TÓM TẮT Nghiên cứu này, thực hiện từ tháng 6/2010 đến tháng 5/2016 thông qua 1 phỏng vấn 91 cơ sở nuôi tôm sú thâm canh tại 3 tỉnh: Kiên Giang, Sóc Trăng và Bến Tre để phân tích và đánh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHẠM CÔNG KỈNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT CỦA CÁC HÌNH THỨC SẢN XUẤT
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) THÂM CANH Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 62620301
Cần Thơ, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHẠM CÔNG KỈNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ KỸ THUẬT CỦA CÁC HÌNH THỨC SẢN XUẤT
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NUÔI TÔM SÚ
(Penaeus monodon) THÂM CANH Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trang 4TÓM TẮT
Nghiên cứu này, thực hiện từ tháng 6/2010 đến tháng 5/2016 thông qua (1) phỏng vấn 91 cơ sở nuôi tôm sú thâm canh tại 3 tỉnh: Kiên Giang, Sóc Trăng và Bến Tre để phân tích và đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh; (2) Phân tích và đánh giá các hoạt động liên kết trong sản xuất cũng như hiệu quả kỹ thuật, tài chính của các hình thức tổ chức sản xuất được khảo sát; (3) xây dựng và theo dõi các mô hình thực nghiệm nuôi tôm sú thâm canh theo các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau: hộ nông dân (HND), tổ hợp tác (THT), trang trại (TT) và công ty (Cty) để so sánh, kiểm chứng với kết quả khảo sát; (4) trên cơ sở các kết quả đó, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) của các hình thức tổ chức sản xuất, đề xuất một số giải pháp về sản xuất, quản lý và phát triển nghề nuôi tôm sú thâm canh trong thời gian tới ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
Kết quả khảo sát về hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh ở 3 tỉnh trên địa bàn nghiên cứu cho thấy, các mô hình nuôi tôm thương phẩm thâm canh ở Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang có diện tích ao nuôi trung bình 0,43-0,58 ha/ao, mật độ thả giống tôm nuôi là 29,5-36 con/m2, năng suất tôm nuôi đạt từ 5,02-5,51 tấn/ha/vụ và lợi nhuận đạt từ 237-330 tr.đ/ha/vụ Đa số
cơ sở nuôi đều có lợi nhuận Bến Tre có diện tích ao nuôi nhỏ nhất và mật độ nuôi là cao nhất, tuy nhiên lợi nhuận ở Kiên Giang cao hơn hai tỉnh còn lại Tuy vậy, sự khác biệt này hầu hết không có ý nghĩa thống kê Độ tuổi bình quân của chủ các cơ sở nuôi tôm biến động từ 43,7 đến 47,5 tuổi, đây là độ tuổi thích hợp cho việc nuôi tôm thâm canh thương phẩm Số năm bình quân nuôi tôm ở 3 tỉnh: Sóc Trăng, Bến tre, Kiên Giang lần lược là 9,44; 7,64 và 7,35 năm, với thời gian tham gia nuôi như trên thì kinh nghiệm nuôi rất tốt và
có tác động lớn đến hiệu quả nuôi Số người trong gia đình tham gia vào nuôi
và quản lý ở các cơ sở nuôi từ 4,04 đến 5,20 người cũng có ý nghĩa lớn đến hiệu quả sản xuất
Kết quả khảo sát và phân tích các hình thức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh cho thấy, hiện có các hình thức chính là (i) HND, (ii) THT, (iii) TT
và (iv) Cty Hình thức HND và THT chủ yếu là theo qui mô nhỏ lẻ, nhân lực chủ yếu là từ lao động gia đình, trong khi TT và Cty có qui mô lớn, lao động tham gia sản xuất và quản lý từ thuê mướn, có kỹ thuật tốt Trong khi hệ thống công trình của TT và Cty khá hoàn chỉnh thì các HND và THT có hệ thống công trình đơn giản Trong quá trình sản xuất, liên kết dọc và liên kết ngang đặc thù cho mỗi hình thức tổ chức sản xuất Các Cty có liên kết chọn lọc và giới hạn với một số đối tác trong một số hoạt động, TT có liên kết khá đa dạng
và chặt chẽ trong các hoạt động với các đối tác, THT có năng lực liên kết hoạt
Trang 5động tốt nhưng vẫn cần được tiếp tục hỗ trợ hoạt động để có hiệu quả hơn, trong khi HND liên kết kém nhất trong sản xuất Phân tích các yếu tố kỹ thuật cho thấy, diện tích bình quân ở hình thức HND (1,36 ha) thấp hơn đáng kể so với các hình thức khác (29,04-45,28 ha), diện tích trung bình ao nuôi không có
sự khác biệt đáng kể (0,45-0,59 ha/ao) Mật độ tôm nuôi ở hình thức HND (33,12 con/m2), THT (36,25 con/m2) và TT (31,57 con/m2) cao hơn hình thức Cty (26,88 con/m2) Phân tích hiệu quả sản xuất cho thấy, năng suất tôm nuôi cao nhất ở hình thức TT và Cty, lần lượt là 6,52 tấn/ha/vụ và 6 tấn/ha/vụ Giá thành sản xuất cao nhất ở hình thức HND (76.100 đồng/kg) Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận cao nhất ở hình thức TT (374,7 tr.đ/ha/vụ, 89,2 ± 48%) và Cty (346,8 tr.đ/ha/vụ, 90,1 ± 25,8%) và tỷ suất lợi nhuận thấp nhất là ở hình thức HND (55,6 ± 46,7%)
Kết quả thực nghiệm ở các mô hình nuôi tôm theo các hình thức tổ chức khác nhau tại Bến Tre cho thấy, với các yếu tố kỹ thuật cơ bản tương tự nhau (diện tích ao, mật độ,…), sau thời gian nuôi 120-140 ngày, tôm thu hoạch đạt kích cỡ 21,8-26,7 g/con, không khác biệt đáng kể giữa các mô hình
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) ở thực nghiệm - trang trại (TN-TT) (1,23) thấp hơn so với các hình thức thực nghiệm sản xuất còn lại (1,41-1,59) Năng suất tôm nuôi (từ 5,68-6,72 tấn/ha/vụ) không khác biệt giữa các thực nghiệm – hệ thống sản xuất (TN-HTSX) Giá thành tôm ở TN-TT thấp hơn và giá bán cao hơn các hình thức khác Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận ở TN-TT và thực nghiệm – công ty (TN-Cty) cao hơn thực nghiệm – hộ nông dân (TN-HND) và thực nghiệm – tổ hợp tác (TN-THT) Tương tự kết quả khảo sát, các kết quả TN-TT và TN-Cty có hiệu quả sản xuất và hiệu quả tài chính tốt hơn so với TN-HND và TN-THT Tuy nhiên, so với kết quả khảo sát, mặc dù năng suất tôm nuôi ở các mô hình thực nghiệm cao hơn, nhưng hiệu quả tài chính thấp hơn so với khảo sát, chủ yếu là do biến động lớn về giá vật liệu đầu vào ở thời điểm bố trí thực nghiệm tăng cao hơn so với thời điểm khảo sát và sản phẩm đầu ra ở thời điểm bố trí thực nghiệm tụt giảm thấp hơn nhiều so với thời điểm khảo sát Điều này cho thấy, giá cả thị trường có quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nuôi
Nghiên cứu này, phân tích sâu các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh (HND, HTH, TT, CTy), đồng thời đề ra được các giải pháp cho các hình thức tổ chức trên, góp phần vận dụng vào sản xuất và quản lý phát triển nghề nuôi tôm sú thâm canh trong thời gian tới
Từ khóa: ĐBSCL, ngành hàng tôm sú, hình thức tổ chức sản xuất, tôm
sú, Penaeus monodon
Trang 6ABSTRACT
This study was carried out from June 2010 to May 2016 by (1) interviewing 91 intensive shrimps farmers in 3 provinces of Kien Gang, SocTrang and Ben Tre to analyze and assess the intensive shrimp farming status (2) and also analyze and assess the cooperation possibility as well as technical and financial efficiency of the surveyed production forms, (3) conduct and monitor the experimental models of farming intensive shrimp according to different production forms: farms, companies, cooperatives, households to compare and verify with the survey results; and based on that, (4) analyze the strengths, weaknesses, opportunities and threats (SWOT) of the production forms in order to suggest some solutions of production, management and development for shrimps farming industry in Mekong River Delta area (MRD)
Result of survey on the status quo of intensive shrimp farming in 3 provinces in locations studied shows that the commercial model of intensive shrimp farming in Ben Tre, SocTrang and KienGiang, the average pond area is 0,43 to 0.58 ha/pond, the culture density is 29.5 to 36 inds./m2, the shrimp productivity achieved is from 5.02 to 5.51 tons/ha/crop and profit from VND 237- 330 million/ha/crop Most of farms are profitable Ben Tre has the smallest area of ponds with highest culture density, but profits of farms in Kien Gang is higher than that in the remaining 2 provinces However this difference is not almost significance in statistic The average age of farmers is from 43.7 to 47.5, this is the suitable age for farming commercial intensive shrimp The average years of experience in 3 SocTrang, Ben Tre, KienGiang
in turn as 9.44; 7.64 and 7.35, such experienced farmers is very good and effecting on culturing process The number of family members attending in feeding and management in each farm system from 4.04 to 5.20 is also great significance on production efficiency
Result of survey and analysis on the intensive shrimp farming models shows main production forms are (i) the households, (ii) cooperatives, (iii) farms and (iv) companies Households and cooperatives are mainly small, human labor mainly from families while farms and companies, the labor attending production and management are hired and experienced While the infrastructure system of farms and companies are fairly completed, those of households and cooperatives are simple During culture process, vertical and horizontal cooperation are specific to another production form The companies are working on horizontal cooperation with some key partners limited in some activities, farms are very various and solid activities with partners,
Trang 7cooperatives is good ability in operation but should be continued supporting to operate more effectively while households is the weakest cooperation in production Analyzing technical factors shows that the average culture area of households (1.36 ha) is significantly smaller than that of other cooperatives (29.04 to 45.28 ha), the average area of ponds is not different (from 0.45 to 0.59 ha/pond) The culture density of households (33.12 inds./m2), cooperatives (36.25 pcs/m2) and farms (31.57 inds./m2) is higher than that of companies (26.88 pcs/m2) Analyzing production efficiency shows that the shrimp productivity of farms and companies are the highest as 6.52 tons/ha/crop and 6 tons/ha/crop The highest production cost is in the households (VND 76,100/kg) Profit and its rate in farms is the highest (374.7 million VND/ha/crop, 89.2±48%) and that of companies (346.8 million VND/ha/crop, 90.1 ± 25.8%) and the lowest of households (55.6 ± 46.7%)
The experimental results of different shrimp farming forms in Ben Tre shows that, with the similar technical elements (pond area, density, ), after the culture time of 120-140 days, the harvested shrimp size reaches 21.8 to 26.7 g/ind., not significantly different between cooperatives The food conversion rate (FCR) of farms (1.23) is lower than that of other cooperatives (1.41 to 1.59) The shrimp productivity (from 5.68 to 6.72 tons/ha/crop) is not different between cooperatives Production cost of farms is lower and its sale price is higher than that of other cooperatives Profits and its rate of farms and companies is higher than that of households and cooperatives Similar to the survey results, the experimental results of production and financial efficiency
of farms and companies is better than that of households and cooperatives However in comparison with the survey results, although the shrimp productivity of experimental models is higher but financial efficiency is lower than those of the surveyed cooperatives mainly due to increasing prices of input materials at the time of setting experimental models and dropping sale prices of harvested shrimps at the time of survey results announced This shows that market price has greatly affected on production efficiency
This study also deeply analyzes the strengths, weaknesses, opportunities and threats (SWOT) of intensive shrimp farming cooperatives (households, cooperative, farms, company), it also suggests solutions for the above mentioned cooperatives and contribute & apply to the production and developing management the intensive shrimp farming in the coming time
Keywords: Mekong Delta, shrimp production chain Management
firms, Black tiger shrimp, Penaeus monodon
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu, các số liệu trong luận án là trung thực, nội dung trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc Những kết luận khoa học trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Phạm Công Kỉnh
Trang 9LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thầy PGS.TS.Trần Ngọc Hải và Thầy PGS.TS.Trương Hoàng Minh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu để hoàn thành luận án này
Quý Thầy, Cô Khoa Thủy sản và Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ, động viên và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quí báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Các cán bộ Sở NN & PTNT tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Kiên Giang và cán bộ Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư tỉnh Bến Tre, nơi trước đây tôi công tác, đặc biệt là Ban Giám đốc của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre
đã tạo điều kiện thuận lợi và chia sẽ khó khăn trong suốt quá trình thực hiện luận án
Đến tất cả người thân trong gia đình: Ba mẹ, anh chị em, vợ, con và các bạn đồng nghiệp những lời cảm ơn sâu sắc nhất, đã chia sẽ khó khăn và động viên cho tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến những
sự giúp đỡ quí báu đó./
Tác giả luận án
Phạm Công Kỉnh
Trang 10MỤC LỤC
TÓM TẮT I ABSTRACT III DANH SÁCH HÌNH XI DANH SÁCH BẢNG XII DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT XIV
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 15
1.1 Đặt vấn đề 15
1.2 Mục tiêu tổng quát 17
1.3 Mục tiêu cụ thể 17
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 17
1.5 Những điểm mới của luận án 18
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 19
2.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm thương phẩm 19
2.1.1 Hiện trạng nuôi tôm trên thế giới 19
2.1.2 Hiện trạng nuôi tôm ở Việt Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long 22
2.2 Các vấn đề về hoạt động tổ chức, liên kết và chuỗi giá trị trong sản xuất nuôi tôm sú thâm canh 26
2.3 Những vấn đề về áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm sú 30 2.4 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của các tỉnh nghiên cứu 33
2.4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre 33
2.4.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Sóc Trăng 36
2.4.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang 37
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
(Nguồn: http://dichvusxnn.vn/index.php) 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu 40
3.2.1 Sơ đồ nội dung và các bước nghiên cứu 40
3.2.2 Phương pháp điều tra hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh 41
3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra 41
3.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 41
3.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 44
Trang 113.2.3 Phương pháp nghiên cứu và phân tích mối liên kết giữa các hình
thức sản xuất (HTSX) tôm sú thâm canh 45
3.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình nuôi tôm thâm canh thực nghiệm theo các hình thức sản xuất (HTSX) 46
3.2.5 Phương pháp phân tích ma trận SWOT và đề xuất giải pháp để phát triển các hình thức sản xuất (HTSX) của nghề nuôi tôm sú thâm canh 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang 50
4.1.1 Diễn biến diện tích và sản lượng tôm sú ở các tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang 50
4.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh Bến tre, Sóc Trăng và Kiên Giang 51
4.1.3 Hiện trạng tài chính của các mô hình nuôi ở các tỉnh nghiên cứu 54
4.2 Đặc điểm của các hình thức tổ chức sản xuất, hiện trạng liên kết sản xuất và hiệu quả trong nuôi tôm sú thâm canh 55
4.2.1 Thông tin chung của các hình thức tổ chức nuôi tôm sú thâm canh 55 4.2.1.1 Thông tin chung về người lao động 55
4.2.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn của người lao động ở các hình thức tổ chức nuôi tôm 56
4.2.1.3 Thông tin kỹ thuật tiếp cận của các hình thức tổ chức sản xuất nuôi tôm sú thâm canh 57
4.2.2 Kết quả phân tích mối liên kết của các hình thức tổ chức sản xuất (HTSX) 59
4.2.2.1 Kết quả phân tích mối liên kết ngang 59
4.2.2.2 Kết quả phân tích mối liên kết dọc 60
4.2.3 Hiệu quả kỹ thuật của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 62
4.2.3.1 Kết cấu ao nuôi tôm sú thâm canh 62
4.2.3.2 Mùa vụ và cải tạo ao nuôi tôm sú thâm canh 64
4.2.3.3 Con giống thả nuôi ở các HTSX nuôi tôm sú thâm canh 65
4.2.3.4 Thức ăn cho tôm nuôi, kích cỡ tôm thu hoạch và năng suất tôm sú nuôi thâm canh ở các hình thức tổ chức sản xuất 66
4.2.3.5 Các chỉ tiêu được quan tâm trong nuôi tôm sú thâm canh 68
4.2.4 Hiệu quả tài chính của các hình thức nuôi 70
Trang 124.3 Kết quả thực nghiệm các mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở các hình thức nuôi hộ nông dân (TN-HND), tổ hợp tác (TN-THT), trang trại (TN-TT)
và công ty (TN-Cty) 72
4.3.1 Hệ thống nuôi thực nghiệm của các hình thức sản xuất (TN-HTSX) 72
4.3.2 Biến động môi trường nước trong các ao nuôi thực nghiệm (TN-HTSX) 73
4.3.3 Tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống của tôm nuôi ở các ao nuôi thực nghiệm với hình thức tổ chức khác nhau (TN-HTSX) 75
4.3.4 Các khía cạnh kỹ thuật chính của các mô hình thực nghiệm với các hình thức sản xuất khác nhau 77
4.3.5 Hiệu quả tài chính của các ao nuôi thực nghiệm khác nhau 79
4.3.6 So sánh các phương thức quản lý của các ao nuôi thực nghiệm ở các hình thức tổ chức sản xuất (TN-HTSX) 82
4.3.7 So sánh phương thức liên kết giữa của các hình thức tổ chức sản xuất (HTSX) ở các mô hình thực nghiệm 84
4.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất giải pháp phát triển các hình thức sản xuất 87
4.4.1 Phân tích điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses) cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) của các hình thức sản xuất 87
4.4.1.1 Điểm mạnh 91
4.4.1.2 Cơ hội 91
4.4.1.3 Điểm yếu 92
4.4.1.4 Thách thức 93
4.4.2 Giải pháp phát triển các hình thức nuôi (HTSX) trong thời gian tới93 4.4.2.1Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là HND 93
4.4.2.2Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là THT 94
4.4.2.3Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là TT 94
4.4.2.4Những giải pháp chủ yếu cho hình thức tổ chức sản xuất là Cty 95
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN CHUNG 96
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 100
Trang 136.1 Kết luận 100
6.2 Đề xuất và kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC A: BẢNG PHỎNG VẤN 120
Trang 14DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sản lượng tôm nuôi trên thế giới theo khu vực giai đoạn 2006-2012
(FAO, 2013) và giai đoạn 2013-2014 20
Hình 2.2: Sản lượng tôm sú và tôm TCT được nuôi trên thế giới 22
Hình 2.3: Sản lượng tôm sú trong tổng sản lượng tôm Việt Nam từ 2009-2015 23
Hình 2.4: Diện tích nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL từ năm 2010-2014 24
Hình 2.5: Diện tích nuôi tôm sú ở các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2014 25
Hình 2.6: Diện tích nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2014 25
Hình 2.7: Quy hoạch phát triển ngành tôm sú ĐBSCL đến năm 2020 26
Hình 2.8: Quy hoạch phát triển diện tích tôm sú các tỉnh nghiên cứu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 26
Hình 2.9: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 34
Hình 2.10: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng 36
Hình 2.11: Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang 37
Hình 3.1 Bản đồ các tỉnh ĐBSCL thể hiện địa bàn nghiên cứu 39
Hình 3.2: Sơ đồ nghiên cứu 40
Hình 3.3 Mô tả sơ đồ liên kết ngang giữa các hình thức nuôi 45
Hình 3.4 Mô tả sơ đồ liên kết dọc giữa các hình thức nuôi, thể hiện tỷ lệ % số trường hợp có liên kết 45
Hình 4.1: Trình độ học vấn của các hình thức nuôi tôm sú thâm canh 57
Hình 4.2: Nguồn thông tin kỹ thuật tiếp cận của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh 58
Hình 4.3: Kết quả phân tích mối liên kết ngang giữa các hình thức sản xuất 59 Hình 4.4: Kết quả phân tích mối liên kết dọc của các hình thức sản xuất 61
Hình 4.5: Cơ cấu diện tích đất nuôi của các HTSX tôm sú thâm canh 63
Hình 4.6: Các tháng thả giống của các HTSX tôm sú thâm canh 64
Hình 4.7: Các tháng thu hoạch của các HTSX tôm sú thâm canh 67
Hình 4.8: Tăng trưởng của tôm trong thời gian nuôi 76
Hình 5.1: Sơ đồ tóm tắt kết quả nghiên cứu 99
Trang 15DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2 1: Đặc điểm chung của các mô hình nuôi tôm biển 20
Bảng 2.2: Các quốc gia đạt tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên thế giới 31
Bảng 3.1: Số lượng mẫu điều tra ở các địa bàn nghiên cứu 41
Bảng 3.2: Sơ đồ giản lược thông tin về nuôi tôm sú thâm canh 42
Bảng 3.3: Các thông số ao nuôi thực nghiệm của các HTSX 47
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu môi trường thu mẫu và phương pháp phân tích 47
Bảng 3.5: Khung phân tích ma trận SWOT 49
Bảng 4.1: Diễn biến diện tích các mô hình nuôi tôm sú các tỉnh nghiên cứu giai đoạn 2005 – 2014 50
Bảng 4.2: Diễn biến sản lượng tôm sú các mô hình khác nhau ở các tỉnh giai đoạn 2005 – 2014 51
Bảng 4.3: Hiện trạng kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh ở các tỉnh nghiên cứu 53 Bảng 4.4: Hiện trạng tài chính ở các tỉnh nghiên cứu 55
Bảng 4.5: Thông tin chung của người lao động 56
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mối liên kết ngang của các hình thức sản xuất 60
Bảng 4.7: Kết cấu ao nuôi ở các HTSX 63
Bảng 4.8: Cải tạo ao ở các hình thức tổ chức sản xuất 65
Bảng 4.9: Nguồn giống, mật độ thả và kích cỡ giống tôm sú thả nuôi ở các HTSX 66
Bảng 4.10: Thức ăn cho ăn, thời gian nuôi và năng suất tôm nuôi ở các HTSX 67
Bảng 4.11: Các chỉ tiêu An toàn sinh học ở các HTSX nuôi tôm sú thâm canh 69
Bảng 4.12: Hiệu quả tài chính trong nuôi tôm sú của các HTSX 71
Bảng 4.13: Cơ cấu chi phí giá thành sản xuất của các HTSX 72
Bảng 4.14: Hệ thống công trình ao nuôi của các TN-HTSX 73
Bảng 4.15: Biến động môi trường nước trong các ao thực nghiệm TN-HTSX 74
Bảng 4.16: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống tôm nuôi của các TN-HTSX 76
Bảng 4.17: Các yếu tố kỹ thuật chính của các mô hình thực nghiệm ở các HTSX 77
Trang 16Bảng 4.18: Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của các mô hình thực nghiệm với
các hình thức tổ chức khác nhau 80
Bảng 4.19: Cơ cấu giá thành sản xuất của các TN-HTSX 81
Bảng 4.20: Tóm tắt đặc điểm của các HTSX 86
Bảng 4.21: Bảng phân tích SWOT của hình thức HND 87
Bảng 4.22: SWOT của hình thức nuôi theo THT 88
Bảng 4.23: SWOT của hình thức nuôi theo qui mô TT 89
Bảng 4.24: SWOT của hình thức Cty 90
Trang 17DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASC : Aquaculture Stewardship Council
BAP : Best Aquaculture Practices
TN-Cty : Thực nghiệm – Cty
TN-HND : Thực nghiệm – Hộ nông dân
Trang 18CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Ngành nuôi tôm nước lợ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ngành thủy sản Việt Nam hơn 10 năm qua Cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và chuyển đổi đất nông nghiệp và đất làm muối năng suất thấp sang nuôi tôm ở các tỉnh ven biển, nhờ vậy mà ngành tôm có
sự tăng trưởng vượt bậc cả về diện tích, sản lượng và giá trị xuất khẩu Cụ thể: (i) về diện tích nuôi tôm nước lợ năm 2014 đạt 699.725 ha (ĐBSCL chiếm 91% diện tích nuôi tôm của cả nước) tăng gấp 1,13 lần so với năm 2010, bình quân tăng 3,12
%/năm Trong đó, diện tích nuôi tôm Sú đạt 604.130ha (ĐBSCL chiếm 93,7%) giảm 1,2% so với năm 2010, bình quân giảm 0,3%/năm; diện tích nuôi tôm TCT đạt 95.594 ha (ĐBSCL chiếm 74,4%) tăng gấp 13,04 lần so với năm 2010, bình quân tăng 90,0 %/năm (ii) về sản lượng nuôi tôm nước lợ năm 2014 đạt khoảng 661.074 tấn (ĐBSCL chiếm 80,61%) tăng 1,5 lần so với năm 2010, bình quân tăng 10,59%/năm Trong đó, sản lượng tôm Sú đạt 269.711 (ĐBSCL chiếm 85,46%) giảm 16,79% so với năm 2010, bình quân giảm 4,49%/năm; sản lượng tôm TCT đạt 391.363 tấn (ĐBSCL chiếm 71,15%), tăng gấp 3,32 lần so với năm 2010, bình quân tăng 35%/năm (iii) về kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2014 đạt 3.952,9 triệu USD chiếm 50,45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn quốc, tăng gấp 1,56 lần so với năm 2010, bình quân tăng trưởng 17,04%/năm (2010-2014) (VASEP, 2015) Trong đó, mặt hàng tôm Sú đạt 1.385,5 triệu USD chiếm 35,05%, mặt hàng tôm TCT đạt 2.310,5 triệu USD chiếm 58,45% (VASEP, 2016) (iv) Giải quyết việc làm cho khoảng trên 1,5 triệu người (ĐBSCL chiếm trên 90%) Mặc dù tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế ngành tôm năm sau luôn cao hơn năm trước nhưng chất lượng tăng trưởng còn nhiều hạn chế, trên nhiều mặt khác nhau (Tổng cục Thủy sản, 2015)
Tôm Sú và tôm TCT là mặt hàng xuất khẩu chủ lực hàng đầu của ngành thủy sản Việt Nam hơn 10 năm qua Đặc biệt là tôm TCT, nếu trước năm 2008 còn bị hạn chế nuôi bởi nhiều quan điểm cho rằng phát triển nuôi tôm chân trắng có thể gây nguy cơ tiềm ẩn dịch bệnh Taura cho tôm Sú bản địa Tuy nhiên, với lợi thế thời gian nuôi ngắn, năng suất nuôi cao, tôm TCT dần thay thế con tôm Sú Trước tình hình này, Bộ NN&PTNT có Chỉ thị số 228/CT-BNN-NTTS ngày 25/01/2008
về việc cho phép phát triển nuôi tôm TCT ở các tỉnh ĐBSCL nhằm đa dạng đối tượng nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản, vì vậy mà cơ cấu nuôi tôm ở Việt Nam có
sự thay đổi rất lớn, tôm Sú có xu hướng giảm xuống và thay thế vào đó là đối tượng tôm TCT có xu hướng tăng lên cả diện tích, sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu mặc dù vậy, tôm sú vẫn là đối tượng quan trọng được duy trì và phát triển
Trang 19Giai đoạn 2010-2014 là giai đoạn phát triển nhanh chóng trong nuôi tôm TCT, nhất là khu vực ĐBSCL (Tổng cục Thủy sản, 2016) Tình trạng phát triển nuôi tôm tự phát ngoài vùng quy hoạch diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong vùng, gây khó khăn cho công tác quản lý và kiểm soát dịch bệnh, tạo sự mất cân bằng các yếu tố đầu vào cho sản xuất như giống, thức ăn, thuốc và hóa chất, phát sinh những mâu thuẫn trong việc chia sẻ lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi sản xuất toàn ngành Liên kết giữa người nuôi, người thu mua và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu còn lỏng lẻo Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng và tự phát của nghề nuôi tôm làm mất cân bằng cung cầu nguyên liệu sẽ đẩy giá bán giảm sâu và người chịu thiệt hại đầu tiên chính là người dân (Võ Thị Thanh Lộc, 2009) Mặt khác, người nuôi đang phải đối mặt với những vấn đề rất khó khăn và rủi ro cao như dịch bệnh, giá cả biến động, môi trường nuôi ngày càng bất lợi, chất lượng con giống, thức ăn, các tác động của biến đổi khí hậu khô hạn và xâm nhập mặn Việc cơ cấu,
tổ chức lại các HTSX thủy sản, ưu tiên phát triển các hình thức chi phí sản xuất thấp, quản lý, kiểm soát dịch bệnh tốt và năng suất được nâng cao là yêu cầu hết sức
cấp thiết hiện nay (Lê Xuân Sinh và ctv 2010)
Trong ngành tôm Việt Nam hiện nay, các hình thức tổ chức sản xuất bao gồm: (i) Hình thức tổ chức nuôi nông hộ đơn lẻ với qui mô nuôi nhỏ (HND); (ii) hình thức hợp tác xã hay tổ hợp tác (THT); (iii) hình thức trang trại (TT) và (iv) hình thức trang
trại của doanh nghiệp (Cty) (Anh và ctv 2011; Ha và ctv 2013), trong đó sản xuất
nông hộ chiếm phần lớn nhất Tính riêng ở vùng ĐBSCL có 292.522 hộ gia đình đóng góp 81% tổng sản lượng tôm, trong số đó có 72% diện tích ao nuôi từ 0,2 ha đến dưới 2 ha (Tổng cục thống kê, 2007) Các ưu thế của sản xuất nông hộ cho thấy
sự phát triển mô hình trang trại, hợp tác xã và THT sản xuất là một chiến lược trung tâm của cả chính phủ và phi chính phủ, tổ chức (NGO) để tăng khả năng cạnh tranh
ngành công nghiệp tôm (Hà et al., 2013)
Người nuôi tôm đang ngày càng đối mặt nhiều thách thức đặc biệt là rủi ro
về dịch bệnh và hiệu quả sản xuất, mục tiêu là nâng cao chất lượng về mặt an toàn
vệ sinh thực phẩm nhằm đáp ứng một loạt các tiêu chuẩn sản xuất cần thiết thì mới
có thể đưa sản phẩm vào lưu thông ở các thị trường quốc tế, bên cạnh đó người nuôi tôm luôn phải đối mặt với những rủi ro trong quá trình tổ chức sản xuất, quản lý môi trường và dịch bệnh (Hatanaka, 2010; Islam, 2008; Vandergeest, 2007) Với hơn 30 bộ tiêu chuẩn khác nhau cho sản phẩm ngành tôm, việc áp dụng và tuân thủ của nông hộ còn rất hạn chế (Mohan and De Silva, 2010) Bên cạnh các Cty với vốn đầu tư lớn và công nghệ cao, thì các tổ chức nuôi trồng thủy sản như hợp tác xã, THT, trang trại được xem như là một phương thức sản xuất hiệu quả, có đủ trình độ cần thiết về năng lực tài chính và kỹ thuật để đáp ứng các yêu cầu trên (Mohan and
De Silva, 2010; Umesh, 2008, Kassam et al 2011, Zhang et al 2011)
Trang 20Mặc dù nghề nuôi tôm ở ĐBSCL hiện nay đang có các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau gồm (i) Hình thức tổ chức nuôi nông hộ đơn lẻ với qui mô nuôi nhỏ (HND); (ii) hình thức hợp tác xã hay tổ hợp tác (THT); (iii) hình thức trang trại (TT)
và (iv) hình thức trang trại của doanh nghiệp (Cty) Tuy nhiên, vấn đề quan trọng được đặt ra là: (1) Xác định được chi tiết đặc điểm kỹ thuật, hiệu quả tài chính của các hình thức tổ chức sản xuất; (2) Xác định hiện trạng của các mối liên kết ngang và liên kết dọc quan trọng trong hoạt động sản xuất; (3) Nhận diện được các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với mỗi hình thức tổ chức sản; (4) Đề ra các giải pháp phù hợp cho từng hình thức tổ chức sản xuất tôm phát triển bền vững và (5) Định hướng xu thế cần được ưu tiên phát triển ở ĐBSCL trong thời gian tới Các vấn
đề này hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện một cách đầy đủ
và cụ thể và có hệ thống Vì thế để góp phần làm rõ các vấn đề trên và làm cơ sở khoa
học cũng như giải pháp thực tiễn cho sản xuất, nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả tài chính và kỹ thuật của các hình thức sản xuất và đề xuất giải pháp nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm canh ở ĐBSCL” được thực hiện
1.2 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này, được thực hiện nhằm đánh giá các hoạt động trong liên kết sản xuất và quản lý của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú So sánh, đánh giá được hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý, phát triển nuôi tôm sú, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm sú
thâm canh trong thời gian tới ở ĐBSCL
- Xây dựng, theo dõi và đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi thực nghiệm tôm
sú theo các hình thức tổ chức sản xuất (HND, THT, TT, Cty);
- Phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) và đề xuất một số giải pháp hợp lý phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nghề nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Nghiên cứu này, cung cấp nhiều thông tin, dẫn liệu khoa học và thực tiễn về nghề nuôi tôm sú thâm canh, đặc biệt là phân tích hiện trạng các mối liên kết, hiệu quả kỹ thuật và tài chính của các hình thức tổ chức sản xuất Nghiên cứu này, đồng
Trang 21thời phân tích sâu các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các hình thức
tổ chức nuôi tôm sú thâm canh, làm cơ sở đề xuất các giải pháp ổn định và phát triển nuôi tôm biển Các kết quả, kết luận và giải pháp đề xuất sẽ góp phần làm cơ
sở vận dụng vào thực tế sản xuất đối với người nuôi, quản lý và phát triển nghề nuôi tôm sú Các kết quả của nghiên cứu là cơ sở tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập
1.5 Những điểm mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn và đã đưa ra được những điểm mới quan trọng của luận án:
- Đánh giá được hiện trạng và phát triển của nghề nuôi tôm sú thâm canh ở 3 tỉnh Bến Tre, Sóc trăng và Kiên Giang trong điều kiện nuôi hiện nay
- Đưa ra các cơ sở và dẫn liệu khoa học một cách cụ thể cũng như phân tích, đánh giá và so sánh được các đặc điểm của các hình thức tổ chức sản xuất và các hoạt động liên kết (đặc biệt là liên kết dọc và liên kết ngang) trong sản xuất của các hình thức tổ chức sản xuất và nuôi tôm sú thâm canh (HND, THT, TT và Cty) ở ĐBSCL
- So sánh, đánh giá và phân tích được sự khác biệt về hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả tài chính của các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau (HND, THT, TT
và Cty) thông qua khảo sát thực tế và kiểm chứng tính khả thi thông qua các
mô hình thực nghiệm
- Luận án đã đúc kết, đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) của các hình thức tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh ở ĐBSCL và đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể cho sự phát triển của nghề nuôi tôm biển nói chung và từng hình thức tổ chức sản xuất nuôi tôm sú thâm canh nói riêng
Trang 22CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hiện trạng nghề nuôi tôm thương phẩm
2.1.1 Hiện trạng nuôi tôm trên thế giới
Nghề nuôi tôm nước lợ ven biển phát triển mạnh từ những năm cuối của thập niên 80 (Phillips M.J, 1995; Arlo W Fast and Piamsak Menasveta, 2000) và sự thâm canh hóa từ đầu thập niên 90 ở các quốc gia Đông Nam Á, không những góp phần nâng cao sản lượng tôm cho toàn thế giới mà còn tạo việc làm và tăng nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều lao động địa phương ven biển (Yi, 2002; Arthur E
Neiland et al 2001)
Các hình thức nuôi tôm biển trên thế giới cơ bản được phân chia thành quảng canh, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh (Jory & Cabrera, 2003, Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) Nuôi tôm quảng canh là hình thức nuôi tôm ở mật độ thấp (1-5 con/m2) Thức ăn hoàn toàn dựa vào thức ăn tự nhiên trong
ao đầm hoặc bổ sung thức ăn không thường xuyên Hình thức nuôi này thường là thu tỉa thả bù Ưu điểm của mô hình là kỹ thuật đơn giản; đầu tư nhân lực và chi phí vận hành thấp, chất lượng sản phẩm tốt Nhược điểm là cần diện tích lớn; mô hình hở, khó không chế dịch bệnh nên dễ nhiễm bệnh tôm nuôi; tỷ lệ sống và năng suất thấp Nuôi tôm bán thâm canh là hình thức nuôi tôm vừa dựa vào nguồn thức
ăn tự nhiên, vừa được cho ăn bổ sung từ bên ngoài như thức ăn viên hay kết hợp với thức ăn tươi sống Mật độ nuôi trong khoảng 5-25 con/m2 Ưu điểm của hình thức nuôi này là ao nuôi không quá rộng, xây dựng khá hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước chủ động, có trang bị đầy đủ các phương tiện máy móc, có điện và giao thông thuận lợi, nên dễ quản lý và vận hành, kiểm soát được chất lượng nước và mầm bệnh tốt hơn hình thức quảng canh, kích cỡ tôm thu khá lớn và giá bán cao Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn trở ngại do chưa kiểm soát tốt được mầm bệnh lây lan Nuôi tôm thâm canh là hình thức nuôi dựa hoàn toàn vào thức ăn bên ngoài chủ yếu là thức ăn viên có chất lượng cao Mật độ thả cao từ 25-40 con/m2 đối với tôm sú (Tiêu chuẩn ngành thuỷ sản Việt Nam, 2002) Tuy nhiên, theo Jory & Cabrera (2003), mật độ nuôi tôm thâm canh trên thế giới hiện nay có thể 25-120 con/m2, đặc biệt là mật độ cao áp dụng cho trường hợp nuôi tôm chân trắng Ưu điểm của mô hình nuôi tôm thâm canh là hệ thống nuôi và hệ thống cấp thoát, xử lý nước được thiết kế hoàn chỉnh nên kiểm soát tốt chất lượng nước và mầm bệnh, năng suất cao Nhược điểm của mô hình này là đầu tư cao về kinh phí, kỹ thuật và máy móc, lao động; kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ; tỷ suất lợi nhuận thấp Ngoài ra, nuôi tôm thâm canh do sử dụng nhiều hoá chất nên có nguy cơ ô nhiễm môi trường và trở ngại về an toàn vệ sinh thực phẩm Hình thức nuôi tôm siêu thâm canh được áp dụng ở một số nước Đăc điểm của mô hình này là nuôi tôm với mật độ rất cao, có thể 100-150 con/m2 đối
Trang 23với tôm sú hay 400-600 con/m2 đối với tôm chân trắng Tôm được nuôi hệ thống trong bể hoàn chỉnh Có khả năng kiểm soát môi trường và thức ăn tự động cao Ưu điểm của mô hình này là năng suất và sản lượng rất cao (20-100 tấn/ha), tự động hoá cao, hạn chế ảnh hưởng môi trường ngoài do chất thải được kiểm soát tốt Tuy nhiên, mô hình này yêu cầu đầu tư rất cao về vốn và kỹ thuật ; tôm thu hoạch có kích cỡ nhỏ; giá thấp
Bảng 2 1: Đặc điểm chung của các mô hình nuôi tôm biển
(Mật độ thấp)
Bán thâm canh (Mật độ TB)
Thâm canh (Mật độ cao)
Thâm canh (Mật độ rất cao)
Diện tích ao/bể
(ha)
Ao, (5-100)
Ao, (1-25)
Ao, (0.1-5.0)
Bể (0.1-1.0)
Thay nước
(%/ngày)
Triều (<5%)
Bơm (5-12%)
Bơm (đến 25%) (Trên 25%) Bơm
Nguồn : Jory & Cabrera, 2003
Đối với các vùng nuôi tôm trên thế giới, có thể chia sản lượng tôm nuôi ra thành 5 khu vực chính là Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ - Bangladesh, Châu
Mỹ và Châu Phi-Trung Đông (Hình 2.1), trong đó, Châu Á có vị trí hàng đầu trong ngành tôm thế giới
Hình 2.1: Sản lượng tôm nuôi trên thế giới theo khu vực giai đoạn 2006-2012 (FAO,
2013) và giai đoạn 2013-2014 (Aquaculture Asia Pacific, 2015)
Số liệu năm 2013-2014 (Aquaculture Asia Pacific, 2015)
Trang 24Đông Nam Á là nơi tập trung nhiều nước có tiềm năng sản xuất nuôi tôm thịt thương phẩm lớn như Thái Lan, Việt Nam, Indonesia (Thai shrimp International, 2014; Aquaculture Asia Pacific, 2015) Trong đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên và thuận lợi để phát triển nghề nuôi tôm với sản lượng đứng thứ 3 thế giới Indonesia đứng thứ 4 thế giới
về sản xuất tôm (Rosenberry B., 2007) Năm 2006, sản lượng tôm nuôi của khu vực Đông Nam Á đạt 1,4 triệu tấn, khu vực này sản xuất gần 1,7 triệu tấn (năm 2010) nhưng do dịch bệnh chủ yếu là hội chứng hội tử gan tụy (AHPND) làm sản lượng tôm nuôi giảm mạnh vào năm 2012 chỉ đạt khoảng 1,3 triệu tấn Từ năm 2013 sản lượng tôm nuôi có khuynh hướng hồi phục và tăng trở lại đạt sản lượng 1,84 triệu tấn trong năm 2013 và tiếp tục tăng trong năm 2014 đạt sản lượng 1,88 triệu tấn
Trung Quốc là nước có sản lượng tăng rất nhanh và vượt qua tất cả các nước khác để dẫn đầu thế giới về sản lượng nuôi tôm từ 1,5 triệu tấn (2010) lên trên 1,7 triệu tấn (2011) từ năm 2012 do dịch bệnh hội tử gan tụy cấp (AHPND) nên sản lượng tôm nuôi của Trung Quốc giảm còn 1,3 triệu tấn và tiếp tục giảm còn 900 ngàn tấn trong năm 2013 và có dấu hiệu phục hồi trong năm 2014 là 1,02 triệu tấn
Ấn Độ và Bangladesh là những nước nuôi tôm có quy mô lớn, giai đoạn 2006-2010, sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ và Bangladesh giảm trung bình là 6,0%
do ảnh hưởng của sự biến động diện tích nuôi, mật độ thả giống, số vụ nuôi không hợp lý và dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng) (Begum et al 2013) Vì thế, năm
2010, sản lượng tôm của 2 nước này chỉ khoảng 200 ngàn tấn (Begum et al 2010)
Tuy nhiên, năm 2013 và năm 2014 sản lượng tôm của 2 nước này ổn định ở mức
405 ngàn tấn (sản lượng tôm Ấn Độ chiếm 85%)
Sản lượng tôm nuôi của châu Mỹ tập trung ở 6 nước là: Ecuador, Mexico,
Brazil, Colombia, Honduras và Nicaragoa (Gary Gereffi, 1999; Grillo, M F et al
2000) Nuôi tôm ở khu vực này, có tốc độ tăng trưởng ổn định 3% từ 2010-2014, tổng sản lượng xấp xỉ 400-500 ngàn tấn (FAO, 2014) Ecuador có sản lượng tôm nuôi lớn nhất khu vực là 340 ngàn tấn trong năm 2014
Khu vực sản xuất tôm còn lại của thế giới là châu Phi, chiếm tỷ lệ sản lượng rất nhỏ nhưng tốc độ tăng trưởng hằng năm khá ổn định, bằng 4,6% và 4,8% giai đoạn 2006-2010 và 2010-2014
Nghề nuôi tôm trên thế giới thời gian qua có sự chuyển đổi, phát triển nhanh chóng về đối tượng nuôi và mô hình nuôi Các mô hình nuôi tôm trên thế giới phát triển đa dạng, theo xu hướng từ hình thức quảng canh sang bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009) Đối với đối tượng nuôi, theo số liệu thống kê của FAO (2014), sản lượng tôm sú nuôi trong suốt thập niên qua vẫn duy trì ổn định ở mức cao Tuy nhiên, cũng trong thời gian
Trang 25này, do tình hình dịch bệnh trên tôm sú diễn ra trên diện rộng, đồng thời tôm TCT
có thời gian nuôi ngắn, sinh trưởng nhanh, có thể nuôi mật độ cao nên nhiều khu vực nuôi tôm sú đã chuyển sang nuôi tôm TCT hay phát triển khu vực mới để nuôi TCT, vì thế sản lượng TCT tăng liên tục và đạt giá trị gần 16,5 tỷ USD, gấp 3 lần so với tôm sú (hơn 4,6 tỷ USD) (Hình 2.2)
Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm nói chung và tôm sú nói riêng, nhiều nơi trên thế giới đã áp dụng nhiều mô hình nuôi tôm tiên tiến như thực hành quản lý nuôi tốt (Good Aquaculture Practice - GAP), thực hành quản lý tốt hơn (Better Management Practice farming - BMP), thực hành quản lý nuôi tốt nhất (Best Aquaculture Practices Management - BAP), nuôi tôm sinh thái (Naturland) và hiện tại nuôi theo tiêu chuẩn chứng nhận (Aquaculture Stewardship Council - ASC), nhằm tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường, có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, đồng thời giảm nguy cơ rủi ro do dịch bệnh
Hình 2.2: Sản lượng tôm sú và tôm TCT được nuôi trên thế giới
(Nguồn: FAO, 2016)
2.1.2 Hiện trạng nuôi tôm ở Việt Nam và Đồng bằng Sông Cửu Long
Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng phát triển ngành nuôi và đã trở thành một trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm tôm sú nuôi hàng đầu trên thế giới (ABS, 2010; Truong Duc Toan and Steven G M Schilizzi, 2010) Tôm
sú là loài tôm bản địa và là đối tượng nuôi chủ lực của ngành NTTS Việt Nam trong các thập nhiên 1980-2000 Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, TCT
đã được di nhập vào Việt Nam trong những năm đầu 2000 và hiện đang được phát triển nhanh chóng Trong khi đó, sản lượng tôm sú có xu hướng giảm dần trong thời gian gần đây (Hình 2.3)
Trang 2642% 42,4%
Kết quả thống kê cũng cho thấy, tôm sú nuôi chủ yếu với hình thức quảng canh và năng suất trung bình (khoảng 500-600 kg/ha/vụ), trong khi TCT nuôi chủ yếu với hình thức thâm canh và năng suất trung bình (4.000 – 5.000 kg/ha/vụ) Diện tích nuôi tôm sú chiếm đến 86,3% tổng diện tích nuôi tôm, nhưng sản lượng chỉ chiếm hơn 40% tổng sản lượng tôm nuôi, trong khi đó diện tích nuôi tôm TCT chỉ chiếm 13,7%, nhưng chiếm tỷ lệ gần 60% về sản lượng tôm cả nước
Các kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình nuôi tôm sú hiện nay khá đa dạng về hình thức nuôi như mô hình nuôi tôm sú – lúa ở tỉnh Kiên Giang với mật độ thả nuôi bình quân là 2,12 con/m2 (Trương Hoàng Minh và ctv., 2013), hay các mô
hình nuôi ở tỉnh Sóc Trăng như mô hình quảng canh cải tiến (7,56 con/m2); bán thâm canh (15,02 con/m2) và thâm canh 26,29 con/m2 (Nguyễn Thanh Long và Nguyễn Thanh Phương, 2010) Hay mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau
là 27,9±4,85 con/m2 (Nguyễn Thanh Long, 2016) và ở tỉnh Trà Vinh có mật độ thả nuôi dao động từ 30-50 con/m2 (Nguyễn Văn Phụng và ctv., 2012)
Các mô hình nuôi tôm sú thâm canh hiện nay đa dạng về phương thức nuôi như nuôi trong ao đất, nuôi trong ao lót bạt và nuôi theo công nghệ Biofloc Trong
đó, mô hình nuôi tôm sú thâm canh trong ao đất được phần lớn người nuôi ở ĐBSCL chọn vì mô hình này có chi phí sản xuất thấp và không đòi hỏi người nuôi
có trình độ kỹ thuật và chuyên môn cao Tuy nhiên, mô hình nuôi này có tỷ lệ rủi ro
Trang 27cao do dịch bệnh đốm trắng, đầu vàng và gần đây là hội chứng hoại tử gan tụy cập (Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Biofloc trong ương tôm sú cũng đã được thực hiện bởi Trần Ngọc Hải và
Lê Quốc Việt (2016) cho thấy mật độ ương 2.000 con/m3 cho năng suất cao nhất và nghiên cứu nuôi tôm sú thương phẩm theo công nghệ Biofloc ở mật độ thả 30 con/m2 cũng được thực hiện bởi Tạ Văn Phương (2014), tuy rằng nghiên cứu này chưa được quan tâm đúng mức và áp dụng rộng rải trong thời gian gần đây Tuy nhiên, đây là hướng đi mới cần được nghiên cứu phát triển và ứng dụng hơn nữa trong thời gian tới nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do dịch bệnh và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân ở ĐBSCL
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm của cả nước (SEAT, 2012) Tôm sú là đối tượng tôm nuôi truyền thống và chủ lực của ĐBSCL, với diện tích ước đạt khoảng 537.000 ha với sản lượng ước khoảng 230.495 tấn và tôm TCT cũng đang được phát triển nhanh chóng với diện tích nuôi hiện tại 67.000 ha và sản lượng đạt 278.455 tấn (Bộ NN&PTNT, 2016) Sản lượng tôm nuôi tăng mạnh chủ yếu do nhiều địa phương thực hiện chuyển đổi phần lớn diện tích nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi tôm, đồng thời tăng diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh, giảm dần diện tích nuôi quảng canh
Trang 28Diện tích nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh của các tỉnh ĐBSCL được thể hiện ở Hình 2.6, trong đó Sóc Trăng có diện tích nuôi tôm sú cao nhất (12.155 ha) và Kiên Giang có diện tích thấp nhất (100 ha)
Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020, nuôi tôm sú vẫn được duy trì phát triển Trong tổng số diện tích nuôi tôm năm 2020 là 640.000 ha, tôm Sú chiếm 86,15% và tôm TCT chiếm 13,85% tổng diện tích Diện tích nuôi tôm sú thâm canh
ở ĐBSCL sẽ duy trì 18,84% tổng diện tích nuôi tôm sú (Hình 2.7) Đặc biệt, tỷ lệ diện tích nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh trên tổng diện tích tôm sú của tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là khá cao khoảng 44% Bến tre sẽ có khoảng 4.000 ha chiếm từ 16,2-16,5% tổng diện tích nuôi của tỉnh;
Trang 29Kiên Giang hiện có diện tích nuôi tôm sú thâm canh còn thấp, nhưng hướng tới quy hoạch năm 2020 và tầm nhìn 2030 là 9.400 ha, chiếm khoảng 9-11% (Hình 2.8)
17,84%
15,82%
0 100,000
Trang 30kinh doanh của các doanh nghiệp Các yếu tố, điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quạn hệ tương tác nhau và đồng thời tác động đến hoạt động của doanh nghiệp Các yếu tố của môi trường kinh doanh gồm môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp và hoàn cảnh nội bộ
Theo Colin (1995), các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp thủy sản gồm các (i) yếu tố môi trường như vật ly, hóa học, sinh học; (ii) yếu tố xã hội như chính sách, kinh tế, văn hóa; và (iii) yếu tố nhu cầu như nhu cầu địa phương, vùng và quốc tế Tùy theo lĩnh vực, sẽ có cơ cấu tổ chức theo chiều dọc và ngang khác nhau, và sẽ có quan hệ nhau thông qua quan hệ chính sách, kinh tế, kỹ thuật, cung ứng vật liệu và sản phẩm… vừa có thể là quan hệ cộng hưởng, quan hệ hài hòa hay quan hệ đối kháng Vì thế, việc tăng cường liên kết là vấn đề quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp (Collin, 1995; Cicin-Sain and Knecht,
1998, Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Các hoạt động tổ chức sản xuất trong nuôi tôm sú thâm canh hiện nay đang
tồn tại 4 phương thức tổ chức phổ biến là (1) Tổ chức sản xuất nông hộ/hộ nông dân; (2) Tổ chức sản xuất tổ hợp tác; (3) Tổ chức sản xuất trang trại và (4) tổ chức sản xuất công ty (Lâm Văn Tùng và ctv., 2012) Theo Trần Ngọc Hải và ctv (2016),
hình thức nuôi tôm thâm canh hộ nông dân có tổng diện tích từ 1-3ha, lao động chủ yếu từ gia đình, chỉ tập trung nuôi tôm thương phẩm; thu nhập trng bình 224 triệu/ha/năm; hình thức trang trai có qui mô 10-20ha, lao động gia đình hay thuê mướn lao động và kỹ thuật viên, tập trung chủ yếu nuôi tôm thương phẩm; thu nhập trung bình 442 triệu đồng/ha/năm; hình thức hợp tác xã gồm một nhóm nông hộ, tập trung nuôi thương phẩm, thu nhập trung bình 317 triệu đồng/ha/năm; hình thức công ty có qui mô 100-1000ha; thuê lao động và kỹ thuật viên, ngoài nuôi thương phẩm còn có trại giống, thu mua chế biến, sản xuất thức ăn nuôi tôm…, thu nhập
533 triệu đồng/ha/năm
Các hoạt động tổ chức sản xuất hiện nay cũng khá đa dạng về phương thức liên kết trong sản xuất như liên kết giữa các hộ nông dân, liên kết hộ nông dân với
các chủ thể khác (chủ thể cung ứng đầu vào và chủ thể tiêu thụ sản phẩm) Các hoạt
động về tổ chức và liên kết trong sản xuất sẽ thúc đẩy theo hướng phát triển bền vững, tuy nhiên sự yếu kém về các nguồn lực của hộ nông dân và các chủ thể liên kết khác nhau đã hạn chế nhu cầu và khả năng liên kết mang tính bền vững trong chuỗi ngành hàng nuôi tôm sú (Lê Thanh Sang và Nguyễn Đặng Minh Thảo, 2015)
Gamage et al (2006) khi nghiên cứu về chuỗi giá trị (CGT) tôm ở
Bangladesh đã đề xuất những kiến nghị để nâng cấp CGT tôm của Bangladesh Trong ngắn hạn những người sản xuất nên cải thiện cách sản xuất theo lối truyền thống Cụ thể như gia tăng lượng thức ăn công nghiệp cho tôm, giảm lượng con
Trang 31giống (giảm mật độ), đa dạng hóa ngành nghề trong các hộ nuôi tôm nhỏ lẻ và đẩy mạnh, mở rộng thị trường nội địa Trong dài hạn, khuyến nghị nên đẩy mạnh việc phát triển sản xuất thức ăn trong nước, đa dạng hóa sản phẩm tôm xuất khẩu, lập quỹ phúc lợi để phân phối lại thu nhập cho các tác nhân bị thiệt hại trong CGT và khuyến khích tất cả các tác nhân trong CGT tuân thủ nguyên lý đạo đức trong kinh doanh (không gian lận trong kinh doanh)
Rahman and Uddin (2009) khi nghiên cứu CGT tôm ở Bangladesh và Thái Lan đã chỉ ra rằng, hai quốc gia này nên tập trung hướng đến việc chế biến ra những sản phẩm giá trị gia tăng từ sản phẩm tôm để cung cấp cho những nước nhập khẩu lớn ở Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản vì ở những nước phát triển này, người tiêu dùng hướng đến việc tiêu dùng những sản phẩm tiện ích về mặt thời gian Dubay (2010)
đã thực hiện nghiên cứu CGT tôm ở Mexico đã đưa ra những kiến nghị liên quan đến việc cải tiến và đổi mới chất lượng sản phẩm tôm ở Mexico theo hướng được chứng nhận an toàn; phát triển sản phẩm tôm “thân thiện với môi trường” để đáp ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ; tạo ra sản phẩm tôm phải có khả năng truy xuất nguồn gốc Vừa tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng từ tôm để vừa khai thác thêm thị trường nội địa và vừa gia tăng thị phần xuất khẩu tôm của Mexico trong tương lai
Trong một nghiên cứu khác về CGT tôm ở Bangladesh, Nupur et al (2010)
đã đề xuất một số giải pháp để nâng cấp CGT tôm ở Bangladesh như: các nhà chế biến xuất khẩu tôm nên trang bị những phương tiện vận chuyển hiện đại để bảo quản tốt sản phẩm tôm chế biến Nhà nước nên giới thiệu cho những nhà chế biến xuất khẩu và người nuôi được chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng tôm, nhằm giúp họ đảm bảo được tính an toàn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tính bền vững môi trường và trách nhiệm xã hội Ngoài ra, tác giả cũng kiến nghị với Nhà nước nên đảm bảo việc cung cấp đủ nguồn điện cho người nuôi, các nhà chế biến và nên tăng cường các tiêu chuẩn đo lường và kiểm soát chất lượng sản phẩm Bên cạnh
đó, kiến nghị những nhà máy chế biến và những nhà nhập khẩu thức ăn tôm phải đảm bảo thức ăn tôm không sử dụng chất kháng sinh và hóa chất bị cấm
Theo Lê Xuân Sinh và ctv (2010) và Nguyễn Phú Son (2014), để nâng cấp
CGT tôm sú ở ĐBSCL cần qui hoạch tốt vùng sản xuất tập trung và tăng cường liên kết giữa người nuôi và các nhà máy chế biến để giảm chi phí trung gian và đảm bảo chất lượng sản phẩm Ngoài ra, cần phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác và tăng cường việc vận động người nuôi áp dụng các phương thức nuôi theo tiêu chuẩn sạch; tăng cường việc kiểm soát và xử lý các trường hợp gian lận trong thương mại của các đại lý và thu gom Đồng thời nên thúc đẩy liên kết giữa các tổ chức kinh tế hợp tác với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
Trang 32Theo kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh và ctv., (2010) cho thấy trong
chuỗi giá trị ngành hàng tôm sú ở ĐBSCL được phân chia làm 23 kênh, trong đó có
4 kênh phân phối chính là: (Kênh 1) “Người nuôi quảng canh cải tiến => Thu gom
=> Vựa thu mua => Tiêu dùng nội địa”; (Kênh 2) “Người nuôi quảng canh cải tiến
=> Thu gom => Vựa thu mua => Doanh nghiệp/Cty thu mua => Nhà máy chế biến
=> Xuất khẩu/Nội địa”; (Kênh 3) “Người nuôi Thâm canh/Bán thâm canh => Vựa thu mua => Tiêu dùng nội địa” và (Kênh 4) “Người nuôi Thâm canh/Bán thâm canh
=> Vựa thu mua => Doanh nghiệp/Công ty thu mua =>Nhà máy chế biến => Xuất khẩu/nội địa” Người nuôi góp phần lớn vào chuỗi giá trị gia tăng, tuy nhiên nhà máy chế biến chiếm lợi nhuận cao nhất nếu có tác nhân này tham gia trong chuỗi ngành hàng Cũng từ đó cho thấy việc phân chia lợi ích trong chuỗi ngành hàng tôm
sú thâm hiện nay chưa cân xứng với người nuôi, cần có những giải pháp tác động từ việc giảm chi phí sản xuất và gia tăng giá trị tôm thương phẩm (giá bán) thông qua việc tăng cường liên kết trong sản xuất và giảm đi những khâu trung gian để giảm tỷ
lệ phân chia lợi nhuận
Để tăng cường mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tôm ở
ĐBSCL theo ý kiến của Lê Văn Gia Nhỏ và ctv (2012) đã đề xuất các giải pháp
sau: đầu tư cơ sở hạ tầng, ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống điện; phát triển mô hình liên kết ngang bằng việc hỗ trợ, phát triển HTX/THT nuôi tôm sú; xây dựng tổ chức trung gian để nối kết giữa người sản xuất - chế biến; hỗ trợ tín dụng cho HTX đầu
tư cơ sở hạ tầng, áp dụng qui trình sản xuất và chứng nhận ATVSTP Đề nghị này tương tự với kết quả nghiên cứu của Rahman and Uddin (2009) Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra rằng, cần có sự kiểm soát về các tiêu chuẩn ATVSTP trong tất
cả các khâu của CGT để đảm bảo chất lượng; hỗ trợ tín dụng cho các hợp đồng liên kết đầu tư – tiêu thụ sản phẩm giữa HTX và doanh nghiệp Phùng Giang Hải và Phạm Bảo Dương (2014) khi thực hiện nghiên cứu về mối liên kết giữa người nuôi
và doanh nghiệp chế biến đã đưa ra một số đề xuất cần tăng cường hơn nữa các mối liên kết Cụ thể cần hoàn thiện khung pháp lý để hình thành và phát triển liên kết; điều chỉnh qui hoạch vùng nuôi nhằm hình thành và phát triển liên kết ngang; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện nối kết các doanh nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu và nâng cao nhận thức liên kết cho người nuôi lẫn các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
Khi nghiên cứu CGT tôm sú ở Trà Vinh theo nghiên cứu của Nguyễn Phú
Son và ctv., (2015) đã đưa ra các giải pháp để nâng cấp CGT tôm sú ở Trà Vinh:
đầu tư, phát triển các trại cung cấp con giống tại địa phương; phát triển các hình thức hợp tác công tư để tăng cường mối liên kết giữa người nuôi và các nhà cung cấp đầu vào; xây dựng các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn tôm sạch (VietGap, Global Gap), kết hợp với liên kết doanh nghiệp tiêu thụ; nâng cao năng lực sản xuất và kinh
Trang 33doanh cho các hộ nuôi tôm sú; xây dựng mô hình cung ứng, tiêu thụ tập trung thông qua các hình thức liên kết ngang và liên kết dọc giữa các tác nhân tham gia chuỗi; thúc đẩy, đầu tư cho nhà máy chế biến trong tỉnh phát triển sản phẩm giá trị gia tăng
và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm tôm sú của tỉnh; qui hoạch lại vùng nuôi; nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh cho các tác nhân trong chuỗi tôm sú
Tóm lại, có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm nâng cấp CGT tôm, trong đó nổi trội nhất là giải pháp tăng cường mối liên kết dọc giữa các tác nhân tham gia trong CGT dựa trên cơ sở phát triển mối liên kết ngang của người nuôi và phân phối lợi nhuận hợp lý giữa các tác nhân
Theo Viện qui hoạch Thủy sản Việt Nam (2015), cần có các giải pháp quan trọng trong tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất ở ĐBSCL cho sự phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 Trong đó, có các vấn đề quan trọng như (i) Đa dạng hóa các hình thức tổ chức quản lý và sản xuất tôm nước lợ phù hợp với đặc thù từng tỉnh trong vùng ĐBSCL (ii) Khuyến khích hình thành các mô hình liên kết dọc và liên kết ngang để nâng cao giá trị sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm; (iii) Hiện nay trên 80% số người dân nuôi tôm vẫn còn dưới hình thức riêng lẻ và ở quy mô nhỏ Vì vậy, cần có chương trình khuyến khích và có chính sách hỗ trợ về tài chính, cơ sở pháp lý và kỹ thuật để hình thành các THT và HTX (iv) Khuyến khích phát triển mô hình tổ chức sản xuất có quy mô tích tụ vốn lớn dưới hình thức tập đoàn sản xuất, Cty tư nhân hoạt động trên các lĩnh vực: nuôi trồng và SXG; đặc biệt là việc áp dụng các mô hình công nghệ cao tại các vùng nuôi tập trung; (v) Thống nhất từ khâu nuôi tôm cho đến chế biến xuất khẩu đảm bảo hoạt động sản xuất tôm sạch, hiệu quả, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng
2.3 Những vấn đề về áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận vào nuôi tôm sú
Thời gian qua, sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, vấn đề rào cản thương mại của các nước nhập khẩu đã gây thiệt hại kinh tế nghiêm
trọng cho nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Vấn đề “An toàn vệ sinh thực phẩm” ngày càng được chú ý thông qua các đòi hỏi khắt khe của người tiêu dùng
Do vậy, các tiêu chuẩn chứng nhận sản phẩm ngày càng được chú trọng như: Global GAP, BAP, Naturland (tôm sinh thái) và sản lượng tôm đạt tiêu chuẩn chứng nhận xuất khẩu liên tục tăng với các Cty đạt tiêu chuẩn chứng nhận như: Minh Phú, Casimex, Sinamixco và một số Cty khác Gần đây, tiêu chuẩn chứng nhận mới ASC cũng đã được áp dụng để sản phẩm tôm Việt Nam có thể được xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, EU
Đối với sản phẩm NTTS hiện nay, luôn hướng tới việc tạo ra các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường Tiêu chuẩn chứng nhận tôm nuôi được thúc đẩy
Trang 34nhằm kiểm soát thức ăn, phân bón, hóa chất, an toàn vệ sinh thực phẩm thông qua
thu hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch (Rimmer et al 2013)
Tiêu chuẩn chứng nhận tôm sinh thái (Naturland)
Tiêu chuẩn chứng nhận nuôi tôm sinh thái được phát triển đầu tiên từ năm
2000 ở Việt Nam, sau đó được mở rộng chứng nhận sang một số nước khác như:
Trung Quốc, Ecuador (Prein et al 2012a) Ở Việt Nam, nuôi tôm kết hợp với rừng
được công nhận là nuôi tôm sinh thái từ năm 2000, với tổng diện tích gần 6.000ha Đến năm 2008, sản lượng tôm sú được chứng nhận tôm sinh thái trên toàn thế giới
là 5,3 nghìn tấn và đến năm 2010 là 8,8 nghìn tấn, tăng 40% về sản lượng (Prein et
al 2012a)
Tiêu chuẩn chứng nhận BAP
Tiêu chuẩn chứng nhận BAP (Best Aquaculture practices) được phát triển từ năm 2002 đến nay đã có 28 Cty đạt BAP**** (4 sao), 62 Cty đạt BAP*** (3 sao)
và 103 Cty đạt BAP** (2 sao) Trong đó Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc
và Indonesia là các nước áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận BAP vào sản xuất nhiều
nhất trong số 12 nước đã được chứng nhận (Trương Hoàng Minh và ctv 2013)
Tiêu chuẩn chứng nhận ASC
Tiêu chuẩn chứng nhận ASC (Aquaculture Stewardship Council) được áp dụng trên tôm nuôi từ tháng 4 năm 2014 Đến nay, trên thế giới đã có 26 trại nuôi được chứng nhận, trong đó Việt Nam có 11 trại, Belize 8 trại, Ecuador 4 trại, Indonesia 2 trại và 1 trại ở Honduras (www.asc-aqua.org, 2015) Việt Nam là quốc gia chú trọng đến việc áp dụng tiêu chuẩn chứng nhận cho tôm nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về việc sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Hiện tại tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên tôm nuôi được đánh giá là tiềm năng, có khả năng được chấp nhận rộng rãi ở các thị trường nhập khẩu khó tính như: Mỹ,
EU, Canada
Bảng 2.2: Các quốc gia đạt tiêu chuẩn chứng nhận ASC trên thế giới
Trang 35 Tiêu chuẩn chứng nhận BAP (Best Aquaculture Practics)
Tiêu chuẩn BAP do tổ chức phi chính phủ GAA (Global Aquaculture Alliance) phát triển từ năm 2002 và được hội đồng ACC (Aquaculture Certification Council) cấp chứng nhận cho các đối tượng nuôi như: tôm, cá tra, cá hồi, cá nheo
Mỹ và cá rô phi với các khâu từ: trại giống, trại nuôi, thức ăn và chế biến nhằm bảo
vệ đa dạng sinh học, quản lý đất, nước, thuốc và hóa chất Ở Việt Nam, có 2 Cty được cấp chứng nhận đầu tiên vào tháng 10/2005 là Faquimex và Amanda ở Bến Tre Trại nuôi tôm sú An Nhơn 74 (thuộc Cty Faquimex) là trại nuôi tôm được chứng nhận BAP đầu tiên ở Châu Á (nay đã hết hạn do không tái đánh giá vào năm sau) (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010) Đến nay, Việt Nam có 2 Cty đạt BAP****, 3 Cty đạt BAP*** và 10 Cty đạt BAP** đang còn hiệu lực
Tiêu chuẩn BAP được chứng nhận cho chuỗi sản xuất gồm 2 sao (trại nuôi
và sản phẩm chế biến; 3 sao (trại giống, trại nuôi và sản phẩm chế biến) và 4 sao (thức ăn, trại giống, trại nuôi và sản phẩm chế biến)
Tiêu chuẩn chứng nhận Naturland
Tiêu chuẩn chứng nhận Naturland (Đức) được thành lập vào năm 1982, với các lĩnh vực: nông nghiệp, chế biến, rừng, dệt may, nuôi trồng và khai thác thủy
sản Sản phẩm sinh thái đầu tiên được chứng nhận trên cá chép (Cyprinus carpio) ở
Úc và Đức
Ở Việt Nam, sản phẩm sinh thái được chứng nhận trên 2 đối tượng là: tôm sú
và cá tra Năm 2001, sản phẩm sinh thái tôm sú được chứng nhận đầu tiên trên thế
giới (Prein et al 2012a; SIPPO, 2012) bởi Naturland và SIPPO và năm 2006, được
chứng nhận sản phẩm sinh thái thứ 2 trên cá tra bởi Naturland và GTZ (Deutsche
Gesellschaft for Technische Zusammenarbeit) (Prein et al 2012b)
Tôm sinh thái Việt Nam được giới thiệu vào năm 1999 (Holler, 2010); đến năm 2001 được chứng nhận trên 1.368 ha diện tích nuôi tôm ở Cà Mau và đến năm
2002, sản phẩm tôm sinh thái đầu tiên đươc xuất sang Châu Âu (Le Thanh Hoa, 2002) Tôm sinh thái Cà Mau đã đứng vững ở thị trường EU và có khả năng xâm nhập và cạnh tranh ở các thị trường khó tính khác như: Mỹ, Nhật, Úc (Econet, 2005;
Lê Hằng, 2007) Sau năm 2001, diện tích nuôi tôm sinh thái tăng dần và đến năm
2009, diện tích nuôi tôm sinh thái chiếm 13,7% tổng diện tích nuôi tôm-rừng (39 nghìn ha), chiếm 2,02% diện tích nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau (264,5 nghìn ha) và 0,95% diện tích nuôi tôm sú ở ĐBSCL (565 nghìn ha) (Lâm Thái Xuyên, 2011)
Tiêu chuẩn chứng nhận Global GAP (Good Aquaculture Practice)
Tiêu chuẩn chứng nhận Global GAP được thành lập vào năm 1997, bởi sáng kiến của các nhà bán lẻ thuộc tập đoàn bán lẻ EU, dựa trên mối quan tâm ngày càng
Trang 36tăng của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm, tác động môi trường và sức khỏe,
an toàn, phúc lợi của người lao động và động vật nuôi Đến nay, Global GAP có khoảng 1.400 thanh tra và kiểm soát viên làm việc cho hơn 142 cơ quan Xác nhận chứng chỉ được cấp cho 409 sản phẩm nông nghiệp, 112.600 nhà sản xuất tại 112 quốc gia (http://www:global.org, 2012) Ở Việt Nam tháng 01 năm 2010, sản phẩm tôm của Cty Minh Phú đã được chứng nhận trên 250 ha tại tỉnh Kiên Giang với sản lượng 1.000 tấn/năm
Chứng nhận Việt GAP
Quy phạm thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) ở tôm sú Việt Nam (gọi là Viet GAP) là các hướng dẫn nuôi tôm sú tốt Các hướng dẫn này gồm có 3 loại: hướng dẫn thực hành nuôi tốt (GAP) tôm sú thâm canh, sổ tay thực hành nuôi tốt (BMP) cho nuôi tôm bán thâm canh và sổ tay thực hành nuôi tốt (GAP) cho nuôi tôm quảng canh cải tiến Các hướng dẫn thực hành nuôi tốt GAP/BMP trên được xuất bản trong năm 2005 Tuy nhiên, chưa ban hành chính thức tiêu chuẩn Viet GAP và chưa có cơ quan, tổ chức nào thực hiện chứng nhận trên diện tích 639 ha đã áp dụng Viet GAP ở các tỉnh ĐBSCL từ năm 2000-2007 Tình trạng chứng nhận Viet GAP trong thời điểm 2003-2007 là không hợp lệ vì tính hợp lệ của các văn bản pháp lý được ban hành Từ sau quyết định 06/2006/QĐ-BTS đến năm 2010, chưa có cơ sở nuôi tôm nào đạt tiêu chuẩn chứng nhận Viet GAP (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010)
Chứng nhận BMP (Best Management Practices)
Dự án CARD do chính phủ Úc tài trợ, đã có nhiều đóng góp về việc xây dựng các mô hình BMP/GAP trong lĩnh vực nông nghiệp Trong nuôi tôm từ năm 2007-2008, đã có hơn 35 nhóm hợp tác với hơn 554 nông dân của các tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang và Quảng Nam tham gia tập huấn về BMP (Corsin, 2007)
Dự án SUMA, với hợp phần FSPS và Bộ Thủy Sản Việt Nam, nhiều tài liệu về BMP đã được soạn thảo và xuất bản như: Hướng dẫn thực hành quản lý tốt (BMP)
trong trại tôm sú giống (P monodon) Việt Nam, Quản lý thực hành tốt (BMP) cho
người mua bán vận chuyển tôm bố mẹ, thực hành quản lý tốt (BMP) cho người mua bán và vận chuyển tôm giống Đến năm 2005, NAFIQAVED đã sát nhập BMP vào GAP nên trên thực tế chưa có hộ nuôi tôm hay trại sản xuất tôm giống của Việt Nam được chứng nhận BMP (Lâm Thái Xuyên và Trương Hoàng Minh, 2010)
2.4 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của các tỉnh nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre
Điều kiện tự nhiên:
Trang 37Bến Tre có diện tích tự nhiên 2.360 km2, được hợp thành bởi cù lao An Hóa,
cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên) Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông
Bến Tre có lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26-27oC Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp - thủy sản của tỉnh trong thời gian qua
Tỉnh Bến Tre có hệ thống sông rạch phát triển với 4 nhánh sông lớn của hệ thống sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, tổng chiều dài khoảng 300 km Ngoài ra, còn có hệ thống kênh rạch nối các sông lớn với nhau thành mạng lưới sông rạch chằng chịt với tổng chiều dài hơn 2.367 km Trong những năm qua, hạn hán và xâm nhập mặn đã ảnh hưởng lớn đến Bến Tre Trong năm 2016 toàn tỉnh có diện tích đất bị nhiễm mặn là 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú Độ mặn xâm nhập sâu vào đất liền theo các cửa sông lớn đến khoảng 45 km (mức 4‰) (http://www.bentre.gov.vn, cập nhật ngày 05/03/2017)
Hình 2 9: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre
(Nguồn: http://www.diaocvietonline.vn/QuyHoach/News.aspx?tinh=9)
Trang 38 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Bến Tre có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt và NTTS Đây còn là vùng đất phù sa trù phú, sản sinh ra vựa lúa lớn của ĐBSCL và nhiều loại nông sản Về diện tích nuôi trồng thủy sản tăng nhanh trong giai đoạn 2001-2005 (7,7%/năm); đạt khoảng 42.310 ha mặt nước vào năm 2005 và có khuynh hướng chựng lại sau năm 2005, đạt 42.490 ha năm 2010 và năm 2011 đạt 43.073 ha
Bến Tre có khoảng 1.255.000 người, với 64,5% dân số trong độ tuổi lao động Hàng năm tỉnh đã đào tạo và giới thiệu việc làm cho khoảng 30.000 lao động,
tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 36% (http://www.bentre.gov.vn, cập nhật ngày 5/3/2017)
Trang 392.4.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Sóc Trăng
Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, tiếp giáp các tỉnh Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu và Cà Mau Tỉnh Sóc Trăng có đường bờ biển dài 72 km
và 03 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh đổ ra biển Đông (https://www.soctrang.gov.vn, cập nhật ngày 8/3/2017)
Sóc Trăng có nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,8oC, ít khi bị bão lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và NTTS
Sóc Trăng có chế độ bán nhật triều với mực triều dao động trung bình từ 1m Trong những năm qua, đặc biệt năm 2016 lượng mưa giảm và nhiệt độ gia tăng cao trong những tháng đầu năm dẫn đến mức nhiễm mặn lấn sâu vào nội đồng Tính đến năm 2016 diện tích đất nhiễm mặn ở Sóc Trăng là 158.547 ha (bao gồm đất mặn nhiều, đất mặn trung bình, đất mặn ít, đất mặn sú, vẹt, đước) Đặc biệt vùng cửa sông Đại Ngãi xâm nhập mặn lấn sâu vào hơn 40 km (độ mặn đo được là 4,1‰) (https://www.soctrang.gov.vn, cập nhật ngày 8/3/2017)
0,4-Hình 2.10: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
(Nguồn: http://viipip.com/provincevn/?proid=39&module=map)
Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 40Sóc Trăng có đất đai màu mỡ, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái, NTTS kết hợp, quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Năm 2016 diện tích nuôi thủy sản đạt gần 54.800 ha, tổng sản lượng đạt 140.000 tấn Đến nay, toàn tỉnh có 25 HTX và 125 THT thủy sản Hiện đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm 84,03%, đất lâm nghiệp 4,40%, đất chuyên dùng và các loại đất khác 11,57%.
Sóc Trăng hiện có 1.289.441 người; trong đó, thành thị chiếm 251.328
người, nông thôn 1.038.113 người Dân số phân bổ không đều, tập trung nhiều ở vùng ven sông Hậu và các giồng đất cao, nơi có điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế (https://www.soctrang.gov.vn, cập nhật ngày 8/3/2017)
2.4.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang
Điều kiện tự nhiên
Kiên Giang có phía Đông Bắc giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang; phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu; phía Tây Nam là biển với hơn 137 hòn đảo lớn nhỏ và bờ biển dài hơn 200 km Đường biên giới trên đất liền dài 56,8 km tiếp giáp Campuchia
Kiên Giang có mưa trập trung vào từ tháng 8 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm là 2.146,8 mm Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26,4oC đến
28oC, tháng lạnh nhất là tháng 12 Điều kiện khí hậu thời tiết của Kiên Giang thuận lợi cho phát triển các loài cây nông nghiệp và hoạt động NTTS thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến và tôm–lúa rất đa dạng
Hình 2.11: Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang
(Nguồn: http://www.diaocvietonline.vn/QuyHoach/News.aspx?tinh=33)