Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiếm diện trong lý giải đối tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn và x
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC
(THI GIỮA KỲ)
1 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy vật: 2
1b Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác 6
2 Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử của phép biện chứng 8
4 Triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay 33
3 Anh chị hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và vai trò của triết học đối với đời sống xã hội 36
4 Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Phương Đông cổ - trung đại và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay 39
5 Anh chị hãy trình bày quan điểm về “nhân-quả” của triết học Phật giáo trong thuyết Tứ diệu đế 51
6 Bằng sự ra đời của triết học Phật giáo, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định 53
7 Bằng sự ra đời của triết học Nho gia, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định 54
8 Anh chị hãy trình bày quan điểm “chính danh” của triết học Nho gia và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 56
9 Anh chị hãy trình bày quan điểm của mình về thuyết “Chính danh” của Nho gia 59
10 Anh chị hãy trình bày nội dung về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại 63
11 Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và quan điểm của anh chị về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội 66
12 Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học phương Tây cổ đại và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của khoa học Phương Tây hiện nay 71
13 Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học thời phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX 72
Câu 13b: Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin 74
14 Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen đối với sự ra đời của triết học Mác 77
15 Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác 80
16 Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen và Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác.83 17 Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của những thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đối với sự ra đời của triết học Mác 87
18 Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác 89
19 Anh chị hãy trình bày những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam 91
20 Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ?
21 Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ?
Trang 21 Trình bày khái quát và đánh giá các hình th c l ch s c b n c a ch nghĩa duy v t:ứ ị ử ơ ả ủ ủ ậCũng như tất cả các ngành khoa học khác, chủ nghĩa duy vật triết học đã có quá trình ra đời và phát triển qua các giai đoạn khác nhau mà biểu hiện tập trung nhất của nó là việc giải quyết vấn đề
cơ bản của triết học theo lập trường duy vật - mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Với việc giải quyết theo lập trường duy vật biện chứng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật đã được nâng lên một tầm cao mới về chất, đặt nền tảng thế giới quan khoa học để giải quyết tất cả những vấn đề của nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người
-Theo Lênin "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác"
Ý thức: là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vật chất là cái có trước nó sinh ra và quyết định ý thức:
Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất: Bộ não người, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên
Lao động và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành tồn tại và phát triển của ý thức
Mặt khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Vật chất là đối tượng khách thể của ý thức, nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trình vận động của ý thức
Sự tác động trở lại của ý thức:
Y thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó Hơn nữa
sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động, máy móc, nguyên xi thế giới vật chất vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phương hướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy Vì vậy ý thức tác động trực tiếp đến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vật chất Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với qluật khách quan do
đó sẽ kìm hãm sự ptriển của vật chất
Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được Và suy cho cùng dù ở mức độ nào
nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất
Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội là quan hệ tồn tại xã hội
và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là
Trang 3cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý
* Từ mối quan hệ này ta đánh giá và rút ra được Quan điểm khách quan như sau:
Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả tất yếu của quan điểm DVBC về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Vật chất quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức
và hành động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân SVHT,
từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp đặt thực tế Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực
Nói như vậy không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức Quan điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động chủ quan trong việc tìm ra những con đường, những biện pháp để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật Điều đó phân biệt quan điểm khách quan với chủ nghĩa khách quan Nguyên tắc khách quan có ý nghĩa ngăn ngừa tư duy khỏi những sai lầm do việc chủ thể nhận thức đưa vào sự vật (khách thể nhận thức) một số yếu tố chủ quan vốn không có trong bản thân
sự vật Tuân theo quan điểm khách quan góp phần ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí
Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan
Từ những cơ sở lý luận trên chúng ta nhận thấy Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng CNXH thời kỳ trước đổi mới:
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vo bộ ĩc nguời một cách sáng tạo, l ci thực tại chủ quan tồn tại ở trong óc người dưới dạng hình ảnh tinh thần của sự vật khch quan Vì vậy nếu cường điệu tính sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí Bệnh chủ quan duy ý chí là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa thời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan lấy nhiệt tình Cách mạng thay cho
sự yếu kém về tri thức khoa học
Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định ra chủ trương chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan
Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, tri thức lý luận không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch sử,
xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc xây dựng mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp mang tính quan liêu, cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ
Trang 4Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp Trước hết phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu.
Bài học kinh nghiệm của Đảng:
Trong quá trình xác định đường lối Cách mạng và chỉ đạo thực tiễn Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Đảng cộng sản Việt Nam "luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắn của Đảng" là một bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước ta Đó chính là biểu hiện coi quan điểm vật chất, các quy luật khách quan có vai trò quyết định được ý thức đối với nhận thức
Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, muốn nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện mới ở chặng đường đầu tiên Chúng ta đã có những thành kiến không đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị) do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng trầm trọng
Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội
Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới XHCN ngày càng hình thành rõ nét,
xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCN ngày càng được cũng cố Điều đó là điều kiện đảm bảo
sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng Mọi chủ trương chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sữa đổi hay bãi bỏ
Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từ những sai lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm
và đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ, trì trệ nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm Những phương hướng biện pháp đó là:
- Một là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước đi, cách
làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao trình độ tri thức, năng lực nhận thức và vận dụng quy luật cho đội ngũ cán bộ Đảng viên Đây là cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…), từ đổi mới quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc
Để đảm bảo sự lãnh đạo thành công trong công cuộc đổi mới này thì Văn kiện Đại hội Đảng lần
VI đã xác định: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng Năng lực nhận thức theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” Trên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và tình hình chính trị, ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết
về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH Bên cạnh đó, với quan điểm tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, trong các chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại hội Đảng lần VI đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực Cụ thể như: Đại hội VI xác định xây dựng quan hệ
Trang 5sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật Văn kiện Đại hội xác định: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất" Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn toàn mới mẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất" Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tôn trọng nguyên tắc quan hệ SX phải phù hợp với lực lượng SX, Đại hội VI đã xác định phải điều chỉnh lại các cơ cấu này theo hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu Đây là những chương trình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sphẩm hàng hóa
- Hai là trong điều kiện ngày nay khi thế giới đang đi vào nền kinh tế tri thức thì chúng ta phải
“nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển KTXH, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”(VKĐH IX) và VKĐH X tiếp tục phát triển tư tưởng đó trong điều kiện đất nuớc ta
đã hội nhập với cộng đồng quốc tế và nhấn mạnh phải: “phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đây là biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân sâu xa của bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ là sự yếu kém về
lý luận, lạc hậu về trình độ, tri thức KH công nghệ Văn kiện ĐH Đảng lần VIII đã nhấn mạnh: “phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Để thực hiện được điều đó, Đảng ta cũng đã đề ra phương hướng trong VK ĐH X là “phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân”, đặc biệt phải chú ý: “trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân có tay nghề cao Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngòai nước, trong cộng đồng người VN ở nước ngòai”
Để đảm bảo công cuộc đổi mới đi đúng hướng và ngày càng đạt kết quả cao, Đảng ta đẽ đề ra biện pháp: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng…”(VKĐH X), đồng thời phải:
“tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nghị quyết của ĐH, sớm đưa nuớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Từ những kinh nghiệm thời gian qua, tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu
đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước
đi thích hợp Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng
- Hai là, phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao
chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng
Trang 6thời xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
- Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức Thật sự
phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản
lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
- Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực
tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội
Trên đây là phần trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của Chủ nghĩa duy vật gắn liền với tình hình KT-XH thực tiễn của Việt Nam thời gian qua
1b Anh chi hãy trình bày nh ̃ng đăc tr ng c ban cua tri th ́c triết hoc Mối quan hê cua ̣ ư ̣ ư ơ ̉ ̉ ư ̣ ̣ ̉
triết hoc v ́i các môn khoa hoc khác̣ ơ ̣
Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triết học lẫn nhận thức khoa học nói chung Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Trong nghiên cứu tri thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức
Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con người nói chung Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những cơ sở tự nhiên nhất định của nó Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên một hoặc những quan điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng của toàn bộ sự xem xét Việc chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ý nghĩa như vậy Phải thấy ngay rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn, khó xác định, nếu trước hết không thừa nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Một trong những luận điểm tiêu biểu của triết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Luận điểm đó thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật chất khách quan vào bộ óc người Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý thức, tất nhiên cũng được xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân biệt, đối lập với cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan Như vậy, tri thức là cái tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánh các đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vật chất như những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp, đặc trưng cho hoạt động và chức năng phản ánh của bộ não người
Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh Cùng với việc hiểu tri thức theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hình thức của sự tiến hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoá luận về tri thức
Trang 7Tri thức là kết quả của nhận thức Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luận không tách rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động Nhận thức của con người dù dưới bất kỳ hình thức nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động Theo cơ cấu chung, thì hoạt động nào cũng có yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sản phẩm hay kết quả của nó Không thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳ hoạt động nào của con người Thí dụ, việc người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”, việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc người ta đưa ra được câu trả lời rằng “Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt động nhận thức Cái sau là kết quả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau Tất nhiên, trong quá trình đi đến kết luận “Trái đất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu biết (tri thức) về “trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v Những tri thức này cấu thành quá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đất hình cầu” Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quá trình nhận thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới (nhận ra “Trái đất hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện, chứ không phải mục đích.Tri thức với tư cách là thông tin Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinh nói chung, là thông tin Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thức không phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trong trạng thái chết,
mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới của con người Chỉ với ý nghĩa ấy, tri thức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy, bộ óc con người mới trở thành vật mang thông tin là tri thức Tuy nhiên, với tư cách là thông tin, tri thức khác với những hình thức thông tin tinh thần, vật chất khác Tri thức không đem lại những thông tin về các cảm xúc, ý chí, niềm tin và khát vọng của con người Mặt khác, những xúc cảm của con người cũng là những thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lại tri thức Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình cảm không tách rời nhau Thí dụ, nhìn thấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta cũng cảm thấy đau đớn Nhưng tri thức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết những “dấu hiệu” của sự đau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của người có cảnh ngộ ấy Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những dấu hiệu ấy, mà là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm đến và làm rung động cái lương năng bên trong của chúng ta Thông tin - tri thức là thông tin sống,
có khả năng sinh sôi không ngừng Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm về khối lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môi trường Trong
cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sự mất đi, vừa cung cấp
và vừa sửa chữa, điều chỉnh Đây là quá trình đặc biệt của thông tin tri thức
Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người Đây là sự tiếp cận con người, tiếp cận văn hóa về tri thức Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người là gì?” Sự giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học
Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác:
Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là"khoa học của mọi khoa học"
Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết
về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy"
Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cu
Trang 8thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới.
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thành tựu của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự định hình phát triển của khoa học hiện đại Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế các khoa học khác Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt chẽ giữa triết học với các khoa học khác
Như vậy, có thể kết luận:
- Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất
- Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu
2 Trình bày khái quát và đánh giá các hình th c l ch s c a phép bi n ch ngứ ị ử ủ ệ ứ
Ngay từ rất sớm trong triết học xuất hiện hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét thế giới: Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Trong thời kỳ cổ đại, phép biện chứng chất phác, ngây thơ, mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng cổ đại Hy Lạp, chiếm vị trí ưu trội Theo quan điểm biện chứng đó, thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển.Điển hình như:
Trường phái Milê: Trường phái duy vật đơn nguyên do 3 nhà triết học duy vật là Talét,
Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng, nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới Nếu bản nguyên vật chất của thế giới được Talét cho là nước, thì Anaximăngđrơ cho là apeiron, còn Anaximen cho là không khí Những quan niệm triết học duy vật của trường phái Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thần chống lại thế giới quan thần thoại đương thời và đã chứa đựng những yếu tố biện chứng chất phác
Trường phái Hêraclít: Trường phái duy vật đơn nguyên do Hêraclít xây dựng, thể hiện rõ các tư
tưởng biện chứng chất phác thời cổ Hi Lạp thông qua các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Dù chưa trình bày các quan niệm biện chứng như một hệ thống, nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng danh ngôn, tỷ dụ, hay những phát biểu mang tính chất triết lý sâu sắc Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại
Trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxago: Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trong thế giới
theo tinh thần duy vật, Empêđốc và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sơ khai của trường phái Milê và trường phái Hêraclít, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất
đa dạng
Trường phái nguyên tử luận Lơxíp - Đêmôcrít: Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy
vật Hi Lạp cổ đại trong giai đoạn cực thịnh với các đại biểu Lơxíp, Đêmôcrít; trong đó, Lơxíp là người đầu tiên nêu lên các quan niệm về nguyên tử, Đêmôcrít là người phát triển các quan niệm này
Trang 9thành một hệ thống chặt chẽ và có sức thuyết phục Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng với những thành tựu đạt được, Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duy vật Hi Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành bấy giờ, mà trước hết là trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platon Sang thời kỳ suy tàn của triết học Hi Lạp cổ đại (Hi Lạp hóa) Êpicua (Epicure)
đã củng cố và bảo vệ và phát triển thêm học thuyết nguyên tử…
Ta nhận thấy rằng triết học thời này có những đặc điểm sau:
- Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai
cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình
- Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu,
trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông…
- Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác Các nhà triết
học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh” Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng
để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ
- Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết
về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới Vì vậy, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học
- Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra
nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa
Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ăngghen cho rằng trong quan điểm đó, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển
Nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, để đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của thế giới Trong quá trình nghiên cứu, người ta tạm thời không chú ý tới mối liên hệ giữa khách thể đang nghiên cứu với các khách thể khác cũng như với thế giới nói chung, tạm thời cố định sự vật ở trạng thái hiện có mà không xem xét nó trong quá trình vận động và phát triển Nhờ vậy tri thức con người về các bộ phận riêng rẽ của thế giới trong trạng thái tĩnh tại của chúng ngày càng trở nên sâu sắc hơn Trước những thành quả to lớn trong việc nhận thức các bộ phận cấu thành thế giới do việc
áp dụng phương pháp phân tích mang lại, một số nhà triết học đã tuyệt đối hóa phương pháp phân tích, và xem đó là phương pháp duy nhất để nhận thức thế giới Từ đó ra đời phương pháp tư duy siêu hình - một phương pháp mang “tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây”
Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc nghiên cứu các quá trình trong sự liên hệ, vận động và phát triển của chúng Những thành quả do khoa học tự nhiên mang lại đã chứng minh rằng, tự bản thân thế giới tồn tại một cách biện chứng Quan điểm siêu hình
Trang 10bị chính khoa học tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó Nhưng việc phủ định quan điểm siêu hình lúc này dẫn đến tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm khách quan mà định cao là ở triết học Hêghen.
Nhà triết học Ph.Hêghen, bộ óc bách khoa toàn thư vĩ đại nhất trong lịch sử triết học của nhân loại
đã xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan biện chứng nổi tiếng Trong Hiện tượng luận tinh thần, ông nêu lên những nền tảng của một triết học mới, qua tác phẩm này Hêghen đã thoát ra khỏi sự ràng buộc mình với tư tưởng của Senlinh; Còn trong Bách khoa toàn thư các khoa học triết học, ông trình bày một cách chi tiết toàn bộ nội dung Hệ thống triết học mới của mình
Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm”, do sự tha hóa của ý niệm mà thành Ý niệm nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Việc nghiên cứu tính biện chứng của ý niệm đã dẫn Hêghen đến chỗ đưa ra một hệ thống các khái niệm, các phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng Đây thực sự là công lao lớn của Hêghen Song
do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan, Hêghen đã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm: Biện chứng của ý niệm quy định tính biện chứng của các sự vật và hiện tượng
Theo Hêghen: Hiện tượng luận tinh thần với 4 nền tảng của triết học mới
Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối: Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối chứ không phải cái Tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện thực Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thực thể - giới tự nhiên (Xpinôda) và cái Tôi tuyệt đối (Phíchtơ), là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần
và vật chất, là Đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch sử nhân loại Con người chỉ
là một sản phẩm của quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối Hoạt động nhận thức
và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại chỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về với chính mình Theo Hêghen, tư duy lôgích chứ không phải trực giác nghệ thuật (Senlinh) là hình thức thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối
Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối: Phát triển được Hêghen hiểu như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ Quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp đề” Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái vật chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể trong bản thân ý niệm tuyệt đối
Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Hêghen coi lịch sử là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần gian Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân Ý thức cá nhân chỉ là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân loại đã trải qua Ý thức nhân loại là sự tái hiện lại toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại, là sản phẩm của lịch sử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối
Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối: Hêghen thừa nhận có 3 hình thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học, trong đó, triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối Theo Hêghen, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con người Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là thời đại được thể hiện dưới dạng tư tưởng Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào đó đều là sự chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái lôgích và cái lịch sử; vì vậy, triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt đối Theo quan điểm này thì triết học Hêghen, - khoa học về ý niệm tuyệt đối -, được chia thành 3 bộ phận là khoa học lôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với 3 giai đoạn phát triển của ý
Trang 11niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác của nó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với no.
Khoa học lôgích: Là tác phẩm quan trọng nhất của Hệ thống triết học Hêghen, Khoa học lôgích nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống Khi vạch
ra những hạn chế của lôgích học cũ là chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân
mà không chỉ ra được ranh giới giữa lôgích học với các ngành khoa học khác cùng nghiên cứu tư duy, là chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó , Hêghen khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch ra bản chất đích thực của tư duy, và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học
Triết học tự nhiên: Đây là học thuyết về giới tự nhiên với tính cách là một dạng tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối dưới dạng các sự vật vật chất Hêghen không giải thích ý niệm tuyệt đối chuyển từ chính nó sang giới tự nhiên như thế nào và khi nào, mà chỉ nói rằng ý niệm tuyệt đối tồn tại bên ngoài thời gian, và giới tự nhiên cũng không có khởi đầu trong thời gian Hêghen cho rằng, quá trình hình thành giới tự nhiên từ ý niệm tuyệt đối đồng thời cũng là quá trình ý niệm tuyệt đối ngày càng biểu hiện ra thành giới tự nhiên Thế giới đã được tạo ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được tạo ra
Triết học tinh thần: Trong tác phẩm này, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuối cùng trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quay về lại chính mình như thế nào
Nhận xét chung về Hệ thống triết học Hêghen
Một là, thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung triết học Hêghen: Mọi
sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối chi phối mọi sự sinh thành, tồn tại và tiêu vong của hết thảy mọi cái trong thế giới Vật chất, giới tự nhiên chỉ là sự tự tha hóa, một sự tồn tại khác, một sản phẩm sơ cứng bất động của ý niệm tuyệt đối
mà thôi Đề cao cái tinh thần, khẳng định tính quyết định của nó trong việc đưa ra các phương thức giải quyết cho các vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn là tư tưởng chủ đạo được trình bày trong toàn bộ nội dung triết học Hêghen
Hai là, phép biện chứng là linh hồn sống động của hệ thống triết học Hêghen: Tư tưởng về mối liên hệ phổ biến (mọi cái đều là hiện thân, là các giai đoạn khác nhau nhưng liên hệ lẫn nhau của ý niệm tuyệt đối) và tư tưởng về sự phát triển (quá trình phủ định biện chứng của ý niệm tuyệt đối) là những tư tưởng cơ bản xuyên suốt, là mạch suối ngầm thấm chảy qua toàn bộ hệ thống của Hêghen Phát triển là một quá trình thay đổi từ thấp lên cao, bằng cách chuyển hóa qua lại giữa lượng và chất, do sự giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong các hình thức cụ thể của ý niệm tuyệt đối tạo nên Trên cơ sở mổ xẻ quá trình tự vận động của ý niệm tuyệt đối, Hêghen đã phát hiện ra các quy luật cơ bản của phép biện chứng và các quy luật không cơ bản - các cặp phạm trù
Hêghen còn xây dựng các nguyên tắc của lôgích biện chứng, các quan điểm biện chứng về nhận thức, ông đã đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgích học và nhận thức luận Theo Hêghen, nhận thức phải đi từ trừu tượng đến cụ thể, nhận thức lý thuyết phải thống nhất với hoạt động thực tiễn Chân lý phải mang tính cụ thể, tính quá trình và là sự phù hợp của khái niệm với thực tiễn Tuy nhiên, đối với Hêghen, nhận thức là khám phá ra ý niệm tuyệt đối chứ không phải khám phá ra giới tự nhiên vật chất; và thực tiễn không phải là hoạt động vật chất mà chỉ là những hoạt động tinh thần của chủ thể sáng tạo ra tư tưởng mà thôi
Phép biện chứng của Hêghen không chỉ là lý luận biện chứng về sự phát triển của thế giới ý niệm,
mà còn là phương pháp biện chứng nghiên cứu thế giới ý niệm Thông qua phép biện chứng của ý niệm, Hêghen đã đoán được phép biện chứng của sự vật, vì vậy, nó là phép biện chứng duy tâm
Trang 12Phép biện chứng của Hêghen, về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giam hãm trong hệ thống triết học duy tâm thần bí của ông; vì vậy, trong triết học của Hêghen, bên cạnh những nội dung biện chứng, tiến bộ, vạch thời đại, khoa học và cách mạng lại có không ít quan điểm siêu hình, phản động, phản khoa học và bảo thủ, tư biện; nghĩa là trong nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn + Hêghen đã phủ nhận sự phát triển trong giới tự nhiên, ông bất chấp hay phủ nhận nhiều thành tựu của khoa học tự nhiên bấy giờ nếu chúng không dung hợp với ý niệm tuyệt đối
+ Hêghen coi nhà nước Đức, văn minh Đức là đỉnh cao của hiện thân tinh thần tuyệt đối trên trần gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc trên thế giới phải vươn đến
+ Hêghen coi, trong triết học Đức - triết học Hêghen, ý niệm tuyệt đối đã khám phá ra chính mình
từ cái không phải là mình để quay về với mình; do đó, tại đây, mọi sự phát triển tiếp tục đều chấm dứt…
Dù có nhiều hạn chế không nhỏ nhưng thành tựu mà triết học Hêghen mang lại - phép biện chứng
tư duy là một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của nhân loại Triết học Hêghen là một cội nguồn của triết học Mác Cứu lấy phép biện chứng, giải phóng hạt nhân biện chứng ra khỏi lớp vỏ duy tâm thần bí của Hệ thống Hêghen là một yêu cầu cấp bách của triết học mà sau này Mác đã thực hiện Khi cải tạo phép biện chứng duy tâm Hêghen theo tinh thần duy vật của triết học Phoiơbắc, Mác đã xây dựng phép biện chứng duy vật - phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan, mà phép biện chứng của ý niệm chỉ là hình ảnh biện chứng trong bộ óc con người phản ánh phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan
Tóm lại, với một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh, với tri thức bách khoa, kiến thức uyên bác và thiên tài của mình, Hêghen trở thành nhà triết học lớn nhất thời bấy giờ Học thuyết của ông khép lại một giai đoạn phát triển triết học đầy sôi động, đồng thời mở ra một giai đoạn cách mạng mới trong lịch sử triết học - giai đoạn gắn tư tưởng triết học với thực tiễn cách mạng
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của triết học Ông cho rằng, xưa nay triết học nghiên cứu vấn đề về quan hệ giữa
tư duy và tồn tại, nhưng quan hệ này thuộc về bản chất của con người; bởi vì, chỉ có con người đang sống, đang tồn tại mới có tư duy Theo ông, chỉ khi nào xuất phát từ con người thì vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại mới được giải quyết một cách đúng đắn và có ý nghĩa thật sự Do con người là đối tượng của triết học mới, và khoa học nghiên cứu bản chất của con người là nhân bản học, nên triết học mới đó phải là triết học nhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản.Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một bước Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm
và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mác
Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiếm diện trong lý giải đối tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn và xác định vai trò của nó trong nhận thức và cuộc sống…; Đặc biệt, trong việc xác định nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy tâm; Thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất quán… Điều này thể hiện như sau:
- Một là, do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Hêghen nên ông phủ nhận luôn phép biện chứng; hơn nữa, ông hiểu biện chứng rất hời hợt, - phép biện chứng không phải là sự độc thoại của một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh…
Trang 13- Hai là, do đứng trên quan điểm nhân đạo chung chung mà quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử; ông chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên - sinh học mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi tình yêu là bản chất con người
- Ba là, do bỏ qua hoạt động thực tiễn nên Phoiơbắc coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang tính thực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người - chủ thể nhận thức; Phoiơbắc không chỉ không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức mà ông cũng không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối với sự hoàn thiện con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung Vì không thấy trong thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình yêu Do không xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội, Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề cao sức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật… mà không thấy được vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Phép biện chứng duy vật được C.Mác và Ph Ăngghen xâydựng vào giữa thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển Sự ra đời của phép biện chứng duy vật được chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển xã hội, triết học và khoa học tự nhiên trứơc đó mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc Trong phép biện chứng duy vật luôn luôn có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới Nhờ vậy, C.Mác và Ph Ănghen khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại và những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Đúng như Ph Ăngghen
đã định nghĩa “phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư duy” Lênin đã gọi phép biện chứng duy vật là linh hồn của chủ nghĩa Mác
Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (trước năm 1844)
Trong bước đầu hoạt động khoa học và chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm dân chủ cách mạng
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) được sinh ra và lớn lên tại thành phố Tơrivơ, vùng Ranh của nước Đức Ngay từ khi còn học trung học, C.Mác đã thể hiện là một thanh niên tài năng, yêu quê hương, đất nước và gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc chung của mọi người… Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Đại học Bon và Đại học Béclin, ông là người rất say mê nghiên cứu triết học, vì theo C.Mác, chỉ có triết học mới đem đến cho con người sự hiểu biết và khả năng cải tạo thế giới nhằm giải phóng con người… Từ năm 1837, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hêghen, tham gia phái Hêghen trẻ Nét nổi bật mà C.Mác nhận thấy ở Hêghen là phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy biện chứng… Từ năm 1839, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại và triết học cận đại Trong Luận án tiến sĩ Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya, bảo vệ năm 1841, C.Mác vẫn đứng trên lập trường triết học duy tâm của Hêghen, coi sự vận động và phát triển của tự ý thức là động lực của sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ông vẫn đánh giá cao vai trò của Êpiquia trong lịch sử triết học, đã làm phong phú và đóng góp vào sự phát triển của học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, chống tư tưởng tôn giáo, ủng hộ chủ nghĩa vô thần Trong luận án này, C.Mác đã phê phán phái Hêghen trẻ, đề cao vai trò của phép biện chứng trong
Trang 14quá trình nhận thức và cải tạo xã hội, phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị, hướng đến hạnh phúc của con người.
Phriđrích Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt Mong muốn của gia đình là ông sớm trở thành một nhà kinh doanh… Từ năm 1839, vừa làm việc và tự học, ông bắt đầu nghiên cứu triết học Đức, nhất là nghiên cứu triết học Hêghen Đứng trên lập trường dân chủ cách mạng, đối lập với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tháng 3 năm 1839, Ph.Ăngghen viết bài báo đầu tiên Những bức thư từ Vesphali đả kích bộ mặt thật của bọn chủ xưởng, ủng hộ những người lao động… Năm 1841, Ph.Ăngghen tới Béclin làm nghĩa vụ quân sự và dự nghe các bài giảng triết học tại Đại học Béclin, đồng thời tham gia vào nhóm Hêghen trẻ Trong thời gian này, ông đã viết một số tác phẩm nhằm mục đích phê phán các quan điểm phản động của nhà triết học Sêlinh Các tác phẩm Sêlinh và Hêghen, Sêlinh - nhà triết học nơi Chúa Kitô, và đặc biệt là tác phẩm Sêlinh và sự linh báo (1842) đã thể hiện tư tưởng dân chủ cách mạng, thấy được mâu thuẫn giữa mặt tiến bộ và mặt bảo thủ trong triết học Hêghen Dù vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm, Ph.Ăngghen vẫn đánh giá cao triết học Phoiơbắc, vì ông nhận thấy thế giới quan duy vật của Phoiơbắc triệt để hơn các nguyên lý triết học duy tâm Hêghen… Cuối năm 1842, Ph.Ăngghen sang Mantrextơ, làm việc trong một xưởng sợi, bắt đầu tìm hiểu phong trào công nhân và nghiên cứu kinh
tế chính trị học cổ điển Anh Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng giúp ông thấy rõ mối liên hệ giữa
lý luận và thực tiễn trong cuộc đấu tranh xã hội, tạo bước chuyển biến về quan điểm chính trị của ông
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác bắt đầu từ quá trình hoạt động báo chí và qua sự phê phán triết học Hêghen về nhà nước, pháp quyền, tôn giáo và vai trò của triết học: Thông qua báo Sông Ranh (1842 - 1843), C.Mác viết bài bảo vệ lợi ích của những con người lao động nghèo khổ, cổ vũ cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ; phê phán sâu sắc các tệ nạn bóc lột, áp bức người lao động, về sự bần cùng của nông dân Hoạt động này giúp C.Mác nhận thức đầy đủ hơn về những mặt hạn chế của triết học Hêghen, tính chất phản động, bảo thủ của Nhà nước Phổ, và qua đó, quan điểm của C.Mác chuyển dần từ khuynh hướng duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản… Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1943), C.Mác phủ nhận mệnh đề “tồn tại là hợp lý” của Hêghen, kiên quyết bác bỏ các hình thức đang tồn tại của nền chính trị nước Đức lúc bấy giờ là ý thức pháp quyền và nhà nước, đồng thời trình bày các vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng; C.Mác coi triết học là vũ khí để cải tạo thế giới, là động lực cải tạo xã hội: Xuất phát
từ tư tưởng “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, C.Mác coi triết học là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” Khi chỉ ra tôn giáo cũng là sản phẩm của các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, C.Mác vạch
ra nguồn gốc và bản chất của tôn giáo trong mối quan hệ với đời sống hiện thực và nhu cầu tinh thần, tình cảm của con người C.Mác viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Lúc bấy giờ, thông qua Niên giám Pháp - Đức, Ph.Ăngghen cũng đã đăng tải một số tác phẩm phê phán chế độ tư hữu và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phê phán các tư tưởng kinh tế chính trị học của A.Xmít và Đ.Ricácđô trên tinh thần biện chứng; đồng thời qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản…
Trang 15Tháng 8/1844, trên đường từ Anh về Đức, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác tại Pari Và từ đây, giữa hai ông đã bắt đầu một tình bạn, tình đồng chí vĩ đại và cảm động trong suốt cả cuộc đời để sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Như vậy, cho đến thời điểm này, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã có bước chuyển hoàn toàn từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học Đó là một quá trình phức tạp, vừa cải biến phép biện chứng duy tâm của Hêghen thành phép biện chứng duy vật, vừa vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nhận thức xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng vững chắc cho một cuộc cách mạng trong triết học, để từng bước hoàn chỉnh hệ thống triết học của mình cả về thế giới quan và phương pháp luận
Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844 - 1848): Hai ông đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề về triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học trên nền tảng thế giới quan duy vật triệt để và cách mạng, làm rõ những quy luật cơ bản của xã hội Triết học Mác trở thành thế giới quan và phương pháp luận
để nhận thức và cải tạo thực tiễn
Với tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học (1844), C.Mác trình bày những nghiên cứu về kinh tế học để rút ra những kết luận về triết học
Từ việc nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh, nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ việc phân tích các phạm trù kinh tế cụ thể (tiền công, lợi nhuận, tư bản, địa tô, sức lao động ), C.Mác đã phát hiện ra bản chất của xã hội tư bản - xã hội đối kháng giữa người công nhân và nhà tư bản C.Mác viết: “Tư bản là quyền chỉ huy lao động và sản phẩm của lao động Nhà tư bản có được quyền đó không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay phẩm chất con người của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản Sức mạnh của hắn là sức mua của tư bản của hắn, sức mua
mà không có gì có thể chống lại nỗi” …
Từ chỗ coi sức lao động của người công nhân là hàng hóa, được đem ra mua bán, trao đổi, nhằm mục đích duy trì sự tồn tại mang tính động vật của con người, C.Mác xem xét vấn đề lao động bị tha hóa, và ông kết luận: lao động bị tha hóa là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội trong chủ nghĩa
tư bản Nếu Hêghen coi sự tha hóa chỉ diễn ra trong ý thức, tinh thần; còn Phoiơbắc chỉ nhấn mạnh
sự tha hóa của bản chất con người trong tôn giáo; thì C.Mác đã đi tới tận nguồn của sự tha hóa, đó là
sự tha hóa của lao động, của bản chất con người, sự đánh mất bản chất người trong chính quá trình sản xuất vật chất C.Mác viết: “Sự tha hóa thể hiện ở chỗ tư liệu sinh hoạt của tôi thuộc về người khác, ở chỗ đối tượng mong muốn của tôi là vật sở hữu của người khác mà tôi không với tới được, cũng như ở chỗ bản thân mỗi vật hóa ra là một cái khác với bản thân nó, ở chỗ hoạt động của tôi hóa
ra là một cái khác nào đó và cuối cùng, điều này cũng đúng cả đối với nhà tư bản, lực lượng không phải người nói chung thống trị tất cả” Vì vậy, quan hệ tha hóa đối lập ấy được biểu hiện như một sự kết tội bản chất xã hội tư bản chủ nghĩa: “Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì trở thành cái vốn có của súc vật” Kết luận tất yếu được rút ra là, muốn giải phóng con người ra khỏi sự tha hóa thì phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, có như vậy mới trả con người trở về với chính bản chất của nó…
Với tinh thần phê phán, C.Mác đã đánh giá phép biện chứng trong triết học Hêghen, cũng như chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, làm rõ những đóng góp và hạn chế của họ, từ đó khẳng định vai trò và tính chất cách mạng của phép biện chứng duy vật
Năm 1845, C.Mác đã phác thảo Luận cương về Phoiơbắc chỉ ra những khuyết điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước đây trong việc nhận thức về con người, lịch sử và phương pháp nhận thức C.Mác cũng nêu lên sự khác nhau căn bản giữa triết học của ông với các học thuyết triết học khác trong lịch sử C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay, -
kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, - là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức
Trang 16dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức la hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan” …
Thông qua vai trò thực tiễn, C.Mác đã chứng minh tính lịch sử - xã hội quy định bản chất con người: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội” Luận đề này thể hiện tính chất duy vật triệt
để trong quan niệm của C.Mác về con người và lịch sử, chống lại những tư tưởng duy tâm siêu hình
về xã hội và con người trong các hệ thống triết học khác trong lịch sử, nhất là triết học của Phoiơbắc
Từ năm 1945 - 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cộng tác với nhau để hoàn thành một tác phẩm quan trọng Hệ tư tưởng Đức Trong tác phẩm này, hai ông đã kết hợp một cách khoa học giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng; vận dụng phép biện chứng duy vật vào nhận thức lịch sử xã hội
và phát hiện ra các quy luật của lịch sử, từ đó sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của triết học Mác
Xuất phát từ hiện thực lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử” Tuy nhiên, “muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống… Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” Như vậy, việc sản xuất ra đời sống vật chất là cơ sở quyết định
sự tồn tại, mà yếu tố quan trọng nhất là lực lượng sản xuất, sẽ quyết định mọi trạng thái của lịch sử -
xã hội Quan niệm trên biểu hiện tư tưởng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen về lịch sử Từ đó, hai ông đã phê phán những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơbắc trong việc nhận thức lịch sử - xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên các hình thức sở hữu và sự thay thế của các phương thức sản xuất khác nhau trong lịch sử xã hội loài người Khi trình bày các hình thức sở hữu trong lịch sử, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã trình bày quá trình phát triển của lịch sử dưới dạng vắn tắt mà hạt nhân của nó là
sở hữu về tư liệu sản xuất; xét về thực chất, đó chỉ là biểu hiện của quy luật về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, - một quy luật chung chi phối sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”, vì thế, “không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” Sự phát triển của toàn bộ lịch sử - xã hội là sự chứng minh vai trò quyết định của tồn tại xã hội, trong đó, phương thức sản xuất có ý nghĩa cơ bản nhất “Ngay từ đầu,
ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”
C.Mác và Ph.Ăngghen vạch ra bản chất nhà nước bị quy định bởi quan hệ lợi ích vật chất; nhà nước của giai cấp thống trị “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để đảm bảo lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước” Từ đây, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội” Vì vậy, nhiệm vụ của giai cấp vô sản là phải xóa bỏ trạng thái hiện tồn, xóa sự thống trị của giai cấp tư sản cả trong cơ sở
hạ tầng lẫn trong kiến trúc thượng tầng, để xác lập sự thống trị của giai cấp vô sản, - giai cấp tiên tiến và cách mạng nhất của thời đại “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay” Mặc dù, phong trào công nhân trong giai đoạn này chưa biểu hiện tính tự giác của nó, tức là chưa ý thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình một cách hoàn toàn đầy đủ Song, sự phát triển tất yếu của lịch sử, địa vị khách quan của giai cấp vô sản cho phép họ giành lấy chính quyền về tay mình, “bằng một
Trang 17cuộc cách mạng, cuộc cách mạng này một mặt lật đổ thế lực của phương thức sản xuất và của sự giao tiếp trước đó và cả của cơ cấu xã hội cũ và mặt khác, phát triển tính phổ biến của giai cấp vô sản và nghị lực mà giai cấp vô sản cần có” Điều đó, có nghĩa là giai cấp vô sản, - người đại diện cho lực lượng sản xuất mới trong xã hội, - phải thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình bằng việc phải giành lấy quyền lực chính trị.
Tháng 2 năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm nổi tiếng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đây là tác phẩm tuyên truyền cho tổ chức “Đồng minh những người cộng sản”, là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật vào lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Tác phẩm này đánh dấu sự hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thể hiện rõ thế giới quan mới của triết học Mác Ngày nay, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Dù lịch sử đang vận động, biến đổi với nhiều bước ngoặt quanh co, gập ghềnh; dù chủ nghĩa xã hội đang tạm thời thoái trào, song mục tiêu mà tác phẩm đặt ra đang cổ vũ nhân loại đấu tranh vì hạnh phúc của con người - xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa cộng sản
Trong Chương 1 Tư sản và vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật chi phối
sự phát triển của xã hội, tức thay thế các phương thức sản xuất trong lao động Vạch ra sứ mệnh lịch
sử của giai cấp vô sản: “Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giai cấp tư sản
và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
Trong Chương 2 Những người vô sản và những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” Mục tiêu trước mắt là tổ chức cuộc đấu tranh chính trị để lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay mình, và mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của
nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Trong chương 3 Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán sâu sắc các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản và tư sản đang ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân như “Chủ nghĩa xã hội phản động”, “Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản”, “Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng phê phán” Trong chương 4 Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày chiến lược, sách lược, phương pháp và mục tiêu cách mạng: “Những người cộng sản… công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật
đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ Họ sẽ giành được cả thế giới”
Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học: Từ năm 1848, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở Châu Âu chống áp bức, bóc lột, đòi dân chủ tự do đã phát triển và trở thành một làn sóng mạnh mẽ, nhưng gặp phải thất bại thảm hại Sau thất bại này, các phong trào đấu tranh cách mạng ở Châu Âu bị giai cấp phong kiến, có sự tiếp tay của giai cấp tư sản và tiểu tư sản phản bội, đàn áp và bóp nghẹt Từ sự thất bại của phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra bài học là: Đảng Cộng sản phải hành động một cách tự giác và có tổ chức, phải hết sức thống nhất và độc lập để lãnh
Trang 18đạo phong trào đấu tranh vì lợi ích của quần chúng lao khổ Dựa trên những kinh nghiệm chua xót này của thực tiễn cách mạng, bằng tư duy lý luận sâu sắc, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho ra đời những tác phẩm làm sáng tỏ những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Tư bản - bộ sách đồ sộ trình bày những nghiên cứu của C.Mác về quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên tinh thần duy vật lịch sử Đây cũng là bộ tác phẩm thể hiện tuyệt vời phong cách tư duy biện chứng của C.Mác, tức thể hiện sự vận dụng tài tình phương pháp biện chứng vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chất trong đời sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sự phát triển của “hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Ông chỉ rõ sự tác động của các quy luật khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau + C.Mác đánh giá cao quá trình lao động; ông coi lao động là hành động lịch sử vĩ đại mà nhờ đó, con người tạo nên sự khác biệt căn bẳn giữa mình với loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của
xã hội
+ Lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình lịch sử; nó biểu hiện quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội Theo C.Mác, lực lượng sản xuất là sự tổng hợp của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó, con người lao động đóng vai trò quyết định; nó biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Quan hệ sản xuất là biểu hiện mặt xã hội của quá trình sản xuất; nó thể hiện qua các mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về tổ chức quản lý sản xuất và về phân phối sản phẩm lao động; nó là đặc trưng của sự phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, là tiêu chuẩn để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Với vai trò là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đối với quan hệ sản xuất, tức là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy Quan hệ sản xuất tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Điều đó tùy thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
+ Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, tính chất xã hội hóa của quá trình sản xuất ngày càng mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Đó là cơ sở về kinh tế để dẫn tới cuộc cách mạng xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản “Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa… Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa
do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều
là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên
Đó là sự phủ định cái phủ định” Dù biện chứng của quá trình phát triển giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được C.Mác phân tích trong điều kiện lịch sử - xã hội tư bản chủ nghĩa, nhưng
nó ý nghĩa phổ biến cho tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người
+ Qua bộ Tư bản, chúng ta có thể khẳng định rằng, toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác trong Tư bản được biểu hiện ở phạm trù khoa học “hình thái kinh tế - xã hội” C.Mác viết: “Tôi coi
sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Bản chất của phạm trù hình thái kinh tế - xã hội chính là quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người
bị quy định bởi các yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Đồng thời, các yếu tố khác trong lịch sử xã hội cũng có vai trò chi phối, tác động, nhưng trên cơ sở các yếu tố cơ bản đó Tính lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội được chứng minh bởi sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, vừa đa dạng phong phú, phức tạp vừa thể hiện những quy luật phổ biến có ý nghĩa xuyên suốt toàn bộ tiến trình lịch sử xã hội loài người
Trang 19Xuất phát từ việc nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của chủ nghĩa tư bản, bằng phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, giữa trừu tượng và cụ thể, C.Mác đã từng bước vạch
ra bản chất của chủ nghĩa tư bản
+ C.Mác chỉ ra quá trình vận động và phát triển tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện thông qua tính đa dạng, phong phú, phức tạp của lịch sử của nó Cho nên, lịch sử là bản thân quá trình sản xuất, lôgíc là bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là bóc lột giá trị thặng dư C.Mác viết: “Phương pháp của chúng ta… phải bao gồm việc xem xét đối tượng về mặt lịch sử, nghĩa là những mục trong đó khoa kinh tế tư sản - khoa này chỉ là hình thức lịch sử của quá trình sản xuất - có những chỉ dẫn, vượt ra khỏi phạm vi của khoa kinh tế tư sản, về những phương thức sản xuất lịch sử đã tồn tại sớm hơn Vì thế, muốn vạch rõ những quy luật của khoa kinh tế tư sản thì không cần thiết phải viết lịch sử thực sự về quan hệ sản xuất”
+ C.Mác cũng phân tích rõ mối quan hệ biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể Cái trừu tượng chỉ là sự phản ánh một mặt, một yếu tố của quá trình nhận thức đối tượng Cái cụ thể lý tính,
về bản chất, là sự phản ánh khái quát các thuộc tính của đối tượng trong tư duy Bởi vậy, nền sản xuất xã hội biểu hiện từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đến bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng chính là con đường đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy C.Mác viết rằng: “Cái
cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái
đa dạng Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải
là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng”
Các quy luật của phép biện chứng như quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật mâu thuẫn đều được C.Mác vận dụng vào quá trình phân tích bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa Phương pháp biện chứng của C.Mác là một biểu hiện thống nhất giữa nội dung và phương pháp, là phương pháp nhận thức thông qua sự vận động của nội dung Vì vậy, Lênin đã nhận xét:
“Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ Loại viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”… trong Tư bản, C.Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức… của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất” Nhận xét này chứng tỏ rằng, phương pháp biện chứng của C.Mác là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ nội dung của Tư bản C.Mác đã tự đánh giá:
“Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”.Tác phẩm Tư bản là một cống hiến vĩ đại của C.Mác Bằng phương pháp triết học, phép biện chứng duy vật, C.Mác đã làm rõ quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người thông qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Mặc dù hiện nay, có những quan điểm tiếp cận lịch
sử xã hội khác nhau, nhưng phương pháp tiếp cận từ giác độ hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn là một mẫu mực của việc nhận thức các quy luật xã hội Vì vậy, bộ tác phẩm Tư bản thể hiện rõ vai trò nền tảng về mặt thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác
Với tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), C.Mác phát triển đầy đủ học thuyết duy vật lịch
sử, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản để hướng đến xã hội tương lai Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác trình bày lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, về cách mạng vô sản và nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về hai giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa,… C.Mác viết: “Giữa
xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” Trong giai đoạn đầu của xã hội mới, C.Mác cho rằng “thoát thai từ chính xã hội tư bản chủ nghĩa, và do đó về mọi
Trang 20phương diện, kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra” Đồng thời, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc giữa cống hiến và hưởng thụ là “làm theo năng lực, hưởng theo số lượng và chất lượng lao động’ Trong chủ nghĩa cộng sản, mối quan hệ đó là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”
Chống Đuyrinh (1876 - 1878) là một tác phẩm thể hiện thế giới quan duy vật biện chứng về triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Với phương pháp biện chứng duy vật, dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã tổng kết toàn diện chủ nghĩa Mác, để đấu tranh chống lại các quan điểm đối lập Tác phẩm này đã trở thành vũ khí lý luận sắc bén trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản thế giới Lênin đã đánh giá cao tác phẩm này: “Đó là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” vì đã “phân tích những vấn đề quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội” Nội dung cơ bản của tác phẩm có thể khái quát trong một số chủ đề sau đây:
Về thế giới quan duy vật: Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh, từ đó ông cho rằng, nhận thức của con người về vũ trụ không phải được rút ra từ bộ óc mà từ thế giới hiện thực Vạch ra sai lầm duy tâm của ông Đuyrinh về vấn
đề tồn tại, Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của
nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã… Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của
nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên” Cũng trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen đề cập đến vận động và mối quan hệ giữa vận động và vật chất Vận động của vật chất bao hàm mọi quá trình, mọi thay đổi diễn ra trong vũ trụ, là sự biến đổi nói chung Không có vật chất không vận động, cũng như không có sự vận động nào mà lại không phải là sự vận động của vật chất Ph.Ăngghen cũng khái quát các hình thức vận động trong thế giới: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội Tất cả các hình thức vận động đó không phải tách rời, mà liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau, trong không gian và thời gian Từ
đó, nguyên lý mà chúng ta rút ra biểu hiện thế giới quan duy vật triệt để là: Trong thế giới không có
gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất vận động chỉ vận động trong không gian và thời gian
Về phép biện chứng duy vật: Khi coi “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”, là công cụ để nhận thức thế giới tự nhiên và lịch sử, Ph.Ăngghen khẳng định từ trong giới tự nhiên và lịch sử mà tư duy biện chứng hình thành và phát triển
+ Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duy siêu hình; phép biện chứng trong triết học Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, tức là phép biện chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quan của con người và không có mối liên
hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy:
“Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị
+ Sự phát triển của tư duy phản ánh thế giới khách quan được Ph.Ăngghen trình bày trong hệ thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Ph.Ăngghen đã chứng minh tính khách quan
và tính phổ biến của mâu thuẫn với ý nghĩa là quy luật tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; qua đó, ông nhấn mạnh rằng, với tư duy biện chứng thì việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Thông qua sự phát triển của khoa học và trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen chứng minh đã quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện
Trang 21chứng giữa chất và lượng trong thế giới khách quan Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, đồng thời, chất tác động đến lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng Quá trình liên tục diễn ra, tạo thành cách thức của sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quy luật phổ biến của thế giới khách quan Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ định của phủ định được Ph.Angghen làm sáng tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy con người; quy luật này vạch ra khuynh hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kế thừa và tiến lên, hình thành một quá trình liên tục trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao Phát triển cũng không phải là một quá trình giản đơn, theo đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng không phải trùng khớp mà ở một trình độ mới cao hơn, thể hiện tính xoáy ốc của sự phát triển Với bản chất như vậy, cái mới, theo quy luật, bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ Ph.Ăngghen cũng đòi hỏi cần phải có sự phân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép biện chứng, không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sự phát triển.
Về lý luận nhận thức: Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật biện chứng về bản chất của
tư duy, về khả năng nhận thức chân lý, về tính cụ thể của chân lý, v.v
+ Theo Ph.Angghen, tư duy con người không phải là sự nhận thức chân lý tuyệt đối như quan niệm của Đuyrinh, mà là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan Nó là một quá trình vừa tương đối, vừa tuyệt đối; nó “vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn, vừa là có hạn Tối cao và
vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định”
+ Nhận thức chân lý là một quá trình lịch sử; vì vậy, không thể có chân lý bất biến, tuyệt đích cuối cùng như Đuyrinh quan niệm mà chân lý là một quá trình nhận thức từ thấp đến cao, phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức Tuyệt đối hóa tính tuyệt đối, tính vĩnh cửu của chân lý như Đuyrinh thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và siêu hình về nhận thức Ph.Ăngghen coi tính lịch sử của chân lý cũng giống như tính lịch sử của các quan hệ đạo đức: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” Hơn nữa, “chân lý và sai lầm, cũng giống như tất cả những phạm trù lôgíc học vận động trong những cực đối lập, chỉ có giá trị tuyệt đối trong một phạm vi cực kỳ hạn chế”
Trang 22Về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội
+ Khi bác bỏ quan điểm của Đuyrinh xem bạo lực và chiến tranh (nguồn gốc quân sự) là cơ sở để hình thành các giai cấp trong xã hội, Ph.Ăngghen cho rằng, điều kiện kinh tế xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ sở hữu là cơ sở có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành các giai cấp khác nhau (nguồn gốc kinh tế) “… những cuộc xung đột không chỉ giữa những giai cấp do đại công nghiệp sinh ra, mà còn giữa lực lượng sản xuất và những phương thức trao đổi do nó tạo ra nữa
- và mặt khác, đại công nghiệp ấy, thông qua sự phát triển lớn lao của chính lực lượng sản xuất ấy, cũng cung cấp những phương tiện để giải quyết những sự xung đột đó”
+ Angghen chỉ rõ, y thức xã hội, lịch sử và pháp quyền chỉ có thể có được trên cơ sở tồn tại xã hội; không có chân lý đạo đức và pháp quyền vĩnh cửu vượt qua mọi giai đoạn lịch sử của mỗi dân tộc và thời đại khác nhau, như Đuyrinh quan niệm, mà ngược lại, tư tưởng về đạo đức và pháp quyền chỉ có thể dựa trên những quan hệ về kinh tế, xã hội và giai cấp nhất định trong mỗi giai đoạn lịch
sử Từ đây, Ph.Ăngghen chỉ ra hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Ximông, Phuriê, mặc dù ý tưởng của họ tốt đẹp, nhưng họ đã không dựa trên những tiền đề tất yếu của điều kiện kinh
tế - xã hội Về điều này, Angghen viết: “Tư tưởng với một trạng thái chưa trưởng thành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, với những quan hệ giai cấp chưa trưởng thành là những lý luận chưa trưởng thành”
+ Để hiểu và vận dụng quy luật vào đời sống xã hội, Ph.Ăngghen đã nêu lên quan niệm về tất yếu
và tự do “Tự do không phải là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định… Như vậy, tự do của ý chí không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyết định một cách hiểu biết công việc Do đó, sự phán đoán của một người về một vấn đề nhất định, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán đoán đó sẽ được quyết định với một tính tất yếu càng lớn bấy nhiêu”
+ Ph.Ăngghen coi sự phát triển của triết học trong lịch sử, từ triết học cổ đại tới chủ nghĩa duy vật hiện đại là quá trình biểu hiện sự liên hệ thống nhất giữa triết học và khoa học: “Nói chung, đây không còn là một triết học nữa, mà là một thế giới quan, nó không cần phải được chứng thực và biểu hiện thành một khoa học đặc biệt nào đó của các khoa học, mà được chứng thực và biểu hiện trong các khoa học hiện thực”
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc giải quyết những vấn đề của tự nhiên và lịch sử; ông đã trình bày một cách khoa học về tính biện chứng khách quan của giới tự nhiên, về sự phát triển của khoa học tự nhiên trong mối quan
hệ với triết học, về vật chất vận động, về nguồn gốc loài người và lịch sử xã hội
Về quan niệm vật chất và vận động: Trước hết, Ph.Ăngghen chỉ ra tính đa dạng (khác biệt về chất
và về lượng) của sự thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong sự liên hệ, chuyển hóa, luôn vận động và phát triển theo một quá trình ngày càng đi lên, với sự phong phú và đa dạng trong tính hệ thống, tính chỉnh thể Quan niệm về tính thống nhất vật chất của thế giới là kết quả khái quát quá trình phát triển lâu dài của nhận thức triết học duy vật và dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên Sau đó, Ph.Ăngghen trình bày các quan niệm về sự vận động của vật chất Ông viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” Như vậy, vận động là sự biến đổi nói chung, bao hàm tất cả mọi tính chất, mọi kết cấu, mọi khuynh hướng…, với bản chất là phương thức tồn tại,
là thuộc tính hữu cơ của vật chất
+ Ông cũng chỉ ra các hình thức vận động cơ bản của vật chất như vận động cơ giới các của khối lượng, vận động vật lý của các phân tử, vận động hóa học của các nguyên tử, và tiên đoán về sự vận
Trang 23động của trường điện từ và khẳng định giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau
+ Ph.Ăngghen đã đối lập quan niệm duy vật biện chứng với các quan niệm duy tâm, cơ giới máy móc, siêu hình về vận động, cho dù các quan niệm này cũng đã chứa đựng một số thành tựu của khoa học tự nhiên Ông phê phán thuyết “cái chết nhiệt” của Clauđiuxơ và khẳng định tính bất diệt của vận động, cũng như của sự sống: “Khoa học tự nhiên hiện đại đã phải vay mượn của triết học luận điểm về tính không thể tiêu diệt được của vận động, không có luận điểm này thì khoa học tự nhiên không thể tồn tại được”
+ Như vậy, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen đã nêu lên tính chỉnh thể, tính đa dạng của quá trình vận động, chuyển hóa của thế giới vật chất vô tận và vĩnh viễn
Về phép biện chứng: Bàn về phép biện chứng trong lịch sử, Ph.Ăngghen đề cập đến phép biện chứng của triết học Arixtốt, Đềcáctơ, Cantơ và Hêghen
+ Trên tinh thần phê phán, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen Theo quan niệm của C.Mác: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” Tư tưởng đó đã khẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên đóng vai trò quyết định đối với biện chứng chủ quan trong tư duy con người Những quy luật cơ bản của phép biện chứng như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng
và ngược lại, quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định” là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử “Vậy là từ trong lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”
+ Ph.Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là sự phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia” Bản chất của quá trình biện chứng đó chính là sự bất diệt và vĩnh viễn của vật chất vận động
+ Ph.Ăngghen khẳng định, tư duy biện chứng là chìa khóa, là con đường để dẫn tới sự phát triển của khoa học, để khoa học làm tròn sứ mệnh cao cả của nó “… một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … chỉ có phép biện chứng mới có thể giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận … Trên thực tế, ở đây, ngày nay không còn một lối thoát, không còn một khả năng nào để có thể nhìn thấy ánh sáng nếu không từ bỏ
tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng, bằng cách này hay cách khác” Bởi vậy,
“Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt … sự khinh thường phép biện chứng theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ bị trừng phạt như sau: nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tỉnh táo nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại” + Ph.Ăngghen cho rằng chính phép biện chứng đòi hỏi phải thống nhất giữa triết học và khoa học
tự nhiên Khoa học tự nhiên đặt cơ sở cho những khái quát phổ biến của triết học, còn những khái quát triết học lại trở thành phương pháp luận cho khoa học tự nhiên đi sâu vào nghiên cứu thế giới khách quan Ph.Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng họ thoát khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó Nhưng vì không có tư duy thì họ không thể tiến lên được một bước nào… Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những học thuyết triết học tồi tệ nhất Dù những nhà khoa học
Trang 24tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”.
Về sự sống và nguồn gốc con người: Dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên vĩ đại của thời
kỳ này, Ph.Ăngghen đã chỉ ra quá trình phát triển của thế giới tự nhiên là nguồn gốc của sự sống, nguồn gốc của sự hình thành con người và lịch sử xã hội Ph.Ăngghen cũng chứng minh nguồn gốc của sự sống xuất phát từ những điều kiện tất yếu của các quá trình hóa học, sinh học, phủ định vai trò sáng tạo của Thượng đế hoặc du nhập sự sống từ không gian vũ trụ; từ đó, ông chỉ ra vai trò của lao động và ngôn ngữ trong việc hình thành con người Ông chỉ ra vai trò quyết định của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta
sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ” Từ đó, Ph.Ăngghen kết luận: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”; đồng thời, thông qua quá trình phát triển của lao động và ngôn ngữ mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ra đời và phát triển Bằng lao động, thông qua lao động, con người trở thành chủ thể của tự nhiên - xã hội, con người cải biến thế giới tự nhiên và xã hội phục vụ cho chính mình
Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886 - 1888), Ph.Ăngghen đề cập đến vấn đề cơ bản của triết học, đánh giá về triết học cổ điển Đức, bàn về phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, vạch ra thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác và Ph.Angghen thực hiện
Về vấn đề cơ bản của triết học: Ph.Ăngghen đã xác định “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” và chỉ ra hai mặt của nó: Mặt thứ nhất là: “Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học … xem cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? Vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế giới là do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay?” và “cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhà triết học thành hai phe lớn Những người quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên … thuộc phe chủ nghĩa duy tâm Còn những người cho rằng
tự nhiên là cái có trước thì thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật” Mặt thứ hai là: “Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không?” Ph.Ăngghen cho rằng phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới, còn một số nhà triết học như Hium và Cantơ lại phủ nhận khả năng nhận thức của con người Theo Ph.Ăngghen thì sự phát triển của lịch sử triết học là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xung quanh vấn đề cơ bản của triết học
Về đánh giá triết học Hêghen: Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâu thuẫn của
hệ thống triết học này mà phải vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biện chứng Ông viết:
“Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên Hiện tượng học tinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần…, triết học lịch sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau ấy Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của
sự phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại” Phương pháp biện chứng của triết học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển không ngừng của thế giới, vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của triết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả của tư
Trang 25tưởng và của hành động con người” “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao” Do tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp của triết học Hêghen mà hình thành các trường phái triết học khác nhau: “toàn bộ học thuyết của Hêghen đã để một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau Và trong giới lý luận Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị Người nào chủ yếu coi trọng hệ thống của Hêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai lĩnh vực đó; còn người nào cho phương pháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng như về tôn giáo, có thể thuộc vào phái đối lập cực đoan nhất”.
Về đánh giá triết học Phoiơbắc: Ph.Ăngghen đánh giá cao thế giới quan duy vật của Phoiơbắc là
đã đưa “chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua…”, đồng thời cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế - tính chất máy móc, siêu hình và duy tâm về mặt lịch sử của triết học này… Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai Chỉ
có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo” Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng” Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp Thật là giấc mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”
Về bước ngoặt cách mạng trong triết học: Một là, khi chỉ ra tính không triệt để về thế giới quan và phương pháp biện chứng mà các nhà triết học Đức mắc phải, Ph.Ăngghen cho rằng triết học duy vật biện chứng là kết quả của sự cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc và phép biện chứng duy tâm của Hêghen Hai là, khi bàn về mối quan hệ giữa những thành tựu của khoa học tự nhiên với những kết luận triết học, Ph.Ăngghen khẳng định khoa học tự nhiên (đặc biệt là ba phát minh vĩ đại - thuyết tế bào, định luật chuyển hóa năng lượng và thuyết tiến hóa) đã đóng vai trò là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của phương pháp biện chứng duy vật Ba là, vận dụng triết học duy vật biện chứng vào nhận thức lịch sử là biểu hiện tính duy vật triệt để của triết học Mác (cho
dù có sự khác nhau giữa quy luật tự nhiên và quy luật lịch sử - quy luật tự nhiên tự nó diễn ra, còn quy luật của lịch sử thì phải thông qua hoạt động tự giác, có mục đích của con người); Hơn nữa Ph.Angghen còn chỉ ra một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích của mình, mà trước hết là lợi ích kinh tế đối lập nhau; và suy đến cùng, các quan hệ về chính trị, nhà nước, pháp quyền, tôn giáo đều xuất phát từ nguồn gốc sâu
xa là quan hệ về kinh tế Từ đây, Ph.Angghen kết luận, quy luật của lịch sử chỉ được rút ra từ bản thân lịch sử, chứ không phải từ đầu óc chủ quan của con người: “Bằng chứng phải được rút ra từ bản thân lịch sử… Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tưởng tượng ra những mối liên hệ từ trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những sự thật”
Ph.Ăngghen đánh giá vai trò của C.Mác trong việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và nói chung là toàn bộ chủ nghĩa Mác Ph.Ăngghen viết: “Phần đóng góp của tôi - không kể có thể ngoại trừ một vài lĩnh vực chuyên môn - thì không có tôi, Mác vẫn có thể làm được Nhưng điều mà Mác đã làm thì tôi không thể làm được Mác đứng cao hơn, nhìn xa hơn, rộng
Trang 26hơn và nhanh hơn tất cả chúng tôi Mác là một thiên tài Còn chúng tôi may lắm cũng chỉ là những tài năng thôi Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngày nay Vì vậy, lý luận đó mang tên của Mác là điều chính đáng”.
Tóm lại, từ năm 1848 đến năm 1895, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung và phát triển toàn diện những vấn đề của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Giai đoạn 1893 - 1907: Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền vào nước Nga thông qua nhóm “Giải phóng lao động” do Plêkhanốp đứng đầu Do không đứng trên lập trường của giai cấp vô sản nên Plêkhanốp không thấy được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và liên minh công - nông, vì vậy, ông đã xem giai cấp tư sản tự do chủ nghĩa là giai cấp cách mạng Sai lầm này đã đưa Plêkhanốp xa rời lập trường mácxít và chuyển sang lập trường của nhóm cơ hội mensêvích Trước tình hình đó, Lênin đã viết nhiều tác phẩm quan trọng để đấu tranh chống lại phái dân túy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác
Tác phẩm Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894) là bản cương lĩnh của một chính đảng mới ra đời ở nước Nga Lênin vạch trần cơ sở triết học duy tâm chủ quan và phương pháp luận siêu hình của giai cấp tư sản tự do thể hiện trong cương lĩnh về kinh tế và chính trị của chúng Người chỉ ra những mâu thuẫn trong xã hội Nga và con đường phát triển tất yếu của nước Nga, vai trò giai cấp vô sản trong sự liên minh với giai cấp nông dân nhằm lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập chế độ mới xã hội chủ nghĩa
+ Khẳng định những quy luật khách quan quyết định sự vận động của lịch sử xã hội trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, Lênin viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”
+ Vận dụng phương pháp biện chứng của triết học Mác vào nhận thức quá trình vận động, phát triển của lịch sử để phát hiện ra các quy luật chi phối đời sống xã hội, Lênin đã làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học chân chính Người viết: “Không bao giờ có một người mácxít nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ - xã hội của mình trên một cơ sở nào khác, ngoài cái cơ
sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực và với lịch sử những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định… Vì về mặt lý luận thì sự đòi hỏi đó đã được chính bản thân Mác, người sáng lập ra “chủ nghĩa Mác”, nêu lên một cách hoàn toàn rõ ràng và chính xác, coi đó là cơ sở của toàn bộ học thuyết của mình”
+ Chỉ ra vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội, vai trò quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử… Tất cả những nội dung trên đều nhằm khẳng định một chân lý mà Lênin chỉ rõ:
“Người ta không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác cả, họ càng mau chóng dồn hết tâm sức của mình ra để vận dụng lý luận đó vào nước Nga, cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn, thì thắng lợi của công tác cách mạng sẽ càng chắc chắn và mau chóng” “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nỗi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là
ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng… Một sự kết hợp nội tại và khăng khít”
Với tác phẩm Làm gì? (1902), Lênin đã làm sáng tỏ các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp
vô sản trước khi giành chính quyền: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, trong
đó, đấu tranh chính trị có ý nghĩa quyết định để lật đổ giai cấp thống trị, giành lấy chính quyền cách mạng; chỉ ra vai trò rất quan trọng của hệ tư tưởng lý luận trong cuộc đấu tranh cách mạng Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác không hình thành một cách tự phát trong phong trào công nhân, mà nó được truyền bá, giáo dục một cách tự giác trong phong trào đó; vì vậy, tuyên truyền lý luận cách mạng là một nội dung quan trọng để hướng tới mục tiêu đấu tranh chính trị trong cách mạng vô sản
Trang 27Trong tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ (1905), Lênin nêu lên những nội dung của cách mạng tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chỉ rõ vai trò của quần chúng nhân dân, của nhân tố chủ quan, của các đảng chính trị trong cuộc đấu tranh cách mạng
để giành thắng lợi Lênin đã bác bỏ quan điểm của phái Mensêvích và phái xét lại Tây Âu lúc bấy giờ, đồng thời chỉ rõ tính chất của cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất là cuộc cách mạng tư sản, nhưng do giai cấp vô sản lãnh đạo trong mối quan hệ liên minh với giai cấp nông dân; vì vậy, cách mạng dân chủ tư sản sẽ chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Lênin cũng bác bỏ quan điểm của các lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế II, để khẳng định rằng thắng lợi của cách mạng dân chủ là tiền đề cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Giai đoạn 1907 đến Cách mạng Tháng Mười Nga: Trong giai đoạn này, chính phủ Nga hoàng đã thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố rộng rãi làm cho đời sống xã hội trở nên ngột ngạt, vì vậy đã xuất hiện những tư tưởng phản động, sự hình thành chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Makhơ mà thực chất là chủ nghĩa duy tâm phản động đã xuất hiện, và nó cố trở thành triết học khoa học duy nhất Từ tình hình này đặt ra một nhiệm vụ cấp bách là phải tuyên chiến với các tư tưởng đối lập, bảo vệ và phát triển triết học Mác, xác lập thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản phản động
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908 - 1909) thể hiện sự kết hợp sâu sắc giữa tính đảng và tính khoa học trong triết học Mác Qua tác phẩm này, chúng ta nhận thấy Lênin đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử đã đặt ra
+ Về vấn đề cơ bản của triết học: Trong tác phẩm này Lênin đã vạch ra bản chất duy tâm chủ
quan của cái gọi là “phát minh vĩ đại” ra các yếu tố “trung gian” của phái Makhơ, Người viết: “Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác Vật chất là cái có trước; cảm giác, tư tưởng ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt Đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật, nói chung, và của C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng Makhơ và Avênariút đã lén lút du nhập chủ nghĩa duy vật bằng cách dùng chữ “yếu tố”… Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa
ra một từ mới, là có thể tránh được những trào lưu triết học cơ bản… Thưa các ngài, triết học các của ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm đã uổng công che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy ngã của mình bằng một thuật ngữ “khách quan” hơn Hoặc giả “yếu tố” không phải là cảm giác, và như vậy từ
“mới” của các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa nào cả, và các ngài chỉ làm ồn lên vô ích mà thôi” Mặt khác, Người cũng chỉ rõ và phê phán tính đảng trong triết học Makhơ và Avênariút: “Bây giờ hãy đứng trên quan điểm đảng phái trong triết học để xét Makhơ, Avênariút cùng trường phái của họ Chà, các ngài ấy cứ tự hào về tính không đảng phái của mình, và nếu họ có một cực đối lập thì họ chỉ có một và chỉ có độc một… nhà duy vật mà thôi Xuyên suốt tất cả những trước tác của hết thảy mọi người theo phái Makhơ, là cái tham vọng ngu dốt muốn vượt lên trên chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy, nhưng kỳ thật, thì cả đám người đó cứ mỗi lúc một sa vào chủ nghĩa duy tâm và kiên quyết tiến hành đến cùng một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy vật” Vì thế, bản chất của các học giả tư sản đó, theo V.I.Lênin: “Nói chung và về đại thể các giáo sư môn kinh tế đều chỉ là những học giả làm thuê cho giai cấp tư bản, còn các giáo sư triết học đều chỉ là bọn học giả làm thuê cho phái thần học thôi” “Triết học hiện đại cũng có tính đảng như triết học hai nghìn năm về trước Những đảng phái đang đấu tranh với nhau, về thực chất - mặc dù thực chất đó bị che dấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn - là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”
+ Về nhận thức luận: Khi phê phán quan điểm phủ nhận khả năng con người nhận thức thế giới khách quan của phái Makhơ, Lênin nêu lên những nguyên tắc cơ bản của nhận thức duy vật biện chứng: “1) Có những vật tồn tại độc lập đối với ý thức của chúng ta, độc lập đối với cảm giác của chúng ta, ở ngoài chúng ta… 2) Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức… 3) Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa
Trang 28học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào” Theo V.I.Lênin, chân lý là sự phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con người và được kiểm nghiệm qua thực tiễn, là quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ nghiên cứu chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn, trong những hoàn cảnh điều kiện lịch sử nhất định nó biểu hiện trong chân lý tương đối và chân
lý tuyệt đối “Như vậy là theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tùy theo sự tăng tiến của tri thức” “Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì giữa chân
lý tương đối và chân lý tuyệt đối không có ranh giới không thể vượt qua” Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” Song, thực tiễn cần được xem trong mối quan hệ vừa tương đối, vừa tuyệt đối với quá trình nhận thức chân lý: “Dĩ nhiên không nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng
ấy là thế nào chăng nữa Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không cho phép các hiểu biết của con người trở thành một cái tuyệt đối” Như vậy, thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của nhận thức lý luận Lênin viết: “Nếu cái mà thực tiễn của chúng ta xác nhận là chân lý khách quan, duy nhất, cuối cùng, thì như thế tức là con đường duy nhất dẫn đến chân lý đó là con đường của khoa học xây dựng trên quan điểm duy vật… Đi theo con đường mà lý luận của Mác vạch ra thì chúng ta ngày càng đi đến gần chân lý khách quan (tuy không bao giờ có thể nắm hết được); nếu đi theo bất cứ con đường nào khác, chúng ta chỉ có thể đi đến sự lẫn lộn và dối trá”
+ Về bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật trước những xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm đối với các thành tựu mới của vật lý học và nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng trong vật lý học: Lênin đã định nghĩa phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn
đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn
đó, thì không nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối” Phạm trù vật chất thể hiện lập trường triết học duy vật biện chứng triệt để là cơ sở để phân biệt với các trường phái triết học đối lập khác, khắc phục sự khủng hoảng của các nhà vật lý học trong quá trình nhận thức thế giới vật chất Quan niệm của Lênin càng chứng minh mối liên hệ thống nhất giữa triết học duy vật biện chứng với khoa học tự nhiên: “Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng… Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trương, thuyết kinh nghiệm nhất nguyên v.v… đều thuộc những thứ cặn
bã phải vứt bỏ đi” Lênin đã vạch rõ thực chất của cuộc khủng hoảng trong vật lý học là do các nhà vật không nắm được phép biện chứng, đi chệch hướng sang chủ nghĩa duy tâm: “Thực chất của cuộc khủng hoảng của vật lý học hiện đại là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri” “Nhưng chủ nghĩa duy vật biện chứng kiên trì cho rằng bất kỳ lý luận khoa học nào về cấu trúc và đặc tính của vật chất cũng đều có tính chất gần đúng, tương đối; trong tự nhiên không hề có đường ranh giới nào tuyệt đối; bản chất đang vận động sẽ chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác… Vật lý học mới sở dĩ đi chệch sang phía chủ nghĩa duy tâm, chủ yếu là vì các nhà vật lý học không hiểu được phép biện chứng… Trong khi phủ nhận tính bất biến của những nguyên tố và cả những đặc tính của vật chất đã được biết cho đến nay, họ đã rơi vào chỗ phủ nhận vật chất, nghĩa là phủ nhận tính thực tại khách quan của thế giới vật lý” Những kết luận của Lênin có ý nghĩa định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên không ngừng đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất trên nền tảng thế giới quan duy vật và phép biện chứng mácxít Thế
Trang 29giới vật chất là vô cùng vô tận, tồn tại độc lập với ý thức con người, ý thức con người phản ánh thế giới vật chất khách quan, vì vậy nó phải luôn luôn phát triển Cũng vô cùng tận như thế giới vật chất, tri thức không bao giờ có giới hạn cuối cùng.
Tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (1913) đã chỉ ra nguyên nhân, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác Trên cơ sở kế thừa biện chứng tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đặc biệt là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội Pháp, vận dụng vào điều kiện lịch sử mới, bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo nên học thuyết khoa học có ý nghĩa vạch thời đại, trở thành lý luận khoa học cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới
Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin nhận xét, đánh giá các nhà triết học trong lịch sử để từ đó phát triển những nội dung của triết học duy vật biện chứng, đặc biệt là làm sáng rõ phép biện chứng duy vật và lý luận nhận thức duy vật
+ Về sự phát triển: Lênin so sánh hai quan niệm đối lập nhau: “Hai quan niệm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hóa); sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động”, của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của “sự tiêu diệt cái cũ
và sự nảy sinh cái mới” Lênin cho rằng phép biện chứng là lý luận duy nhất đúng về sự phát triển;
nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu sự vận động của các quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy “Phép biện chứng với tính cách là nhận thức sinh động, nhiều mặt (số các mặt không ngừng tăng lên mãi mãi) bao hàm vô số khía cạnh trong cách tiếp cận, đi gần tới hiện thực (với một hệ thống triết học đi từ mỗi khía cạnh mà phát triển thành một toàn thể) - đó là nội dung phong phú không lường được so với chủ nghĩa duy vật, siêu hình”
+ Về các quy luật của phép biện chứng: Khi bàn về quy luật phủ định của phủ định, Lênin viết:
“không phải là sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của
sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định, tức là không có một sự do dự nào, không có một sự chiết trung nào” Lênin luôn khẳng định bản chất, nguồn gốc, động lực của sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa hai mặt đối lập, và coi quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó…
đó là thực chất… của phép biện chứng” “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, - trong những điều kiện nào chúng
là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau, - tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóa lẫn nhau” “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”
+ Về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học: “Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ L viết hoa, nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”, và cần phải tận dụng đầy đủ nhất lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu Trong “Tư bản”, Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất” Trong ba yếu tố trên, lý luận nhận
Trang 30thức là khoa học về sự phản ánh của tư duy con người đối với khách thể, phép biện chứng là khoa học về sự phát triển, lôgíc học là khoa học về những hình thức và quy luật của tư duy Vì vậy, lý luận nhận thức bao hàm phép biện chứng và lôgíc học Phép biện chứng là hạt nhân của lý luận nhận thức và lôgíc học Cả ba yếu tố trên, theo Lênin, là sự đồng nhất trong tính khác biệt.
+ Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, “vì nó
có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp” “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của
sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” Như vậy, thực tiễn là một vòng khâu trong quá trình nhận thức thế giới khách quan Thông qua thực tiễn mà con người mới chứng minh được tính chân lý của nhận thức Xuất phát từ thực tiễn, theo V.I.Lênin, quá trình nhận thức biểu hiện sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc của tư duy: “Lôgíc không phải là học thuyết về những quy luật phát triển của “tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh thần”, tức là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới”
+ Về tính đảng trong triết học: Dựa trên lập trường duy vật triệt để, Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại các trường phái đối lập, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên tinh thần khoa học và cách mạng Phê phán Cantơ và Hêghen, Lênin cho rằng: “Cantơ hạ thấp tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin; Hêghen đề cao tri thức, quả quyết rằng tri thức tức là tri thức về Thượng đế Người duy vật đề cao tri thức về vật chất, giới tự nhiên, tống Thượng đế và những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thượng đế vào hố rác” Lênin đánh giá chủ nghĩa duy tâm trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Theo quan điểm của một chủ nghĩa duy vật thô lỗ, đơn giản, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu xuẩn Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá… của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa Chủ nghĩa duy tâm, đó là chủ nghĩa thầy tu Đúng như vậy Nhưng chủ nghĩa duy tâm triết học là… con đường dẫn đến chủ nghĩa thầy tu, qua một trong những sắc thái của nhận thức (biện chứng) vô cùng phức tạp của con người” Lênin chỉ ra sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy tâm xung quanh con đường nhận thức: “Nhận thức của con người không phải là… một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng đối lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của các giai cấp thống trị củng cố lại) Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết cứng và cứng nhắc, chủ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm Và chủ nghĩa thầy tu (bằng chủ nghĩa duy tâm triết học) đương nhiên có những nguồn gốc về nhận thức luận, nó không phải là không có cơ sở; không còn nghi ngờ
gì nữa, đó là một đóa hoa không kết quả mọc trên cái cây sống của nhận thức sinh động, phong phú, chân thực, khỏe mạnh, toàn năng, khách quan, tuyệt đối của con người”
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng (1917 - 1918), Lênin đã kế thừa tư tưởng về nhà nước của C.Mác và Ph.Ăngghen, tiến hành đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, tiếp tục phát triển quan điểm cơ bản về nhà nước chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng, về vai trò của Đảng Cộng sản và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện tại và chủ nghĩa cộng sản tương lai Vì vậy, tác phẩm này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp bách về lý luận và thực tiễn lúc bấy giờ của phong trào cách mạng ở nước Nga và trên thế giới
+ Về nguồn gốc, bản chất của nhà nước, và con đường xác lập nhà nước chuyên chính vô sản: Người viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp
Trang 31không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được” Nhà nước là công cụ thống trị của một giai cấp để áp đặt sự thống trị của mình lên các giai cấp khác và toàn xã hội “… Nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác” “Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó” Nhà nước chuyên chính vô sản không được xác lập bằng điều hòa quan hệ giai cấp mà bằng bạo lực cách mạng; thông qua bạo lực cách mạng của quần chúng nhất định để xóa bỏ nhà nước tư sản, xác lập nhà nước của giai cấp vô sản: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vô sản (chuyên chính
vô sản) không thể bằng con đường “tiêu vong” được, mà chỉ có thể, theo quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi” “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được” Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, một điều kiện tất yếu, theo V.I.Lênin, là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản: “Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của
họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”
+ Về hai giai đoạn phát triển của xã hội tương lai (giai đoạn thấp - xã hội chủ nghĩa, và giai đoạn cao - cộng sản chủ nghĩa): “Trong giai đoạn đầu, trong nấc thang thứ nhất, chủ nghĩa cộng sản chưa thể hoàn toàn trưởng thành về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toàn thoát khỏi những tập tục hay những tàn tích của chủ nghĩa tư bản” Trong giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản, “toàn thể xã hội sẽ chỉ còn là một phòng làm việc, một xưởng máy, với chế độ lao động ngang nhau và lĩnh lương ngang nhau… Lúc bấy giờ, cửa sẽ mở thật rộng để cho ai cũng có thể bước vào được, từ giai đoạn đầu lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, và do đó nhà nước sẽ tiêu vong hẳn”
Giai đoạn sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Trong giai đoạn này, Lênin tiếp tục phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại (1919), Lênin phân tích sâu rộng ý nghĩa của những ngày thứ bảy cộng sản, tổng kết kinh nghiệm của quần chúng lao động trong thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Lênin chỉ ra năng suất lao động xã hội là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của xã hội mới:
“Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô Chủ nghĩa
tư bản có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều” Để xây dựng xã hội mới, theo V.I.Lênin, giai cấp vô sản phải thực hiện hai nhiệm vụ: một là, đánh đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền cách mạng, tức chuyên chính vô sản, và hai là, xây dựng xã hội mới “Nhiệm vụ thứ hai này khó hơn nhiệm vụ thứ nhất, vì tuyệt nhiên không thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng một hành động anh hùng nhất thời, nhiệm vụ đó đòi hỏi phải có tinh thần dũng cảm lâu dài nhất, bền bỉ nhất, khó khăn nhất của công tác quần chúng hàng ngày”
+ Lênin đã nêu ra một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn
to lớn gồm đã người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định
và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
Trang 32Nội dung của tác phẩm Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920) hướng đến mục đích tuyên truyền kinh nghiệm cho các đảng cộng sản mới ra đời trong phong trào cộng sản quốc tế, vạch ra chiến lược và sách lược của các đảng cộng sản trong điều kiện lịch sử mới, nhằm tránh những sai lầm có tính chất bè phái, giáo điều trong cuộc đấu tranh cách mạng
+ Về bản chất và tác hại của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”: Đó là chủ nghĩa chủ quan trong đánh giá sự kiện, bỏ qua những giai đoạn của phong trào cách mạng, hành động phiêu lưu, vô chính phủ
“Cái đầu óc gần giống như chủ nghĩa vô chính phủ hay đã có một số nét nào đó mượn của chủ nghĩa
vô chính phủ và trong tất cả những vấn đề cơ bản, đều xa rời những điều kiện và những yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp triệt để của giai cấp vô sản”
+ Về tính phức tạp trong thời kỳ xây dựng xã hội mới: “Chuyên chính vô sản là một cuộc đấu tranh kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, bằng quân sự và bằng kinh tế, bằng giáo dục và bằng hành chính, chống những thế lực và những tập tục của xã hội cũ Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất” Trong cuộc đấu tranh thời kỳ chuyên chính vô sản, vai trò của Đảng Cộng sản có ý nghĩa quyết định: “Không có một đảng sắt thép được tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần
tử trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng quần chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”
Bài báo nổi tiếng Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922) được coi là di chúc triết học của V.I.Lênin; nó vạch ra vai trò của công tác tuyên truyền triết học vô thần, coi đó cũng là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh gian khổ, khó khăn để xây dựng xã hội mới
+ Trong tác phẩm này, ông đặt ra nhiệm vụ phát triển triết học duy vật biện chứng trên cơ sở tổng kết lịch sử hiện đại, củng cố liên minh thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo trên tinh thần khoa học “… Chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay chủ nghĩa duy vật nào có thể tiến hành đấu tranh chống được sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới quan tư sản Muốn tiến hành được cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công hoàn toàn, nhà khoa học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà Mác là người đại diện Nghĩa là nhà khoa học tự nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng” “Không đặt
ra và không thực hiện nhiệm vụ ấy một cách có hệ thống, thì chủ nghĩa duy vật không thể là một chủ nghĩa duy vật chiến đấu được… Nếu không làm thế, các nhà khoa học tự nhiên lớn cũng lại vẫn sẽ luôn luôn bất lực trong những kết luận và khái quát triết học của họ trước kia Vì khoa học tự nhiên đang tiến bộ nhanh, đang trải qua một thời kỳ đảo lộn cách mạng sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực, đến nỗi nó tuyệt đối không thể không cần đến những kết luận triết học”
+ Lênin nói: “Ăngghen nhắc nhở những người lãnh đạo của giai cấp vô sản đương thời là phải dịch các trước tác chiến đấu vô thần chủ nghĩa cuối thế kỷ XVIII, để truyền bá ra thật nhiều trong nhân dân Đáng xấu hổ cho chúng ta là mãi đến nay chúng ta vẫn không làm được việc đó (đây là một trong nhiều bằng chứng nói lên rằng: cướp lấy chính quyền trong một thời kỳ cách mạng thì dễ hơn rất nhiều so với việc biết sử dụng đúng đắn chính quyền ấy)” “Sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất
mà một người mácxít có thể mắc phải, là tưởng rằng quần chúng nhân dân đông hàng bao nhiêu triệu con người (và nhất là quần chúng nông dân và thợ thủ công), bị cái xã hội hiện đại đẩy vào vòng tối tăm, dốt nát và thiên kiến chỉ có thể thoát ra khỏi vòng tối tăm ấy bằng con đường trực tiếp của một nền giáo dục thuần túy mácxít” Rõ ràng, những luận điểm triết học trên của Lênin có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, nó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại chúng ta
Ngoài ra, Lênin còn viết nhiều tác phẩm bàn về chính sách kinh tế mới bàn về đường lối kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với các hình thức và bước đi thích hợp, nhằm bảo đảm cho
sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội “Công tác kinh tế phải là sự nghiệp chung của tất cả mọi người…
Trang 33là hoạt động chính trị có ý nghĩa nhất” “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp”
4 Tri t h c Mác - Lênin trong th i đ i ngày nayế ọ ờ ạ
Những biến đổi của thời đại
Thời đại ngày nay được xác định từ Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 Trong giai đoạn lịch sử này, trên thế giới đã và đang diễn ra những thay đổi lớn lao trên tất cả mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội…
Sự xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra một quá trình phát triển của hai hệ thống đối lập cơ bản trong lịch sử xã hội loài người: hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa Trong một thời gian lịch sử khá dài, chủ nghĩa xã hội hiện thực
đã trở thành mục tiêu lý tưởng tốt đẹp nhất của nhân loại tiến bộ Sự lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân trên toàn thế giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà từ những năm 90 thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng và sụp đổ Hệ thống các nước chủ nghĩa xã hội đã tan vỡ Dù công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới đã
bị thất bại; song, mục tiêu, lý tưởng và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội vẫn vẫn còn; chúng tiếp tục là phương hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người hôm nay và mai sau Các quốc gia xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, … vẫn kiên định mục tiêu, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, cải cách/mở cửa, tiếp tục giương cao ngọn cờ tiến lên chủ nghĩa xã hội Điều này đã
và đang là niềm cổ vũ tinh thần cho một số nước Nam Mỹ Vênêduyêla, Nicaragua, … phấn đấu theo con đường xã hội chủ nghĩa Đó là một tất yếu lịch sử
Bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột, thống trị, nhưng với sự điều chỉnh về kinh tế, về chính sách xã hội, về lợi ích… mà các nước tư bản đã giữ được sự ổn định và phát triển, nhất là phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ Điều đó đã tạo ra một sự ngộ nhận và dao động khi cho rằng chủ nghĩa tư bản là tương lai của loài người Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản càng gay go, phức tạp
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trên thế giới nổi lên các vấn đề mang tính toàn cầu như xung đột dân tộc, tôn giáo; khủng hoảng môi trường sinh thái; dịch bệnh liên quan đến sức khỏe con người; khủng bố thế giới… Đặc biệt là các cuộc chiến tranh cục bộ giữa các nước, biểu hiện cho tham vọng
bá chủ toàn cầu của Mỹ, đã tạo nên tính không ổn định của môi trường chính trị trong từng khu vực cũng như trên toàn thế giới Những vấn đề này suy đến cùng cũng chỉ là những biểu hiện tất yếu của những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa
Thời đại ngày nay cũng được đánh dấu bằng sự phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trước đây, và các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay trên toàn thế giới Chúng đã tạo nên sự phát triển thần kỳ về mọi mặt trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia, dẫn đến xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế tri thức mang tính toàn cầu Xu hướng phát triển
đó, một mặt, làm cho mối liên hệ giữa các quốc gia, dân tộc khác nhau về địa lý và bản sắc, ngày càng gắn chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau; nhưng mặt khác, chúng cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước giàu, phát triển và các nước nghèo, chậm phát triển ngày càng gay gắt, không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn trên các mặt như chính trị, văn hóa và xã hội
Như vậy, thời đại ngày nay đang chứng kiến những sự đổi thay vô cùng to lớn trên nền tảng của
sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội ngày càng cao Sự tác động của hai quá trình cách mạng
về xã hội và về khoa học - công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên mọi mặt của đời sống xã hội Đó cũng là một thách thức đặt ra đối với sự phát triển của chủ nghĩa Mác -
Trang 34Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng, nhằm chứng minh vai trò của lý luận khoa học và cách mạng trong điều kiện lịch sử - xã hội mới.
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay
Từ khi ra đời đến nay, triết học Mác - Lênin luôn phát triển trong cuộc đấu tranh với các trường phái triết học đối lập Các học giả tư sản luôn tìm cách phủ nhận những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các trường phái triết học phi mácxít hiện đại ở phương Tây đã thổi phồng vai trò của nền văn minh công nghiệp, phủ nhận cách mạng xã hội, xóa nhòa ranh giới giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; đặc biệt họ cho rằng triết học Mác đã lỗi thời, dẫn đến sự thất bại của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng, vai trò triết học Mác - Lênin đang tăng lên cùng với sự phát triển của lịch sử - xã hội loài người trong các nước xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển triết học Mác - Lênin là một yêu cầu cấp thiết Thực tế đã chứng minh rằng, các đảng cộng sản trong các nước xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển và vận dụng lý luận triết học Mác - Lênin, để triết học Mác - Lênin đóng vai trò là thế giới quan khoa học
và phương pháp luận cách mạng trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó cũng là biểu hiện của
ý nghĩa khoa học và cách mạng, biểu hiện của các giá trị văn hóa và nhân văn, cũng như vai trò ngày càng tăng về nội dung lý luận cũng như phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong đời sống
xã hội hiện đại Tất nhiên, trong điều kiện lịch sử mới, cần phải bổ sung và phát triển triết học Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý, quy luật phổ biến đó một cách phù hợp với thời đại ngày nay Điều đó đòi hỏi phải nắm vững cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, không rơi vào tả khuynh hoặc hữu khuynh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa xét lại, nhằm vận dụng sáng tạo lý luận triết học Mác - Lênin vào thực tiễn Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong thời đại ngày nay, đòi hỏi các đảng cộng sản phải nắm vững phép biện chứng duy vật, biết tổng kết và khái quát những bài học kinh nghiệm xương máu của lịch sử, những thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ để bổ sung và phát triển lý luận Đó là yêu cầu cấp thiết của sự phát triển lý luận triết học triết học Mác - Lênin hiện nay
Vai trò triết học Mác - Lênin thể hiện trong định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu lịch sử của nhân loại Dù chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển, nhưng những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản vẫn không thể nào giải quyết được Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là lý tưởng thật sự của đông đảo nhân loại hôm nay Vận dụng sáng tạo nội dung thế giới quan và phương pháp luận triết học mácxít là cơ sở để giải quyết đúng những vấn đề
do thời đại hiện nay đặt ra như: quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, những nội dung có tính toàn cầu
về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công nghệ, những vấn đề về con người Chỉ có thể dựa trên những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin, mới giải quyết đúng những vấn đề căn bản nhất của thời đại ngày nay, thúc đẩy lịch sử xã hội loài người phát triển theo xu thế tiến bộ, hợp quy luật Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang từng bước vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta yêu cầu: “Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”, “làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân” Cơ sở lý luận đó là điều kiện cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định để Đảng và nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới hiện nay là sự chứng minh hùng hồn cho những giá trị, chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho sức sống mãnh liệt của nó
Còn ở nước ta, từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị thực dân ở Việt Nam đã làm xuất hiện hai nhu cầu lớn của lịch sử: một là, giải thích sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn;
và hai là tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Trang 35Để giải quyết hai nhu cầu đó của lịch sử, các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã trở về với các
hệ tư tưởng đã có trong lịch sử - thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo (Ví
dụ, Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) Tuy nhiên, mọi
cố gắng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đều thất bại Bởi lẽ: Về mặt thực tế, sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn là sự thất bại của một phương thức sản xuất ở trình độ thấp hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở phương Tây, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh sức mạnh của nó bằng việc tiêu diệt không thương tiếc phương thức sản xuất phong kiến và tiếp tục bành trướng sức mạnh của nó trên phạm vi quốc tế Về mặt ý thức, hệ tư tưởng tư sản ở trình độ phát triển cao hơn hệ tư tưởng phong kiến, nó dựa trên một thế giới quan duy vật thời cận đại, gắn liền với những tri thức khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVII - XVIII, trong khi đó, hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam trong lịch sử gần một ngàn năm thời kỳ độc lập tự chủ (từ thế kỷ X) là
hệ tư tưởng được xác lập trên nền tảng duy tâm, gắn với những quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng -
đó là thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo Vì vậy, mọi nỗ lực của các nhà
tư tưởng Việt Nam thời cận đại tìm kiếm lời giải đáp những nguyên nhân thất bại của triều đại Nhà Nguyễn cũng như con đường giải phóng dân tộc đều thất bại
Để tạo ra tầng lớp trí thức phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tiến hành tạo dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo Tây học với nội dung cơ bản là các kiến thức khoa học kỹ thuật Điều này đã tạo cơ hội cho sự du nhập những tư tưởng triết học phương Tây vào Việt Nam; nhưng những tư tưởng triết học phương Tây được du nhập vào Việt Nam qua tầng lớp trí thức Tây học căn bản là những tư tưởng triết học Tây Âu thời cận đại, thể hiện thế giới quan duy vật siêu hình, không triệt để (duy vật trong quan niệm về tự nhiên, còn duy tâm quan niệm về xã hội) Dù một số nhà tư tưởng Tây học có lòng yêu nước nhiệt thành nhưng với thế giới quan duy vật siêu hình, không triệt để họ đã không thể giải đáp được những nhu cầu lớn lao của lịch sử Việt Nam.Trước sự thất bại của tất cả các thế giới quan và phương pháp luận truyền thống Nho học, Phật học cũng như Tây học, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Điểm xuất phát để Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước không phải trực tiếp là nhu cầu đi tìm một thế giới quan và một phương pháp luận triết học mới, không phải là một lý luận triết học trừu tượng, mà là những lý luận, những biện pháp có khả năng thực tế nhất để dẫn dắt, lãnh đạo phong trào yêu nước đi đến thành công trong thực tiễn chính trị là giải phóng dân tộc - cứu dân, cứu nước; là làm sao để dân tộc Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Cũng tức là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân lao động Suốt ba mươi năm tìm đường cứu nước, như một tất yếu lịch sử Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đến với học thuyết thống nhất ba bộ phận lý luận cấu thành là Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học
Triết học Mác - Lênin chính là thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng nhất; là thành quả vĩ đại của lịch sử triết học thế giới Linh hồn của nó, sức sống mãnh liệt nhất của nó là phép biện chứng duy vật ở trình độ lý luận cao nhất, khoa học nhất, vược qua không những phép siêu hình của triết học duy vật cận đại Tây Âu mà còn vượt qua phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức Thế giới quan duy vật của triết học Mác - Lênin đã khắc phục được hạn chế của thế giới quan duy vật cận đại Tây Âu chính ở chỗ nó đã đem lại một quan niệm duy vật và biện chứng về quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử phát triển của nhân loại Trung tâm của những quan điểm duy vật về lịch sử chính là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin mới có khả năng lý giải được một cách đúng đắn khoa học đối với các sự kiện lịch sử, dù là các sự kiện lịch sử ở phương Tây hay phương Đông Á
Hồ Chí Minh đã vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật để lý giải một cách đúng đắn khoa học những câu hỏi đặt ra của lịch sử Việt Nam thời cận đại mà không một
Trang 36nhà tư tưởng tiến bộ nào có thể làm được và đỉnh cao của sự vận dụng đó là tìm ra lý luận và phương pháp giải quyết đúng đắn khoa học con đường giải phóng dân tộc đồng thời xác định hướng phát triển của xã hội Việt Nam lên hình thái kinh tế - xã hội mới sau khi giành được độc lập - đó là con đường định hướng phát triển xã hội - xã hội chủ nghĩa Điều này đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một
hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…” Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của những tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về văn hóa, về đạo đức, nhân văn… Thế giới quan và phương pháp luận Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất của những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Hạt nhân của thế giới quan đó là triết học Mác - Lênin; sự phong phú của thế giới quan đó là những tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; vẻ đẹp của thế giới quan đó được tạo ra bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học của thế giới quan Mác - Lênin với các giá trị triết học truyền thống Việt Nam, cũng như các giá trị của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây
Chúng ta có thể tìm thấy trong mỗi lời nói, việc làm, bài viết của Hồ Chí Minh sự vững chắc của các nguyên lý triết học Mác - Lênin, sự tinh tế của các triết lý trong nền triết học phương Đông, phương Tây và một chiều sâu thẳm của các giá trị tư tưởng triết học Việt Nam về độc lập dân tộc, về nhân văn, về đạo sống, đạo làm người của dân tộc Việt Nam Với Hồ Chí Minh, lịch sử triết học Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, hiện đại Thời kỳ hiện đại của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là thời kỳ phát triển tư tưởng triết học với nội dung cơ bản của nó là nguyên cứu, vận dụng và phát triển các nguyên lý của triết học Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó cũng là quá trình vượt qua những hạn chế và kế thừa có chọn lọc các giá trị trong lịch sử triết học Việt Nam cũng như lịch sử triết học phương Đông và phương Tây theo mục tiêu giải quyết các nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
3 Anh chi hãy trình bày nh ̃ng ch ́c năng c ban cua triết hoc và vai trò cua triết hoc đốị ư ư ơ ̉ ̉ ̣ ̉ ̣
v ́i đ ̀i sống xã hôi.ơ ơ ̣
Khi nói triết học nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể và chỉ ra bản chất quy luật chung nhất của thế giới thì triết học đã thực hiện vai trò dẫn đường cho những tư tưởng nhìn thế giới quan và định hình cho sự phát triển thế giới quan Tuỳ theo các quan điểm triết học đưa ra cách giải quyết vấn đề có khoa học hay không mà triết học phản ánh nó như một thấu kính Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Cơ sở lý luận của các thế giới quan khác nhau như chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm là nền tảng cho các phương pháp luận Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con ng ười về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Với quan niệm đó, triết học cổ đại không
có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà đợc xem là "khoa học của mọi khoa học"
Khi lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và trên cơ sở đó triết học đã ra đời Đó là khi chế độ Công xã nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ - chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi mới ra đời, triết học tự nó đã mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hội nhất định
Trang 37Khi con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra đợc cái chung từ vô số các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, xây dựng nên các học thuyết, lý luận.Như vậy, triết học đã ra đời từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định.
Chức năng cơ bản của triết học:
+ Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm
của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó.Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà con người đạt đợc luôn luôn là có hạn Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người
Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới
+ Là nền tảng để giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại: bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác của
triết học Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trường thế giới quan của các triết gia và các học thuyết của họ Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
- Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc, cái nào có sau, cái nào quyết định cái
nào?
- Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay không? Nghĩa
là con người có khả năng nhận thức hay không?
Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trường phái và các học thuyết triết học khác nhau
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân chia các học thuyết triết học thành hai trường phái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
a Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một
cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất
b Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên Giới tự
nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức
Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của nhận thức Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ nữa là: các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào?
Trang 38Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình
Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc, ”chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ
thấy cây mà không thấy rừng” Còn phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong
mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây
mà còn thấy cả rừng".
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội:
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng của triết học như chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận
Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học:
Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình Từ đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đem
lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học Sự phát triển của thực tiễn và khoa học đã dẫn đến
sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoa học lý thuyết và triết học - Đó là phương pháp luận Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất Mỗi quan điểm lý luận của triết
học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào? Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp
Vai trò của triết học Mác - Lênin
Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người
Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự
Trang 39nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý luận về thế giới quan Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp luận.
Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học
Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bó giữa triết học Mác - Lênin
và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng Lý luận triết học sẽ khô cứng và lạc hậu nếu tách rời các tri thức khoa học chuyên ngành Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì trước những phát hiện mới, người ta dễ mất phương hướng và đi đến những kết luận sai lầm về mặt triết học
Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc; việc nắm vững triết học Mác - Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần và năng lực tư duy sáng tạo của mình, tránh những sai lầm do chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình gây ra.Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần tránh cả hai khuynh hướng sai lầm: hoặc xem thường triết học hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của triết học Nếu xem thường triết học
sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động và sáng tạo Còn nếu tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ xa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể trong những trường hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại
4 Anh chi hãy trình bày nh ̃ng đăc tr ng c ban cua triết hoc Pḥ ư ̣ ư ơ ̉ ̉ ̣ ương Đông cô - trung ̉
đai và nêu lên môt số anh ḥ ̣ ̉ ương cua nó đối v ́i xã hôi Viêt Nam giai đoan hiên naỷ ơ ̣ ̣ ̣ ̣Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ Những tộc người cổ đại phương Đông như Đravia ở ấn độ và Trung á; Hạ Vũ, ấn Thương, Chu Hán
ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam, sớm định cư canh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ trụ dường như không có gì tách biệt Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tư tưởng thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ mà thôi
Ở Trung quốc, "thiên nhân hợp nhất" là tư tưởng hợp nhất nhiều trường phái, học thuyết khác nhau Trang Chu viết: "thiên địa ngã tinh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất" nghĩa là trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một Vì vậy người phương Đông cho rằng con người chứa đựng tất cả những tính chất, những huyền bí của vũ trụ
Một trong những cái nôi của triết học phương Đông là Trung quốc và ấn độ với sự ảnh hưởng của triết học phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo, Phật giáo Việt nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai trường phái triết học này
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Ấn độ cổ, trung đại
Về điều kiện tự nhiên, Ấn Độ cổ đại là lục địa lớn ở phía nam châu Á có địa hình rất trái ngược nhau Văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn:
Thời kỳ văn minh sông Ấn với đặc trưng cơ bản là văn minh Harappa - văn minh thành thị (khoảng 2500 Tr.CN)
Trang 40Thời kỳ Vêđa Đây là thời kỳ các bộ lạc Arya từ trung Á xâm nhập vào Ấn Độ, đã hình thành nên các tác phẩm văn học có tên là Vêđa (khoảng 1500Tr.CN).
Thời kỳ 1000 năm Tr.CN Đây là thời kỳ sôi động của Ấn Độ, có hệ thống số đếm, số thập phân,
có lịch khá chính xác và những bộ sử thi nổi tiếng Mahabharata và Ramayana
Nhìn chung, công xã nông thôn tồn tại dai dẳng; ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước; sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt
Đặc điểm triết học ấn Độ cổ - trung đại
Thứ nhất, nhìn chung các trường phái triết học Ấn Độ cổ - trung đại thường có sự chuyển từ thế giới quan duy vật sang thế giới quan duy tâm, còn chịu ảnh hưởng nhiều của tôn giáo
Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ - trung đại phát triển từ từ chậm chạp ít có bước đột biến, nhảy vọt;
đề cập nhiều tới vấn đề tâm linh, giải thoát
Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ - trung đại thể hiện tư duy lôgic chặt chẽ, có hệ thống cao, kế tục các trường phái trước mà không gạt bỏ
Thứ tư, triết học Ấn Độ cổ - trung đại có tư tưởng biện chứng chất phác và thể hiện tinh thần nhân bản cao
2 Tư tưởng triết học Phật giáo
Triết học Ấn Độ đa dạng, phức tạp, chúng ta tập trung vào các hệ thống triết học Ấn Độ thời kỳ Bà-la-môn giáo và Phật giáo là chủ yếu Thời kỳ này, thông thường chia triết học Ấn Độ thành 9 trường phái, trong đó 6 phái chính thống (thừa nhận tính đúng đắn của Veda hay của Upanisad) gồm: Mimamsa; Vedanta; Samkhya; Yoga; Nyaya; Vaisesika và 3 phái không chính thống (không thừa nhận Upanisad) gồm: Lokayata; Phật giáo và Jaina giáo
Trong 9 trường phái này thì Phật giáo ảnh hưởng nhiều nhất đến Việt Nam Phật là âm Hán Việt của từ Buddha (nghĩa đen là giác ngộ) Phật giáo do Sakyamuni (Thích - ca - mau - ni) sáng lập.Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua 4 điểm:
+ Vô tạo giả - nghĩa là không có kẻ sáng tạo đầu tiên ra vũ trụ;
+ Vô ngã - tức là không có cái tôi vĩnh hằng;
+ Vô thường - tức là luôn luôn biến đổi và
+ Nhân quả tương lục - nhân và quả liên tục không gián đoạn và không tạp loạn
Có thể nói, về thế giới quan Phật giáo có tư tưởng duy tâm chủ quan, mặc dù là vô thần
Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện ở tứ thánh đế (bốn chân lý diệu kỳ)
+ Một là khổ đế - học thuyết về nổi khổ, cho rằng đời người là bể khổ, ít nhất có 8 nổi khổ: sinh,
lão, bệnh, tử, thương yêu nhau mà phải xa nhau, ghét nhau mà phải sống chung với nhau, mong mà không được và ngũ thụ uẩn khổ (nghĩa là do có 5 yếu tố mà cấu tạo nên con người, có con người vậy
là khổ)
+ Hai là tập đế hay nhân đế - chỉ ra nguyên nhân của nổi khổ Theo Phật giáo có 12 nguyên nhân
làm cho con người khổ: vô minh - tức ngu muội; hành - tác động để nghiệp hoạt động; thức - sự ý thức; danh (ý thức); sắc (vật chất) - là 2 thứ thống nhất tạo nên con người; lục nhập - tức là sự tác động vào các cơ quan cảm giác; xúc - sự tiếp xúc giữa sự vật với cơ quan cảm giác; thụ - có cảm giác; ái - ham muốn; thủ - chiếm lấy; hữu - là tồn tại; sinh - là sinh ra; lão, tử - là già và chết
+ Ba là diệt đế - tiêu diệt nguyên nhân nỗi khổ làm cho con người bừng sáng
+ Bốn là đạo đế - con đường diệt khổ Muốn diệt khổ phải thực hiện Bát chính đạo - là tám con
đường chân chính: chính kiến - hiểu biết đúng đắn về tứ đế; chính tư duy - suy nghĩ đúng đắn; chính