Đóng góp mới của đề tài - Về lí luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa một số khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh.Trên cơ sở đó xác định yêu cầu và đề xuất một số biện pháp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
TRƯƠNG THỊ THU HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3
QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
Ở TRƯỜNG TRIỂU HỌC TÂN NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA: 55
Quảng Bình, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
TRƯƠNG THỊ THU HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3
QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
Ở TRƯỜNG TRIỂU HỌC TÂN NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA: 55
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ NGA
Quảng Bình, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất từ sâu thẳm lòng mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quý thầy cô giáo Trường Đại học Quảng Bình và các thầy cô trong khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt ba năm học tập tại trường, giúp em có được những hành trang vững chắc để bước vào sự nghiệp trồng người của mình Đặc biệt là sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Nga người đã trực tiếp dìu dắt và giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn BGH, quý thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Tân Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu thực tiễn và kiểm tra tính khả thi của đề tài
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất song do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Tác giả đề tài
Trương Thị Thu Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
Tác giả đề tài
Trương Thị Thu Huyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp mới của đề tài 4
7 Cấu trúc đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.2 Cơ sở lý luận 6
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.2.2 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ 10
1.2.3 Giáo dục đạo đức và sự phát triển của trẻ em 11
1.2.4 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc 13
1.2.5 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc 14
1.2.6 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 3 17
1.3 Cơ sở thực tiễn 21
1.3.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (phần Tập đọc) 21
1.3.2 Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường Tiểu học Tân Ninh 28 CHƯƠNG 2 39
Trang 6MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TẬP ĐỌC ĐỂ TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 3 39
2.1 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học Tập đọc nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 39
2.2 Đổi mới các hình thức dạy học Tập đọc để tích hợp GD đạo đức cho HS lớp 3 46
2.3 Rèn kỹ năng đọc - kể trong dạy học Tập đọc để tích hợp giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 52
2.4 Tăng cường đọc hiểu hình tượng nghệ thuật trong dạy học Tập đọc để tích hợp giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 54
CHƯƠNG 3 59
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 59
3.2 Kế hoạch thực nghiệm 60
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 60
3.4 Tiến hành thực nghiệm 69
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 69
PHẦN KẾT LUẬN 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.0 Nội dung giáo dục đạo đức trong dạy học Tập đọc lớp 3 23 Bảng 1.1 Ý kiến của GV, HS và PH trong lựa chọn môn học chiếm ưu thế nhất khi tích hợp GD đạo đức 29 Bảng 1.2 Nhận thức về mục tiêu của việc GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 30 Bảng 1.3 Nhận thức về sự cần thiết phải GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 30 Bảng 1.4 Nhận thức về quy trình tích hợp 31 Bảng 1.5 Những căn cứ của GV khi lựa chọn nội dung tích hợp GD đạo đức 32 Bảng 1.6 Mức độ tích hợp GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 33 Bảng 1.7 Thái độ của HS khi học phân môn Tập đọc có tích hợp GD đạo đức 33 Bảng 1.8 Kết quả của việc GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 34 Bảng 1.9 Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm của học sinh lớp 3 71
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
1.1 Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện Một con người hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường Có thể nói, việc hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế hệ trẻ
là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết nhất Giáo dục đạo đức cho học sinh là mục tiêu cơ bản của công tác giáo dục Sinh thời chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài
làm việc gì cũng khó” Đức là nền tảng tạo đà cho tài phát triển, tài làm cho đức
phát triển toàn diện vững chắc làm gia tăng các giá trị xã hội cho mỗi người
“Trong tương lai tri thức là quyền lực, giáo dục đạo đức là chìa khóa cuối cùng
mở cánh cửa vào tương lai” Việc giáo dục đạo đức là vấn đề cấp thiết cho bất
kỳ một quốc gia nào
Sự nghiệp đổi mới xã hội ta hiện nay đòi hỏi phải có những con người mang đầy đủ phẩm chất đạo đức để thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thế hệ trẻ hôm nay
là tương lai của đất nước ngày mai nền giáo dục không thể chú trọng vào “trí
dục” mà xem nhẹ “đức dục” được Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
1.2 Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục Tiểu học là nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để các em tiếp tục học lên trung học cơ sở Vì vậy, việc giáo dục đạo đức là vấn đề rất quan trọng Đặc biệt đối với học sinh Tiểu học việc giáo dục đạo đức phải được quan tâm hàng đầu
Lâu nay việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học chủ yếu thông qua phân môn “Đạo đức” Đạo đức của mỗi người được tích lũy dần không chỉ được học trong một phân môn mà cần được tích hợp vào nhiều môn học khác
Phân môn Tập đọc ngoài những nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách thì nó còn có nhiệm vụ giáo dục nhân cách thông qua nội dung nghệ thuật của tác phẩm văn học Hơn bất cứ bài giảng đạo đức nào, những hình tượng nghệ thuật có khả năng cao nhất, nhạy bén nhất, có khả năng lây lan cảm
Trang 10xúc, đi vào lòng người, dễ cảm hóa, giúp giáo dục cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt đẹp
1.3 Thực tế hiện nay, trong các trường phổ thông nói chung, trường Tiểu học nói riêng luôn đặt giáo dục đạo đức cho học sinh lên hàng đầu Đội ngũ giáo viên đã chủ động, tích cực giáo dục học sinh phát triển toàn diện Đa số các em
có phẩm chất đạo đức tốt, các em nhạy bén trong việc tiếp cận cái mới Song ít nhiều vẫn còn có một bộ phận học sinh suy giảm về đạo đức Không ít hiện tượng vô lễ, nói tục, chửi bậy, rải rác còn xuất hiện tệ nạn xã hội ở các trường học
Một số giáo viên chỉ chăm lo đến việc dạy kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục đạo đức Một số khác thì dạy học một cách thụ động cho học sinh qua môn Đạo đức mà chưa có những giải pháp dạy học tích hợp, lồng ghép trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở các môn học khác
Là sinh viên năm cuối của ngành Giáo dục Tiểu học, tôi nhận thấy việc nghiên cứu đề tài này sẽ bước đầu trang bị cho mình những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để phục vụ cho quá trình dạy học sau này Mặt khác, đây là việc làm góp phần giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng sống cơ bản và cần thiết để các em hòa nhập với cộng đồng, với thời đại hiện nay
Trên cơ sở điều tra, khảo cứu cả phương diện lí luận và thực tiễn về việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học, tôi lựa
chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập đọc ở
trường Tiểu học Tân Ninh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích một cách cụ thể và rõ ràng các cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
- Phân tích về mặt thực tiễn, nghiên cứu thực trạng dạy học giáo dục đạo đức qua dự giờ và phiếu điều tra
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập đọc
- Tiến hành thực nghiệm, kiểm tra tính khả thi trong việc vận dụng các biện pháp giáo dục đạo đức
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập đọc ở Trường Tiểu học Tân Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (phân môn Tập đọc)
Học sinh và giáo viên tiểu học (lớp 3)
Trường Tiểu học Tân Ninh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng GD đạo đức cho học sinh lớp 3 qua phân môn Tập đọc ở Trường Tiểu học Tân Ninh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3
- Thực nghiệm sư phạm
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu để thu thập thông tin nhằm tìm hiểu, tham khảo, xây dựng đề cương nghiên cứu và được sử dụng để xây dựng cơ sở lí luận trong suốt quá trình thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát biểu hiện về đạo đức của các em học
sinh và quan sát các giờ dạy Tập đọc lớp 3 của giáo viên ở Trường Tiểu học Tân
Ninh nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thử nghiệm
- Phương pháp điều tra bằng Anket: Nhằm thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm: Sử dụng phương pháp thực nghiệm để kiểm
tra khả năng ứng dụng hệ thống câu hỏi và bài tập trong giờ Tập đọc Kết quả
thực nghiệm là cơ sở để đánh giá hướng nghiên cứu và tính khả thi cuả đề tài
- Phương pháp trò chuyện: Sử dụng phương pháp trò chuyện để nắm bắt
những đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu được mức độ nhận thức về đạo đức
Trang 12của học sinh để từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục phù hợp và đúng đắn cho
đề tài
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích kết quả điều tra thực trạng và làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu về vấn đề GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3
6 Đóng góp mới của đề tài
- Về lí luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa một số khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh.Trên cơ sở đó xác định yêu cầu và đề xuất một số biện pháp trong quá trình dạy phân môn “Tập đọc” nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp, hình thành cho các em nhận thức đúng đắn trong cách nhěn nhận về đạo đức, lối sống, về cái thiện, lòng bao dung, tính tự trọng, nhân cách sống…
và trong các mối quan hệ với moi người
- Về thực tiễn: Đề tài là tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên trong quá trình dạy và học phân môn “Tập đọc” để giáo dục đạo đức cho học sinh
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua
phân môn Tập đọc
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong những vấn đề mà hiện nay đang được thế giới quan tâm:
Chính vì vậy đã có không ít những công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này
- Có thể kể đến Francois Junllien với “Xác lập cơ sở đạo đức” đã tìm ra nguyên vật liệu để tạo nền tảng cơ sở cho sự phát triển đạo đức của con người
- Trong cuốn “Đạo đức học”, G Ban-đê–lat–de đã chỉ ra những quan điểm luận điểm khoa học về đạo đức, mối quan hệ của đạo đức với các ngành khoa học khác Sự hình thành, phát triển và vị trí của nó đối với giáo dục nói chung
- A.N Leeonchieo lại nói về tác động của giá trị đạo đức vào hoạt động của
ý thức, sự hình thành và phát triển nhân cách con người trong cuốn “Hoạt động của ý thức, nhân cách”
Tại một số quốc gia, giáo dục đạo đức được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế Chẳng hạn:
Ở Mỹ: GD đạo đức hướng HS trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nước
Ở Thái Lan: GD đạo đức hướng HS nhận thức được những điều tốt, quan tâm đến điều tốt và làm điều tốt
Ở Rwanda: GD đạo đức hướng đến giáo dục lòng yêu hoà bình (giải quyết xung đột, tự nhận thức, và tinh thần cộng đồng)
Ở Ma-rốc: GD đạo đức hướng đến các vấn đề như vệ sinh, các vấn đề nổi cộm ở đô thị, bảo quản nguồn nước
Ở Trung Quốc: GD đạo đức được lồng ghép vào các môn học trong nhà trường giáo dục lao động và xã hội
Ở Miến Điện: Dự án của UNICEF đã có tác động đối với giáo trình và tiến trình giảng dạy cũng như học tập Các chủ đề bao gồm: sức khoẻ, vệ sinh cá nhân, sự phát triển thể chất, sức khoẻ tâm thần, phòng tránh các bệnh tiêu chảy, rối loạn do thiếu iôt, lao phổi, sốt rét, và HIV/AIDS
Trang 14Như vậy, GD đạo đức cho HS là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm Ở một số quốc gia, GD đạo đức được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực
tế
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như:
Phạm Minh Hạc: “Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới”, bàn về tầm quan trọng trong các tác phẩm đạo đức của con người mới trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các vấn đề giáo dục có liên quan nhằm bồi dưỡng con người trong thời kì mới
Nguyễn Công Hoan với “Giá trị đạo đức và giáo dục những giá trị đạo đức cho trẻ em, thực trạng của nó tại một số trường mầm non khu vực phía Bắc” Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một trong những chủ đề luôn được các đọc giả quan tâm và có vị trí đặc biệt quan trọng, giúp học sinh hình thành những chuẩn mực đạo đức Đây là nội dung được đề cập đến trong nhiều công trình
Trên nền tảng cơ sở vững chắc và định hướng quý báu trong việc triển khai
đề tài Viêc bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc là một vấn đề đang được nhiều nhà giáo dục quan tâm, đề cập trên nhiều phương diện, tuy nhiên nó vẫn chỉ dừng lại ở mức khái quát chung Với đề tài này, tôi tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 3 qua phân môn “Tập đọc” nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho học sinh Tiểu học
Trang 15- Nghĩa rộng: Giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các tác động sư phạm khác diễn ra trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội Đó là một quá trình trọn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
- Nghĩa hẹp: Giáo dục được hiểu như là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo đức, tư tưởng và hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động
cơ, tình cảm, thái độ và những thói quen, hành vi cư xử đúng đắn trong xã hội Như vậy giáo dục trước hết là sự tác động của những nhân cách này đến những nhân cách khác, tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục cũng như tác động của những người được giáo dục với nhau Chính thông qua những loại hình hoạt động của người học được thực hiện trong những mối quan hệ xã hội nhất định mà nhân cách của người học được hình thành và phát triển
1.2.1.2 Đạo đức
Đạo đức là một nhân tố quan trọng của nhân cách và được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề đánh giá tốt - xấu, đúng - sai, lành - ác, dữ - hiền Trong phạm vi lương tâm con người hệ thống phép tắc đạo đức là trừng phạt mà đôi lúc còn được gọi là giá trị đạo đức Đạo đức gắn liền với văn hóa, chủ nghĩa nhân văn triết học và pháp luật của một người hay nói một cách dễ hiểu đạo đức là khuynh hướng tốt trong tâm hồn con người mà khuynh hướng đó tạo nên những lời nói, hành vi bên ngoài phù hợp với những quy tắc xử sự của cộng đồng xã hội khiến cho mọi người xung quanh được an vui, lợi ích Có thể nói đạo đức là cái tốt, cái đúng ở bên trong con người được chuẩn hóa thành lời và hành vi tốt đẹp bên ngoài tức là con người có nhận thức đúng, tốt về sự vật hiện tượng
Mặt khác, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong các hình thái ý thức xã hội Theo quan niệm Mác - xít, đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực hành vi của con người và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ của người này với người khác, việc thực hiện nghĩa vụ của con người đối với xã hội
Việc thực hiện các quy tắc đạo đức, chuẩn mực đạo đức phản ánh các quan
hệ, hành vi của cá nhân đối với cộng đồng, xã hội thông qua những lợi ích nhất định
Chuẩn mực đạo đức là những phép tắc mang tính quy phạm - tính khuôn mẫu trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội
Trang 16Đó là những yêu cầu được thể hiện bằng những tiêu chuẩn cụ thể, làm cơ sở cho hành vi của con người
Ví dụ :
“Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
( Tục ngữ, ca dao Việt Nam ) Nội dung của khái niệm đạo đức bao gồm những điểm cơ bản:
Một là : Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nên nó phản ánh trực tiếp
hoặc gián tiếp sự tồn tại xã hội, do đó:
- Đạo đức biến đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội Vì vậy, mỗi thời đại
có các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức khác nhau
- Đạo đức có mối quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác:
+ Đạo đức với chính trị: Bản chất của đạo đức mang tính giai cấp Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang nội dung giai cấp Các giai cấp thống trị áp đặt những tiêu chuẩn đạo đức của giai cấp mình dưới những hình thức, quy tắc, chuẩn mực cho toàn xã hội nhằm bảo vệ sự thống trị về chính trị của họ Vì thế, đạo đức trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng chứa đựng nội dung chính trị và phục vụ chính trị
+ Đạo đức với pháp luật: Chúng đều là sự tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực hành vi phù hợp với yêu cầu của mỗi xã hội nhất định Tuy nhiên, pháp luật bao hàm một số chuẩn mực đạo đức quan trọng tối thiểu bắt buộc người dân trong xã hội phải thực hiện để đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị Còn đạo đức gồm hệ thống chuẩn mực tối đa, trong đó có chuẩn mực của pháp luật Việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng sự trừng phạt của Nhà nước Còn đạo đức được bảo đảm bằng lương tâm và sự phê phán của dư luận xã hội Do đó, trong thực tế có những trường hợp không bị luật pháp trừng phạt, nhưng lại bị tòa án lương tâm phán xét
+ Đạo đức và khoa học: Khoa học là hệ thống tri thức về thế giới, trong đó bao hàm tri thức đạo đức Đạo đức chân chính đòi hỏi con người sống phù hợp với quy luật của sự tiến bộ xã hội Vì thế bản thân đạo đức cũng mang tính chân
lí, chỉ khi đó nó mới góp phần giải phóng con người khỏi sự lạc hậu nô lệ Điều này được thể hiện trong các phạm trù của Đạo đức học Mác - Lênin
Hai là: Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người
Nếu pháp luật điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, thì đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh của dư
Trang 17luận xã hội Sự điều chỉnh đó được thực hiện thông qua “cơ chế” xấu hổ trước người khác và trước bản thân
Ba là: Đạo đức là một hệ thống các giá trị thông qua sự đánh giá của người
khác hoặc của bản thân đối với một hành vi nào đó mà bộc lộ ra theo các tuyến: khẳng định hoặc phủ định hành vi đó
- Từ khái niệm trên cho thấy rằng:
+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành nên các giá trị đạo đức của con người Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu đạo đức một cách chung nhất: Đạo đức
là hệ thống những nguyên tắc chuẩn mực, quy tắc do xã hội đề ra nhằm mục đích đánh giá và điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong quan hệ của nó đối với xã hội, đối với cá nhân khác và đối với bản thân phù hợp với lợi ích của xã hội
1.2.1.3 Giáo dục đạo đức
Từ khi lọt lòng mẹ, con trẻ đã có những mầm mống, những tiền đề của nhận thức đạo đức căn bản như nhận thức bản thân, lựa chọn, phán đoán,… nhưng ở dạng bản năng chưa có ý thức Trong quá trình trưởng thành, bằng tri thức và những trải nghiệm của đời sống, bằng rèn luyện và tự rèn luyện, những tiền đề ấy được nâng lên và trở thành nhận thức của cá nhân Việc giáo dục để biến nhận thức ở dạng bản năng thành dạng có ý thức theo hướng tích cực là rất quan trọng
Giáo dục đạo đức có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học
từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội
Đồng thời giáo dục đạo đức là một quá trình giáo dục lâu dài được hình thành từ thấp đến cao từ những việc cụ thể trong cuộc sống đời thường từ đó phát triển rộng lên Giáo dục nhân cách hành vi đạo đức con người là một quá trình giáo dục cần phải đặc biệt coi trọng bởi vì quá trình đó làm cho con người
Trang 18nhận được những yếu tố sau: Làm chủ tập thể, yêu lao động, yêu chủ nghĩa xã hội, có lòng yêu nước, biết đoàn kết giúp đỡ nhau, biết coi trọng mọi người Giáo dục đạo đức không chỉ cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện theo các lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của con người, theo cả bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI mà còn thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua những thử thách của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm, trí tuệ xã hội
Theo quan niệm mới, trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy Trong khi tương tác với môi trường sống, đòi hỏi con người phải có sự tương tác với môi trường xã hội Việc cùng sống và hoạt động trong cộng đồng với nhiều người khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, đồng thời sự chẩn đoán phù hợp về hành động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và ra quyết định về hành động của bản thân Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có một thành tố trí tuệ khác nữa ngoài trí thông minh (IQ) và trí sáng tạo (CQ), đó là trí tuệ xã hội (Social Int) Trí tuệ xã hội là một dạng trí tuệ được định nghĩa là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác
Nó diễn ra trong hoạt động cùng với người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã hội nhất định
Từ những phân tích về đạo đức và mục tiêu của giáo dục đạo đức, có thể rút ra khái niệm về giáo dục đạo đức như sau: Giáo dục đạo đức là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi, nhận thức đúng đắn và thay đổi những hành vi, nhận thức tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, thái độ, kỹ năng thích hợp
1.2.2 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ
- Giáo dục đạo đức là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm góp nhần
hình thành nhân cách toàn diện cho con người
“Đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối….Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa” ( Hồ Chí Minh) Chính vì vậy, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là việc làm quan trọng và rất cần thiết
Ngày nay, với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, con người nắm trong tay những lực lượng khoa học và kĩ thuật hết sức hùng hậu, có giá trị và sức sáng tạo lớn, đồng thời cũng có sức tàn phá và hủy
Trang 19diệt kinh khủng Bước tiến phi thường đó đòi hỏi mỗi người, mỗi dân tộc phải
có lương tâm trách nhiệm cao, tâm hồn và đạo đức trong sáng của lòng nhân ái
Sự phát triển không coi trọng đúng mức đến việc phát triển văn hóa, rèn luyện đạo đức ở một loạt nước phát triển đã bắt đầu phải trả giá
“Vấn đề đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước, mà là vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người” (Aurello Peccei - Một tram trang viết về tương lai - suy nghĩ của Chủ tịch Câu lạc bộ Roma - Paris, 1981)
Vì sao như vậy? Xin tham khảo lời phát biểu của Elisse - Paris
(18/11/1989): “Ta hãy thú nhận với nhau: Về phương diện đạo đức xã hội
chúng ta đang còn mò mẫm tiến lên Các vấn đề ưu tiên của chúng ta hình như không được định hướng Chúng ta quan tâm đến các vấn đề vũ trụ nhiều hơn việc tìm kiếm đạo đức hay việc tìm kiếm nền đạo đức Con người đi lên gần mặt trăng nhưng không bước đến gần đồng loại hơn Con người thăm dò đáy biển và giới hạn của vũ trụ trong khi người láng giềng liền cửa với mình là kẻ xa lạ Chúng ta sống đến tuổi già, nhưng tuổi già lại trở thành gánh nặng và một điều nguyền rủa”
- Công cuộc đổi mới XHCN cũng nhằm tiếp tục nhân đạo hóa các quan hệ
giữa người với người, giữa con người và môi trường sống, dân chủ hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho các nguyên tắc đạo đức mới được khẳng định trong các chính sách và chủ trương, trong các hoạt động và quan hệ xã hội Việc chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước càng đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ, nhân đạo, dân chủ Hướng về tương lai, nhất thiết phải coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ trở thành người công dân có ý thức trách nhiệm công dân, tinh nhần và tác phong khoa học và công nghệ, tự chủ, năng động, sáng tạo
Chính bởi vậy, công tác giáo dục phải hướng vào “Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam và không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động,
tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, kết hợp sức mạnh của cả cộng đồng - con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của CNXH” (NQTƯ 4 - Khóa VII, 4 - 1993)
1.2.3 Giáo dục đạo đức và sự phát triển của trẻ em
1.2.3.1 Khái niệm
Trang 20Giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình tác động từ nhiều con đường khác nhau làm cho nhân cách của học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức Tạo
cơ sở để các em có hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với người khác và xã hội Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức là học sinh có được các phẩm chất tốt đẹp, bền vững, có bản lĩnh để ứng xử đúng trong các mối quan hệ xã hội
1.2.3.2 Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển của trẻ em
Trẻ em - công dân - chủ nhân tương lai của đất nước, phải được quan tâm giáo dục toàn diện và được hưởng một nền giáo dục đầy đủ, với điều kiện tốt nhất hiện có (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam, 1991), “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” Chính vì thế, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bây giờ phải học, học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức” Đó là một tư tưởng lớn của thời đại, một định hướng đúng đắn của nền giáo dục hiện tại và tương lai
Trong xu thế hội nhập toàn cầu không có gì cưỡng lại hiện nay, vấn đề bảo
vệ môi trường, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa, vấn đề giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng đang là mối quan tâm của các quốc gia Trong sự phát triển nền giáo dục của mỗi nước, đồng thời với việc cập nhật thông tin khoa học, công nghệ vào nhà trường, còn cần phải quan tâm đến định hướng giáo dục giá trị đạo đức và nhân văn cho thế hệ trẻ
Với vị trí đặc biệt quan trọng - là người quyết định vận mệnh của dân tộc trong tương lại, nên trẻ em có quyền được chăm lo, giáo dục để phát triển và có bổn phận thực hiện tự giáo dục để trau dồi, rèn luyện nhân cách toàn diện, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
Giáo dục đạo đức cho học sinh có vai trò rất quan trọng: Góp phần hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho các em, giúp trẻ em rèn luyện ý thức, trách nhiệm, hành vi công dân ngay từ nhỏ tuổi, biết sống hợp ðạo lí và tuân thủ pháp luật Không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ xã hội này sẽ làm cho nhân cách của học sinh phát triển méo mó, nhất là hiện nay, nhiều tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức, thái độ, trách nhiệm,
hành vi sống của trẻ em Một nhà giáo dục học đã tổng kết: “Làm hỏng một đồ
vàng có thể làm lại, làm hỏng một viên ngọc quý có thể bỏ đi, nhưng làm hỏng một con người là một tội lỗi”
Với tầm quan trọng của đạo đức và giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành nhân cách học sinh, trước nguy cơ tấn công và xâm nhập của tiêu cực và
Trang 21tệ nạn xã hội vào nhà trường, trước yêu cầu cấp bách của việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Giáo dục 2005 đã xác định mục tiêu của giáo dục
phổ thông: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” Trong đó, mục tiêu của giáo dục Tiểu học là: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học
cơ sở” (Điều 27) Được giáo dục và phát triển toàn diện là quyền và bổn phận
của trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991
Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là vấn đề cần thiết, trước hết vì vị trí của trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những công dân tốt, đủ phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ gánh vác vận mệnh của dân tộc Đó là nhiệm vụ chính hàng đầu của nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, cung cấp, rèn luyện, hình thành cho học sinh những kĩ năng cơ bản như: giao tiếp, đọc, viết, tính toán Giáo dục đạo đức là một trong các con đường quan trọng để hình thành kĩ năng giao tiếp có văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh
Mặt khác, thực tiễn đạo đức đầy biến động, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen đang từng ngày từng giờ tác động vào học đường Do đó, giáo dục đạo đức là một nội dung giáo dục hết sức cần thiết và quan trọng nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, kinh nghiệm, thái độ đúng mực trong lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội
1.2.4 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc
+ Giáo dục ý thức đạo đức: Cung cấp tri thức, giúp học sinh hiểu được một
số nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ở mức sơ giản, cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh, từ đó có nhận thức đúng về sự phù hợp giữa hành vi ứng xử của mình với lợi ích xã hội, tích lũy kinh nghiệm đạo đức ứng xử đúng
+ Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức: Bồi dưỡng, giúp học sinh hình thành xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực, bền vững để đảm bảo cho hành vi đạo đức
Trang 22luôn nhất quán với yêu cầu đạo đức, hình thành niềm tin đạo đức, từ đó tạo ra động cơ đạo đức trong sáng trong việc thực hiện bổn phận, trách nhiệm đạo đức của mình
+ Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Giúp học sinh rèn luyện thói quen hành vi đúng chuẩn mực, biết hành động phù hợp với yêu cầu đạo đức của xã hội, kế thừa và phát triển truyền thống đạo đức của dân tộc trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giáo dục văn hóa ứng xử, hành vi văn minh trong giao tiếp, thực hiện “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”
Ba nhiệm vụ trên quan hệ mật thiết với nhau Để thực hiện các nhiệm vụ đó đòi hỏi nhà giáo dục phải tổ chức tốt các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường để học sinh thường xuyên được vận dụng, thực hành trong các mối quan
hệ của các em theo đúng chuẩn mực đạo đức
1.2.5 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học qua phân môn Tập đọc
Ở Tiều học quá trình giáo dục đạo đức nhằm vào việc hình thành các chuẩn mực hành vi, phẩm chất đạo đức vững chắc Vì vậy, quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc là quá trình thực hiện 3 nhiệm vụ:
+ Giáo dục ý thức đạo đức
+ Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
+ Giáo dục hành vi thói quen đạo đức
Nội dung giáo dục đạo đức cho HS Tiểu học được thể hiện qua nội dung cụ thể của việc thực hiện các nhiệm vụ đó
- Giáo dục ý thức đạo đức
Giáo dục ý thức đạo đức là quá trình cung cấp cho HS những tri thức đạo đức cơ bản, sơ đẳng về các chuẩn mực hành vi, trên cơ sở đó bước đầu hình thành niềm tin đạo đức cho HS Các chuẩn mực hành vi này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức: Lòng yêu nước, lòng nhân ái, thái độ mới đối với lao động, tinh thần tập thể, tính kỉ luật Chúng phản ánh các mối quan hệ hằng ngày với các em, đó là :
+ Quan hệ của cá nhân đối với xã hội: Tôn kính Quốc kì, Quốc ca, kính yêu Bác Hồ; tự hào về đất nước, con người Việt Nam; biết ơn những người thương binh liệt sĩ, các chiến sĩ Quân đội, công an; yêu quê hương, làng xóm, phố phường; yêu mến và tự hào về Trường, lớp; giữ gìn môi trường sống xung quanh, bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa do cha ông để lại
Trang 23+ Quan hệ của cá nhân đối với công việc, lao động: trước hết là biết chăm chỉ, kiên trì vượt khó trong học tập, có phương pháp học tập tốt, tích cực tham gia các công việc khác nhau (lao động tự phục vụ, lao động sản xuất, lao động công ích chi xã hội )
+ Quan hệ của cá nhân đối với những người xung quanh: đầu tiên là lòng hiếu thào với ông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình; kính trọng và biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè; tôn trọng
và giúp đỡ hàng xóm láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật, theo khả năng của mình
+ Quan hệ của cá nhân đối với tài sản xã hội, tài sản của người khác: tôn trọng, bảo vệ tài sản của nhà trường (trường lớp, bàn ghế, dụng cụ lao động, sách vở, đồ dung học tập, dụng cụ thí nghiệm ), của Nhà nước (nhà cửa, máy móc, hàng hóa, các di tích lịch sử - văn hóa, những nơi công cộng ), của người khác (đồ đạc, thư từ )
+ Quan hệ của cá nhân đối với thiên nhiên: bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi ở, nơi học, nơi chơi, nơi qua lại, bảo vệ cây trồng, cây xanh có ích, động vật nuôi, động vật có ích, diệt trừ động vật có hại (chuột, muỗi, dán ), làm vệ sinh môi trường
+ Quan hệ của cá nhân đối với bản thân: khiêm tốn, thật thà, bạo dạn, giữ
vệ sinh, có trách nhiệm với lời nói và việc làm của mình
Khi thực hiện giáo dục đạo đức cho HS, đối với từng chuẩn mực hành vi đạo đức, cần giúp HS hiểu:
+ Yêu cầu của chuẩn mực: yêu cầu HS thực hiện điều gì? Làm gì?
+ Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi: việc thực hiện mang lại lợi ích, tác dụng gì? Nếu không thực hiện mà làm trái lại thì có tác hại gì?
+ Cách thực hiện chuẩn mực đó: để thực hiện chuẩn mực cần làm những công việc gì? Làm như thế nào?
Những tri thức đạo đức này giúp HS biết thêm được cái đúng - cái sai, cái tốt - cái xấu, cái thiện - cái ác từ đó các em sẽ làm bài theo cái đúng, ủng hộ cái tốt, tán thành cái thiện và đấu tranh phê phán, tránh cái sai, cái xấu, cái ác
ý thức đạo đức đúng đắn sẽ có tác dụng định hướng cho thái độ, tình cảm, hành
vi đạo đức
- Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
Trang 24Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức cho HS là hình thành trong HS những rung động cảm xúc đối với hiện thực xung quanh, làm cho các em biết yêu, biết ghét rơ ràng, qua đó có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể .Thái độ thờ ơ, lãnh đạm là sản phẩm không mong muốn của giáo dục tình cảm
Đối với HS Tiểu học, cần giáo dục những thái độ, tình cảm như:
+ Kính yêu Bác Hồ, tôn trọng Quốc kì, Quốc ca; biết ơn các thương binh liệt sĩ, bộ đội; yêu mến trường, lớp, quê hương làng xóm
+ Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo; tôn trọng và yêu mến bạn bè; tôn trọng những người xung quanh: hàng xóm, phụ nữ, cụ già, em nhỏ
+ Yêu lao động, chăm học, chăm làm việc trường, việc lớp
+ Có lòng tự trọng, khiêm tốn học hỏi, trung thực
+ Có thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành những tấm gương, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức và ngược lại, có thái độ lên án, phê phán những người có hành động xấu, làm hại người khác, xã hội, cộng đồng
+ Yêu thiên nhiên, có thái độ giữ gìn môi trường sống xung quanh
Tình cảm đạo đức được hình thành dựa vào ý thức đạo đức đúng đắn và được củng cố khẳng định qua hành vi; ngược lại, nó có tác dụng thức đẩy, tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực, thực hiện hành vi đạo đức
- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức
Xét đến cùng, việc giáo dục một chuẩn mực, một nét phẩm chất đạo đức nào đó cho HS phải dẫn đến kết quả cuối cùng là HS thực hiện được những hành
vi tương ứng trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt, biết cách ứng xử trong các mối quan hệ hàng ngày Hành vi đó chỉ được hình thành thông qua luyện tập và rèn luyện hàng ngày, trở thành thói quen của HS và được thể hiện như một nét tính cách bền vững
Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho HS lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, cuộc sống, nhằm có được hành vi đạo đức đúng đắn, từ đó có thói quen đạo đức bền vững
Ở Tiểu học, cần hình thành cho HS các hành vi, thói quen đạo đức như: + Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình bằng những việc làm vừa sức
+ Lễ phép với người lớn, đặc biệt với ông bà, anh chị, cô giáo
Trang 25+ Làm được những việc vừa sức để giúp đỡ thầy cô giáo, hàng xóm, láng giềng, phụ nữ, cụ già, em nhỏ, người tàn tật
+ Có những việc làm nhân đạo vừa sức đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nạm anh hùng, giúp đỡ những người gặp thiên tai, khó khăn, các bạn khuyết tật, thiệt thòi
+ Có hành động, việc làm phù hợp bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng, môi trường thiên nhiên, đồ đạc người khác
Cần giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ em ngay từ nhỏ, tức là hình thành cho trẻ em hành vi không những đúng về đạo đức, mà còn đẹp về thẩm mĩ
Các nội dung giáo dục đạo đức trên nhằm hình thành cho HS các phẩm chất đạo đức sau:
+ Trong quan hệ cá nhân - xã hội: Yêu nước, tự hào dân tộc, yêu hòa bình, biết ơn các bậc tiên liệt có công với nước, tôn trọng các dân tộc khác
+ Quạn hệ cá nhân - lao động: Yêu lao động, cần cù, tiết kiệm, quý trọng người lao động, bảo vệ thành quả lao động và di sản văn hóa
+ Quan hệ cá nhân với người khác: yêu thương con người, hợp tác tương trợ lẫn nhau, lịch sự, tôn trọng người khác (danh dự, tài sản); quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người khác (ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, thầy cô giáo, hàng xóm láng giềng .), lễ phép với người lớn, nhường nhịn em nhỏ
+ Quan hệ cá nhân - môi trường tự nhiên: Bảo vệ môi trường (nguồn nước, vật nuôi, cây trồng)
+ Quan hệ cá nhân - bản thân: thật thà, giản dị, kiên trì, vượt khó, khiêm tốn, dung cảm, trách nhiệm với lời nói và việc làm của bản thân
1.2.6 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 3
- Đặc điểm về mặt sinh lý
Học sinh lớp 3 (9 tuổi) là thời kì cơ thể các em phát triển mạnh mẽ cả về chiều cao và cân nặng Trọng lượng não phát triển bằng người lớn, đặc biệt thùy trán phát triển mạnh Có sự cân bằng hơn trong hoạt động của 2 quá trình hưng phấn và ức chế Ở lứa tuổi này các em đang có sự hoàn thiện về cơ thể, trẻ bắt đầu có dấu hiệu của dậy thì, các em cũng có biểu hiện ưa thích việc tham gia vào các hành vi định hình giới tính và hay tò mò, thích khám phá bản thân, hay bắt chước người lớn
- Đặc điểm về mặt nhận thức
+ Tri giác
Trang 26Nhận thức cảm tính của HS lứa tuổi này đã phần nào mang tính khái quát, các em đã biết tìm các dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, hiện tượng Tri giác của học sinh lớp 3 bắt đầu mang tính xúc cảm và tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Tri giác cũng bắt đầu có tính chủ định: biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó [8; 142]
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
+ Tư duy
Học sinh cuối bậc tiểu học tư duy đã có thay đổi về chất, tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ Các em đã biết tổng hợp các sự vật, hiện tượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn, phát triển rõ rệt hơn so với các lớp đầu bậc tiểu học nhất là trình độ phân tích, khái quát hóa, óc phê phán, thể hiện rõ nhất là ở
HS khá, giỏi Các em lĩnh hội kiến thức không chỉ một chiều Vì vậy, trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học giáo viên cần chú ý thiết kế các hoạt động kích thích tư duy và khả năng phân tích, tổng hợp của các em
+ Tưởng tượng
Ở lứa tuổi này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ, trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,… Đặc biệt trí tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Tưởng tượng của HS Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với giai đoạn trước HS nào càng có nhiều tưởng tượng thì HS càng gần hiện thực hơn
Sở dĩ như vậy là do các em đã có kinh nghiệm khá phong phú, đã lĩnh hội được những tri thức do nhà trường đem lại
Trong quá trình dạy học phân môn Tập đọc, GV cần khơi dậy trí tượng tượng của HS trong các điều kiện thực tế, dần hình thành những phẩm chất đạo đức cần thiết ban đầu trong hoàn cảnh cụ thể để phát triển các khả năng ứng xử, đối phó phù hợp
+ Chú ý
Giai đoạn này, chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế Ở trẻ đã
có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập Tuy nhiên, cùng một lúc các em chưa có khả năng chú ý được nhiều đối tượng, sức tập trung chú ý của các em
Trang 27chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn Vì vậy, khi tổ chức dạy học ở bậc Tiểu học cần chú ý thay đổi nhiều hình thức hoạt động để tránh được sự nhàm chán, mất trật tự ở các em, tạo được sự tập trung chú ý, hứng thú và thu hút các em tham gia vào hoạt động chung
Bên cạnh đó GV lưu ý sự tập trung chú ý của các em có thể kéo dài khoảng từ 30 đến 35 phút GV vận dụng sao cho có thể tác động vào khả năng chú ý của các em, có thể lôi cuốn các em vào hoạt động học tập nắm kiến thức
và GD đạo đức cho các em
+ Trí nhớ
Ở lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa nhưng đến giai đoạn lớp 3 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ
có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em
Bên cạnh đó, ở HS Tiểu học thì trí nhớ trực quan hình tượng phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em nhớ và giữ gìn chính xác các sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn là những định nghĩa, giải thích dài dòng Vì vậy, khi GD đạo đức cho HS trong quá trình dạy học phân môn Tập đọc nói riêng và các môn học khác nói chung, giáo viên cần vận dụng nhiều hình thức, các phương pháp mới, sinh động, gây cảm xúc, ấn tượng để các em ghi nhớ tốt
+ Ý chí
Ở lớp 1, 2 hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn Đến lứa tuổi lớp 3 các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời Do đó việc bồi dưỡng ý chí và rèn các hành vi đạo đức cho các em cần làm thường xuyên liên tục ở mọi lúc mọi nơi
- Đặc điểm về mặt tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung Đối với HS bậc Tiểu học, tình cảm còn có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền với nhận thức, với hoạt động của trẻ em Těnh cảm tích cực không chỉ kích thích trẻ em nhận thức mŕ cňn thúc đẩy trẻ em hoạt động
Ở lứa tuổi Tiểu học, các em dễ xúc cảm, xúc động Các em còn chưa biết kiềm chế tình cảm của mình nên thường bộc lộ tình cảm một cách chân thật, hồn
Trang 28nhiên và chưa có khả năng điều khiển, điều chỉnh được những cảm xúc của mình Do đó, cần khơi dậy những cảm xúc tự nhiên của HS đồng thời khéo léo,
tế nhị rèn luyện cho các em khả năng tự làm chủ cảm xúc, tình cảm của mình Tình cảm của HS lớp 3 nói riêng và HS bậc Tiểu học nói chung mang tính
cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc Các em thích ðýợc nghe kể chuyện, yêu vật nuôi, cây trồng, dễ xúc ðộng và cũng dễ nổi giận, dễ khóc mà cũng nhanh cýời Chính vì thế mà GD đạo đức là cách hữu hiệu nhất để bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp và các phẩm chất đạo đức đúng đắn cho các em
Vì vậy trong quá trình DH, người GV luôn chú ý phát huy tính tích cực xã hội, điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã hội nơi trẻ Bên cạnh đó, phát huy vai trò làm gương của người lớn cho các em noi theo
Nếu tình trạng phát triển tâm lí xã hội thành công thì sẽ có tác động tốt đến
sự phát triển của HS, ngược lại những rắc rối trong giai đoạn này sẽ khiến HS có cảm giác thất bại và thua sút Việc hình thành và phát triển nhân cách không thể trong một thời gian ngắn, mà nó được thực hiện theo dần thời gian nhằm phát triển nhân cách HS một cách toàn diện
- Sự phát triển nhân cách
Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt; đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành Ở lứa tuổi này, sự phát triển nhân cách của các em dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động từ bên ngoài như: ảnh hưởng từ hành vi, lời đánh giá của bạn bè; ảnh hưởng từ những người xung quanh như: ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; ảnh hưởng từ môi trường, Vì vậy, trong quá trình GD, chúng ta cần phát huy tính tích cực xã hội, điều kiện hình thành nhân cách mang đậm nét xã hội nơi trẻ; đồng thời các thầy giáo cô giáo, cha mẹ phải luôn là tấm gương tốt để các em noi theo Nếu tình trạng phát triển tâm lí xã hội thành công thì sẽ có tác động tốt tới sự phát triển của trẻ, ngược lại những rắc rối trong giai đoạn này sẽ khiến trẻ có cảm giác thất bại và thua sút Việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
Trang 291.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (phần Tập đọc)
- Vị trí, nhiệm vụ của dạy Tập đọc ở Tiểu học
Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Đọc theo cách hiểu thông thường là hoạt động chuyển từ chữ viết sang dạng âm thanh - ngữ nghĩa của ngôn ngữ
Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái niệm “đọc” một cách đầy đủ Nhiều chỗ, người ta chỉ nói đến đọc như nói đến việc sử dụng bộ mã chữ - âm, còn việc chuyển từ âm sang nghĩa đã không được chú ý đúng mức
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn
đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không dung hòa được mình vào cuộc sống bình thường trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đó biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan
hệ trong tự nhiên và xã hội, có khả năng giao tiếp với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học và học cả đời
Vì những lẽ trên, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học Trước hết là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Nó
Trang 30tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đại văn minh Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kỹ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời
và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ năng khác Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được Nhiều khi khó nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng Vì vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào
Nhiệm vụ thứ hai của dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sáchcho học sinh Làm cho sách được tôn kính trong trường học, đó là một trong những điều kiện
để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hoá Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là
có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển
Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ: Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh; phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh; giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh
- Nội dung chương trình SGK Tiếng Việt lớp 3 (phần Tập đọc)
Trang 31Tập đọc ở lớp 3 được học trong 31 tuần (không kể 4 tuần ôn tập), mỗi tuần
có 2 tiết, có tất cả 62 tiết/năm Các bài Tập đọc được phân bố vào từng tuần cùng với các phân môn khác như Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập làm văn
Lớp 3 có 15 chủ điểm, cụ thể như sau:
1 Cậu bé thông minh - Đối đáp thông minh, lễ phép
Hai bàn tay em - Yêu quý bản thân
Đơn xin vào Đội - Thể hiện bản thân, biết cách viết đơn
2
Ai có lỗi - Dũng cảm nhận lỗi và quý trọng tình bạn,
tha thứ cho bạn khi mắc lỗi
Khi mẹ vắng nhà - Tình yêu thương mẹ, biết giúp đỡ và hiểu
được nỗi vất vả của mẹ
Cô giáo tí hon - Yêu quý và kính trọng thầy cô giáo
3
Chiếc áo len - Tình thương mẹ, nhường nhịn em
Quạt cho bà ngủ - Biết yêu quý ông bà
Chú sẻ và bông hoa
bằng lăng
- Tình cảm thắm thiết của cây trồng, vật nuôi đối với con người
Trang 32Người lính dũng cảm - Dũng cảm nhận lỗi và sửa lỗi
Mùa thu của em - Yêu thiên nhiên, quê hương đất nước
Cuộc họp của chữ viết - Biết cách ghi nhớ trình tự của một cuộc họp
thông thường
6
Bài tập làm văn - Tình thương yêu đối với mẹ, nói lời biết
giữa lấy lời và luôn sô gắng khi gặp bài khó Ngày khai trường - Yêu quý mái trường của mình
Nhớ lại buổi đầu đi
Giọng quê hương - Hãy luôn giữ giọng quê hương, nơi chôn
rau, cắt rốn với những kỉ niệm thân thương Quê hương - Luôn nhớ và yêu quý quê hương, đất nước
Về quê hương - Ca ngợi tình yêu quê hương và dung ài năng
của mình để thể hiện điều đó
Trang 33Cửa Tùng
- Cửa Tùng là một trong những danh thắng của nước ta, biết yêu quý và tự hòa về cảnh đẹp đất nước
14
Người liên lạc nhỏ - Kim Đồng là người dũng cảm, nhanh trí,
yêu nước
Nhớ Việt Bắc -Tình cảm gắn bó, yêu thương, ngưỡng mộ
cảnh vật và con người Việt Bắc
Hũ bạc của người cha - Biết được chỉ có công sức lao động của đôi
bàn tay mới làm nên của cải, vật chất
Nhà bố ở - Tình cảm của người dân miền núi với quê
hương
Nhà rông ở Tây Nguyên
- Ca ngợi vẻ đẹp của những ngôi nhà rông ở Tây Nguyên, nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng quan trọng của người dân tộc Tây Nguyên
16
Đôi bạn
- Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của nhừng người làng quê, họ sẵn sang chia sẻ khó khăn với người khác, sẵn sang hi sinh cứu người và lòng chung thủy của người dân thành phố đối với người đã giúp đỡ mình
Về quê ngoại - Thêm yêu cuộc sống và thêm yêu con
người
Trang 34Ba điều ước - Sống có ích, sống đẹp mới là điều đáng mơ
ước
17
Mồ Côi xử kiện - Ca ngợi sự thông minh, lém lỉnh trong xử
kiện của Mồ Côi
Anh Đom Đóm - Ca ngợi sự cần mẫn, chăm chỉ làm việc
Âm thanh thành phố - Qua những âm thanh ta càng thêm yêu
thành phố
19
Hai Bà Trưng - Biết được tinh thần anh dũng, bất khuất dấu
tranh chống giặc ngoại xâm
Bộ đội về làng - Tình quân dân thắm thiết trong thời kì
kháng chiến
20
Ở lại với chiến khu
- Tinh thần yêu nước, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hi sinh cì Tổ quốc của các chiến sĩ nhỏ tuổi
Chú ở bên Bác Hồ - Lòng biết ơn sâu sắc đối với các liệt sĩ đã hi
sinh vì Tổ quốc
Trên đường mòn Hồ
Chí Minh
- Hiểu được sự vất vả khó khăn của các chiến
sĩ khi di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh tiến vào giải phóng miền Nam
21
Ông tổ nghề thêu - Ghi nhớ và tôn thờ những người có công
đối với nhân dân
Bàn tay cô giáo - Thể hiện sự khâm phục, quý mến của học
sinh đối với cô giáo
Nhà bác học và bà cụ - Ca ngợi sự cống hiến của các nhà bác học
Cái cầu - Thấy được tình yêu và tự hào của bạn nhỏ
đối với cha của mình
Chiếc máy bơm - Ca ngợi sự sáng tạo, lao động cần cù và sự
cảm thông với nỗi vất vả của những người dân
25 Hội vật - Chiến thắng luôn nghiêng về người bình
tĩnh và giàu kinh nghiệm
Trang 35Hội đua voi ở Tây
Nguyên
- Biết được nét sinh hoạt cộng đồng độc đáo của đồng bằng các dân tộc Tây Nguyên
Ngày hội rừng xanh - Vẻ đẹp và sự sinh động của các con vật, sự
vật trong ngày hội rừng xanh
Đi hội chùa Hương
- Ca ngợi cảnh đẹp của đất nước, yêu đất nước và yêu thiên nhiên hơn
Cùng vui chơi - Tham giá các trò chơi để giúp chúng ta tinh
mắt, dẻo dai, khỏe người và học tập tốt Tin thể thao - Ca ngợi sự kiên trì ắt sẽ thành công
29
Buổi học thể dục - Gương quyết tâm vượt khó của người tật
nguyền Lời kêu gọi toàn dân
- Cần yêu thương và bảo vệ mái nhà chung
Ngọn lửa Ô-lim-pic - Thể hiện ước vọng hòa bình, hữu nghị của
các dân tộc trên thế giới
31
Bác sĩ Y-éc-xanh - Sống để yêu thương và giúp đỡ đồng loại
Bài hát trồng cây - Kêu gọi mọi người hăng hái trồng và bảo vệ
cây xanh Con cò - Có ý thức giữ gìn vẻ đẹp thanh bình của
đồng quê
32 Người đi săn và con
vượn
- Con người hãy bảo vệ động vật
33 Cóc kiện trời - Ca ngợi lòng dũng cảm, quyết tâm và phối
hợp với nhau
Trang 36Mặt trời xanh của tôi - Tình yêu quê hương, đất nước
Quà của đồng nội - Tình yêu với những sản vật của quê hương
34
Mưa - Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống gia đình, yêu người lao động
Trên con tàu vũ trụ - Tình yêu trái đất, yêu cuộc sống thiết tha
74 HS tại trường Tiểu học Tân Ninh - Quảng Ninh - Quảng Bình, 49 PHHS, 30
GV trực tiếp giảng dạy
- Thời gian khảo sát: từ tháng 02/03/2017 đến tháng 02/04/2017
tự nhiên Giáo viên cũng đã nắm vững nội dung, phương pháp, bám sát mục tiêu
để lập kế hoạch bài dạy Đặc biệt giáo viên có tâm huyết với nghề, đã có nhiều giờ dạy khá thành công Học sinh được tiếp cận với phương pháp học tập theo
mô hình trường học mới từ lớp 2 nên các em đã mạnh dạn, tích cực, chủ động, biết cách lĩnh hội kiến thức, thực hành luyện tập dưới sự hướng dẫn của cô giáo Tuy nhiên, một số giáo viên đôi lúc vẫn còn xem nhẹ việc chuẩn bị bài, thiếu sự đầu tư, nghiên cứu đổi mới Do đó, khi lên lớp còn lúng túng, thiếu chủ động hoặc công thức, máy móc, cứng nhắc, thiếu cụ thể đối với từng đối tượng học sinh
Phần lớn các em học sinh có hứng thú học phân môn Tập đọc; đọc và phát
âm tốt Nhưng vốn từ ngữ, năng lực hiểu nội dung văn bản của các em còn hạn chế; kỹ năng liên hệ và vận dụng vào thực tiễn chưa được tốt; mức độ giáo dục đạo đức, kỹ năng sống còn hời hợt, hiệu quả chưa cao
Trang 371.3.2.2 Qua phiếu điều tra
Để đánh giá thực trạng GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 ở Trường Tiểu học Tân Ninh, ngoài việc tham gia dự giờ các tiết dạy của
GV chúng tôi còn tiến hành điều tra và phỏng vấn các GV, HS và PHHS của các trường và kết quả thu được như sau:
a) Thực trạng nhận thức về việc GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3
- Nhận thức của GV, HS và PHHS về sự cần thiết phải GD đạo đức cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Tiếng Việt
+ Nhận thức về môn học chiếm ưu thế nhất trong việc tích hợp GD đạo đức
Bảng 1.1 Ý kiến của GV, HS và PH trong lựa chọn môn học chiếm ưu thế
Trang 38+ Nhận thức về mục tiêu của việc GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3
Bảng 1.2 Nhận thức về mục tiêu của việc GD đạo đức cho học sinh qua
Nhằm giáo dục hình thành các hành vi giao tiếp xã hội,
hành vi giao tiếp cộng đồng, các hành vi cần thiết, phù
hợp với lứa tuổi
0 0
3 Góp phần bồi dưỡng nhận thức, góp phần mở rộng hiểu
biết về tự nhiên, xã hội và con người 0 0
Như vậy qua kết quả điều tra ta thấy được rằng phần lớn GV đã nhận thức khá đầy đủ về mục đích của việc GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3 Còn một bộ phận nhỏ GV chưa có nhận thức phù hợp về quan điểm tích hợp GD đạo đức Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc vận dụng tích hợp vào dạy học Tập đọc ở lớp 3
Bảng 1.3 Nhận thức về sự cần thiết phải GD đạo đức cho học sinh qua
phân môn Tập đọc lớp 3
Qua kết quả ở bảng 3 chúng ta thấy đội ngũ GV cho rằng rất cần thiết phải tích hợp GD đạo đức cho HS Qua đây cũng cho thấy sự quan tâm tới công tác tích hợp GD đạo đức trong dạy học Tập đọc ở lớp 3 tại các trường rất thiết thực phù hợp với lứa tuổi của các em Bảng thống kê còn cho thấy tích hợp GD đạo
Trang 39đức cho HS qua dạy học phân môn Tập đọc là hoạt động giáo dục không thể thiếu ở trường trong quá trình giáo dục toàn diện HS, giúp HS mở rộng và nâng cao kiến thức, rèn luyện và phát triển thể chất, phát huy tính sáng tạo, hình thành chuẩn mực đạo đức, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, góp phần cải tạo xã hội ngày càng văn minh
+ Nhận thức về quy trình, các phương pháp được sử dụng để GD đạo đức cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 3
Dưới đây là một số quy trình được gợi ý để GV lựa chọn như sau:
* Quy trình 1
Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy, mục tiêu GD đạo đức cần lồng ghép,
tích hợp
Bước 2: Xác định nội dung, các mức độ tích hợp GD đạo đức
Bước 3: Xác định các phương pháp, phương tiện, các hình thức tích hợp
GD đạo đức
Bước 4: Thiết kế và thực hiện bài dạy có tích hợp GD đạo đức
Bước 5: Kiểm tra, đánh giá
* Quy trình 2
Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy, mục tiêu GD đạo đức cần lồng ghép, tích hợp
Bước 2: Thiết kế và thực hiện bài dạy có tích hợp GD đạo đức
Bước 3: Kiểm tra, đánh giá
* Quy trình 3
Bước 1: Xác định nội dung, các mức độ tích hợp GD đạo đức
Bước 2: Xác định các phương pháp, phương tiện, các hình thức tích hợp
GD đạo đức
Bước 3: Thiết kế và thực hiện bài dạy có tích hợp GD đạo đức
Bảng 1.4 Nhận thức về quy trình tích hợp
Trang 40Bảng số liệu nhận thấy được 100% GV đồng ý với quy trình 1 Qua đây cho chúng ta thấy được GV đã nắm chắc các quy trình một cách chặt chẽ, đầy
Nhằm thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học đạt kết quả cao thì ngoài việc lựa chọn nội dung thì người GV cũng phải luôn chú ý đến hình thức tổ chức