1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật sinh sản và nuôi cá tra

146 169 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 6,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề nuôi cá tra của Việt Nam được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế công nhận đã có những bước tiến thành công rất ngoạn mục, vì đã được đáp ứng nhiều mặt, chủ động sản xuất con giống s

Trang 3

M Ụ C LỤ C

Lời n ói đ ẩ u .5

P h ầ n 1: P h â n b ố v à đ ặ c đ iểm s in h h ọ c 9

1 Phân bô" 9

2 Đặc điểm hình thái 10

3 Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản .11

4 Môi trường sống .16

P h ầ n 2: S ả n x u ấ t g iố n g cá t r a 19

1 Chuẩn bị nuôi vỗ cá bố mẹ .19

2 Tuyển chọn đàn cá bô" mẹ .26

3 Nuôi vỗ cá bố mẹ “28

4 Kỹ thuật cho cá tra sinh sản 35

5 Âp trứng 49

6 Ương nuôi cá tra bột lên cá giống 55

7 Những bệnh thường gặp đối với cá tra con 64

8 Thu hoạch và vận chuyển cá tra giông .67

P h ầ n 3: Kỹ th u ậ t n u ô i cá t r a 71

1 Nuôi cá tra trong a o 75

2 Nuôi cá tra trong bè 96

Trang 4

P h ầ n 4: G ây n u ôi, tạo th íĩc ăn tự n h iê n đ ể ương

n u ô i cá tra g iố n g 98

1 Nuôi sinh khối tảo 99

2 Nuôi luân trùng .100

3 Nuôi m oina 103

P h ầ n 5: Các b ệ n h thư ờn g gặp và b iện pháp p h ò n g trị ' 105

1 Một sô" bệnh do ký sinh trùng gây ra .107

2 Một sô" bệnh nhiễm khuẩn 116

3 Một sô" bệnh do thiếu chất dinh dưỡng .128

P h ầ n 6: Đ ầu tư và h iệ u quả k ỉn h tê" nu ôi cá tra 132

T à i liệ u th a m k h ả o 141

Trang 5

LỜI N Ó I ĐẦU

Theo thống kê của Bộ Thủy sản, năm 2006 sản lượng cá tra nuôi của vùng Đồng bằng

sông Cửu Long đạt hơn 800.000 tấn Nhờ

tổ chức nuôi qui mô lớn, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật kết hợp với những kinh nghiệm thực tiễn, chúng ta xây dựng được qui trình nuôi tương đối hoàn chỉnh và với nguồn thức ăn tại chỗ dồi dào giúp cho giá thành cá tra nuôi rẻ tạo được lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế so với nhiều loại cá nước ngọt nuôi khác ở Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia Thịt cá tra fillet thương phẩm của ĐBSCL đã có mặt ở hầu hết các siêu thị, cửa hàng và quầy bán lẻ thủy sản của khoảng 65 nước với một thương hiệu riêng, mang lại nguồn ngoại tệ lớn mỗi năm.

Hiện nay, Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức WTO, những thuận lợi về thị trường tiêu thụ đã đẩy giá cá nguyên liệu trong quý 1/2007 lèn đạt gần ngưỡng 17.500 đ / k g cao hơn 135% so với cùng kỳ các năm trước, nhiều doanh nghiệp chế biến mở rộng năng lực sản xuất đã tạo sự phấn khởi và lợi nhuận cao tác động đến người dân các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và ngay cả ở các tỉnh ven biển Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Các vùng sâu xa như Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa của Long An

đã đầu tư mở rộng thêm diện tích nuôi cá tra, sản

Trang 6

lượng cá tra nguyên liệu năm 2007 chỉ riêng ở các tỉnh Đ BSC L dự kiến sẽ không dừng ở con số 1.000.000 tấn mà có th ể lên đến trèn 1.200.000 tấn.

Thành công của cá tra nuôi ở Việt N am củng đã tác động đến nhiều người nuôi cá ở Thái Lan, Campuchia, và họ đang tổ chức nuôi cá tra cạnh tranh xuất khẩu với cá tra của Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.

Cá tra là loại cá nhiệt đới bản địa được nuôi ở các tỉnh Đ BSCL từ hơn 100 năm trước, cá dễ nuôi so với nhiều loại cá nuôi nước ngọt khác Hiện nay, người nuôi đã tổ chức nuôi đạt sản lượng 400-450 tấn Ị ha mang lại hiệu quả kinh tế cao, chất lượng thịt cá cao đảm bảo chế biến xuất khẩu nhưng vẫn nhận được nhiều cảnh báo cần được nghiên cứu sâu thèm đ ể qui hoạch tổ chức một nghề nuôi phát triển bền vững, tránh những vết xe đổ như phát triển ào ạt nuôi tôm

sú, thiếu tính toán khoa học qui hoạch đ ể khi xảy ra dịch bệnh lây nhiễm lan rộng làm người nuôi thiệt hại.

Nghề nuôi cá tra của Việt Nam được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế công nhận đã có những bước tiến thành công rất ngoạn mục, vì đã được đáp ứng nhiều mặt, chủ động sản xuất con giống số lượng lớn, có môi trường nuôi thuận lợi ở hai bờ sông và các nhánh sông Hậu, sông Tiền, có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước rộng lớn và năng suất nuôi đạt' trển 400 tấn Iha; nhưng bên cạnh đó vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi

Trang 7

ro, mỗi năm cá nuôi vẫn gặp những dịch bệnh chết hàng loạt, môi trường nuôi và nước thải hoàn toàn không được xử lý trước khi trả trở lại thiên nhiên.

Cuốn sách “Kỹ th u ật sình sản & nuôi cá tr a ”

được trình bày từ những kinh nghiệm thực tế của nhiều trại giống ở Tân Châu, Hồng Ngự cho sinh sản nhân tạo cá tra giống và những trại nuôi cá tra thương phẩm

ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, An Giang.

Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, chúng tôi có tham khảo một số tài liệu kỹ thuật của các Viện, Trường ở Việt Nam và ở Thái Lan cũng như của các

tổ chức thủy sản trên thế giới.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất băn Nông nghiệp, các chủ trại nuôi cá tra, các chuyên viên

và kỹ thuật viển thủy sản đã đóng góp nhiều ý kiến

để hoàn thành cuốn sách này.

Mong quý bạn đọc góp ý kiến và phê bình đề tập sách này được hoàn chỉnh cho lần tái bản.

Tác giả

Trang 8

Phẩn 1

PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

Cá tra là loài cá nước ngọt nhiệt đới đặc trưng trong số 11 loài cá thuộc họ nhà cá tra (Pangasiidae)

đã được xác định phân bố ở các lưu vực trên sông Cửu

Long Cá tra nuôi ở Việt Nam hoàn toàn khác với loài

cá nheo Ictalurus punctatus thuộc họ Ictaluridae nuôi

ở Mỹ

Cá tra Pangasianodon hypophthalmus Sauvage

1878, thuộc bộ cá nheo Siluriformes, họ cá tra Pangasiidae, giông cá tra dầu Pangasianodon Cá có tên tiếng Anh là Sutchiriver Catíĩsh, tiếng Campuchia

là Trey pra, tiếng Lào là Pa suay kheo, Pa suay và tiếng Thái Lan là Pla saa whai, Pla suey

Cá tra của Việt Nam đã xây dựng được thương hiệu trên th ế giới là PANGASIUS-CA TRA

1 P h â n b ố

Cá phân bố rất rộng xuất hiện ở hầu hết các lưu vực tự nhiên của hệ thống sông Cửu Long ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam ơ Thái Lan,

cá tra cũng xuất hiện ỗ lưu vực sông Mekloong và

Chao Phraya

Ngày nay do cá tra được nhập nội di trú vào nhiều nước nên cá tra cũng được tìm thấy nhiều ở lưu

Trang 9

vực các sông lớn các nước M alaysia, Indonesia,

M yanm ar, Brunei, Sum atra và Trung Quôc

Ở Việt Nam, cá tra hoang dã xuất hiện tự nhiên ở vùng hạ lưu sông MeKong, ỏ' hầu hết các sông và các phụ lưu, đầm ao của sông Hậu sông Tiền Cá tra cũng có

ở hầu h ết các sông rạch của Việt Nam như sông Đồng

Nai, Vàm cỏ, hồ Biển Lạc Tánh Linh, sông La Ngà

huyện Đức Linh - Bình Thuận, các hồ đầm ở các tỉnh

vùng cao như Đak Nong, Đak Lak, Pleiku và cũng có ở

hệ thống sông Hồng, các sông ở miền Trung Việt Nam.

2 Đ ặc đ iểm h ìn h th á i

Cá tra là cá da trơn không vảy có th ân dài, dẹp ngang, đầu nhỏ vừa phải, m ắt tương dối to, m iệng rộng, có 2 đôi râu dài, vây lưng và vây ngực có gai cứng, m ang răng cưa m ặt sau Lưng màu xám đen,

th â n có màu xám nhạt, bụng hơi bạc, vây lưng và vây bụng xám den, cuối vây đuôi hơi đỏ

Cá tra có m iệng rộng, hàm có nhiều răng mọc

th àn h dãy, cơ quan tiêu hóa có dạ dày to, ruột ngắn nên cá có tín h ăn tạp và mồi ăn thiên về dộng vật, cá

r ấ t háu ăn không kén chọn thức ăn

Cá có kích thước tương đối lớn, chiều dài trung bình 30-40 cm và nặng 1,2-1,5 kg/con, trong tự nhiên hoang dă

cá có chiều dài 80-100 cm và nặng 10-15 kg/con

Cá rấ t khỏe khi bơi thường quẫy m ạnh, lội lặn nhanh và hung dữ, khi bị kéo lưới đánh b ắt cá thường

Trang 10

quẫy rất m ạnh dễ làm bị thương những con xung quanh và phát ra những kêu “ót, ót”.

3 Đặc điểm sinh trưởng và sin h sản

Cá tra sống ỏ' những vùng nước ấm nhiệt độ thích hợp là 26-32°C, cá sống ở tầng nước mặt và hoạt

động mạnh ở cả tầng nước mặt, tầng giữa và tầng đáy

thiếu oxy, ở những nơi môi trường khắc nghiệt nước bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn pH = 4-5 và ở nơi có độ mặn

cao 7-10%o, chịu được nhiệt độ cao 39°c, nhưng dễ

chết ở nhiệt độ thấp dưới 15°c.

Cá sống được ở chỗ nước tù động, khi sống ở những vùng nước chảy thường xuyên dồi dào oxy cá có thể tập trung sống thành đàn m ật độ cao

Cá ăn tạp rất háu ăn và dễ thay đổi loại thức

ăn Chúng có thể ăn mùn bã hữu cơ, xác động vật chết, phân gia súc, rau băm nhỏ, bèo tấm, cám, thức

ăn chế biến

Trong tự nhiên hoang dã, cá tra 1 năm tuổi có

th ể lớn 0,7 kg/con, 2 năm tuổi có thể lớn 1,5-2 kg/con

và 3 năm tuổi có thể lớn 3-4 kg Cá thành thục sinh

Trang 11

dục, con đực ỏ' 2 năm tuổi và con cái ỏ' 3 năm tuổi

Khi thành thục sinh dục, cá có tập tín h bơi ngược

dòng di cư tìm đến các bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh

th ái phù hợp và có đầy đủ thức ăn tự nhiên cho sự

p h át triển của tuyến sinh dục và đẻ trứng Do vậy.,

trong tự nhiên ở các lưu vực sông Tiền sông Hậu chỉ

có cá bột, cá giống và cá lứa, rấ t ít có cá tra hoang dã trưởng th àn h xuất hiện

H àng năm, vào đầu mùa mưa thường từ th án g 5-

6, cá tra di cư đi ngược dòng về tập trung ở những lưu

vực vùng biên giới của Lào và Campuchia nằm ở khu vực sông Mêkông từ địa phận tỉn h Kratie-Campuchia trở lên nên trong tự nhiên chỉ gặp cá th àn h thục trên sông ở địa phận này, không thấy cá th àn h thục đẻ tự nhiên ỏ' phần sông của Việt Nam

Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông và Tonlesap, từ thị xã Kratie trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào, tập trung từ Kampi đến h ết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có th ể bất được những cá tra nặng tói 15 kg với buồng trứng đã

th àn h thục

Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của

loài cây sõng ven sông Gimenila asiatica và sau 24 giò'

th ì trứng nỏ' th àn h cá bột và trôi về hạ nguồn

Năm 1966, Thái Lan đã bắt được cá tra th àn h 'thúc trên sông trong đầm Bung Borapet và kích thích

Trang 12

sinh sản nhân tạo cá tra với phương pháp nuôi vỗ cá

bô mẹ thành thục trong ao đất

Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng, sức sinh sản tuyệt đôi của cá tra từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135.000 trứng/kg cá cái

Trứng cá tra tương đôi nhỏ và có tính dính, trứng sắp đẻ có đường kính 1,1-1,3 mm, sau khi đẻ ra và hút trương nước đường kính trứng có thể tới 1,5-1,6 mm

Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng có chiều dài 1,3-1,6

mm và đã hình dạng giống như cá trưởng thành

Cá bột nỏ' trôi về phía hạ lưu biển Hồ Campuchia và các nhánh, các phụ lưu, các thủy vực của sông Tiền sông Hậu Việt Nam

Hệ sei thành thục của cá đực là 1-3% và ở cá cái

có thể đạt tới 20%

Trước những năm 1990, nghề nuôi cá tra ở ven

sông Tiền sông Hậu của Đồng bằng sông Cửu Long

Việt Nam là dùng cá giống thu vớt từ cá bột trên sông

đưa về ương dưỡng thành cá giống th ả nuôi

Người nuôi cá tra ỏ' Đồng Tháp, An Qiang có truyền thống vđt cá tra bột bằng dụng cụ gọi là “đáy” Hằng năm, cả trăm triệu cá tra bột và các loài cá thuộc họ nhà cá tra cũng nhu các loài cá khác được vớt lên và để thu cá tra bột, người khai thác đã ép lọc loại bỏ giết hại những loài cá khác, với một số lượng

Trang 13

lớn gấp hàng chục lần sô" lượng cá tra bột đã làm th iệ t hại nghiêm trọng đến nguồn lợi cá tự nhiên trên sông Mỗi năm ước khoảng 500-700 triệu cá bột được khai thác, ương nuôi trong ao hầm , đạt th ân dài 10-20 cm rồi chở đi bán khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long,

TP Hồ Chí M inh và các tỉn h Đông Nam Bộ

Hiện nay, ở Việt Nam do đã chủ động sinh sản nhân tạo và với Luật Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản nên

đã hoàn toàn chấm dứt việc vớt cá tra bột trên sông, nhưng ở Campuchia, hiện nay nguồn cá tra bột th iên nhiên đã bị tổ chức thu vớt trở lại, nguồn lọi cá bột của nhiều loại cá đặc trưng của sông MeKong đang báo động bị hủy diệt

Cá tra bột mới nở có chiều dài khoảng 1,3-1,6

mm, khi tiêu h ết noãn hoàng là cá tích cực tìm mồi ăn tảo, luân trùng (rotifer), trứng nước (moina, daphnia)

và các loài cá bột khác có trong tự nhiên như mè vinh,

he, rô đồng và thảo trùng; cá tra bột cũng ăn các loại mồi ăn có kích thước nhỏ và mịn như mùn bã thực vật, bột bã ngũ cốc

Cá tra bột thích ăn mồi tươi sống, chúng ăn th ịt lẫn nhau ngay trong khi mới nở được vài ngày và chúng vẫn tiếp tục ăn lẫn nhau nếu kiếm không được mồi ăn, con nọ cắn đuôi con kia và chết th àn h chuỗi sợi dây dài và khi cá bột trên sông bị vớt bắt lên vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau, trong dạ dày cá bột vớt trê n sông thường có rấ t nhiều phần cơ thể và m ắt cá con các loài cá khác

Trang 14

Dạ dày của cá tra bột và cá trưởng thành phình hình chữ Ư và co dãn dược, ruột cá ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt, dặc tính này thể hiện ngay sau khi cá bột vừa tiêu hết noãn hoàng là

cá ăn th ịt và ăn lẫn nhau Các nhà khoa học đã gọi cá tra là Shark catílshes

Trong quá trình sinh trưởng trong đầm hồ, các thủy vực, cá bột, cá giống ăn các loài phù du động thực vật, mùn bã hữu co', rau quả có kích thước vừa cõ' miệng

và khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi thức ăn

Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có khả năng thích nghi nhanh ăn các loại thức ăn bị bắt buộc như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc thực và động vật, cám, rau và động vật đáy

Khi phân tích thức ăn trong ruột của cá tra đánh bắt ngoài tự nhiên, thành phần thức ăn được tìm thấy

là nhuyễn thể 35,4%, cá 31,85%, côn trùng 18,2% và thực vật 10,7%

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá nhỏ tăng nhanh về chiều dài, cá 2 tháng ti ối đã đạt chiều dài 10-12 cm nặng 14-15 gr/con Cá từ khoảng 0,30-0,40 kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như trọng lượng, cá từ khoảng 2,5 kg/con trỏ' đi mức tăng trọng nhanh hơn so với tăng' chiều dài co' thế và cá trên 10 năm tuổi tăng trọng rấ t ít

Trang 15

Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm,

đã gặp những con cá nặng 18 kg và có con dài tới

l ,8m nặng 30 kg/con Tùy thuộc môi trường sống và

sự cung cấp thức ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít, độ béo Fulton của cá tăn g dần theo trọng lượng và nhanh n h ất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm di vào mùa sinh sản

4 M ôi trư ờ n g số n g

Môi trường sống cho cá tra sống thích hợp và

p h át triển tốt là trong môi trường nước ngọt, không bị

ô nhiễm như nhiễm mặn, nhiễm phèn, pH thích hợp 7-8, nh iệt độ 26-30°C, oxy trên 3mg/l

Ớ các vùng, các lưu vực và các nhánh sông của sông Hậu, cá tra hoang dã tự nhiên tập trung sống rấ t nhiều, cá tăng trưởng phát triển tốt và th ịt trắng

Ớ những nơi môi trường khắc nghiệt nhiều loại

cá nước ngọt khác không th ể sống được, nước bị nhiễm phèn nặng, pH = 4-4,5, nước bị nhiễm bẩn nước thải sinh hoạt, môi trường dưỡng khí thấp và oxy hòa tan trong nước trên 2mg/l, nước lợ độ m ặn 4-

6%0, cá tra nhờ cơ quan hô hấp phụ vẫn sống được Nhưng khi phải sông trong môi trường khắc nghiệt,

cá không tăng trưởng, chậm lớn và không có khả năng th àn h thục sinh sản Sông trong môi trường này

th ịt cá có màu vàng sậm, chất lượng kém

Trang 16

Môi trường nước cho cá tra sông rất quan trọng

vì không chỉ cho chính cá tra sống mà còn làm cho các thủy sinh động thực vật và tôm tép, cá sống làm thức ăn tự nhiên cho cá tra Môi trường nước ổn định tốt, mồi ăn đầy đủ, cá tra có sức đề kháng cao, ký sinh trùng mầm bệnh khó xâm nhập, cá khỏe mạnh tăng trưởng nhanh

Mỗi khi có sự thay đổi môi trường gây sốc cho

cá, cá bị yếu sức mất sức đề kháng dễ bị kv sinh trùng xâm nhập và nhiễm bệnh chết

Trong qui hoạch nuôi cá tra kinh doanh, khi chọn địa điểm nuôi cá tra nên chọn nơi có nguồn nước tốt, sạch và không chọn những nơi vượt ngưỡng thích hợp, trừ trường hợp không thể chọn được nơi tốt hơn mới chấp nhận ở những nơi bị nước biển xâm nhập có

độ mặn 5-6%0 vài tháng trong năm Các tỉnh ven biển ĐBSCL Trà Vinh, Bạc Liêu, Bến Tre, trong kế hoạch

đa dạng hóa giông vật nuôi đang triển khai tổ chức

nuôi cá tra ở những vùng nước bị nước mặn xâm nhập.

Môi trường nước còn có tác động lớn đến hiệu quả' nuôi vỗ cá tra bô" mẹ, cho cá đẻ, ấp trứng, ương dưỡng cá con thành cá giống và nuôi cá thịt, đặc biệt

là chất lượng và màu th ịt của cá

Tốc độ dòng chảy, lượng nước bổ sung thay nước mới và đặc biệt các chất dinh dưỡng có trong nước đều

có tác động đến sự thành thục sinh sản của cá, nên cần phải được chú trọng quan tâm

Trang 17

Nguồn nước tốt phải đảm bảo:

- Không có các yếu tố gây độc hại cho cá gồm các dạng rắn, dạng khí hoặc muôi hòa tan, các kim loại nặng, thuốc trừ sâu diệt cỏ, hóa dược và hóa chất xử lý nước, hàm lượng C1‘, SO42', Fe2+ hoặc Fe3+ tổng cộng, lượng hữu cơ tiêu hao oxy và các hợp chất vô cơ hữu cơ khác có sẵn trong nước thải công nghiệp, nước th ải sinh h o ạ t tấ t cả phải được loại trừ

- Các yếu tố dinh dưững N, p, K và các khoáng vi lượng cũng cần có mức giới hạn thích hợp để đảm bảo cá

và các thủy sinh động vật khác phát triển bình thường, không quá mức và hẹn chế tảo độc hại phát triển

- Cổ nhiều hệ thủy động thực vật làm thức ăn cho cá, h ạ n chế các địch hại, hạn chế các ký sinh trùng gây bệnh cho cá lan trong nước p h át triển và có

th ể th ay đổi nước mới dễ dàng Dứt khoát không sử dụng trực tiếp nguồn nưởc bị tù đọng nhiều năm nhiều

th án g thường m ang nhiều các mầm bệnh, vi khuẩn, virus lưu trú, sử dụng nguồn nước này phải có hệ thống ao lắng, diệt khuẩn rấ t tốn kém

- Tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng m ặt trời, có độ đục vừa phải không chứa nhiều phù sa nhiều h ạ t sét

lơ lửhg làm tảo và các thủy sinh vật kém phát triển, giảm nguồn thức ăn tự nhiên

Trang 18

P h ầ n 2

SẢN XUẤT GIỐNG CÁ TRA

Hiện nay cá tra giôhg đã được sản xuất bằng thụ tinh nhân tạo khô có hiệu quả kinh tế cao, chủ động được thời gian và có số lượng lớn theo yêu cầu, khi cho

đẻ chủ động cùng một lúc nhiều cá và lượng trứng thu được nhiều hơn

1 Chuẩn bị nuôi vỗ cá b ố m ẹ

Nuôi vỗ cá bố mẹ là công tác chuẩn bị cho cá tra sinh sản nhân tạo rấ t quan trọng, để tạo ra các th ế hệ

cá con có sức sông tốt phải từ những đàn cá bố mẹ

th àn h thục khỏe mạnh Khâu nuôi vỗ cá tra bô" mẹ là một quá trình chăm sóc và quản lý nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho cá đực và cá cái thành thục có buồng trứng, có tinh sào phát triển tốt và đầy đủ một cách hoàn thiện trong môi trường nuôi nhân tạo, sẵn sàng chuyển sang tình trạng sinh sản ngay khi gặp điều kiện môi trường thích hợp hoặc được kích thích bằng phương pháp sinh lý

Có hai cách nuôi vỗ cá tra bô" mẹ là nuôi vỗ trong ao và nuôi vỗ trong bè

1.1 Ao nuôi vỗ cả tr a b ố mẹ

r

Ao nuôi vỗ cá tra bô" mẹ nên có diện tích thích

Trang 19

ho'p là 1.000-2.000 m2, ao sâu 2-2,5 m, mực nước 1,5-2

m, n h iệt độ nước ao thích họp 26-30°C, pH= 7-8, hàm lượng oxy hòa tan 4 mg/1 trỏ' lên và chủ động được nguồn nước cấp và thoát đầy đủ, nên chọn đào ỏ' những nơi đất th ịt và ít bị nhiễm phèn, nên gần nhà

để tiện chăm sóc và bảo vệ

Ao rộng và thoáng để giữ được các yếu tố môi trường ổn định, tạo sự đối lưu giữa các tần g nước dễ dàng để điều hòa lượng oxy hòa tan trong nước, tạo không gian hoạt động thuận lợi cho cá Ao rộng giúp cho cá sinh trưởng và phát triển thuận lợi, th à n h thục

dễ dàng và chất lượng sản phẩm sinh dục tốt

Nuôi vỗ cá bô" mẹ trong ao hẹp diện tích nhỏ dưđi 500 m 2, các yếu tô" thủy lý hóa trong ao dễ bị biến đổi nhiều dẫn đến tỷ lệ th àn h thục và sức sinh sản của cá bô" mẹ kém, chất lượng trứng và tinh dịch xấu nên tỷ lệ sống của cá bột thấp

Độ sâu của ao phải hợp lý để tạo không gian cho

cá hoạt động, ao sâu giữ nhiệt độ ổn định hơn ao cạn, nhưng sâu quá cũng không tốt vì lớp nước dưới đáy ít được trao đổi, lắng động nhiều chất thải, nh iệt độ thấp, lượng oxy hòa tan thấp không thuận lợi cho cá

Đáy ao không nên có nhiều bùn vì dễ làm ô nhiễm và gây bệnh cho cá Đáy ao cát, độ thẫm thấu lớn dễ bị sạt lở khó giữ nước

Ao nên gần nguồn cấp nước sạch, nước lưu chuyển thường xuyên, không bị mầm bệnh lưu trú,

Trang 20

không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, không bị nhiễm phèn, mặn hoặc chứa các kim loại nặng.

Bờ ao chắc chắn không bị rò rĩ, đỉnh bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong ao là 0,5 m Ao có công lấy nước và cống thoát nước riêng biệt, hai đầu công trong và ngoài đều phải có bịt lưới chắn, nếu thuận

tiện nên làm một cống ở sát đáy ao có bộ phận điều

tiết nước theo yêu cầu

Lưới bịt đầu cống có mắc lưới nhỏ để ngăn cá tạp, địch hại xâm nhập vào ao và không để cá thoát

ra ngoài Đáy ao bằng phẳng và hơi nghiêng về phía công thoát Mặt ao thoáng đãng, không có cây che

m ặt nước ao

Ao nên có vị trí thuận lợi đi lại và vận chuyển vật tư, sản phẩm, cần có điện nước ổn định để phục vụ cho hoạt động sản xuất

Trước khi thả cá bei mẹ nuôi vỗ phải cải tạo xử

lý ao

Ao cũ tháo xả cạn nước, diệt bắt hết cá tạp, cá dữ; vét bùn đáy ao, chỉ để 1 lớp bùn mỏng 20 cm; dọn sạch cỏ mái và bờ ao; lấp bịt trám hết hang cua, hang rắn, hang chuột

Diệt cá dữ cá tạp, cứ 100 m3 nước dùng 1 kg rể cầy thuốc cá (Derris); ngâm rể cây trong nước 8-10 giờ rồi đập dập, giã nhỏ, vắt lấy nước tạt đều khắp ao lúc

Trang 21

trời nắng, chất Rotenon có trong dây thuốc cá sẽ diệt

h ế t cá tạp và cá dữ còn sót lại trong ao

Sau khi diệt cá dữ nên bón vôi, cứ 100 m2 đáy

ao, dùng 5-7 kg vôi bột rải đều đáy và m ặt bờ ao và phơi nắng đáy ao 2-3 ngày Cấp cho nước vào ao qua lưới lọc đến khi mực nước đáy ao đạt yêu cầu

Ao mới dào nên kiểm tra đáy ao, nếu đất đáy ao

bị phèn pH dưới 5, nước có màu vàng đỏ, phải cho nước vào ngâm ao trong 5-7 ngày rồi xả bỏ, lặp lại 2-3 lần để rửa bớt phèn rồi mới bón vôi cải thiện chất lượng nước trong ao nuôi

Rải vôi bột đáy và mái bờ ao với số lượng vôi là 10-15 kg/100 m2, cho nước vào ngập 30-50 cm ao ngâm trong 2-3 ngày rồi tháo bỏ và cho nước mới vào ngâm tiếp, lặp lại vài lần Trước khi th ả nuôi nên bón lại vôi, dùng 5-7 kg/ 100 m2 vôi bột rải đều khắp đáy và m ặt bờ

ao, phơi nắng đáy ao 2-3 ngày rồi cho nước vào ao qua lưới lọc đến khi mực nước đáy ao đạt yêu cầu

Nước cấp vào ao phải sạch không bị ô nhiễm, độ

pH = 7-8, độ m ặn không vượt quá 1%0 và hàm lượng oxy tối thiểu trê n 3 mg/1

1.2 Bè nu ôi vỗ c á tr a b ố mẹ

Đây là hình thức nuôi cá hậu bị và nuôi vỗ cá bố

mẹ tiết kiệm diện tích m ặt nước nhưng hiệu quả cao

Cá tra bố mẹ hoàn toàn có thể nuôi vỗ trong bè, chất lượng và tỷ lệ th àn h thục sinh dục của cá bô' mẹ

Trang 22

đều tốt như nuôi vỗ trong ao nhờ nước lưu thông thường xuyên cung cấp đầy đủ oxy, môi trường sạch không bị ô nhiễm bởi các chất thải của cá, các yếu tô" thủy lý hóa củạ nước sông ổn định thuận lợi cho đời sống và sự phát dục của cá.

1.2.1 Vị trí đặt bè

Chọn những vùng nước sạch sẽ, thông thoáng có ánh nắng, nước sâu trên 5 m để đảm bảo chất lượng, nước trong bè đạt 2,4-2,6 m Nguồn nước tốt không bị ảnh hưởng của thuốc trừ sâu hay ô nhiễm do các chất thải công nghiệp

Vùng đặt bè nuôi vỗ cá tra bố mẹ là vùng nước chảy thích hợp là 0,3-0,5 m/giây và cách bờ ít nhất 10

m, không ảnh hưởng đến giao thông trên sông, không

bị bồi lắng, không có dòng nước xoáy ngầm, có dòng nước chảy thẳng, không chọn ở khúc sông và khúc quanh cửa sông cạn nước không chảy, không có gio hoặc những nơi nước xoáy nước chảy quá mạnh, tàu bè

đi lại nhiều và không chọn nơi có nhiều bè cá tập trung và những nơi có nhiều mùn bã hữu cơ tích tụ, có quá nhiều rong cỏ

1.2.2 Bè và cách đóng bè

Kích thước bè phổ biến là 6X 4 m, sâu 3 m hoặc

8x 5 m, sâu 3 m và tùy theo chủ bè có thể thay đổi chiều ngang và chiều dọc, cũng có bè lớn là 10 X 5 m sâu 3 m thường thấy ở Vĩnh Long, An Giang và Đồng Tháp trên sông Tiền, sông Hậu

Trang 23

Bè hình hộp chữ nhật có 4 m ặt xung quanh là

th àn h bè, m ặt dưới là đáy bè ngập trong nước, m ặt trên là sàn bè không ngập nước có cửa để cho cá ăn hàng ngày và kiểm tra hay vệ sinh lòng bè Trên sàn

bè có thể làm nhà bảo vệ và quản lý, chăm sóc cá nuôi.Cửa bè có 2 mặt, m ặt ngoài làm bằng lưới sắt,

m ặt trong bằng lưới nylon Việc lựa chọn m ắt lưới và cách dóng lưới r ấ t quan trọng, tùy theo điều kiện nước chảy từng nơi làm sao để cho nước cũ chảy ra và nước mới vào được Kích thước của cửa bè có th ể điều chỉnh được lượng nước ra vô thường xuyên nhưng không gây sốc cho cá

- Vật liệu làm bè

Vật liệu dóng bè nên là gỗ tốt như sao, vên vên, căm xe chịu được nước lâu mục, hiện nay còn có vật liệu mới như composit, inox và có nơi đang thử nghiệm dùng bêtông polystirène để làm bè nuôi cá

- Vật liệu làm phao

Phao giúp cho sàn bè nổi trên m ặt nước và làm cho chiều cao mực nước trong bè luôn ổn định Phao làm bằng thùng phuy hay thùng nhựa Thùng phuy nên quét nhựa đường hay sơn chống gỉ sắt để kéo dài tuổi thọ, thùng nhựa dc bị lão hóa nứt do bị ảnh hưởng nắng chiếu trực tiếp hoặc sóng gió va đập

m ạnh nên cho thùng nhựa vào bao bố có tẩm nhựa đường Bè th ể tích 70 m3 cần 35-40 thùng phuy

Trang 24

- Đóng bè

Vật liệu đóng bè nên dùng đinh thau, dây chằng bằng nylon và lưới mành Gỗ làm thành bè phải phơi khô và bào nhẵn để không làm xây xát cá

Các trụ đứng và ngang được ghép với nhau, giữ chặt bằng các ốc kim loại để vững chắc

Thanh gỗ rộng 4-6 cm ghép sát với nhau để cá không lọt ra ngoài, nếu khoảng hở lớn hơn 1 cm cá dễ

bị nước chảy mạnh qua khe hở làm khuấy động, cá phải hoạt động nhiều và dễ bị mệt

Một số người nuôi cá ở những vùng nước chảy mạnh chịu 'ảnh hưởng của thủy triều hay vùng có tàu thuyền qua lại thường xuyên đóng ngang ván thành bè

để chịu lực tốt hơn Ván thành bè đóng ngang đóng kín 20-30 cm từ dưới đáy bè’lên sẽ không ảnh hưởng đến

cá, ván đóng dọc khi sóng lớn hay tàu bè qua lại đẩy ép nước xịt mạnh qua khe vách làm cá không chịu nổi

1.2.3 Đặt bè

Đặt bè ở nơi có độ sâu trên 5 m, và bè chìm trong nước 1,8-2 m, mặt bè nổi cao hơn mặt nước sông 0,3-0,5 m để người nuôi dễ xuông kiểm tra, chăm sóc

cá bố mẹ nuôi, ở độ sâu này nhiệt độ nước sông là 26-

28°c thích hợp cho cá nuôi vỗ.

Bè được giữ cố định tại một nơi hoặc di chuyển

từ nơi này qua nơi khác khi cần thiết, giữ cố định

Trang 25

dùng cọc hay neo hoặc dùng cả hai Cọc có thể điều chỉnh chiều cao mực nước trong bè.

Trước khi th ả cá, bè nuôi vỗ cá bô' mẹ phải được dọn vệ sinh kỹ, tẩy trùng bằng formol với nồng độ 30-

50 ppm (ppm=mg/l) phải kiểm tra tu sửa hoàn chỉnh các chi tiế t bè, thay ván, lưới chắn và các phần khác

bị hư mục

2 T u yển ch ọ n đ à n cá bô' m ẹ

Để xây dựng được đàn cá bô' mẹ cho sinh sản tạo

ra những thê' hệ đàn con tôt, khỏe m ạnh nên chọn xây dựng từ cá hậu bị cho tốt, chọn những con khỏe

m ạnh có th ể trọng lớn sau này sẽ th àn h thục tô t có sức sinh sản cao và nhiều trứng, không chọn cá nhỏ sau này sẽ có chất lượng sản phẩm sinh dục sẽ kém.Chọn cá hậu bị từ cá th ịt nuôi trong ao hoặc trong

bè, đàn hậu bị được nuôi đến cuối năm thứ hai thì lựa những con tốt n h ất làm đàn cá bô' mẹ chính thức

Mỗi năm sau khi kết thúc mùa sinh sản nhân tạo, dàn cá bố mẹ được đưa vào nuôi hồi sức, thực hiện kiểm kê, đánh giá và loại bỏ những con không còn tương thích để chọn lọc lại và nuôi vỗ cho mùa sinh sản sau

Do cá tra bô' mẹ khi còn chưa th àn h thục sinh dục rấ t khó phân biệt cá đực cá cái, nên chọn cá tra bô' mẹ theo các tiêu chuẩn:

- Cá trên 3 năm tuổi

Trang 26

- Cá có trọng lượng trên 3-4 kg/ con, cá càng lớn sức sinh sản càng cao.

- Cá mập khỏe, đầu và thân mình phát triển cân đôi, không bị dị tật, màu sắc tươi sáng, vây kỳ đuôi hoàn chỉnh còn nguyên vẹn

- Cá không có vết trầy, không bị ký sinh trùng đeo bám

Trước khi thả cá bố mẹ vào ao hay bè để nuôi vỗ nên tắm cá bằng dung dịch nước muối 3-4 % hoặc formol 25 ppm hay thuốc tím 20 ppm trong vòng 5-10 phút để diệt khuẩn, diệt nấm và các ký sinh trùng bám vào thân cá,

Trong khi tắm, nếu cá phản ứng vùng vẩy nhảy lên m ặt nước hay ngoi lên thở thì dùng vợt vót cá ra khỏi dung dịch tắm ngay và cho vào thau hay bể nước sạch có sục khí Không nên dùng cách cho thêm nước vào dung dịch tắm cá dể pha loãng hàm lượng muối, formol hay thuốc tím vì kéo dài thời gian có thế làm

cá chết trước khi hàm lượng hóa chất được giảm xuống đúng mức Trước khi tắm cá nên chuẩn bị đủ bơm sục khí, vợt vớt cá và bể nước sạch

Nên thả trong cùng một ao hoặc một bè cá bố

mẹ từ nhiều nguồn khác nhau, không chọn cá bô' mẹ

từ cùng một lứa cùng một bầy và nuôi cùng một ao để tránh tình trạng có thể bị đồng huyết, cá giống sinh sản th ế hệ sau kém chất lượng nuôi không lớn

Trang 27

3 N u ôi vỗ cá b ố m ẹ

3.1 Thời g ia n nu ôi

Mùa vụ sinh sản của cá tra là đầu mùa mưa khoảng th án g 5 đến cuối th án g 10 mỗi năm, nên thời gian nuôi vỗ cá tra bố" mẹ cho sinh sản thích hợp là vào th án g 10-11 năm trước

Tuy nhiên với khí hậu của các tỉnh vùng ĐBSCL

nóng quanh năm, nhiệt độ ít khi xuống thấp dưới 18°c

nên có thể cho cá tra đẻ sớm và kéo dài thời gian cho sinh sản đến cuối tháng 11 mỗi năm Để có cá tra giống vào đầu mùa mưa cung cấp cho các trại nuôi cá

th ịt thì phải cho cá tra đẻ ngay từ tháng 3-4 đầu năm

và có cá tra bột ương nuôi 2 tháng thành cá giống

Mùa vụ cá tra bố mẹ th àn h thục ở các tỉnh Nam

bộ thường b ắt đầu từ tháng 2-3 và kéo dài tới th án g 9,

ở cấc tĩn h miền Trung từ Đà Nẵng trở vào bắt đầu từ

0,2 5-7

1/1 1/1

Nuôi chung

cá đực cá cái trong ao

Trang 28

3.3 Thức ăn, cách cho ăn, chăm sóc và quản lý

Nuôi vỗ cá tra bô" mẹ là một quá trình chăm sóc, quản lý và theo dõi thông kê để tuyển chọn được những con cá đực và cá cái thành thục sinh sản có buồng trứng, tinh sào phát triển tốt, đầy đủ và hoàn thiện sẵn sàng có thể chuyển ngay sang sinh sản khi được kích thích bằng phương pháp sinh lý thích hợp

Hàm lượng đạm trong thức ăn cho cá tra phải đảm bảo trên 28% và phải cần đối với hàm lượng đường, mỡ, vitamin và chất khoáng Hàm lượng mõ' không thấp hơn 10%

Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp tự chế biến và thức ăn công nghiệp

Thức ăn hỗn hợp tự chế biến gồm cám gạo, tấm, trộn chung với bột cá lạt, tỷ lệ bột cá chiếm 50% còn

lại là cám và tấm, cần bổ sung các vitamin như c, E

và Premix khoáng giúp cá tăng sức đề kháng cơ thể

và phát dục tốt

Nguyên liệu phải sạch, không ương hư, không bị nấm mốc và không quá hạn sử dụng, tuyệt đối không

Trang 29

trộn các kháng sinh bị cấm sử dụng Các nguyên liệu được nghiền nát, trộn đều và nấu chín, để nguội trộn thêm các chất bổ sung và ép th àn h viên hay vo tròn

th àn h nấm nhỏ rải cho cá ăn

T hành phần nguyên liệu thức ăn hỗn hợp tự chếbiến:

Thức ăn nên bổ sung thêm Vitamin A, c , E, dầu

DHA Selco và chế phẩm vi sinh vật nhằm tăng sức đề kháng, khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bô' mẹ và thúc đẩy nhanh chóng thành thục sinh dục

Trang 30

3.3.2 Cho ăn

Ngày cho cá ăn 2 lần, sáng 7-8 giờ và chiều 16-

17 giờ Mỗi ngày cho thức ăn hỗn hợp tự chế biến bằng 5-8% trọng lượng của cá, thức ăn viên công nghiệp bằng 2-3% trọng lượng cá

Thức ăn đặt trong máng hoặc sàn ăn và đặt ở

những nơi cố định trong ao cách đáy ao 20-30 cm,

hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn còn thiếu hay dư thừa để lần sau tăng hay giảm lượng thức ăn, thức ăn thừa phải loại bỏ ngay tránh làm dơ ao

Cá ăn nhiều khi bắt đầu đưa vào nuôi vỗ, khi cá bắt đầu thành thục và chuẩn bị sinh sản sẽ ăn ít lại.Cho ăn bằng máng hay sàn tuy đơn giản nhưng

rấ t cần thiết khi nuôi vỗ cá tra bố mẹ sinh sản, giúp theo dõi tình trạng sức khỏe của cá bố mẹ hàng ngày

và giữ môi trường nước nuôi được sạch sẽ, tránh ô nhiễm và tránh tác hại của thức ăn dư thừa bị thôi rửa trong ao

Ao nuôi có diện tích 1.000 m2 nên có 6-8 máng

ăn hay sàn ăn

Máng ăn, sàn ăn phải được tẩy rửa sạch sẽ và phơi khô sau mỗi lần cho cá ăn

Cá háu ăn tranh mồi nhiều, con lớn thường giành được ăn trước những con nhỏ hơn Cá nào đã ăn no sẽ

bỏ đi, còn lại những con chưa ăn no tiếp tục ăn Vì vậy thời gian cho ăn thường kéo dài hơn các loài cá khác

Trang 31

Cá nuôi trong bè nên cho ăn vào lúc thủy triều lên hoặc xuống để khi cá no là lúc nước chảy m ạnh giúp cá không bị mệt.

hơn 18°c cá sẽ bỏ ăn và nếu kéo dài nhiều ngày tuyến

sinh dục có th ể bị thoái hóa

N ên theo thủy triều thay đổi mỗi ngày 20-30% lượng nước trong ao để kích thích cá săn mồi tích cực, giúp kích thích sự p h át triển của buồng trứng, tin h sào tốt hơn và hạn chế dịch bệnh phát sinh khi th ải

bỏ bớt được những phần thức ăn dư thừa chất th ải của

cá có trong thời gian nuôi

Những nơi không có nước theo thủy triều, nên mỗi tuần 1-2 lần thay nước để cải thiện chất lượng nước trong ao bằng cách tháo xả 20-30% nước cũ trong

ao ra và bơm cấp vào nước sạch mới Khi thấy chất lượng nước xấu đi nên thay nước nhiều hơn Khi thấy

cá nổi đầu phải kịp thời cung cấp nước mới và cho quạt nước chạy để tăn g cường oxy hòa tan trong nước

Cá tra sống ở tần g nưốc m ặt, tầng giữa và tầng

đáy lại hoạt động m ạnh nên chịu ảnh hưởng trực tiếp chất lượng nước trong ao Các chất thải của cá và thức

Trang 32

ăn dư thừa, mỗi ngày tự phân hủy tạo ra các khí độc

C 0 2, CO, H2S, NH3, S 0 2, s o,., sẽ tác động làm giảm

sự phát triển thành thục của buồng trứng, giảm sức sinh sản của cá bô" mẹ và làm cá yếu sức, sức đề kháng bệnh giảm dễ bị mầm bệnh xâm nhập Nên trang bị dụng cụ quạt nước để mỗi ngày cung cấp thêm oxy hòa tan trong nước vào những giờ thấp điểm oxy hòa tan trong nước giảm là 20-23 giờ và 3-5 giờ sáng và thu gom các chất thải, bùn dưới đáy ao về giữa đáy ao để có thể siphon đáy ao định kỳ 15-20 ngày giảm bớt sự phát sinh các khí thải độc hại

Cách làm này sẽ giúp cho cá bố mẹ phát triển thành thục sinh dục nhanh hơn, buồng trứng lớn, chất lượng trứng và tỷ lệ cá bột nở cao hơn Cá bố mẹ

ít bị bệnh, giảm bớt hao hụt

Cá nuôi vỗ trong bè, những khi nước chảy yếu phải dùng quạt nước để tăng thêm lượng oxy hòa tan, mỗi ngày kiểm tra neo, phao, lưới chắn và gỡ bỏ rác bám chung quanh bè cản dòng nước chảy Vào mùa lũ phải kịp thời thổi bùn lắng động ra khỏi đáy bè

Cá tra bô" mẹ nuôi vỗ với m ật độ thích hợp, thức

ăn đầy đủ và sông trong môi trường nước ao nước bè tốt nên ít bị nhiễm bệnh Nếu thả mật độ dày, thức

ăn không hợp lý hoặc cho ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường nước nuôi có thể dẩn đến một sô" bệnh nhiễm khuẩn, bị ký sinh và nấm

Để phòng bệnh phải vệ sinh đáy ao, vệ sinh nước ao, thức ăn đầy đủ và không cấp nước xấu từ

Trang 33

nguồn nước có cá bị bệnh, khi phát hiện cá bị nhiễm bệnh nên xử lý nước ao và dùng thuốc chữa bệnh.

Từ th án g thứ tư trở đi, mỗi tháng 2 lần kiểm tra tìn h trạn g p h át dục của cá, lúc này đa sô" cá cái có buồng trứng đã chuyển sang giai đoạn IV và nhiều cá đực đã có tin h dịch

Khi kéo b ắt cá bố mẹ nên dùng lưới sợi mềm không có gút để trá n h làm xây sát cá và dùng băng ca vải mềm may theo kích thước phù hợp với độ lớn của

cá để giữ khi kiểm tra

Có th ể dùng tay sò' nắn bụng cá, cảm n h ận độ mềm của bụng để đánh giá sự tăng trứõng của buồng trứng hoặc dùng que thăm trứng để lấy trứng của từng

cá cái ra xem mức độ th àn h thục và vuốt bụng cá đực

để xem tin h dịch cá đực

Trước khi kiểm tra phải ngưng cho cá ăn

Khi kiểm tra phải ghi chép đầy đủ các số liệu của từng cá đực, cá cái theo đánh dấu trên cá các chi tiế t chiều dài, trọng lượng cơ th ể tình trạn g sức khỏe, bệnh tật, kích thước vòng bụng và độ mềm của cá cái,

Trang 34

có tinh dịch hay chưa và có nhiều hay ít của cá đực, căn cứ vào mức độ thành thục của cá để dự dịnh ngày cho đẻ.

Qua mỗi đợt kiểm tra, sẽ có cá bô' mẹ bắt đầu thành thục sinh dục, lúc này có thể phân biệt được cá đực cá cái dễ dàng, do cá tra có phần mặt trên xương

sọ của đầu khá rộng nên thực hiện đánh dấu trên đầu từng con cá để theo dõi

Dùng que có' đầu nhọn gạch bằng số’ La Mã cho

cá cái và sô" Á Rập cho cá đực, có thể gạch vẽ lại số nếu sô" củ bị mờ để tránh tình trạng lẫn lộn hoặc có thể dùng thẻ đeo sô" cho cá

Với cá đực nên dùng kéo cắt luôn vây mỡ để khi kiểm tra nhận biết được cá đực nhanh và chính xác Vây mỡ của cá mọc lại rấ t chậm và có thể hai năm mới cắt một lần

4 Kỹ thuật cho cá tra sin h sản

Kỹ thuật sinh sản nhân tạo cho thụ tinh khô được áp dụng cho cá tra đẻ, có hiệu quả tốt và kinh tế nhất cho loại cá này

4.1 Các loại kích th ích tô

Các loại kích thích tô" thường dùng cho cá tra sinh sản nhân tạo là não thùy của cá nước ngọt, LH- RHa (Luteotropin Hormon Releasing Hormon analog), HCG (Human Chorigonic Gonadotropin) và hiện nay

có nơi đang dùng 17,20P là 17a-Hydroxy

Trang 35

-20p-dihydroxy -4-pregnen -3-one (hormon steroid tự nhiên

do nang trứng tiế t ra)

- HCG (Human Chorigonic Gonadotropin) là hormon sinh dục có nguồn gốc động vật còn gọi là kích dục tô" nhau th ai có tác dụng chuyển hóa buồng trứng và gây rụng trứng trên rấ t nhiều loài cá nước

ngọt Hiện nay, thuốc kích dục tô" này đang sử dụng ở

Việt Nam do Trung Quốc sản xuất, được đóng chai thủy tin h chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (đơn vị tín h quốc tê' U nit International)

- LRH-A (LH-Rha) (Luteotropin Hormon Releasing Hormon analog) là hormon tổng hợp có tác dụng chuyển hóa buồng trứng và đồng thời gián tiếp gây rụng trứng, khi sử dụng nên dùng kèm viên DOM (Domperidon) Thuốc này do Trung Quốc sản xuất dạng bột chứa trong ông thủy tinh với 200, 500 và 1.000 microgram

- 17,20P là 17a-Hydroxy -20p-dihydroxy -4- pregnen -3-one, đây là hormon steroid tự nhiên do nang trứng tiế t ra có khả năng kích thích gây chín noãn bào cho nhiều cho các loài cá nước ngọt, có khả năng kích thích trứng chín trước khi cá th àn h thục hoàn toàn và có phản ứng thuận lợi vói kích dục tố

Các kích thích tô' này phần lớn được sản xuất ở

Trung Quốc, không ghi hạn sử dụng rõ ràng, khi dùng nên thử nghiệm trước trên một vài con cá sặc, cá chép hay một hai con cá tra dể xác định hiệu lực của thuốc,

Trang 36

để không sử dụng thuốc giả thuốc quá hạn khi cho cá

tra sinh sản số lượng lớn không có kết quả bị thiệt

hại cá bố mẹ

4.1.1 Kỹ thuật lấy não thùy và bảo quản

Não thùy của cá dùng kích thích cho cá đẻ được dùng từ nhiều năm nay

Những trại nuôi thủy sản có thể tự lấy não thùy

từ cá chép, cá trê đã thành thục sinh dục để sử dụng Não thùy của cá chép nằm ngay dưới não bộ ở buồng não thứ ba

Dùng dao vạt đầu cá dể mở hộp sọ ở những con

cá còn sống hoặc mới chết, trước khi vạt đầu cá cần cắt đứt mang cá để máu thoát ra không ứ đọng trong hộp sọ che khuất não thùy

Dùng móc tai nâng não bộ cá từ dây thần kinh

khứu giác ở phía trước là thấy não thùy nằm ngay

dưới não bộ, bứt các dây liên kết với não thùy và múc não thùy ra đặt não thùy trên mu bàn tay và móc làm sạch các mảnh mô liên kết và máu

Não thùy nguyên vẹn to bằng hạt tấm có hình cầu hềặc hình bầu dục, cá nặng 1 kg não thùy nặng 1

mg, có thể dùng ngay não thùy tươi tiêm cho cá sinh sản nhân tạo

Có thể tích trữ não thùy để dùng trong mùa vụ cho cá đẻ và những năm sau

Trang 37

Não thùy sau khi làm sạch cho vào lọ thủy tin h có aceton nguyên chất để khử nước và các mô mỡ của não thùy, ngâm 1 ngày rồi bỏ acetori cũ và cho aceton mới vào lọ, làm vài lần cho đến khi aceton không biến màu.

Ngâm aceton có thể tích nhiều gấp 20 lần thể tích của não thùy cần bảo quản, đậy kín nút lọ và để ở nơi thoáng m át trá n h ánh sáng trực tiếp của m ặt trời,

p h át hiện lọ nào cạn aceton thì châm thêm hoặc thay aceton mới Có th ể dùng cồn tuyệt đốì hoặc cồn 96° thay aceton, với cách bảo quản này não thùy giữ nguyên hoạt tín h trong nhiều năm

Não thùy cá th àn h thục tốt hơn não thùy cá chưa

th àn h thục, não thùy lấy từ cá có tuyến sinh dục thoái hóa không có hoạt tính

Não thùy cá cái có hoạt tín h kích dục gấp 2-2,5 lần não thùy cá đực cùng loài và có sự th àn h thục tương ứng não thùy cá chép, cá trê m ạnh gấp 1,5-2 lần não thùy cá mè, cá trắm

Não thùy cá rô phi không có tác dụng

4.1.2 Cách pha và tiêm thuốc cho cá

- Não thùy

Dùng móc tai inox lấy não thùy trong lọ thủy tin h ra, đặt lên giấy sạch để cho bốc h ế t hơi aceton rồi cho vào côi sứ hay chén sành với sô lượng cần nghiền Cho vào cối vài giọt nước muối sinh lý NaCl 0,7%, một tay giữ côi một tay cầm chày, ấn m ạnh đầu

Trang 38

chày sát đáy cối rồi quay chày theo đường tròn khoảng mươi vòng, não thùy nát sệt, cho nước muối vào cối và tiếp tục nghiền thêm một lần nữa Dùng bơm tiêm xịt mạnh nước muôi để rửa đầu chày, nước muôi dùng tiêm cho mỗi kg cá tra là 1-2 ml.

- Thuốc kích thích HCG, LH-RHa và 17,20P.Dùng bơm tiêm bơm nước muối vào lọ đựng thuốc

và lắc nhẹ cho tan đều Khi cần bơm nhiều dung dịch vào lọ có nút cao su nên cắm thêm một cây kim xuyên qua nút để làm lôi thoát cho không khí

Nếu dùng hỗn hợp HCG với não thùy cá thì pha HCG trước rồi dùng dung dịch HCG thay nước muôi để nghiền tan não thùy trong cối, sau khi dùng hết thuốc hoặc dung dịch não thùy có thể lấy nước muối tráng cối

và các lọ chứa HCG Nước tráng này có thể thay cho nước muối dùng pha thuốc tiêm cho cá tra đực

- Tiêm thuốc

Cá tra có thể tiêm thuốc kích thích ở gốc vây ngực,

ở cơ lưng hoặc trực tiếp vào xoang bụng buồng trứng.Khi tiêm, dặt kim tiêm nghiêng một góc 45° so với th ân cá và sâu khoảng 1 cm, bơm tiêm nhanh và rút kim ra từ từ để tránh thuốc tràn ra Vị trí tiêm nên khác nhau mỗi lần

Để cá nằm trong vợt lưới hoặc trong giai vèo lưới kéo cao hơn m ặt nước trong bể chứa, giữ nguyên cá không cho vùng vẫy có thể làm hư trứng, tiêm thuốc

Trang 39

nhanh thao tác gọn cá ít vùng vẫy và trả cá trở lại ngay trong vèo hay bể chứa sau khi tiêm xong.

4.1.3 S ử dụng và liều lượng kích thích tố

Khác với các loài cá nước ngọt khác, để giúp cá tra cái th àn h thục sinh dục chuyển sang sinh sản phải tiêm 4-5 liều thuốc kích thích Đầu mùa và cuối mùa sinh sản có th ể tiêm 5 liều gồm 3 liều dẫn, 1 liều sơ

bộ và 1 liều quyết định; trong mùa sinh sản có thể tiêm 3-4 liều gồm 1-2 liều dẫn, 1 liều sơ bộ và 1 liều quyết định

Cá đực chỉ tiêm 1 liều cùng lúc với liều quyết định của cá cái

Thời gian giữa các liều là thời gian thuốc có hiệu ứng đối với cá tra cái thường là 8-12 giờ, nên thời gian giữa các liều dẫn, liều sơ bộ và liều quyết định cách nhau 8-12 giờ

Đối với cá tra nên dùng não thùy cá hoặc HCG cho liều dẫn và liều sơ bộ, không nên dùng LH-RHa cho liều sơ bộ vì có thể gây ra sự rụng trứng cục bộ trong khi đa số trứng trong buồng trứng chưa chuyển hóa sang giai đoạn chín sẽ làm kết quả sinh sản thấp

Sử dụng các thuốc kích thích (KTSS) và kích dục

tố (KDT) với các liều như sau:

Trang 40

2.500-5.000 UI

Não thùy 0,5 mg ( 1/2 não thùy) 5-7 mg (2Vế-3Vấ

cái não thùy) LH-Rha Không dùng 100-150gg/kg Phôi hợp HCG 300-800 UI

hoặc não thùy 0,5 mg (1/2 não thùy)

HCG 1.000 UI +

2 mg não thùy (2 cái não thùy)

Dùng chất 17,20P trong liều quyết định sẽ bỏ các lần tiêm liều dẫn, rút ngắn được chu trình kích thích cho cá tra sinh sản phải kéo dài nhiều ngày giảm nguy cơ rủi ro và tử vong cho cá cái khi bị tiêm các liều dẫn Chi phí thời gian và lao động giảm trong khi chi phí về chất kích thích sinh sản trong trường hợp

Ngày đăng: 26/09/2019, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN