú trọng phần đọc hiểu và tập trung rèn luyện kĩ năng làm đề đọc hiểu cho học sinh lớp 12 trong kì thi tốt nghiệp THPT là rất cần thiết
Thực tế những lần trả bài rút kinh nghiệm, tôi nhận thấy rằng: Một bộ phận không nhỏ học sinh 12 THPT chưa chú ý một cách đúng mức Học sinh quan tâm đến phần đọc hiểu nhưng gặp nhiều lúng túng trong cách trả lời các câu hỏi vận dụng Một số đồng nghiệp trẻ còn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các cách thức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Khi tìm được tài liệu lại nặng về lí thuyết trừu tượng khiến học sinh không nhớ hoặc nhớ máy móc và không có khả năng tự thực hành vận dụng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng ôn thi Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn những năm tới
Vì những lý do trên, tôi cũng xin mạnh dạn chia sẻ với các quý vị đồng
nghiệp dạy bộ môn Ngữ văn THPT đề tài: "Một số kinh nghiệm rèn luyện kĩ năng thực hành đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT vài năm gần đây".
1.2 Mục đích nghiên cứu
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành các dạng đề đọc hiểu cho học sinh
Góp phần nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT bộ môn Ngữ Văn THPT
Trang 2Chia sẻ cùng đồng nghiệp các kinh nghiệm hệ thống kiến thức cơ bản và thực hành luyện tập đề đọc hiểu trong kì thi tốt nghiệp THPT hiệu quả nhất
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập rèn kĩ năng thực hành, ứng dụng kĩ năng đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT qua 3 mức độ: Nhận biết - Thông hiểu - Vận dụng
Đối tượng thực nghiệm đề tài này là học sinh 12 THPT Lam Kinh do tôi trực tiếp giảng dạy Bao gồm 02 lớp: 12 A4 - 42 học sinh và 12A7 - 41 học sinh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết: Tìm hiểu thu thập các tài liệu dạy học thực hành phần đọc hiểu, xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài
Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu bài làm thực tế của học sinh; khảo sát hiệu quả ứng dụng đề tài; tham khảo những nhận xét, góp ý của đồng nghiệp về những mặt tích cực, hạn chế khi đề tài; khảo sát từ phía học sinh khả năng tiếp thu bài học thực hành đọc hiểu
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc vận dụng kỹ năng thực hành đọc hiểu trong đề thi THPT năm 2019 của học sinh; sử dụng đề tài vào giảng dạy và đánh giá ưu – nhược điểm của những kinh nghiệm đó
Trang 32 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Quan niệm về đọc hiểu
Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa tường, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu
và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc
và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe [1]
Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?.[1]
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic kết hợp với năng lực, tư duy và diễn đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng;
ý đồ, mục đích Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật
Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề Đọc hiểu môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết
2.1.2 Phân biệt hoạt động đọc hiểu và câu hỏi đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT
Thực tế dạng câu hỏi đọc hiểu rất phong phú, đa dạng Lý thuyết đọc – hiểu nằm ở diện rộng rải rác từ chương trình học ngữ văn THCS (lớp 6,7,8,9) đến ngữ văn THPT (lớp 10,11,12) Ngữ liệu có thể nằm trong chương trình sách giáo khoa và cả ngoài sách giáo khoa Bản chất của vấn đề không hoàn toàn mới Vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường xuyên trong các bài giảng văn Các thầy cô vẫn thường cho học sinh tiếp cận văn bản bằng cách đọc ngữ liệu, sau đó đặt câu hỏi để học sinh trả lời, nghĩa là đang diễn ra hoạt động đọc hiểu
Giữa hoạt động đọc hiểu và dạng câu hỏi đọc hiểu có nét tương đồng và khác biệt Nét tương đồng là phương thức tiếp cận văn bản là giống nhau từ
đọc rồi đến hiểu Nét khác biệt là hoạt động đọc hiểu trong dạy học văn nói
Trang 4chung là hoạt động trên lớp có sự định hướng của người thầy, câu hỏi đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT là hoạt động độc lập, sáng tạo của học sinh nhằm đánh giá năng lực người học Những kiến thức trong dạng câu hỏi đọc hiểu rất phong phú Học sinh phải biết huy động những kiến thức đã học ở các lớp dưới
để trả lời câu hỏi Vì vậy, rèn kuyện kĩ năng thực hành câu hỏi càng phải thường xuyên hơn
2.2 Thực trạng vấn đề
2.2.1 Nhận diện câu hỏi đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT
Trong vài năm gần đây, câu đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT thường hướng tới những vấn đề cụ thể sau:
Nhận biết đúng, chính xác về thể loại của văn bản, các phong cách ngôn ngữ, các phương thức biểu đạt, thao tác lập luận
Thông hiểu đề tài, chủ đề, nhan đề, thực hành tóm tắt nội dung của văn bản ngoài chương trình sách giáo khoa Đánh giá nội dung ý nghĩa bằng kiến thức và kinh nghiệm của bản thân Cảm nhận được đặc sắc nổi bật của văn bản
về từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, các biện pháp tu từ
Vận dụng hiểu biết và kinh nghiệm bản thân để giải quyết một vấn đề đời sống và xã hội cụ thể Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình
Các dạng câu hỏi này đã xuất hiện thường xuyên trong đề thi Ngữ Văn THPT trong các kì thi tốt nghiệp THPT những năm trước, THPT Quốc gia vài năm và học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa vài năm gần đây Dạng câu hỏi này cũng được các thầy cô sử dụng trong các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định
kì Minh chứng cho điều này, tôi giới thiệu vắn tắt các câu hỏi trong đề thi minh họa môn Ngữ Văn THPT Quốc gia năm 2019 và đề thi chính thức môn Ngữ Văn THPT Quốc gia năm 2019
Đề thi tham khảo môn Ngữ văn THPT Quốc gia 2019 của Bộ
GD&ĐT[2]
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
Nhiều người cho rằng phát triển là điều tốt Nhưng chỉ ít người dám cống hiến cả cuộc đời mình cho sự phát triển đó Tại sao vậy? Bởi vì muốn phát triển đòi hỏi phải có sự thay đổi, trong khi đó họ lại không sẵn sàng cho bất cứ
sự thay đổi nào Tuy nhiên, một sự thật hiển nhiên là nếu không thay đổi thì không thể có sự phát triển Nhà văn Gail Sheehy đã khẳng định:
“Nếu không thay đổi thì sẽ không bao giờ phát triển Nếu không phát triển thì không phải là cuộc sống Phát triển đòi hỏi phải tạm thời từ bỏ cảm giác an toàn Điều này có nghĩa là phải từ bỏ lối sống quen thuộc nhưng luôn bị hạn chế bởi tính khuôn mẫu, tính an toàn, những điều không bao giờ khiến cuộc sống của bạn tốt hơn được Những điều đó sẽ khiến bạn không còn tin tưởng vào các giá trị khác, mọi mối quan hệ đều không còn ý nghĩa Nhà văn
Trang 5Dostoevsky nói: “Tiến thêm một bước, nói thêm một lời là những điều đáng sợ nhất” Nhưng trên thực tế, điều ngược lại mới là điều đáng sợ nhất.”
Tôi nghĩ không có gì tồi tệ hơn là cứ sống mãi một cuộc sống trì trệ, không bao giờ thay đổi và không bao giờ phát triển
(John C Maxwell - Cách tư duy khác về thành công, NXB Lao động - Xã
hội, 2015, tr.130) Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Chỉ ra tác hại của việc không dám từ bỏ lối sống quen thuộc được nêu trong đoạn trích
Câu 2 Theo anh/chị, “điều ngược lại” được nói đến trong đoạn trích là gì? Câu 3 Việc tác giả trích dẫn ý kiến của Gail Sheehy có tác dụng gì?
Câu 4 Anh/Chị có cho rằng việc từ bỏ lối sống an toàn, quen thuộc để phát triển đồng nghĩa với sự liều lĩnh, mạo hiểm không? Vì sao?
Đề thi chính thức môn Ngữ Văn THPT Quốc gia 2019 của Bộ GD&ĐT[3]
I ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM)
Đọc đoạn trích
Biết nói gì trước biển em ơi!
Trước cái xa xanh thanh khiết không lời Cái hào hiệp ngang tàng của gió
Cái kiên nhẫn của nghìn đời sóng vỗ Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời Cái giản đơn sâu sắc như đời
Chân trời kia biển mãi gọi người đi Bao khát vọng nửa chừng tan giữa sóng Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng Bao kiếp vùi trong đáy lặn mù tăm Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng Bay trên biển như bồ câu trên đất
Biển dư sức và người không biết mệt Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi
Thực hiện các yêu cầu sau
Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Anh chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào
Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng Bao kiếp vùi trong đáy lặn mù tăm
Câu 3 Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau:
Cái hào hiệp ngang tàng của gió Cái kiên nhẫn của nghìn đời sóng vỗ Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời Cái giản đơn sâu sắc như đời
Trang 6Câu 4: Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh chị suy nghĩ gì?
2.2.2 Mức độ thực hành câu hỏi đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT
Khung phân phối chương trình môn Ngữ Văn gồm Đọc văn, Làm văn và Tiếng Việt Sách giáo khoa Ngữ Văn 10,11,12 tập trung cho phần Đọc văn và Làm văn Thời lượng dành cho việc dạy học phần tiếng Việt chưa nhiều Khảo sát khung phân phối chương trình năm 2018 - 2019:
Các bài tiếng Việt chủ yếu tập trung ở mức độ nhận biết, thông hiểu mà chưa đi sâu vào hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức trong văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể hiện Những giáo viên giảng dạy theo phương pháp truyền thống sẽ ít tập trung cho học sinh tiếp cận các câu hỏi đọc hiểu ở mức độ vận dụng Trong khi đó, câu vận dụng lại là câu chiếm nhiều số điểm nhất (1,0 điểm)
Sự quan tâm, hứng thú của học sinh dành cho phần đọc hiểu chưa phù hợp với yêu cầu và tầm quan trọng của phần đọc hiểu trong đề thi Ngữ THPT Kĩ năng thực hành câu đọc hiểu chậm, sai sót nhiều và chưa hiệu quả Thời gian dành cho phần đọc hiểu còn nhiều ảnh hưởng đến bố cục của cả bài thi
Thực tế các kỳ thi THPT Quốc gia các năm trước cho thấy, nhiều học sinh làm phần đọc hiểu lan man, nhất là những dạng câu hỏi: Nêu nội dung chính, lý giải vì sao tác giả lại cho là vậy, hoặc viết một đoạn văn … có em viết gần một trang giấy Các em làm không đúng yêu cầu phương pháp vừa mất thời gian mà điểm số cũng không cao hơn được Ví dụ phần câu hỏi liên tưởng thực tế đề thường yêu cầu viết khoảng 5-7 dòng
2.2.3 Kết quả thực hành câu hỏi đọc hiểu trong đề thi Ngữ Văn THPT
Trước khi thực hiện đề tài, tôi tiến hành khảo sát kết quả bài thi Ngữ Văn THPT Quốc gia của học sinh khối 12 trường THPT Lam Kinh năm học 2016
-2017 và -2017 - 2018 Tổng số học sinh toàn khối 12: 358 học sinh tương ứng 100% Kết quả như sau:
Mức điểm Dưới 5đ Từ 5 - 6đ Từ 6 - 7đ Từ 7
-7,5đ
Trên 7,5đ
2016
-2017
2017
-2018
(Nguồn từ Vnedu.vn)
Trang 7Khảo sát kết quả phần đọc hiểu trong bài thi khảo sát chất lượng ôn thi THPT Quốc gia Ngữ Văn lần 1 năm 2019 của học sinh khối 12 trường THPT Lam Kinh năm học 2018 - 2019 với số học sinh 367 như sau:
Mức điểm Dưới 1,0đ Từ 1,25 - 1,5đ Từ 1,75 - 2đ Trên 2đ
(Nguồn từ bài thi của học sinh)
2.3 Đề xuất giải pháp
2.3.1 Hệ thống kiến thức đọc hiểu
Kiến thức đọc hiểu rất rộng Giúp học sinh hệ thống và phân biệt qua các dấu hiệu nhận diện rất quan trọng Sơ đồ tư duy hay lập bảng biểu là một phương pháp hiệu quả, giúp đơn giản hóa, hệ thống ý logic Cách làm này sẽ giúp học sinh có thể ghi nhớ kiến thức đọc hiểu ngắn gọn, dễ dàng thông qua các hình ảnh, dấu hiệu dễ nhận biết Từ đó, vận dụng để bài làm đạt điểm tối
đa Việc làm này giúp các em tiết kiệm thời gian và tập trung nhiều hơn cho kĩ năng thực hành
Thể thơ: Trong đề thi THPT môn Ngữ Văn, các ngữ liệu đọc hiểu bằng
thơ thường bắt đầu bằng câu hỏi nhận biết các thể thơ Trong đề thi các năm
2018 và 2019, câu hỏi nhận biết: Xác định thể thơ? Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào? Vì vậy, trong đề tài này, tôi giúp học sinh dấu hiệu nhận biết
các thể thơ thường gặp:
- Mỗi câu thường có 5 chữ
- Thường được chia thành nhiều khổ nhỏ, mỗi khổ gồm 4 dòng thơ
- Một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liền nhau
- Thường bắt đầu bằng câu 6 chữ và kết thúc bằng câu 8 chữ
3 Song thất lục bát
- Mỗi đoạn có 4 câu
- 2 câu đầu mỗi câu 7 chữ; câu thứ ba 6 chữ, câu thứ 4 tám chữ
4 Thất ngôn bát cú Đường luật
- Câu 1 và 2 là phá đề và thừa đề
- Câu 3 và 4 là Thực hay Trạng, dùng để giải thích hoặc đưa thêm chi tiết bổ nghĩa đề bài cho rõ ràng
- Câu 5 và 6 là Luận, dùng để bàn luận cho rộng nghĩa hay cũng có thể dùng như câu 3 và 4
- Câu 7 và 8 là Kết, kết luận ý của bài thơ
5 Thơ tự do - Đếm số chữ trong 1 dòng thơ, dòng nhiều dòng ít
Trang 8không gò bó, không theo quy luật
Phương thức biểu đạt: Xác định phương thức biểu đạt là một trong
những yêu cầu thường gặp trong phần Đọc hiểu của đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn Có 6 phương thức biểu đạt thường xuất hiện trong văn bản Cụ thể: STT Phương thức biểuđạt Dấu hiệu nhận diện
- Dùng ngôn ngữ để kể lại một hoặc một chuỗi các sự kiện, có mở đầu -> kết thúc
- Có sự kiện, cốt truyện, có diễn biến câu chuyện,
có nhân vật, có các câu trần thuật/đối thoại
- Xuất hiện trong bản tin báo chí, bản tường thuật, tường trình, tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện, tiểu thuyết, thơ)
- Dùng ngôn ngữ để tái hiện lại những đặc điểm, tính chất, nội tâm của người, sự vật, hiện tượng
- Các câu văn miêu tả, từ ngữ sử dụng chủ yếu là tính từ
- Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ có tính chất kể trong thơ
- Dùng ngôn ngữ bộc lộ cảm xúc, thái độ về thế giới xung quanh
- Câu thơ, văn bộc lộ cảm xúc của người viết
- Có các từ ngữ thể hiện cảm xúc: ơi, ôi
- Dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc
lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác đồng tình với
ý kiến của mình
- Có vấn đề nghị luận và quan điểm của người viết
- Từ ngữ trong thơ thường mang tính khái quát cao (nêu chân lí, quy luật)
5 Thuyết minh
- Trình bày, giới thiệu các thông tin, hiểu biết, đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng
- Các câu văn miêu tả đặc điểm, tính chất của đối tượng
- Có thể là những số liệu chứng minh
6 Hành chính - công vụ
- Văn bản hành chính
- Hợp đồng, hóa đơn
- Đơn từ, chứng chỉ
Trang 9Thao tác lập luận: Trong một văn bản, người ta thường dùng nhiều thao
tác lập luận khác nhau nhưng sẽ có một thao tác lập luận chính nổi bật Bảng dưới đây giúp thí sinh nhận biết rõ ràng cụ thể hơn
STT Thao tác lập luận Dấu hiệu nhận diện
1 Giải thích
Dùng lí lẽ để cắt nghĩa, giảng giải sự vật, hiện tượng, khái niệm giúp người đọc, người nghe hiểu đúng ý của mình
Chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để
đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng
3 Chứng minh
Đưa ra những cứ liệu – dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề đó ( Đưa lí lẽ trước - Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận chứng minh thuyết phục hơn Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.)
4 So sánh Đặt đối tượng trong mối tương quan, cái nhìn đôisánh để thấy đặc điểm, tính chất của nó
5 Bình luận Đánh giá hiện tượng, vấn đề tốt/xấu, đúng/sai
6 Bác bỏ Trao đổi, tranh luận để bác bỏ những ý kiến sai
lệch
Phong cách ngôn ngữ:
STT Phong cách ngônngữ Dấu hiệu nhận diện
- Dùng trong giao tiếp hàng ngày, chức năng thông tin, bộc lộ cảm xúc
- Dạng biểu hiện: Đối thoại, độc thoại, nhật kí, thư từ
2 Nghệ thuật
- Dùng trong các văn bản văn học, ngôn ngữ truyền cảm, thẩm mĩ
- Dạng biểu hiện: Truyện, thơ, kịch bản văn học
- Dùng trong lĩnh vực thông tin các sựu kiện thời
sự, chức năng tác động
- Dạng biểu hiện: Bản tin, phóng sự, tiểu phẩm
- Dùng trong lĩnh vực chính trị xã hội, chức năng chứng minh - tác động
- Dạng biểu hiện: Tuyên bố, tuyên ngôn, xã luận
5 Khoa học - Dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập, phổ
Trang 10biến khoa học, chức năng chứng minh
- Dạng biểu hiện: Luận văn, bài học sách giáo khoa
- Dùng trong lĩnh vực hành chính, chức năng thông báo
- Dạng biểu hiện: Nghị định, thông tư
Biện pháp tu từ: Với những câu hỏi tìm biện pháp tu từ, học sinh có thể
căn cứ vào dấu hiệu nhận biết, tác dụng để trả lời
So sánh
Đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn
Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động,
cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc
Nhân hóa
Sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi
vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn
Làm cho đối tượng hiện
ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn gần với con người
Ẩn dụ
Gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc
Hoán dụ
Gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc
Nói quá
Phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm
Khiến các sự việc, hiện tượng hiện lên một cách
ấn tượng với người đọc, người nghe
Nói giảm nói
tránh
Dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển để tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu lịch sự
Làm giảm nhẹ đi ý muốn nói (đau thương, mất mát) nhằm thể hiện
sự trân trọng
Liệt kê Sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay
cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ,
Diễn tả cụ thể, toàn diện nhiều mặt