1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

14 hỏi và trả lời ôn thi triết học đại học thủy lợi

39 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 450 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa về vận động: Theo quan điểm của CNDVBC, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian (hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi sự biến đổi. Ph.Ăngghen viết “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.

Trang 1

Câu 1: Theo V.I Lênin: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian” Bằng sự hiểu

biết quan điểm về vận động vật chất của CNDVBC và xu thế hội nhập toàn cầu, chứng minh rằng việc Đảng Cộng Sản Việt Nam lựa chọn con đường phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế năm 2000-2010 là hoàn toàn phù hợp với quy luật tất yếu của cuộc sống Trả lời:

Định nghĩa về vận động:

Theo quan điểm của CNDVBC, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian(hình thức vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi sựbiến đổi Ph.Ăngghen viết “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sựthay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

Đặc điểm vận động:

Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung thì vận động “là thuộc tính cố hữu củavật chất”, “là phương thức tồn tại của vật chất” Điều này có nghĩa là vật chất tồn tại bằng cácvận động Trong vận động và thông qua vận động mà các dạng vật chất biểu hiện sự tồn tại củamình

Với tính cách “là thuộc tính cố hữu của vật chất”, theo quan điểm của triết học Lênin, vận động là sự tự thân vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau củachính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất

Mác-Vật chất là vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi và vận động là một thuộc tínhkhông thể tách rờivật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc sáng tạo ra.Kết luận này của triết học Mác-Lênin đã được khẳng định bởi định luật bảo toàn chuyển hóanăng lượng trong vật lý Theo định luật này, vận động của vật chất được bảo toàn cả về mặtlượng và chất Nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất yếu nảy sinh mộthình thức vận động khác thay thế nó Các hình thức vận động chuyển hóa lẫn nhau, còn vậnđộng của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất

Các hình thức vận động:

Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân chia vậnđộng thành 5 hình thức cơ bản, đó là

- Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)

- Vận động vật lý (vận động của các phần tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quátrình nhiệt điện…)

- Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp và phân giải vàphân giải các chất)

- Vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường

- Vận động xã hội (sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh

Quan hệ giữa vận động và đứng im

Khi triết học Mac-Lênin khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vận động vĩnh cữucủa nó, thì điều đó không có nghĩa là phủ nhận hiện tượng đứng im của thế giới vật chất màngược lại còn thừa nhận rằng, quá trình vận động không ngừng chẳng những không loại trừ màcòn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im Đứng im, là một trạng thái đặc biệt của vận động-vận động trong cân bằng

Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm thời

Đứng im là tương đối vì trước hết hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một mối quan hệnhất định chứ không phải trong mọi quan hệ cùng một lúc Thứ hai, đứng im chỉ xảy ra với mộthình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng

Trang 2

một lúc Thứ ba, đứng im chỉ biệu hiện một trạng thái vận động, đó là vận động trong thăngbằng, trong sự ổn định tương đối, biểu hiện thành một sự vật nhất định Không có đứng imtương đối thì không có sự vật nàocả Do đó, đứng im còn biểu hiện được biểu hiện như một quátrình vận động trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi.

Đứng im là tạm thời vì vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật, hiện tượng, ổnđịnh nào đó, còn vận động nói chung, tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa sự vật, hiện tượnglàm cho tất cả không ngừng biến đổi

Phần vận dụng:

Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế, đỏi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta phải phát huy cao

độ tinh thần cách mạng tiến công, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy sức mạnhtổng hợp của toàn dân tộc, đưa đất nước tiến nhanh và vững chắc theo định hướng XHCN

Quan điểm phát triển:

Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo và bảo vệ môi trường.

Phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh và có hiệu quả những sản phẩm, ngành, lĩnhvực mà nước ta có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, không ngừngnâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước Tăng nhanh năng suất laođộng xã hội và nâng cao chất tăng trưởng Triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng tích lũy chođầu tư phát triền

Các vùng kinh tế trọng điểm có nhịp độ tăng trưởng tăng theo mức bình quân chung,đóng góp lớn vào tăng trưởng của cả nước và lôi kéo, hổ trợ các vùng khác, nhất là các vùng cónhiều khó khăn, cùng phát triển

Tăng nhanh năng lực nội sinh về khoa học và khoa học và công nghệ, nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục và đạo tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đẩymạnh việc ứng dụng các công nghệ nhập khẩu Đi nhanh vào công nghệ hiện đại và ở nhữngngành và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế tạo tốc độ tăngtrưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóangay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển nân cao hàm lượng tri thức trong các nhân tốphát triển kinh tế-xã hội, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta

Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng, thamgia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển, đồng thời năng cao trách nhiệmcủa mỗi người góp sức thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,giữ gìn và phàt triển nền văn hóa dân tộc, đẩy lùi các tệ nạn xã hội Nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh, học tập, làm việc, tiếp nhận thôngtin, sinh hoạt văn hóa Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói giảm nghèo,tạo điều kiện về hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng có thể tự phát triển,tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Thiết thực chăm lo

sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ; đặc biệt chăm lo sự tiến bộ và phát triển của trẻem

Phát triển KT-XH gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữamôi trường nhân tạo và môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học Chủ động phòng tránh

và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động bất lợi của chiến tranh và tiếp tục giảiquyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường Bảo vệ và cải tạo môi trường là tráchnhiệm của toàn XH, tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức và trách nhiệm củamọi người dân Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch,chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quantrọng đánh giá các giải pháp phát triển

Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết.

Bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước,tập trung sức phát triển kinh tế để xây dựng đồng bộ nền tản cho một nước công nghiệp theohướng hiện đại với những nội dung chủ yếu sau:

- Xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất-kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa bao gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; nền công nghiệp, trong đó công nghiệpsản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp, công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng; nền

Trang 3

nông nghiệp hàng hóa lớn; các dịch vụ cơ bản; tiềm lực khoa học và công nghệ Trên cơ sở tổnghợp hiệu quả về kinh tế-xã hội, trước mắt va lâu dài, triển khai xây dừng các công trình kết cấu

hạ tầng thiết yếu và xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp năng quan trọng, cấp thiết,

có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy nhanh tác dụng, đáp ứng yêu cầu phát triểncủa các ngành kinh tế và quốc phòng, an ninh

- Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao

- Hình thành về cơ bản và vận hành thông suốt, có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường,định hướng XHCN với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực.

Tiếp tục đổi mới sâu rộng, đồng bộ về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước hướng vàohình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm giải phóng và pháttriển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dântộc, tạo động lực và nguồn lực phát triển nhanh, bền vững

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp tòan dân, của mọi thành phần kinh tế, trong

đó kinh tế nhà nước là chủ đạo Tập trung tháo gỡ mọi vướng mắc, xóa bỏ mọi trở lực để khơidậy nguồn lực to lớn trong dân, cồ vũ các nhà kinh doanh và mọi người dân ra sức làm giàu chomình và đất nước Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng các nguồnlực có hiệu quả bên ngoài Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau tạothành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước

Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hội nhậpkinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ

Xây dựng kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối phát triển theođịnh hướng XHCN; đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sởvật chất-kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh; có thể chếkinh tế thị trường định hướng XHCN; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; đảm bảo nền kinh tế đủsức đứng vững và ứng phó được với các tình huống phức tạp, tạo điều kiện thực hiện có hiệuquả các cam kết hội nhập quốc tế

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển trên nguyên tắcgiữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc;bình đẳng cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh

tế đối ngoại; đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch

Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng caochất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dần hàng rào bảo hộ Nângcao hiệu quả hợp tác với bên ngoài; tăng cường vai trò ảnh hưởng của nước ta đối với kinh tếkhu vực và thế giới

Kết hợp chặc chẽ phát triển kinh tế-xã hội với quốc phong-an ninh.

Kết hợp chặc chẽ phát triển KT-XH với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàndân, thế trận an ninh nhân dân, được thể hiện trong chiến lược, quy họach, kế hoạch phát triểnKT-XH của cả nước, của các ngành, các địa phương và trong các dự án đầu tư lớn Phân bố hợp

lý việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật trên các vùng của đất nước, vừa phát huy hiệu quả kinhtế-xã hội, vừa sử dụng được cho quốc phòng, an ninh khi cần thiết Đầu tư phát triển KT-XH,

ổn định dân cư các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiến lượcquốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia Hoàn chỉnh chiến lược quốc phòng và chiến lược anninh quốc gia phù hợp với tình hình mới, phục vụ phát triển KT-XH, mở rộng kinh tế đối ngoại.Phát triển công nghiệp quốc phòng và kết hợp sử dụng năng lực đó để tham gia phát triển KT-

XH Coi trọng sản xuất một số mặt hàng vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ quốc phòng, an nin

Tác giả Câu 2 : Bằng sự hiểu biết quan điểm quyết định luận duy vật trong quan hệ vật chất với ý thức của

CNDVBC, chứng minh rằng việc Đảng Cộng Sản Việt Nam trong đại hội lần thứ VII đã rút ra bài học :”Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” có ý nghĩaquan trọng nhât trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay

Bài làm

Trang 4

Vật chất theo quan điểm triết học Mác Lênin “là một phạm trù triết học đúng để chỉ thực

tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chéplại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng

thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óccủa con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của conngười trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ Ýthức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng , thể hiện qua vai trò quyết định của

vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất

Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, vật chất là cơ sở, cội nguồn sản sinh ra

ý thức Vật chất là cái có trước, nó sinh ra ý thức, quyết định nội dung và xu hướng phát triểncủa ý thức Không có vật chất thì không thể có ý thức bởi vì nguồn gốc của ý thức chính là vậtchất trong đó bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh,

sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức.Lao động trong hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất của cải vật chất và ngôn ngữ (tiếng nói,chữ viết), cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành tồn tại và phát triển của ý thức.Ngoài ra, ý thức chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất, sức mạnh cải tạo hiện thực thông quahoạt động thực tiễn, bằng việc khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện phương tiện vật chất cầnthiết cho hành động

Ý thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng nó lại có tính độc lập tương, sự phản ánhcủa ý thức đối với vật chất là sự phản ánh sáng tạo chủ động, là quá trình con người khôngngừng tìm kiếm tích lũy những hiểu biết mới ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về mặt bảnchất, quy luật vận động và phát triển sự vật Vì vậy, sau khi đã hình thành, ý thức có vai tròđịnh hướng cho con người trong việc xác định mục tiêu, phương hướng tìm ra biện pháp lựachọn các phương án, hành động tối ưu nhất và sử dụng các điều kiện vật chất cần thiết để làmbiến đổi chúng đạt đến mục tiêu đã đặt ra Mặt khác sự tác động của ý thức đến vật chất có thểtheo hai khuynh hướng : Một là ý thức sẽ thúc đẩy cùng chiều đối với sự phát triển của sự vậtnếu ý thức phản ánh đúng hiện thực, khách quan nếu con người nhận thức đúng quy luật kháchquan, có ý chí động cơ hành động đúng và thông qua cơ chế tổ chức hoạt động phù hợp trongthực tiễn Hai là ý thức kìm hảm, cản trở, thậm chí phá hoại sự phát triển bình thường của sựvật nếu ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, ý thức lạc hậu, phản khoa học, phảnđộng, nếu con người không có ý chí, không nhiệt tình, động cơ sai …Tuy vậy, sự tác động của ýthức đối với vật chất cũng chỉ với mức độ nhất định, nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quyluật vận động của vật chất

Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức một nguyên tắc

được rút ra, đó là nguyên tắc, khách quan Nguyên tắc khách quan trước nhất thừa nhận vai trò

quyết định của vật chất đối với ý thức, nó đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan,

“phải lấy thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình” Như vậy, vật chất và ýthức có mối quan hệ biện chứng với nhau và mối liên hệ đó tuân theo các quy luật khách quanvốn có của nó

Phần vận dụng

Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, nước ta bước đầu vào xâydựng chủ nghĩa xã hội từ xuất phát điểm rất thấp, nền kinh tế ở tình trạng nông nghiệp lạc hậu,còn nặng tính chất tự cấp, tự túc Trang bị kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội thấp kém

Cơ cấu kinh tế mất cân đối nặng Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp để lại nhiều hậuquả nặng nề Nền kinh tế rất kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, tích luỹ trong nước chưađáng kể, còn lệ thuộc nhiều vào bên ngoài

Khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm nay: lạm phát nghiêm trọng; sản xuất bấpbênh; thất nghiệp tăng; tiền lương không đủ sống; trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm;

Trang 5

tham nhũng và nhiều tệ nạn xã hội khác lan rộng, công bằng xã hội bị vi phạm; nếp sống vănhoá, tinh thần và đạo đức bị xói mòn; lòng tin vào Đảng và Nhà nước giảm sút

Thực trạng nêu trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sử để lại và hậu quả nhiều năm chiến tranh,song chủ yếu là do chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quantrong cải tạo xã hội chủ nghĩa, trong tiến trình công nghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh

tế Những sai lầm đó cùng với sự trì trệ trong công tác tổ chức, cán bộ đã kìm hãm lực lượngsản xuất và triệt tiêu nhiều động lực phát triển

Không phát huy được mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người

Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào Người Việt Nam đang có những hạn chế về thể lực, kiếnthức, tay nghề, còn mang thói quen sản xuất lạc hậu và dấu ấn của cơ chế cũ Khắc phục đượcnhững nhược điểm đó thì nguồn nhân lực và nhân tố con người mới thật sự trở thành thế mạnhcủa đất nước

Về vị trí địa lý: Nước ta nằm ở khu vực đang phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, lại

nằm trên các tuyến giao thông quốc tế quan trọng

Tài nguyên thiên nhiên nước ta tương đối phong phú, đa dạng Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu,

tài nguyên sinh vật cho phép phát triển nông- lâm- ngư nghiệp nuôi được số dân đông và cónhiều loại sản phẩm xuất khẩu Song thiên tai thường xảy ra cũng gây nhiều thiệt hại

Vùng biển và thềm lục địa rộng lớn có nhiều tiềm năng về thuỷ sản, dầu khí và sa khoáng, dịch

vụ hàng hải và du lịch

Tài nguyên nước đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống Nguồn thuỷ năng có

thể khai thác trên nhiều vùng, cung cấp một phần năng lượng đáng kể

Cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có tuy thiếu đồng bộ và phần lớn lạc hậu về công nghệ, song là

vốn ban đầu để đi lên, trong đó có một số cơ sở quan trọng

Các nguồn lực ngoài nước

Trong thập kỷ 90, tình hình thế giới còn diễn biến phức tạp, đặt nước ta trước nhiều khó khăngay gắt, đặc biệt là trong những năm đầu Mặt khác, quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới,quan hệ giao lưu kinh tế và khoa học, kỹ thuật, xu thế hoà bình và hợp tác ở khu vực và trênthế giới ngày càng phát triển Với đường lối đổi mới và cởi mở, nước ta có thể tận dụng đượcnhững khả năng to lớn về vốn, thị trường, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của bên ngoài để

bổ sung và phát huy sức mạnh trong nước

Các nguồn lực và lợi thế nêu trên phần lớn còn ở dạng tiềm năng mà việc khai thác phải vượtqua nhiều trở ngại Xác định đúng các quan điểm, mục tiêu và giải pháp chiến lược là điều

kiện tiên quyết để biến tiềm năng thành hiện thực Đổi mới là dựa trên những quan điểm nói trên.

Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh tế

- xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năngcủa mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện

cho mọi người Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Lợi ích của mỗi người, của từng tập thể và

của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp

Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế

hoạch, chính sách và các công cụ khác Khuyến khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiếtlập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế

Mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty và tư nhân nước

ngoài trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi

Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển Các đơn vị kinh tế

kinh doanh có hiệu quả, có lãi và thực hiện các trách nhiệm xã hội theo luật pháp Nhà nước cóchính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các đơn vị kinh tế bị thua thiệt khi phục vụ lợi íchchung

Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, không ngừng nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kết hợp nhiều trình độ công nghệ khác nhau, tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, tận dụng lợi thế của nước đi sau Khai thác các yếu tố phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu Tận dụng lợi thế của loại hình xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ

Trang 6

Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường

Dân chủ hoá đời sống xã hội; quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân được bảo

đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi phápluật

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với ổn định và đổi mới về chính trị, tăng cườngcủng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội

CÂU 3: Theo V.I Lênin, để có tri thức đúng về sự vật, “bản thân sự vật phải được xem

xét trong những quan hệ của nó và trong sự phát triển của nó” (V.I Lênin toàn tập t.42, tr.238).Bằng sự hiểu biết về nguyên lý phát triển của phép biện chứng duy vật, chứng minh rằng việcĐảng cộng sản Việt Nam thừa nhận phải tồn tại nhiều thành phần kinh tế là sự lựa chọn hoàntoàn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử thế giới và những mục tiêu mà xã hội đặt ratrong giai đoạn hiện nay của nước ta

Trả lời:

1 Phần nội dung cơ bản (3 điểm)

a Các quan điểm về phát triển:

Xem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, đối lập với nhau: quanđiểm siêu hình và quan điểm biện chứng:

Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần vềmặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định vềchất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành racái mới với những chất mới Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như làmột quá trình tiến lên liên tục, không có những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp

Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quátrình tiến lên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đờicủa cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn

ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể cónhững bước lùi tạm thời

b Quan điểm của CNDVBC (định nghĩa, nguồn gốc, tính chất)

Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốccủa sự phát triển Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằmtrong bản thân sự vật Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Quá trình giải quyết liêntục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó, cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật

Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực,quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quátrình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn của sự vật

Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉkhái quát xu hướng chung của sự vận động – xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới rađời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trongquá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn vềchất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn cótheo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn

Tính chất của sự phát triển: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng phát triểncũng có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

- Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, như trên đã phân tích theoquan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân

sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuần nảy sinh trong sự tồn tại

và vận động của sự vật Nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển Vì thế sự phát triển là tiếntrình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người

Trang 7

- Sự phát triển mang tính phổ biến: tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn

ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thếgiới khách quan Ngay các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằmtrong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thứccủa tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiệnthực luôn vận động và phát triển

- Sự phát triển còn mang tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chungcủa mọi sự vật hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triểnkhông giống nhau Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật pháttriển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sựtác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện Sự tác động

đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổichiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi

Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật; hiện tượng có thể có những giai đoạnvận động đi lên như thế này hoặc như thế khác, nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫntuân theo khuynh hướng chung

2 Phần vận dụng (2 điểm) – Văn kiện đại hội X, tr.83

a Nêu tên các hình thức sở hữu (3) và thành phần kinh tế (5)

Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh:

Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sởhữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểuthủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng củanền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triểnlâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vậtchất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiệnthúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngàycàng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quantrọng, là một trong những động lực của nền kinh tế

Doanh nghiệp cổ phần ngày càng càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổbiến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu Xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theohình thức sở hữu; nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành,lĩnh vực, sản phẩm; một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, khắcphục rủi ro; một số địa bàn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp Xây dựng một hệ thống doanhnghiệp Việt Nam nhiều về số lượng, có sức cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, trong đó chủlực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên hình thức cổ phần Nhà nước định hướng tạo môitrường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường; bồi dưỡng, đào tạo vàtôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt

b Mục đích

Giải phóng mọi nguồn lực

Tăng trưởng kinh tế cơ bản

Tạo động lực cạnh tranh, cơ chế thị trường

Mở được nhiều ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho xã hội

Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước: hoàn thiện cơ

chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh,công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả Xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có quyền tài sản, thực sự tự chủ, tư chịutrách nhiệm trên thị trường và trước pháp luật Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của ngườiquản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp Chăm lo đào tạo đội ngũ quản trịgiỏi đáp ứng tốt yêu cầu quản lý công ty theo chế độ hiện đại Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới

và nâng cao hiệu quản doanh nghiệp nhà nước trọng tâm là cổ phần hoá Cơ cấu lại doanhnghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản

Trang 8

xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích Đẩy mạnh và mởirộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kể cả các công ty nhà nước Việc xác định giá trịdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thịtrường Đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong quá trình cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước.

Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia

cổ phần của nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầutư…, trong đó nhà nước giữ cổ phần chi phối

Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể : tổng kết thực tiễn, sớm có

chính sách, cơ chế cụ thể Khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đadạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xãkiểu mới Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, lien hiệp hợptác xã cổ phần

Khuyến khích việc tăng vốn góp vào các nguồn vốn huy động từ thành viên để tăngnguồn vốn hoạt động của hợp tác xã, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chiatrong hợp tác xã Hợp tác xã và các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động theo nguyên tắc: hợp tác

tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác

và phát triển cộng đồng

Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân :

mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản vàquyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh,tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thong tin và nhận thông tin Xoá bỏ mọi rào cản, tạotâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhânphát triển không hạn chế quy mô trong ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinhdoanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm

Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài: cải thiện môi trường pháp lý và

kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tưnước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng

Câu 5 : Theo V.I Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và

cơ bản của lý luận về nhận thức” (V.I Lênin, Tòan tập, t.18, tr 167) Bằng sự hiểu biết về vaitrò của các hình thức họat động thực tiễn để khẳng định rằng, Đảng Cộng Sản Việt Nam lựachọn đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế là hòan tòan đúng quy luật của sự phát triểnđất nước ta

Trả lời :

- Các quan điểm về thực tiễn:

Các nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề thực tiễn với các quan niệm khácnhau:

Theo nhà triết học Becơn: Nhận thức phải xuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm đểtìm ra mối quan hệ nhân quả, phát hiện và kiểm tra chân lý Becơn là nhà triết học đầu tiênthấy được vai trò của thực tiễn, của thực nghiệm khoa học trong quá trình nhận thức, trongquá trình hình thành tri thức

Theo nhà triết học Phoiơbắc: Ông đã đề cập đến thực tiễn, nhưng đối với ông, chỉ có lýluận mới thực sự là họat động chân chính của con người, còn thực tiễn mang tính chất conbuôn bẩn thỉu (duy vật mà không biện chứng)

Theo nhà triết học Hêghen: Bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóabản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngòai, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ýniệm, ở họat động tư tưởng Đối với ông, thực tiễn là một “suy lý lôgíc” (biện chứng màkhông duy vật)

Theo triết học Mác - Lênin, thực tiễn là tòan bộ họat động vật chất có mục đích mangtính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người

- Tính chất của thực tiễn:

Trang 9

Kết quả của quá trình họat động thực tiễn là những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vật chất

và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng

Mỗi một họat động của con người đều mang tính lịch sử, cụ thể

- Các hình thức thực tiễn:

Họat động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia ra ba hình thức cơ bản:Họat động sản xuất vật chất là họat động trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo racủa cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

Họat động chính trị - xã hội là họat động của con người trực tiếp tác động vào xã hội,cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ Họat động chính trị - xã hội đấu tranh giai cấpdân tộc, điều này thúc đẩy phát triển văn minh của nhân lọai

Họat động thực nghiệm khoa học là họat động của các nhà khoa học tác động làm cảibiến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định theo một mục đích nghiên cứunhất định Họat động thực nghiệm khoa học góp phần thúc đẩy nhận thức của con người qua

sự vật hiện tượng nâng cao đời sống của con người

- Phạm trù lý luận:

(theo hướng dẫn trả lời của Thầy thì chỉ nêu các quan điểm về thực tiễn thôi, tôi bổ sung thêm phạm trù lý luận và những nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tùy các bạn chọn lựa nhé)

Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là tòan bộ trithức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng táihiện trong lôgíc của các khái niệm cái lôgíc khách quan của các sự vật Bởi vậy, lý luận là hệthống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, nhữngquy luật của các sự vật, hiện tượng

Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm Kếtquả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thứckinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học

Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò phương pháp luậncủa nó Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học

- Ta có những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:+ Thực tiễn là cơ sở của lý luận: Thế giới quan là đối tượng của nhan thuc nhưng nókhông tự bộc lộ các thuộc tính, mà nó chỉ bộc lộ khi con người tác động vào nó Cho nên thựctiễn là cơ sở cần thiết nhất hình thành nên lý luận

+ Thực tiễn là động lực của lý luận: Hiện thực khách quan luôn luôn vận động biến đổi.Bởi vậy, để bổ sung tri thức mới không còn cách nào khác là phải thông qua thực tiễn Chonên nhận thức hoặc lý luận đòi hỏi thực tiễn như là một nhu cầu trong động lực

+ Thực tiễn là mục đích của lý luận: Nhận thức đầy đủ về sự vật, hiện tượng là để ápdụng vào hiện thực, tức là vật chất hóa những quy luật có tính tất yếu đã nhận thức được vàchính là họat động thực tiễn

+ Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận: Thực tiễn luôn vận động và phát triển,thực tiễn phong phú và đa dạng, ngòai tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩnkhác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn giá trị… Nhưng các tiêu chuẩn đó phải trên nền tảng củathực tiễn Do đó thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận

- Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vàothực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn:

+ Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn, vì lý luận có khả năng định hướng mụctiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báo được khảnăng chỉ đạo họat động của con người

+ Lý luận chỉ ra được giới hạn họat động thực tiễn của con người

+ Lý luận là sự phản ánh lôgíc thực tiễn, cho nên lý luận có thể lạc hậu so với thựctiễn, lý luận cần được bổ sung thông qua thực tiễn cụ thể

- Nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

Thứ nhất, đó là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật đã được giải thích một cách biệnchứng Theo các nguyên lý đó, "trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động,

và vật chất đang vận động không thể vận động cách nào khác ngoài vận động trong không gian

và thời gian" (Lênin) Còn ý thức là sản phẩm của vật chất có tổ chức cao (bộ óc con người)

Trang 10

và là sự phản ánh tự giác, tích cực các sự vật và quá trình của thế giới vật chất, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, khác với chủ nghĩa duy vật cũ, chủ nghĩa duyvật biện chứng không chỉ khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật chất mà còn thừa nhậntác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động của con người

Thứ hai, các nguyên lý của phép biện chứng được giải thích trên lập trường duy vật.Theo các nguyên lý đó ta có:

+ Mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật và hiện tượng,quá trình khác của hiện thực;

+ Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng vào trong đầu óc con người đều ởtrạng thái biến đổi, phát triển không ngừng Nguồn gốc của sự vận động và phát triển là sựđấu tranh giữa các mặt đối lập ở ngay trong lòng sự vật Phương thức của sự phát triển là sựchuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại, theo kiểunhảy vọt Chiều hướng của sự phát triển là sự vận động tiến lên theo đường xoáy trôn ốc Nộidung của hai nguyên lý trên được thể hiện trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng(thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; chuyển hoá những biến đổi về lượng thànhnhững biến đổi về chất và ngược lại; phủ định cái phủ định) và trong hàng loạt cặp phạm trù

có mối quan hệ biện chứng với nhau như cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tấtnhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng,

Thứ ba, phép biện chứng duy vật còn bao gồm lý luận nhận thức Nhận thức là sự phảnánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp, hoàntoàn, mà là quá trình tư duy không ngừng tiến gần đến khách thể Cơ sở, động lực và mục đíchcủa toàn bộ quá trình này là thực tiễn Thực tiễn cũng chính là tiêu chuẩn của chân lý chủnghĩa duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận đúng đắn chỉ đạo mọi hoạt động nhậnthức và cải tạo thực tiễn Tuy vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng vẫn là khoa học đang pháttriển Cùng với mỗi phát minh lớn của khoa học tự nhiên, với sự biến đổi của xã hội, cácnguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng được cụ thể hoá, được phát triển, trên cơ sở tiếpthu những tri thức mới của khoa học và kinh nghiệm lịch sử của loài người

Câu 6: Theo V.I Lênin “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không

những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp” (V.I Lênin toàn tập, t.29,

tr.230) Bằng sự hiểu biết về vai trò của hoạt động thự tiễn đối với nhận thức để khẳng định

rằng Đảng cộng sản Việt Nam lựa chọn giáo dục, đào tạo và phát triển khoa học công nghệ

là một trong những động lực phát triển của thế giới trước đây và của nước ta hiện nay

Hướng dẫn trả lời:

Phần nội dung cơ bản (3 điểm)

- Quan điểm của CNDVBC về thực tiễn: (Định nghĩa, các hình thức, tính chất, vai trò của thực tiễn đối với nhận thức)

Phần vận dụng (2 điểm); (Văn kiện Đại hội IX, tr.108)

- Muốn công nghiệp hoá phải có tri thức khoa học

- Giáo dục phải có khuynh hướng xã hội hoá

- Công nghiệp hoá khôngchỉ là động lực trong kinh tế, mà còn cả với nhiều mặt trong xã hội (mở rộng ngành nghề, đối tượng khai thác, dịch vụ…)

2) Mỗi hoạt động thực tiễn đều mang tính lịch sử, cụ thể Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạnnhất định nào đó Nó có quả trình hình thành, phát triển và kết thúc hoặc chuyển háo sang

Trang 11

giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác hoạt độngthực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện cũng nhưmục đích hoạt động.

3) Hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên và hoàn thiện con người: Hoạt động của con ngườibao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Thực tiễn là hoạt động vật chất (nhữnghoạt động mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhấtđịnh nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng các phương tiện

để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đíchcủa con người Kết quả của hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vậtchất, nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng)

Các hình thức:

Hoạt động thực tiễn được chia làm ba hình thức cơ bản:

1) Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động trực tiếp tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiênnhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

2) Hoạt động chính trị - xã hội: Là hoạt động của con người trực tiếp tác động vào xã hội, cảibiến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ

3) Hoạt dộng thực nghiệm khoa học: Là hoạt động của các nhà khoa học tác động làm cảibiến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định, theo một mục đích nghiêncứu nhất định

Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng chúng thống nhất,

có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích; chúng hỗ trợ, ảnh hưởng lẫn nhau Do đó sự phânbiệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn chỉ mang tính tương đối Hoạt động sản xuất vật chấtkhông thể không hoạt động trong cộng đồng xã hội, không thể không có vai trò của thực nghiệmkhoa học Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những vấn đề của đời sốngchính trị - tinh thần, nhưng kết quả hoạt động của lĩnh vực này lại tác động tích cực đến phát triểnsản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thựcnghiệm khoa học đang quan tâm Cũng như vậy hoạt động thực nghiệm khoa học không thể lấymục đích phục vụ kinh tế - xã hội

Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất.Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học vẫn diễn ra thường xuyên,quan trọng như hoạt động sản xuất vật chất tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác,

nó là hoạt động trung tâm, chủ yếu của con người

Trên cơ sở của những hình thức thực tiễn cơ bản trên, một số lĩnh vực của thực tiễn nhưhoạt động giáo dục, hoạt động nghệ thuật,… cũng được hình thành Nó cũng tác động vào quátrình tồn tại và phát triển của xã hội Đó là những hình thức thực tiễn phát sinh, hình thức đặc thùcủa thực tiễn

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức thể hiện: “Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, làđộng lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý”

Bởi vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức Nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ,cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính con người có nhu cầu tấtyếu khách quan là giải thích và cải tạo thế giới mà buộc con người phải trực tiếp tác động vào sựvật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượngbộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tàiliệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và pháttriển của thế giới Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý thuyết khoa học Có thể nói, suy chocùng không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vàoviệc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn Do đó nếu thoát ly thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhậnthức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, chủthể nhận thức không thể có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức Vì nhờ có hoạt động thực tiễn màcác giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư duy lôgíc không ngừng đượccủng cố và phát triển, các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại có tác dụng nối dài các giácquan của con người trong việc nhận thức thế giới

Sở dĩ nói thực tiễn còn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Điều này có nghĩa là

Trang 12

thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời thực tiễnkhông ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức Các Mác đã viết:

“Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.

Như vậy thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai tròquyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luônluôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình Nhấn mạnh vai trò của thực tiễn, V.I

Lênin đã viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quanđiểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sởthực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải liên

hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan,duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu Ngược lại nếu tuyệt đối hoá vai trò của thực tiễn thì sẽrơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa Lý luận hình thành và phát triển phải xuấtphát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

Văn kiện đại hội IX của đảng đã chỉ rõ:

Muốn công nghiệp hoá phải có tri thức khoa học: Trước hết muốn có tri thức khoa học cầnphải chú trọng công tác đào tạo, giáo dục vì vậy việc phát triển giáo dục và đào tạo là một trongnhững động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá và là điều kiện đểphát huy nguồn lực con người - đây là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh mạnh và bền vững Do vậy Đảng ta đã chỉ rõ phải tiếp tục phải nâng cao chất lượng giáodục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản

lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ

và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề,đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và khôngchính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người và cả nước trở thành nột xã hội học tập Thực hiệnphương châm học đi đôi với hành, gíao dục kết hợp với lao động sản xuất và nhà trường gắn với

xã hội Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanhniên, thiếu niên hướng nghiệp đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấukinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phươngthức kết hợp học tập trung, học từ xa và học qua máy vi tính Chăm lo phát triển giáo dục mầmnon, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nôngtôn và những vùng có khó khăn

Củng cố thành tựu, xoá mù chữ và phổ cấp giáo dục tiểu học và phấn đấu ngày càng cónhiều trường tiểu học đủ điều kiện học 2 buổi mỗi ngày tại trường, được học ngoại ngữ và tinhọc Đẩy nhanh tiến độ phổ cấp gíao dục trung học cơ sở, tạo điều kiện cho những địa phương cókhả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục bậc trung học thông qua việc mở rộng quy môđào tạo và phát triển đa dạng các loại hình trường phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp

và dạy nghề

Tăng ngân sách

Câu 7: Bằng tri thức hiểu biết về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để khảng định rằng: việc Đảng Cộng Sản Việt Nam lựa chọn con đường tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta như một quá trình lịch sử tự nhiên.

Trả lời I.NỘI DUNG CƠ BẢN:

a Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất: là lực lượng tác động vào thế giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất thể hiện năng lực

hoạt động thực tiễn của con người

Xét về mặt cấu trúc của lực lượng sản xuất có thể nói tới các nhân tố cơ bản sau:

Trang 13

+ Tư liệu sản xuất :Trong đó bao gồm các đối tượng của lao động có thể là các đối tượng tự nhiênhay nhân tạo trong quá trình lao động.

Tư liệu sản xuất bao gồm : - Đối tượng lao động

- Tư liệu lao động : + Công cụ lao động

+ Sức lao động: là năng lực trí tuệ của con người thông qua tư liệu sản xuất mà kết tinh vào sản phẩm sảnxuất ra nên nó phụ thuộc vào kinh nghiệm, kỹ năng, kĩ xảo của người lao động, kết hợp với các yếu tố nhưđạo đức, khoa học, tâm lý

b Quan hệ sản xuất:

Quan hệ sản xuất xã hội là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xãhội : sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - xã hội vàquan hệ kinh tế tổ chức Quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống vật chất của xã hội, nó tồn tại kháchquan, độc lập với ý thức của con người Vì vậy có thể hiểu là quan hệ sản xuất chính là tổng thể các mốiquan hệ giữa con người với nhau trong một trình độ sản xuất nhất định

Nội dung.

Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau :

- Quan hệ giữa người với người đối việc sở hữu về tư liệu sản xuất

- Quan hệ giữa người với người đối việc tổ chức quản lý

- Quan hệ giữa người với người đối việc phân phối sản phẩm lao động

- Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ thứ nhất có ý nghĩa quyết địnhđối với tất cả những mối quan hệ khác Bản chất của bất kì quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vàovấn đề những tư liệu sản xuấtchủ yếu trong xã hội được giải quyết như thế nào

Có hai hình thức sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất :

+ Sở hữu tư nhân

+ Sở hữu xã hội

*Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất

a Những tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất.

Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi và phát triển đều do biến đổi của lực lượng sản xuất.Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìmcách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh xảo hơn Cùng với sự biến đổi và phát triển của công

cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kĩ năng sản xuất, kiến thức khoa học của conngười cũng tiến bộ Lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên biến đổi nhất là trong điều kiện tác độngcủa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, cókhuynh hướng lạc hậu hơn là sự phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nội dung củaphương thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung

và hình thức thì hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung quyết định hình thức, nội dung thay đổitrước, sau đó hình thức mới biến đổi theo Tính chất và trình độ phát triển của lưc lượng sản xuất quyếtđịnh đến sự biến đổi và hình thành quan hệ sản xuất, nó quy định mức độ chặt chẽ giữa người lao độngchứ không phải là do sự phong phú của đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp đó là động lực làm cho lực lượng sản xuấtphát triển mạnh mẽ Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất cũ khôngcòn phù hợp với nó nữa nên buộc phải thay thế bằng quan hệ mới, phù hợp với tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

b Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.

Trang 14

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tươngđối và tác độc trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất qui định mục đích của sảnxuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất đến tổ chức phân công lao động xã hội,đến phát triển và ứng dụng khoa học vào sản xuất… và do đó, tác động đến sự phát triển của lượng sảnxuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy sảnxuất phát triển Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệsản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất thì theo qui luật chung, quan hệ sản xuất mớiõ sẽthay thế quan hệ sản xuất cũ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượngsản xuất tiếp tục phát triển Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lựơng sản xuất với quan hệ sảnxuất không phải là đơn giản Nó phải thông qua nhận thức và họat động cải tạo xã hội của con người.Trong xã hội có giai cấp đối kháng khi quan hệ sản xuất cũ kìm hãm lại sự phát triển của nó thì CMXH làbước cuối cùng để thay đổi quan hệ sản xuất cũ sang QHSX mới

II.VẬN DỤNG:

Ở nước ta, sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc 1954, và cả nước thống nhất 1975 chúng ta đã tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN Trong thời gian đầu, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà chủ yếu là do nhận thức không đầy đủ chủ nghĩa Marx-Lenin, sao chép dập khuôn mô hình phát triển kinh tế-xã hội của các nước XHCN khác, không dựa trên trình độ và đặc điểm phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta đã thiết lập một quan hệ sản xuất không phù hợp, tiến hành quốc hữu hóa, tập thể hóa nhanh chóng không theo qui luật, phủ nhận sự tồn tạicủa đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, chú trọng phát triển công nghiệp nặng không dựa vào nhucầu phát triển kinh tế xã hội Hệ quả là chúng ta đã trói buộc và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một thời gian dài Chính vì không coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất như là một động lực, đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế -xã hội ở nước ta trong thời gian này

Từ thực tiễn đó, Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa rađường lối đổi mới đất nước Đảng đã khẳng định giữ vững mục tiêu XHCN, nhưng cần phải nhận thứccho đúng mục tiêu và con đường tiến lên CNXH ở nước ta Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính

sách kinh tế là : “giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN-Văn Kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần VI” Đảng đã xác

định chúng ta tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, không có nghĩa là bỏ qua những bước đi tất yếu hợpquy luật Do đó Đảng đã định ra đường lối chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng XHCN

Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là sự quan tâm đến sự phát triển lực lượngsản xuất, đồng thời phù hợp với đặc điểm đa dạng của lực lượng sản xuất ở nước ta trong điều kiện hiệnnay Tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất ở mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực được phát huy tácdụng Nó cho phép khai thác nhanh, có hiệu quả mọi khả năng hiện có và tiềm tàng của nền kinh tế, thúcđẩy quá trình phân công lao động trong nước, gắn phân công lao động trong nước với quốc tế và khu vực;thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng

Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới đất nước, vai trò của lực lượng sản xuất cũng như quy luật về

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ngày càng được coi trọng trong sự phát triển kinhtế-xã hội Vì thế, hơn 10 năm qua Nước ta đã vượt qua khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn

về mặt kinh tế tiếp tục đường lối, tại Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần VIII, Đảng ta đã nhận

định :”Nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH Nền CNH-HĐH tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp…”.

Đối với nước ta, con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa vẫn là tất yếu và có khả năng thực hiện

Đến Đại hội IX, xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới,

đường lối kinh tế của Đảng ta được xác định là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá , xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao

độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phất triển

Trang 15

nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinhh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường ; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh”

Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủnghĩa,nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa,đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.Xâydựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả cáclĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiềuchặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế , xã hội có tính chất quá độ Trong các lĩnh vực của đờisống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.Nhưng Đảng và nhân dân ta vẫn quyếttâm và đồng lòng đi theo con đường mà mình đã chọn

Câu 8:Bằng tri thức hiểu biết về đặc điểm sự phát triển các hình thái KT-XH, để khẳng định luận điểm “ Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” của ĐCSVN là hoàn toàn phù hợp với qui luật phát triển XH của lịch sử TG.

Sự phát triển của 1 quốc gia nói riêng hay sự phát triển của 1 chế độ XH nào đó nói chung chính là sựphát triển của các hình thái KTXH trong quốc gia, trong chế độ của XH đó Vậy hình thái KTXH là gì?

Nó là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ một XH cụ thể ở trong một giai đoạn pháttriển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất đặc trưng của nó phù hợp với lực lượng sản xuất ởmột trình độ phát triển nhất định và một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sảnxuất đó

Nó có kết cấu phức tạp nhưng gồm các yếu tố cơ bản là : LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng Cácyếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau

Trong các yếu tố trên thì quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt hình thái kinh tế xã hộinày với hình thái kinh tế xã hội khác, quan hệ sản xuất chi phối và quyết định các quan hệ xã hội khác của

xã hội

VD: Yếu tố kinh tế quyết định chi phối việc đi lại học hành nghề nghiệp…

Còn LLSX là nền tảng vật chất – kỹ thuật cuả mỗi hình thái kinh tế xã hội và nó quyết định đến sự pháttriển của các hình thái kinh tế xã hội

Từ tổng thể các quan hệ sản xuất của một xã hội cụ thể sẽ hợp thành cơ sở hạ tầng của XH đó và một kiểukiến trúc thượng tầng tương ứng của XH đó được hình thành

Sự ra đời và phát triển của các hình thái KTXH là một quá trình lịch sử tự nhiên, nó đi từ thấp đếncao, do các qui luật khách quan chi phối, nó vận động và phát triển trong chính bản thân nó bởi mâuthuẫn giữa LLSX và QHSX bởi cơ sở hạ tầng và kiến trúc thựơng tầng, giữa các g/c trong cá XH có g/c.Khác với các quan hệ tự nhiên diễn ra một cách tự phát, các qui luật XH diễn ra thông qua các hoạtđộng có ý thức của con người Trong cùng một giai đoạn lịch sử như nhau nhưng các dân tộc có thểkhông ở cùng một hình thái KTXH, thậm chí trong cùng một hình thái kinh tế xã hội nhưng ở mỗi dântộc, mỗi nước cũng có thể có sự phát triển không như nhau

Vd:Ở Mỹ có hình thái kinh tế –xã hội tư bản chủ nghĩa còn ở Việt nam lại có hình thái kinh tế – xãhội xã hội chủ nghĩa và ở Việt Nam và Trung Quốc tuy có cùng hình thái kinh tế –xã hội, xã hội chủnghĩa nhưng kinh tế lại phát triển khác nhau

Hiểu rõ được bản chất đặc điểm, đặt điểm và quy luật về sự phát triển của các hình thái kinh tế xãhội và chúng ta Sẽ có những cơ sở lý luận và các phương pháp khoa học để nghiên cứu xã hội, giúpchúng ta có cơ sở vững chắc để xây dựng đường lối cách mạng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳqúa độ lên chủ nghĩa xã hội Minh chứng cho vấn đề này là sự đổi mới trong tư duy lý luận của đảng taqua các văn kiện đại hội đảng qua các thời kỳ, qua mỗi kỳ đại hội tư duy đó được sáng lên một tầm caomới và cụ thể là từ đại hội 6 cho đến nay Nếu như trước kia ta không thừa nhận sự tồn của nhiều thànhphần kinh tế, đặc biệt là sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân thì nay chúng ta phải thừa nhận nước tatrong thời kỳ qúa độ và vẫn phải có đầy đủ các đặc điểm của các chế độ xã hội đang tồn tại trên TG.Đảng ta thừa nhận thành phần kinh tế tư bản tư nhân vì nó là vô tội, khách quan, là bản chất của conngười, cái nhu cầu được huởng, được sở hữu cái mình bỏ sức ra là đúng đắn và nó là động lực để người taphấn đấu lao động hết tâm huyết của mình Kinh tế của mỗi người mạnh thì kinh tế của đất nuớc mớimạnh và xã hội không phải lo cho người đó nữa, trước đây ta cào bằng trong quan điểm xã hội tư bản với

Trang 16

chế độ tư bản Nhưng nay ta nhận ra XHTB không có gì xấu chỉ có chế độ tư bản mới là xấu nó lỗi thời

và không tốt bằng chế độ của ta và theo quy luật nó phải tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa Nhận ra đặcđiểm, tính chất này là một tư duy sáng suốt của Đảng ta Vì vậy ngày nay ai cũng có thể làm kinh doanhtheo quy định của pháp luật và nước ta cũng quan hệ rộng rãi hơn với các nước để phát triển kinh tế màkhông phải sợ đi lệch hướng mà nước ta vẫn đảm bảo phát triển kinh tế theo định hướng XHCN và nềntảng là chủ nghĩa mác Lênin, tư tưởng HCM

Ngày nay trên con đường phát triển đất nước, Đảng ta đã có bình minh ở phía trước và con đường đi cũngrộng rãi hơn, chúng ta mạnh dạn bắt tay với các nước trên thế giới, sẵng sàng làm bạn gác lại qúa khứhướng tới tương lai Tuy nhiên Đảng cũng nhận định “không thể bỏ qua những điều kiện hiện tại, nóngvội mà phải tuần tự” Trên con đường giao lưu và học hỏi Đảng ta nhận ra một số nước như Nhật Bản,Thái Lan, Hàn Quốc, cách đây mấy chục năm họ có cùng hòan cảnh như ta, có điểm xuất phát gần như tanhưng tới nay họ gần như đã trở thành những cường quốc và chí ít là họ có nền kinh tế công nghiệp pháttriển Tuy rằng mỗi nước đó có cách làm không giống nhau nhưng có điều chung nhất là họ đều bắt đầuvào hoàn cảnh hiện tại của nước mình và không nóng vội trong chính sách phát triển kinh tế

Nhìn lại hoàn cảnh phát triển của nước ta ngay từ sau khi giành độc lập Ta cứ nghĩ mọi đường lối,

tư duy lý luận của Liên xô là đúng Ta áp dụng một cách máy móc, không phân tích kỹ, hơn nữa đặc điểmđịa lý, kinh tế, văn hóa và con người lại khác ta

Chúng ta nóng vội trong việc phát triển kinh tế bằng công nghiệp nặng Trong khi sau chiến tranhnước ta bị tàn phá nặng nề, cái ăn còn chưa đủ vậy mà ta bắt tay ngay vào phát triển kinh tế bằng côngnghiệp nặng thì thật ra là sai lầm Nhưng sau Đại hội VI Đảng ta đã kịp thời chấn chỉnh, đổi mới trong tưduy lý luận và đã có nhiều biến chuyển từ một nước không đủ ăn, ngày nay nước ta đã có thể xuất khẩugạo ra thế giới Khi đã no, đã có tích lũy thì ta mới có điều kiện đã làm những việc cao hơn, lớn hơn vàphải từng bước, từng bước

Xã hội mới ra đời không phải là bỏ hết xóa bỏ mọi cái cũ mà là kế thừa những cái tích cực của xãhội cũ, việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tư bản tư nhân là hoàn toàn hợp lý vì đó

là thực tiễn khách quan, là những gì đang tồn tại trên thế giới, ta không thể tức thì tách ngay ra được Vìnhư thế là lập dị và chủ quan, là nóng vội sự qúa độ làm chủ nghĩa xã hội không phải ngày một ngày hai

mà là một thời kỳ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất qúa

Thật là vui mừng trước sự đổi thay của đất nước về mọi mặt:kinh tế,chính tri, văn hóa, du lịch ……

và cũng rất tự hào khi bạn bè trên thế giới ngày càng đánh giá cao về môi trường, con người Việt nam vàđất nước ta ngày càng có tầm ảnh hưởng trên thế giới

Câu 9: Bằng những nhận thức về quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để khẳng định rằng:

"Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh" của ĐCSVN là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cả dân tộc ta.

Trả lời

Định nghĩa ý thức xã hội

Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng lýluận cùng những tình cảm, tâm trạng, mong muốn, truyền thống … phản ánh tồn tại xã hội trong nhữnggiai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định

Căn cứ vào trình độ nhận thức, có thể phân ý thức xã hội thành ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận (ý thức lý luận làm gia tăng yếu tố khoa học, trí tuệ của ý thức thông thường) Nói cách khác, ý thức

xã hội biểu hiện qua tâm lý xã hội và hệ tư tưởng

Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Trang 17

 Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

 Nhìn chung tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội ấy

 Khi tồn tại xã hội thay đổi (nhất là phương thức sản xuất) thì những tư tưởng tình cảm tâm trạng ( ýthức xã hội ) sớm muộn cũng thay đổi theo

 Tồn tại xã hội quyết định nội dung tính chất đặc điểm , xu hướng phát triển của các hình thái ý thức

xã hội

 Nếu tồn tại xã hội còn phân chia giai cấp thì ý thức xã hội cũng mang tính giai cấp

Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội

 Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội do nó không phản ánh kịp thời tính chất của tồn tại

xã hội, do sự lạc hậu của một số hình thái, ý thức xã hội như hình thái ý thức tôn giáo, do sức ỳ củatâm lý, của thói quen; do một số lực lượng bảo thủ trong xã hội muốn duy trì những ý thức xã hội lạchậu

 Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội Nếu ý thức xã hội phản ánh đúng quy luật khách quancủa tồn tại xã hội thì nó có thể dự báo được xu thế vận động và phát triển của tồn tại xã hội(khi vượttrước nó vẫn bị qui định bởi tồn tại xã hội)

 Tính kế thừa của ý thức xã hội trong sự phát triển của mình

 Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội (có thể tác động tích cực tiêu cực ) Mức độ

và hiệu quả tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội phụ thuộc vào các yếu tố:

 Tính đứng đắn,khách quan, khoa học mà ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội

 Mức độ thâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng nhân dân

 Mức độ vận dụng đúng đắn sáng tạo ý thức xã hội của chủ thể lãnh đạo quản lý

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mùquáng”, “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông” Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và do tưtưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết trên thực tế, chúng ta đẩymạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lýkinh tế đã lỗi thời” Văn kiện còn nhận định trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là

sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lýcác cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức ” Chínhnhững sai lầm này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng ởnước ta trước thời kỳ đổi mới

“Trong những năm 1976-1980, trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh CNH trong khi chưa có

đủ các tiêu đề cần thiết Mặt khác chậm đổi mới cơ chế kinh tế đã lỗi thời”, trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN, quản lý kinh tế và lĩnh vực phân phối lưu thông đã có những sai lầm “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” - một cơ chế "gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí", “có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ “, ”, “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự

phù hợp giữa quan hệ SX với tính chất và trình độ SX” nên “có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựngcông nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ”, bỏ qua không thừa nhận và vận dụngnhững quy luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa Bên cạnh đó, việcbuông lỏng chuyên chính vô sản trong quản lý KT-XH, trong đấu tranh tư tưởng văn hóa, trong việcchống lại những âm mưu thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù…cũng là nguyên nhân chủ quan dẫn đến

sự khủng hoảng trên

Một trong những sai lầm trong đường lối chính sách của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới cũngxuất phát từ căn bệnh giáo điều Trong thời kỳ này, đã có lúc ta bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ởLiên Xô trong việc thành lập các bộ ngành của bộ máy nhà nước (ở Liên Xô có bao nhiêu Bộ, Ngành tacũng có bấy nhiêu Bộ ngành), hoặc về công nghiệp hóa cũng vậy, ta chỉ chú ý tập trung phát triển côngnghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ Hoặc theo học thuyết của Mác thì phải xóa bỏ tưhữu, do đó khi áp dụng vào nước ta, Đảng đã có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hành cải tạo XHCNnhằm xóa tất cả các thành phần kinh tế mà không thấy được rằng "Nền kinh tế nhiều thành phần là mộtđặc trưng của thời kỳ quá độ", sự có mặt của nhiều thành phần kinh tế với các mối quan hệ tác động qualại của nó sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này Chính những sai lầm này là mộttrong những nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng trong thời kỳ trước đổi mới

Trang 18

Trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, những tàn dư của tư tưởng cũ vẫn còn, mặttích cực và tiêu cực trong tình hình tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân hiện nay vẫn còn đan xennhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản, đã và đang quyết định chiều hướng phát triển của xã hội, là nguyên

tố quan trọng tạo nên thắng lợi của cuộc đổi mới đất nước

Thực tế cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở đảmbảo vững chắc cho độc lập dân tộc Không giành được độc lập dân tộc thì không có điều kiện để xây dựngCNXH Độc lập dân tộc thật sự đòi hỏi xóa bỏ áp bức, nô dịch của dân tộc này với dân tộc khác, gắn liềnđộc lập dân tộc với tự do, bình đẳng, hạnh phúc của nhân dân, do đó chỉ có thể gắn liền với sự phát triển

xã hội XHCN Chính nhờ sự kiên định nội dung tư tưởng đó mà Đảng ta đã lãnh đạo dân tộc đi từ thắnglợi này đến thắng lợi khác, viết nên một lịch sử Việt Nam anh hùng với những mốc son chói lọi: Cáchmạng Tháng 8 năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng miền Nam thống nhất đấtnước và đi lên xây dựng CNXH Tư tưởng đúng đắn, hợp quy luật, hợp lòng dân đó đã được Đảng quántriệt xuyên suốt trong cả tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong quá trình đổi mới.Chính nhờ sự kiên địnhđầy quyết tâm đó cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng mà nhân dân ta đã đứng vững và tiếp tục kiên trìmục tiêu CNXH trong khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã lâm vào thoái trào, tan rã; tạo cơ sởkhẳng định vị thế và sức mạnh của cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế Niềm tin đối với Đảng tronglòng nhân dân ngày càng được củng cố, tăng cường, tạo đà cho sự phát triển mạnh hơn, cao hơn, triệt đểhơn của thời kỳ CNH-HĐH

Mặc dù, sau cơn biến động lớn về chính trị trên thế giới, các Đảng CS cầm quyền ở Trung Quốc,Cuba tiếp tục lãnh đạo cải cách, đổi mới CNXH, song mỗi nước lại có hoàn cảnh rất khác nhau, nhữngbước đi và cách làm khác nhau Việc học tập và vận dụng kinh nghiệm tốt, những mô hình hiệu quả trongcông cuộc xây dựng đất nước của các nước XHCN trên thế giới giúp chúng ta đỡ mò mẫm, đỡ phạmnhững sai lầm của người đi trước Trong giai đoạn hiện nay, trước tình trạng nhiều vấn đề xã hội bức xúc

và gay gắt chưa được giải quyết tốt như nạn thiếu việc làm, sự phát triển của tệ nạn xã hội, sự khó khăn

về đời sống của một bộ phận nhân dân, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo là nguy cơ chệch hướngXHCN, tụt hậu xa hơn về kinh tế, "diễn biến hòa bình" và tệ quan liêu tham nhũng của một bộ phận cán

bộ, đảng viên, công chức vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp thì việc giữ vững định hướng, mục tiêu XHCNcàng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Việc tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến việc gia tăng hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế gắn liền vớihiệu quả xã hội Việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân tự do làm ăntheo pháp luật sẽ là một tiến bộ về mặt xã hội, là thực hiện dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, từ đó giảiquyết tốt hơn việc làm thu nhập và đời sống tạo tiền đề vật chất cho việc xử lý các vấn đề xã hội Tuynhiên tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội trong đó có sự phânhóa giàu nghèo là không tránh khỏi Do đó, trong đường lối phát triển kinh tế xã hội, một mặt Đảng vàNhà nước ta chủ trương bảo vệ và khuyến khích công dân làm giàu hợp pháp, được hưởng thụ văn hóa,giáo dục đào tạo, chăm lo y tế, được hưởng thụ xứng đáng với công sức, tiền của bỏ vào sản xuất, chống

tư tưởng bình quân, ỷ lại, đãi ngộ xứng đáng tài năng; một mặt Đảng và Nhà nước phải chăm lo việc thựchiện phân phối công bằng theo lao động, mở rộng phúc lợi xã hội, đổi mới tốt chính sách bảo hiểm xã hội,bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, bảo đảm nhu cầu thuốc chữa bệnh Thực hiện tốt chínhsách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, tạo phong trào đoàn kết giúp đỡ trong nhân dân theo truyềnthống “lá lành đùm lá rách” tương thân tương ái đùm bọc lẫn nhau Đẩy mạnh hơn nữa chống thamnhũng, bất công xã hội nghiêm trọng hiện nay Cải cách chế độ tiền lương để người lao động hăng háilàm việc đủ sống và nâng cao mức sống, mức đóng góp cho xã hội

Ngược lại chính việc giải quyết tốt những vấn đề xã hội là điều kiện quyết định để thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Chúng ta không thể sớm có ngay một xã hội tốt đẹp trong khi kinh tế nước ta còn kémphát triển, năng suất lao động thấp, kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu nhưng ta phải kết hợp ngay từ đầu tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ xã hội

Tóm lại, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, Đảng ta đã xác địnhđúng đắn đường lối phát triển kinh tế gắn chặt với công bằng xã hội và phát triển mạnh mẽ văn hóa giàubản sắc dân tộc ở nước ta, đó là điều kiện đảm bảo sự thành công và bền vững cho tiến trình đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta

Trang 19

Câu 10 : Bằng tri thức hiểu biết về vai trò quân chúng nhân dân trong lịch sử của CNDVBC maxit, khẳng

định về rút ra bài học” lấy dân làm gốc” của Đảng cộng sản Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử cách mạng, mà còn là bài học quí giá nhất trong cuộc đổi mới của nước ta hiện nay

I NỘI DUNG CƠ BẢN

1 Khái niệm quần chúng nhân dân

2 Khái niệm quần chúng nhân dân:

 Quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản liên kết lại thành tập thể dưới

sự lãnh đạo của một tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội củathời đại họ

 Khái niệm quần chúng nhân dân thay đổi gắn liền với những hình thái kinh tế - xã hội nhấtđịnh Những khái niệm quần chúng nhân dân luôn được xác định bởi:

- Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất - hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân

- Những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị, phản động, cản trở sự tiến bộ xã hội

- Những giai cấp, tầng lớp thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

3 Vai trò của quần chúng nhân dân.

 Trước những bước ngoặt của dân tộc, quốc tế và thời đại, sự xuất hiện quần chúng nhân dân làtất yếu Không có quần chúng nhân dân, không có phong trào cách mạng Tuy vậy, vai trò quần chúngnhân dân là khác nhau

 Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử

- Họ là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần

- Họ là chủ thể của hoạt động cải tạo các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội

- Lợi ích của quần chúng nhân dân vừa là động lực, vừa là mục đích của các hành động cách mang

 Trong bất kỳ thời đại nào, quần chúng nhân dân cũng là người sáng tạo ra lịch sử, nhưng trình

độ sáng tạo của quần chúng nhân dân đến mức nào là tuỳ thuộc vào tính tích cực, vào sự hiểu biết củaquần chúng về tự nhiên và xã hội, vào trình độ tổ chức của quần chúng…

 Quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như quá trình dựng nước,giữ nước của dân tộc ta trước đây đã làm sáng tỏ hơn chân lý quần chúng nhân dân là người sáng tạo ralịch sử Nhờ nhân dân giàu lòng yêu nước, một lòng theo Đảng, dân tộc Việt Nam đã đánh thắng các cuộcchiến tranh xâm lược bảo vệ nền độc lập dân tộc Lịch sử đã ghi nhận vai trò to lớn của quần chúng nhândân trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc

đã góp phần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh Đến thời kỳ chống giặc Minh,

Nguyễn Trãi với quan điểm “Dân vi quý” đã giành độc lập, xây dựng lên một triều đại phong kiến Đại Việt hưng thịnh Thời đại Hồ Chí Minh, trên cơ sở Chủ nghĩa Mác-Lê Nin “ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” và quan điểm của Bác “ Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”.Ngày nay Đảng và Nhà nước ta đã đoàn kết toàn dân phát huy sức mạnh của toàn Dân tộc làm nên những chiến thắng diệu

kỳ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay Điều này cho thấy ở thời đại nào thì vai trò của quần chúng nhân dân cũng mang tính quyết định đối với vận mệnh của dân tộc

Bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều ở nơi dân, mọi quyền lực nhànước có được đều do nhân dân uỷ quyền Bản chất này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh

tế và chế độ chính trị của CNXH Sự khác biệt về bản chất ấy so với các nhà nước bóc lột biểu hiện bảnchất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước, chúng hoà quyện vào nhau

Xuất phát từ lý luận duy vật lịch sử và thực tiễn, ai cũng có thể nhận thấy rằng bất kỳ nhà nướcnào cũng là nền chuyên chính của giai cấp thống trị Giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế sẽ nắmquyền thống trị về chính trị thông qua bộ máy nhà nước của mình Trong chế độ ta, giai cấp công nhângiữ vai trò lãnh đạo xã hội Vì vậy, nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, được thể hiện ở toàn

bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách, đến nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà

Ngày đăng: 08/06/2017, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w