Ấn đau huyệt Trung phủ Mộ huyệt và Phế du [Bq.13] Bối du huyệt Tương sinh: - Phế Kim sinh Thận Thủy Sinh xuất - Tỳ Thổ sinh Phế Kim Sinh nhậpTương khắc: - Phế Kim khắc Can Mộc khắc xuất
Trang 1NHÂM ĐỐC MẠCH LỤC PHỦ NGŨ TẠNG
Trang 3LỤC PHỦ NGŨ TẠNG
I TẠNG - VỊ TRÍ CÁC TẠNG - ĐƯỜNG KINH TẠNG 1/ Tạng Phế:
Trang 4Kinh Phế khởi đi từ trung tiêu ở huyệt Trung quản (Nh 12) xuống Đại trường, ngược lên
Vị, qua cách mô vào Phế, theo khí quản, thanh quản lên họng hầu rồi rẽ ngang vào nách,
và ở đây Phế khí xuất ra ở huyệt Trung phủ, chạy vòng xuống mặt trước ngoài cánh tay đến tận ngón tay cái tại huyệt Thiếu thương đầu ngón tay cái
Kinh thủ Thái âm Phế mà tuyệt thì sẽ làm mất Phế khí,da lông không được nuôi dưỡng
vì thiếu tân dịch.Da và lông sẽ bị tổn thương làm cho da khô,lông gãy rụng.Lông mày màrụng là báo hiệu da lông đang chết trước
Khí Phế vượng vào giờ Dần (3-5g) - Hư vào giờ Mão (5-7g) - Suy vào giờ Thân 17g)
(15-Nhiều Khí, ít Huyết
Ấn đau huyệt Trung phủ (Mộ huyệt) và Phế du [Bq.13] (Bối du huyệt)
Tương sinh: - Phế Kim sinh Thận Thủy (Sinh xuất)
- Tỳ Thổ sinh Phế Kim (Sinh nhập)Tương khắc: - Phế Kim khắc Can Mộc (khắc xuất)
- Tâm Hỏa khắc Phế Kim (khắc nhập)Phế là tạng nằm ở bên trong lồng ngực,Phế chủ về hô hấp và thông với da lông
Phế chủ da lông,phế vượng thì da dẻ hồng hào chống được ngoại tà xâm nhập,phế suy thì lỗ chân lông mở rộng nên ngoại tà dễ xâm nhập
Phế có tính táo,hành Kim,sắc khí màu trắng,vị khí cay,mùi khí tanh,dịch thoát là nước mũi
Phế khai khiếu ra ở mũi cho nên bệnh phế hay biểu hiện ở mũi họng
Tạng Phế có quan hệ biểu lý với phủ Đại trường (ruột già)
Phế tàng Phách
Phế khí sinh ra khi Chân khí đi vào tạng phế
Phế khí hoạt hóa chủ yếu trong Phế kinh và Đại trường kinh,hai mạch này khép kín tạothành vòng cho phế khí Phế khí phát động cơ năng và chức năng của phế, sinh ra dưỡng khí và làm chủ hệ da lông
Phế chủ khí của toàn thân, nó có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ khí, thanh lọc Dinh khí do
ẩm thực đem lại và xuất khí xấu ra theo đường thở hoặc qua bề mặt da
Phế chủ khí, khí là soái của huyết-huyết là mẹ của khí, khí là cơ sở vật chất-huyết là công năng Khí huyết có lưu thông thì cơ thể mới khỏe mạnh
Ghi nhớ: - Phế chủ về khí trong toàn thân
- Phế chủ bì mao
- Phế khí sinh ra, khi Chân khí đi vào Phế
- Phế là tạng có 2 lá nằm ở trong lồng ngực
- Kinh Phế đi ra ở huyệt Thiếu thương đầu ngón tay cái
- Phế khai khiếu ra mũi
- Tạng Phế quan hệ biểu lý với Phủ Đại tràng
- Phế tàng PHÁCH
4
Trang 52/ Tạng Tỳ:
KINH TÚC THÁI ÂM TỲ
Trang 6Kinh Tỳ khởi lên từ huyệt Ẩn bạch góc ngoài móng chân ngón cái, theo bờ trong ngón cái và lằn da gan chân - mu chân, lên mặt trong của chân để đến tạng Tỳ, liên lạc với Vị,
đi dọc theo hai bên thanh quản, nối với cuống lưỡi, tản ra dưới lưỡi Một nhánh tách biệt
từ Vị, qua cơ hoành vào Tâm
Kinh túc Thái âm Tỳ mà tuyệt thì nó làm mất Tỳ khí,biểu hiện ra ở miệng môi.Tỳ chủ
về cơ nhục nên màu sắc ở miệng môi biểu thị cho thịt tươi hay khô
Khí Tỳ vượng vào giờ Tỵ (9 - 11g) Hư giờ Ngọ (11 - 13g) Suy giờ Hợi (21- 23g).Nhiều Khí, ít huyết
Ấn đau huyệt Chương môn (C 13) và Tỳ du (Bq 20 - Bối du Huyệt)
Tương sinh: - Tỳ Thổ sinh Phế Kim (Sinh xuất)
- Tâm Hỏa sinh Tỳ Thổ (Sinh nhập)
Tương khắc: - Tỳ Thổ khắc Thận Thủy (Khắc xuất)
Tỳ nằm ở hạ sườn bên trái, nó là một trong những bộ phận quan trọng của kho tàng thủy cốc, là chỗ sản sinh ra Dinh khí Tỳ chủ về một loại khí hậu thiên là thứ khí sinh ra
từ thủy cốc (đồ ăn thức uống)
Tỳ thống nhiếp huyết, Tỳ là nguồn sinh ra huyết
Tỳ khí có tính thấp, hành Thổ, có sắc khí màu vàng, có vị khí ngọt, mùi thơm, dịch thoát là nước bọt Tỳ biểu hiện ra môi miệng cho nên nhìn sắc môi miệng sẽ biết được Tỳđang hoạt động như thế nào
Tạng Tỳ có quan hệ biểu lý với phủ Vị Tỳ tàng Vía
Tỳ khí có hướng đi lên khi thở ra Tỳ khí vượng làm cho người ta ăn thấy ngon và chóng đói, Tỳ khí suy thì ăn không thấy ngon và người gầy yếu mệt mỏi Ăn no quá thì làm tổn thương đến Tỳ
Tỳ khí sinh ra khi Chân khí đi vào tạng Tỳ, Tỳ khí hoạt hóa chủ yếu ở Tỳ kinh và Vị kinh, hai mạch này khép kín thành vòng cho Tỳ khí Tỳ khí phát động cơ năng và chức năng của tạng Tỳ để sinh ra dịch vị và làm chủ hệ cơ nhục
Ghi nhớ: - Tỳ chủ về khí hậu thiên, là thứ khí sinh ra từ đồ ăn thức uống Tỳ chủ tiêu hóa
- Tỳ khí sinh ra khi Chân khí đi vào Tỳ
- Tỳ là tạng nằm ở hạ sườn bên trái
- Kinh Tỳ đi ra ở huyệt Ẩn bạch đầu ngón chân cái
- Tỳ khai khiếu ra môi miệng Tạng Tỳ quan hệ biểu lý với Phủ Vị
- Tỳ tàng VÍA
6
Trang 73/ Tạng Tâm:
Trang 9Kinh Tâm bắt đầu từ Thượng tiêu huyệt Cực tuyền (1) đi ra đầu ngón tay út huyệt Thiếu xung (9).
Kinh thủ Thiếu âm Tâm mà tuyệt nó sẽ làm mất Tâm khí, huyết mạch không thông, dịch huyết không lưu hành khắp cơ thể, làm cho sắc da mất tươi nhuận
Tâm chủ hệ huyết có tính Hỏa,hành hỏa,có sắc khí màu đỏ,có vị khí đắng,mùi khét, dịch thoát là mồ hôi
Tâm khai khiếu ra lưỡi, lấy cửa ngõ ở mặt,chính vì vậy nét mặt sẽ phản ánh tình trạng của Tâm
Khí Tâm vượng vào giờ Ngọ (11-13g), Hư vào giờ Mùi (13-15g), Suy vào giờ Tý 1g)
(23-Khí Nhiều, Huyết ít
Ấn đau huyệt Cự khuyết (Nh 14) và Tâm du (Bq 15-Bối du huyệt)
Tương sinh: - Can Mộc sinh Tâm Hỏa (Sinh nhập)
- Tâm Hỏa sinh Tỳ Thổ (Sinh xuất)
Tương khắc: - Tâm Hỏa khắc Phế Kim (Khắc xuất)
Tâm nằm trong lồng ngực có Tâm bào bảo vệ
Tâm chủ huyết mạch,nó có tác dụng chỉ đạo và cộng đồng với huyết mạch để đưa huyết đi nuôi cơ thể
Tâm tàng Thần tức là tâm chủ về các hoạt động của tinh thần,hay còn nói “tâm chủ thần minh”.Tâm chi phối thất tình bởi vậy mới có câu tâm sắt đá, tâm cởi mở,tâm ác, tâm thiện
Điều Tâm chính là làm dịu Thất tình,điều Tâm tốt sẽ xóa bỏ được tạp niệm.Khi bình được tâm sẽ tạo nên nụ cười ở bên trong.Trong cuộc sống và đặc biệt là trong luyện tập khí công phải cố gắng bình được tâm mà trước hết là phải giữ cho nét mặt thật thanh thản
Tâm khí được sinh ra khi chân khí đi vào tạng tâm.Tâm khí hoạt hóa chủ yếu ở Tâm kinh và Tiểu trường kinh,hai mạch này khép kín thành vòng cho Tâm khí.Tâm khí phát động cơ năng và chức năng của tạng tâm, để sinh chân hỏa cho huyết và làm chủ hệ mạch
Phủ có quan hệ biểu lý với tạng Tâm là phủ Tiểu trường
Ghi nhớ: - Tâm chủ về huyết mạch, Tâm chủ các hoạt động tinh thần
- Tâm khí sinh ra khi Chân khí đi vào Tâm
- Tâm là tạng nằm trong lồng ngực, hơi lệch về bên trái bên trái
- Kinh Tâm đi ra ở mép ngoài ngón tay út, huyệt Thiếu xung
- Tâm khai khiếu ra lưỡi Tạng Tâm quan hệ biểu lý với Phủ Tiểu trường
- Tâm tàng THẦN
Trang 104/ Tạng Thận:
10
Trang 11Khởi đầu từ dưới ngón chân út, chạy vào lòng bàn chân, xuất ra nơi chỗ lõm dưới mấu xương thuyền, theo phía sau mắt cá trong, đến gót chân Từ đó chạy lên phía bờ trong cẳng chân, ra mép trong nhượng chân, lên bờ sau trong đùi, thông qua cột sống vào liên
hệ với Thận và Bàng quang
Một nhánh khác từ Thận chạy đến Can, qua cơ hoành nhập vào giữa Phế, rồi đi dọc theo cuống họng để đến tận cuống lưỡi Một nhánh tản ra giữa ngực, nhập vào Tâm và liên hệ với Tâm bào lạc
Nhánh chính từ Thận nổi lên ở bờ trên xương mu, đi thẳng lên bụng, cách đường giữa thân 0,5 thốn, kết ở gian sườn 1
Khí Thận vượng vào giờ Dậu (17 - 19g), Hư vào giờ Tuất (19 - 21g), Suy vào giờ Mão (5 - 7g)
Khí Thận có tính Hàn (lạnh), màu đen, Thận chủ về Bài tiết và Cốt tủy, khai khiếu ra ở Tai
Nhiều Khí, ít Huyết
Tương sinh: - Thận Thủy sinh Can Mộc (Sinh xuất)
- Thận Thủy khắc Tâm Hỏa (Khắc xuất) Kinh túc thiếu âm Thận mà tuyệt thì sẽ làm mất Thận khí,xương không được sưởi ấm nữa nên xương khô Xương không được Thận khí ôn dưỡng nên thịt không gắn chặt vào xương (Cốt nhục bất kết) làm cho bắp thịt mềm nhũn
Thận chủ tiên thiên,Tiên thiên khí là thứ khí do tinh huyết cả cha mẹ kết hợp lại mà thành,nó có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng
Thận chủ tàng tinh,tinh khí của các tạng phủ do ăn uống mà có.Khi ăn uống vào do có
hệ tiêu hóa hoạt động mà chất dinh dưỡng được tàng tích ở lục phủ ngũ tạng, phần dư thừa sẽ được tàng tích ở thận lúc cần thiết sẽ cung cấp đi
Thận khí sinh ra khi Chân khí đi vào Thận Thận khí hoạt hóa chủ yếu ở Thận kinh và Bàng quang kinh,hai mạch này khép kín thành vòng cho Thận khí
Thận tàng Tinh và Trí (an thể).Tạng Thận có quan hệ biểu lý với phủ Bàng quang.Thận là tạng nằm ở phía lưng sát cột sống,thẳng từ rốn sang.Thận là chỗ tiềm tàng của
sự sinh trưởng là nơi ẩn nấp của chân dương,là gốc của sự bế tàng,là chỗ trữ tàng tinh khícủa ngũ tạng lục phủ.Thận quyết định thể tạng và thần kinh của con người
Ghi nhớ: - Thận chủ về khí tiên thiên, là thứ khí có từ tinh Cha huyết Mẹ Thận chủ
tàng tinh Thận chủ bài tiết Thận chủ xương khớp
- Thận khí sinh ra khi Chân khí đi vào Thận
- Thận là tạng có 2 quả nằm ở phía lưng gần sát cột sống, thẳng từ rốn sang
- Kinh Thận đi ra ở lòng bàn chân, huyệt Dũng tuyền
- Thận khai khiếu ra tai Tạng Thận quan hệ biểu lý với Phủ Bàng quang
- Thận tàng "THỂ", Thận quyết định thể tạng của con người
Trang 12** / TạngTâm bào
Bắt đầu từ Thượng tiêu (Tâm bào lạc) huyệt Thiên trì (1) đi ra đầu ngón tay
giữa,huyệt Trung xung (9)
Tính Thử (nóng ấm), màu đỏ tím, Tâm bào chủ về Thân nhiệt
Khí Tâm bào vượng vào giờ Tuất (19-21g), Hư vào giờ Hợi (21-23g), Suy vào giờ Thìn (7-9g).Nhiều Huyết, ít Khí
Tương sinh: - Tâm bào Hỏa sinh Tỳ Thổ (Sinh xuất)
Tương khắc: - Tâm bào Hỏa khắc Phế Kim (Khắc xuất)
Tâm bào là màng bao tim.Khi tâm khí ngấm ra ngoài mà chân hỏa hóa thực nhiệt lúc
đó sẽ tạo ra nhiệt tâm khí.Nhiệt tâm khí hoạt hóa trong vòng Tâm bào kinh,nhiệt tâm khí
có nhiệm vụ sinh nhiệt cho cơ thể và nội tạng.Nhiệt tâm khí còn có chức năng di nhiệt hỏa xuống để “đốt Tinh-sinh Khí” đồng thời ngấu nhừ thủy cốc ở hệ tràng vị
12
Trang 135/ Tạng Can (Gan)
thốn thì bắt chéo sau kinh
Tỳ, đến đầu trong lằn nhượng chân, nhập vào xương mu, vòng quanh bộ phận sinh dục rồi lên đầu sườn cụt, liên lạc với Can - Đởm, qua cơ hoành, phân nhánh vào ngực, đi lên họng
và hiện ra ở mặt để liên hệ với Mục hệ, đến đầu hội với Đốc mạch Một nhánh đi từ Can qua cơ hoành vàoPhế Từ Mục hệ phân một nhánh xuống má vòng vào trong môi
Khí Can vượng vào giờ Sửu (1-3g) - Hư vào giờ Dần (3- 5g) - Suy vào giờ Mùi (13-15g)
Huyết nhiều, Khí ít
Ấn đau huyệt Kỳ môn (C 13) và Can du (Bq 18)
Tương sinh: - Can Mộc sinh Tâm Hỏa (Sinh xuất)
- Thận Thủy sinh Can Mộc (Sinh nhập)
Tương khắc: - Can Mộc khắc Tỳ Thổ (Khắc xuất)
- Phế Kim khắc Can Mộc (Khắc nhập)
Kinh túc Quyết âm Can mà tuyệt sẽ làm mất Can khí,gân mạch
sẽ bị co thu lại.Vì kinh túc Quyết âm Can liên quan đến hệ
Gân,phần nhiều hội tụ ở phần âm bộ và vùng cuống lưỡi.Tính Phong (phong động, lan truyền gió), màu xanh.Gan chủ về Mật và Gân, khai khiếu ra ở mắt
Khi Can khí tuyệt sẽ làm cho lưỡi thụt vào,hòn dái thun lên,nó báo hiệu rằng Gân đã chết trước ở bên
trong
Gan nằm ở hạ sườn bên phải,nó trông coi sự phân bố dương khí của toàn thân.Gan thuộc Mộc tương ứng với khí sinh phát của mùaXuân.Tính can đảm hay nhút nhát là do Gan quyết định.Gan chủ sơ tiết.Gan có nhiệm vụ khơi thông giúp cho sự vận hành khí huyết các tạng phủ dễ dàng thông suốt,thăng giáng được điều hòa.Gan còn có chức năng thanh lọc các độc tố trong cơ thể
Trang 14toàn cơ thể.Nếu gan khí bình thường thì khí huyết được điều hòa,cơ thể cảm thấy thoải mái
Nếu Can khí bị uất kết sẽ làm cho tinh thần người ta căng thẳng dễ sinh cáu gắt hoặc mệt mỏi buồn rầu.Khí gan vượng sẽ làm tâm sinh hỏa (can mộc sinh tâm hỏa) và khí nóng bốc lên đầu gây đau đầu khó chịu.Trong khí công nếu ta luôn thanh gan tốt giữ cho khí gan được quân bình thì không những làm cho con người luôn thoải mái vui vẻ mà nó còn có tác dụng thúc đẩy việc tiêu hóa có hiệu quả
Gân cơ khớp là những bộ phận phụ trách vận động của cơ thể.Nếu huyết ở gan được đầy đủ thì gân được nuôi dưỡng tốt giúp cho việc vận động được linh hoạt.Nếu gân yếu thì chân tay dễ bị co quắp, khi vận động sẽ rất nhanh mỏi mệt.Móng tay móng chân là phần cuối của gân, nhìn hình dáng màu sắc của móng tay móng chân ta biết được tình trạng của gân và từ đó biết được tình trạng của Gan
Can khí sinh ra khi Chân khí đi vào tạng Gan, gan khí hoạt hóa chủ yếu ở Can kinh và Đởm kinh,hai mạch này khép kín thành vòng cho Can khí.Can khí phát động cơ năng và chức năng của tạng gan để sinh tân dịch và làm chủ hệ gân.Gan dịch còn gọi là cân dịch,
nó giúp cho hoạt động của toàn bộ hệ thống gân được dẻo dai săn chắc.Cân dịch bị rối loạn sẽ làm cho toàn bộ hệ gân bị rối loạn.Trong cơ thể con người song song với hệ Kinh lạc là hệ Kinh cân.Sự hoạt động của hệ Kinh cân sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hệ Kinh lạc (hay còn gọi là hệ Kinh khí).Hệ kinh cân hoạt động tốt sẽ làm cho hệ kinh khí hoạt động thông suốt
Gan chủ hệ Cân, khí có tính phong,hành Mộc,có sắc khí màu xanh,có vị khí chua,mùi hôi,dịch thoát là nước mắt.Gan khai khiếu ra mắt vinh nhuận ra móng tay móng
chân.Bệnh của Gan biểu hiện ra mắt, khi gan sơ tiết kém,gan huyết không đủ dẫn đến mắtvàng,khô sáp.Khí Can quá vượng làm cho mắt đỏ lên đó là biểu hiện của nộ khí hoặc huyết áp cao.Can tàng hồn
Tạng can có quan hệ biểu lý với phủ Đởm
Ghi nhớ: - Can chủ về sơ tiết Can chủ về thanh lọc độc tố Can chủ hệ Gân
- Can khí sinh ra khi Chân khí đi vào Can
- Can là tạng nằm ở hạ sườn bên phải
- Kinh Can đi ra ở huyệt Đại đôn, góc ngoài móng chân ngón cái
- Can khai khiếu ra mắt Tạng Can quan hệ biểu lý với Phủ Đởm
- Can tàng HỒN
14
Trang 15II PHỦ - VỊ TRÍ CÁC PHỦ - ĐƯỜNG KINH PHỦ
1/ PHỦ ĐẠI TRƯỜNG (RUỘT GIÀ)
Khởi đầu từ bờ ngoài chân móng
ngón tay trỏ (Huyệt Thương Dương), đi dọc theo mép trên của ngón tay, qua hố lào giải phẫu, đến nếp gấp bờ ngoài khuỷu tay, chạy dọc theo mé trước - ngoài cánh
hõm khớp vai, ra bờ sau
hoành để vào Đại trường; +Một nhánh từ hố xương đòn, lên cổ, hàm, đi vào giữa hàm răng dưới, vòng quanh mép miệng giao nhau ở Nhân trung đến cánh mũi phía bên đối diện
Vượng giờ Mão (5-7g), Hư giờ
Phủ Đại trường có quan hệ Biểu
nguyên tắc phối hợp Biểu - Lý, Trong - Ngoài, Âm
- Dương)
Trang 162/ PHỦ TIỂU TRƯỜNG (RUỘT NON)
út, chạy dọc theo bờ trong bàn tay, phía
theo phía sau
trong
cánh tay qua
giữa mỏm
khuỷu tay vào
sau khớp vai, đi
Tâm, qua cơ
hoành đến Vị, Tiểu trường và xuống liên hệ với huyệt Hạ cự
má, tới góc ngoài mắt và vào tai; + Tại vùng má có nhánh đến bờ dưới hố mắt, hốc mũi
và kết ở huyệt Tình minh (Bq)
Vượng giờ Mùi (13 - 15g), Hư giờ Thân (15 - 17g), Suy giờ Sửu (1 - 3g).Nhiều Huyết, ít Khí
Ấn đau huyệt Quan nguyên (Nh 4) + Tiểu trường du (Bq 27)
Phủ Tiểu Trường có quan hệ biểu lý với tạng Tâm Tác động để điều chỉnh rối loạn ở TiểuTrường và Tâm (Theo nguyên tắc phối huyệt Trong - Ngoài)
3/ PHỦ VỊ (DẠ DÀY)
16
Trang 17KINH TÚC DƯƠNG MINH VỊ
Trang 18Khởi đầu từ cạnh cánh mũi (h Nghênh hương Đtr) đi lên, giao ở hõm góc trong mắt gốc mũi (huyệt Tinh minh - Bq), vòng trở xuống dưới theo đường ngoài mũi vào hàm trên, rồi quanh ra môi miệng, giao chéo nhau tại môi trên với Đốc mạch (huyệt Nhân Trung), vòng môi dưới giao với Nhâm mạch (huyệt Thừa tương), đoạn dọc theo hàm dưới
-ra sau huyệt Đại nghênh đến góc hàm dưới, vòng lên trước tai qua huyệt Thượng quan (Đ), theo bờ trước tóc mai giao với kinh Đởm (huyệt Huyền lư + Hàm yến) lên trên bờ góc trán rồi theo chân tóc ra gặp Đốc mạch (huyệt Thần đình)
Một nhánh khác từ huyệt Đại nghênh đi xuống dọc theo thanh quản vào hố trên đòn, tạiđây phân 2 nhánh:
Một nhánh từ hố trên đòn qua cơ hoành đến liên lạc với Tỳ và Vị;
Một nhánh từ hố trên đòn, thẳng qua đầu ngực, đi song song với Nhâm mạch, đến vùngbẹn
Từ môn vị dạ dày có nhánh đi xuống bụng dưới hợp với kinh chính ở bẹn, rồi cùng đi theo cơ thẳng trước ở đùi xuống gối, dọc theo phía ngoài xương chầy, đến cổ chân, mu bàn chân, đến kết ở bờ ngoài góc móng ngón chân thứ hai Một nhánh phụ từ Túc Tam lý
đi ngoài đường kinh chính xuống tận ngón chân giữa Một nhánh từ mu bàn chân (huyệt Xung dương) vào đầu ngón chân cái để tiếp nối với kinh Túc Thái âm Tỳ
Nhiều Khí, nhiều Huyết
Vượng giờ Thìn (7 - 9g) - Hư giờ Tỵ (9 -11g) - Suy giờ Tuất (19 - 21g)
Ấn đau huyệt Trung quản (Nh 12) và Vị du (Bq 21 - Bối du Huyệt)
Phủ Vị (dạ dày) có quan hệ biểu lý với tạng Tỳ Tác động để giải quyết xáo trộn của Tỳ
- Vị
18