Còn phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổikhông ngừng, với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt - Rút ra
Trang 1NỘI DUNG LÝ THUYẾT 16 CÂU
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
Nguyên tắc chung: Mọi câu trả lời gồm hai phần 04 điểm lý luận; 6 điểm lý thuyết
+ Khái niệm
+ Nội dung quy luật
+ Ý nghĩa phương pháp luận
+ Vận dụng cụ thể
Tất cả đều cần phải có ví dụ minh họa cụ thể
Câu 1: So sánh phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Từ đó rút ra
những giá trị thực tiễn của phương pháp biện chứng đối với các ngành khoa học trong
đó có lĩnh vực kiến trúc?
- Biện chứng và siêu hình là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau trong triết
học, trong đó:
Khái niệm Biện chứng: là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những
phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng, trong
sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng
Khái niệm Siêu hình: là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im,
không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau Cách xem xét này cho ta nhìn thấy
sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng nếu tuyệt đốihóa phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mốiliên hệ giữa các sự vật hiện tượng
- Sự phát triển của phép biện chứng: trãi qua 3 giai đoạn phát triển và biểu hiện 3
hình thức căn bản:
1 Chủ nghĩa duy vật chất phác: là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật
thời cổ đại Đặc điểm của CNDV này là đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ
thể của nó (đất, nước, lửa, ) và coi đó là điểm xuất phát của thế giới
2 Chủ nghĩa duy vật siêu hình: xuất hiện vào thế kỷ XV, phát triển rầm rộ vào thế
kỷ XVII, XVIII và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của
cơ học, có ảnh hưởng lớn đến quan điểm của các nhà triết học thời kỳ này
3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng: xuất hiện đầu thế kỷ XIX, do C.Mác - F.Ăngghen
sáng lập, sau đó được V.I.V.I.Lênin và những người mácxít kế tục, bảo vệ và phát triển
- So sánh:
+ GIỐNG: Đều là phương pháp nhận thức
+ Khác:
Trang 2Quan điểm siêu hình Quan điểm biện chứng
- Chỉ nhìn thấy những sự vật riêng lẻ
mà không nhìn thấy mối quan hệ qua
lại giữa những sự vật ấy
- Chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng
- Thấy bộ phận mà không thấy toàn thể
- Chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà
không thấy sự phát sinh và tiêu vong
- Không chỉ thấy cây mà còn thấy rừng
- Vừa thấy bộ phận vừa thấy toàn thể
- Không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự
mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vongcủa sự vật ấy
- Không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh màcòn thấy trạng thái động của sự vật
=> Tóm lại phương pháp siêu hình xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưngđọng với một tư duy cứng nhắc Còn phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét
sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổikhông ngừng, với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt
- Rút ra những giá trị thực tiễn các ngành khoa học và đối với ngành kiến trúc:
Khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải đặt chúng trong sự vật động phát triểnkhông ngừng, vạch ra xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng
Phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành nhiều giai đoạn Trên cơ sở
đó tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật pháttriển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó
Mỗi phương pháp luận đều có ưu và khuyết điểm của nó Do đó, tùy theo đặc tínhcủa mỗi ngành khoa học, mà lựa chọn phương pháp phù hợp Dù phương pháp siêuhình có nhiều hạn chế, nhưng nó lại phù hợp với các ngành nghiên cứu trong phòng thìnghiệm Riêng đối với ngành kiến trúc thì nên lựa chọn phương pháp biện chứng =>
Tự chứng minh và cho ví dụ
Câu 2: Phân tích chức năng thế giới quan và phương pháp luận của Triết học Mác
Lênin Từ đó đi đến khẳng định những giá trị của Triết học Mác Lênin đối với sựnghiệp xây dựng CNXH ở nước ta?
Trang 3- Chức năng thế giới quan
Khái niệm Thế giới quan: Là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người
về thế giới con người sống trên thế giới dù muốn hay không, họ vẫn phải tìm hiểu vềnhững thứ xung quanh mình Bao hàm cả những cái thuộc về thế giới tự nhiên, trong
xã hội loài người, những cái thuộc về con người, thuộc xã hội loài người
Nguồn gốc của thế giới quan: TGQ ra đời từ cuộc sống; nó là kết quả trực tiếp của
quá trình nhận thức; song, suy cho đến cùng nó là kết quả của cả những yếu tố kháchquan và chủ quan, của cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Chức năng của TGQ: TGQ có rất nhiều chức năng như nhận xét, đánh giá, nhận
thức, nhận định… nhưng chức năng quan trọng nhất là chức năng định hướng cho hoạtđộng của con người, định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người định hướng choquan hệ con người, định hướng cho hệ giá trị con người, từ cách đi cách đứng của conngười những người có TGQ khác nhau sẽ định hướng cho hoạt động của mình khácnhau Ví dụ: Mỗi con người có TGQ khác nhau dẫn đến hành động khác nhau Toàn bộhành động của con người bị TGQ chi phối Cuộc sống của chúng ta đang bị TGQ củachúng ta chi phối
TGQ thể hiện dưới ba hình thức cơ bản: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo, TGQ triếthọc
- Phương pháp luận
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyêntắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp
Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:
+ Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương phápluận của một ngành khoa học cụ thể nào đó
+ Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngànhkhoa học
+ Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phátcho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và cácphương pháp hoạt động khác của con người
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò củacon người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự
nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất.
Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau.
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và pháttriển của hiện thực; do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tảquan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan Hệ thống các quan điểm của chủnghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố
Trang 4định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trở thành những nguyêntắc xuất phát của phương pháp luận.
- Vận dụng:
Dựa trên việc xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và nắm vững phương phápluận biện chứng duy vật xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội phải tuân theo quy luậtvật chất quyết định ý thức, từng bước phát triển và nâng cao trình độ của LLSX đồngthời xây dựng QHSX cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
Xậy dựng bộ máy hành chính nhà nước, pháp luật, giáo dục (những yếu tố thuộckiến trúc thượng tầng) hoàn chỉnh nhằm tạo điều kiện phát triển nền kinh tế (cơ sở hạtầng) bên cạnh đó phải luôn nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của CNMác Lênin trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm tránh những sai lầmchủ quan
Câu 3: Từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vận dụng
vào giải thích quá trình đề ra đường lối đổi mới ở nước ta hiện nay?
- Các khái niệm:
Vật chất: theo Quan niệm của triết học C.Mác, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho
rằng, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Thế giới vật chất luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, ở đâu có vật chất là có vận động và
vận động không ngừng Định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất “Vật chất là một phạm
trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và không lệ thuộc vào cảm giác”.
Ý thức: Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản
phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội, là sự phản ánh thế giới kháchquan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất Điều đó
có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức làhình ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chấtnhư chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm
- Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức Cả ý thức thôngthường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định những ước mơ phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vậtchất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử Chủ nghĩa xã hội khoa học đời củng dựatrên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tựnhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của cácmác
và Ăngghen
Trang 5Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củngluôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ýthức Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất Với tính độc lập tươngđối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của conngười
Sự tác động trở lại theo hai hướng thúc đẩy hoặc kìm hảm thâm chí phá hoại sựphát triển bình thường của sự vật
Vai trò của ý thức là ở chổ nó chỉ đạo hoạt động của con người, hình thành mục tiêu, kế hoạch , ý trí biện pháp hoạt động của từng người Cho nên trong điều kiên kháchquan nhất định ý thức – tư tưởng trở thành nhân tố quan trọng có tác dụng quyết địnhlàm cho con người hoạt động đúng hay sai, thành công hay thất bại
Sức mạnh của ý thức con người không phải ở chổ tách rời điều kiện vật chất thoát liđiều kiện khách quan mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có phản ánh đúng quiluật khách quan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng tạo và có hiệu quả “Ýthức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới kháchquan” (Lênin)
- Ý nghĩa phương pháp luận
CNDVBC khẳng định, vật chất có trước, sinh ra ý thức, quyết định ý thức, song ýthức cũng có tính độc lập tương đối và có tác động ngược lại đối với vật chất Sự tácđộng này diễn ra theo hai hướng: Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan nó
sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn Nếu ý thức phản ánh không đúng hiệnthực khách quan thì sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn
Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit Trongnhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tếkhách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời phát huy tính năngđộng sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhânthức ,tác động cải tạo thế giới Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắcphục bệnh chủ quan duy ý chí
Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức ,tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí ,bất chấp qui luật khách quan ,xa rờihiện thực , phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất
- Vận dụng: 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 76-86: nóng vội chủ quan duy ý chí không tôn trọng thực tế khách quan+ Giai đoạn 86-nay: tôn trọng thực tế khách quan và phát huy tính năng động sángtạo chủ quan
Câu 4: Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối quan hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển, qua đó vận dụng vào giải thích quan điểm của Đảng CSVN trong thời kì hộinhập, toàn cầu hóa?
Trang 6- Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến
Định nghĩa: Mối liên hệ phổ biến là khái niệm chỉ mọi sự ràng buộc, tác động ảnh
hưởng lẫn nhau của các sự vật hiện tượng và trong những điều kiện nhất định gây nên
sự chuyển hoá
Tính chất của mối liên hệ phổ biến
+ Tính khách quan: Đó là mối liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất chứ
không phải do thượng đế hay tự người ta nghĩ ra Trong hiện thực có rất nhiều mối liên
hệ như giữa cái vật chất với cái tinh thần, giữa những hiện tượng tinh thần với nhau,liên hệ giữa các hình thức của tư duy Tất cả suy cho cùng đều là sự phản ánh mốiliên hệ phổ biến và sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng của thế giới kháchquan
+ Tính phổ biến: Đó thể hiện sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau, liên
hệ giữa các yếu tố, các thuộc tính, đặc trưng trong từng sự vật hiện tượng Mối liên
hệ tồn tại trong mỗi sự vật cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó: Có liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ bên trong Có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu Có mối liên hệ chung bao
quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng
biệt của thế giới đó Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó có
sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối
liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, liên hệ tất yếu và liên hệ ngẫu nhiên
Có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau, có mối liên hệ giữa các mặt khác nhau củacùng một sự vật
Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khácnhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triểnhiên thực của các sự vật và các quá trình tương ứng… Tính đa dạng của sự liên hệ dotính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của chính các sự vật và hiệntượng quy định
- Nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát hoá quá trình vận
động tiến hoá từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn
Tính chất của sự phát triển
+ Tính khách quan: Theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát
triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do mâu thuẫn của sự vật quy định Phát triển,trong quan điểm duy vật biện chứng, là quá trình tự thân của mọi sự vật và hiện tượng
Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan độc lập với ý thức con người
Trang 7+ Tính phổ biến: Tính phổ biến của sự phát triển với nghĩa là sự phát triển diễn ra
ở tất cả mọi lĩnh vực - từ tự nhiên đến xã hội đến tư duy, từ hiện thực khách quan đếnnhững khái niệm, những phạm trù khách quan phản ánh hiện thực ấy
+ Tính chất phức tạp của sự phát triển: Phát triển không đơn giản chỉ là sự tăng
hay giảm đơn thuần về lượng, mà bao hàm cả sự nhảy vọt về chất Phát triển khôngloại trừ sự lặp lại hoặc thậm chí tạm thời đi xuống trong trường hợp cá biệt, cụ thể.Nhưng xu hướng chung là đi lên, là tiến bộ Phát triển bao hàm cả sự phủ định cái cũ
và sự nảy sinh cái mới Sự lặp lại dường như cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn Do vậy,phát triển là con đường xoáy ốc từ thấp đến cao
- Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng,chúng ta cần rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật vàhiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật vàhiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật,chúng ta phải xem xét nó:
Một là, trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính
khác nhau của chính sự vật đó;
Hai là, trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể cả trực tiếp
và gián tiếp) Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật,chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ở mỗithời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánhđược một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vậtcũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn
Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có
về sự vật, và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung,không thể phát triển Để nhận thức sự vật, chúng ta cần phải nghiên cứu tất cả các mốiliên hệ, “cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sailầm và sự cứng nhắc”
+ Quan điểm lịch sử - cụ thể
Khi xem xét và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra đòi hỏi chúng ta phải chú ýđúng mức tới hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới sự ra đời vàphát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực - cả khách quan lẫn chủ quan Khi quan sátmột quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong những mối quan hệ như vậy.Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó Chẳng hạn,khi đánh giá vị trí lịch sử của mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc vào nhữngnăm 1960 - 1970, nếu chúng ta không đặt nó vào trong hoàn cảnh miền Bắc, đồng thờithực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đặc biệt từ giữa những năm 1965 - khi đế quốc Mỹ
Trang 8đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược bằng không quân ra miền Bắc, không đặt nó trongđiều kiện chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn bị ảnhhưởng rất lớn quan niệm về mô hình chủ nghĩa xã hội đã được xác lập ở một loạt nước
xã hội chủ nghĩa đi trước thì chúng ta, một là, sẽ không thấy được một số giá trị tíchcực của mô hình hợp tác xã trong điều kiện lịch sử đó
+ Quan điểm phát triển
Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển cung cấp cho chúng ta phương phápluận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới là: khi xem xét các sự vật và hiện tượngphải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biếnđổi, chuyển hoá của chúng
Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sựvật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến Tuyệt đối hoá một nhậnthức nào đó về sự vật có được trong hoàn cảnh lịch sử phát triển nhất định, ứng với giaiđoạn phát triển nhất định của nó và xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sựvật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêmtrọng
Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang
có, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó Trong quátrình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự biến đổi tiến lên và có cả nhữngbiến đổi thụt lùi Quan điểm phát triển đúng đắn về sự vật chỉ có được, khi bằng tư duykhoa học chủ thể khái quát để làm sáng tỏ xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổikhác nhau đó
- Vận dụng:
Giải thích là cơ sở để Đảng ta đề ra chủ trương đa dạng hóa và đa phương hóa: cơchế mở cửa, tham gia toàn cầu hóa để tận dụng nguồn vốn, khoa học kĩ thuật, phươngthức tổ chức quản lí của các nước phát triển áp dụng cho phát triển kinh tế nước nhàhướng đến công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền sản xuất Đa dạng hóa các hình thứcphát triển, đồng loạt trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa; đa phương hóa quan
hệ để phát triển đất nước Ví dụ
Kết luận: đó là bước đi đúng đắn trên con đường xây dựng đất nước ta hiện nay
Câu 5: Nêu ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện
chứng giữa cái chung và cái riêng? Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ Tư bản chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng ý nghĩa đó như thếnào?
* Định nghĩa cái riêng: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một
hiệng tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Trang 9* Định nghĩa cái chung: Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt,
những thuộc tính chung không những chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
* Định nghĩa cái đơn nhất: Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những
nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định nào đó và không được lặp lại ở bất kỳ một kết cấu vật chất nào khác
Ví dụ: trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bên cạnh những nétchung với giai cấp công nhân ở các nước, giai cấp công nhân Việt Nam còn có nhữngđặc điểm riêng như ra đời trước khi có giai cấp tư sản Việt Nam, trong nội bộ không cótầng lớp công nhân quý tộc v.v… Những đặc điểm này chính là những cái đơn nhất
- Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
-Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái
riêng Chẳng hạn, không có sinh viên nói chung nào tồn tại bên cạnh sinh viên ngànhKinh tế đầu tư, sinh viên ngành Kinh tế phát triển, sinh viên ngành Quản trị kinh doanh
cụ thể Nhưng sinh viên ngành Kinh tế đầu tư, sinh viên ngành Kinh tế phát triển…nào cũng phải đến trường học tập, nghiên cứu, thi cử…theo nội quy nhà trường.Những đặc tính chung này lặp lại ở những sinh viên riêng lẻ, và được phản ánh trongkhái niệm “sinh viên”
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nghĩa là không có
cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung Thí dụ, mỗi conngười là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội
và tự nhiên Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học vàquy luật xã hội Đó là những cái chung trong mỗi con người
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài
những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng
vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ởnhiều cái riêng cùng loại Do vậy, cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy địnhphương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng Có thể khái quát một công thức như
sau: Công thức Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất
Ví dụ: nguyên tử của mọi nguyên tố đều khác nhau, đều là cái riêng, chúng có khốilượng nguyên tử của mình, có hóa trị riêng của mình, có điện tích hạt nhân của mình,
có cấu tạo vỏ nguyên tử của mình…Nhưng tất cả mọi nguyên tử đều có cái chung:trong mọi nguyên tử đều có hạt nhân, vỏ điện tử, đều có những hạt nguyên tố…
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật
Thí dụ: Trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoán sản phẩm chỉ là cái đơnnhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị
Trang 10trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất,chỉ còn tồn tại trong một số ngành như An ninh quốc phòng…
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Muốn biết được cái chung, cái bản chất thì phải xuất phát từ cái riêng, từ những sựvật, hiện tượng riêng lẻ
Nhiệm vụ của nhận thức là phải tìm ra cái chung trong hoạt động thực tiễn, phảidựa vào cái chung để cải tạo cái riêng
Trong hoạt động thực tiễn thấy sự chuyển hoá nào có lợi chúng ta cần chủ động tácđộng để nó sớm trở thành hiện thực
- Vận dụng:
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như thế nào? => là sự phủ định biện chứng: bỏquan hệ sản xuất, kế thừa có chọn lọc thành tựu của CNTB… (phát triển nền kinh tế thịtrường, cho ví dụ)
Cơ sở bỏ qua chế độ CNTB (bên trong: dảng cs nắm quyền, …Bên ngoài :ủng hộcác nước tiến bộ biết lợi dung công nghệ tiên tiến hiện đại….)
Nêu sơ qua hai giai đoạn: 1975-1986 và 1986-nay nhằm thấy rõ hơn sự vận dụngcái chung và cái riêng
Ví dụ minh họa cụ thể (chính sách dận tộc; bản thân việc vận dụng cũng là vậndụng cái chung và cái riêng; cơ chế đặc thù riêng của chính quyền đô thị ở hai tp lớn
Hà Nội và TP HCM…)
Câu 6: Bằng kiến thức đã học Anh chị hãy chứng minh: sự lãnh đạo của Đảng là
nguyên nhân của mọi nguyên nhân đảm bảo sự thắng lợi của cách mạng việt nam trongmọi thời kỳ?
- Khái niệm:
Nguyên nhân là phạm trù để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một biến đổi nhất định
Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi do sự tác động lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng hoặc các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng gây ra Kết quả chỉ sựbiến đổi do nguyên nhân gây ra
- Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả:
Nguyên nhân quyết định kết quả Nguyên nhân có trước, sinh ra kết quả Nguyênnhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy
Mối quan hệ nhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian (cáinày có trước cái kia), mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia
Cùng một nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả do nhiềunguyên nhân sinh ra Do đó, mối quan hệ nhân quả rất phức tạp Trong trường hợp
Trang 11nhiều nguyên nhân cùng tham gia sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loại nguyênnhân:
+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài
+ Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp
+ Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản
+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu
+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
+ Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân theo hai hướng: Thúc đẩy nguyên nhân.Kìm hãm nguyên nhân
Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định
Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động với sự vật, hiện tượng khác vàtrở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa Do đó, sự phân biệt nguyên nhân vớikết quả chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn, sự phát triển của vật chất là nguyênnhân sinh ra tinh thần, nhưng tinh thần lại trở thành nguyên nhân làm biến đổi vật chất
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận
để giải thích một cách đúng đắn mối quan hệ nhân - quả; chống lại các quan điểm duytâm, tôn giáo về những nguyên nhân thần bí
- Vì nguyên nhân quyết định kết quả nên muốn có một kết quả nhất định thì phải cónguyên nhân và điều kiện nhất định Muốn khắc phục một hiện tượng tiêu cực thì phảitiêu diệt nguyên nhân sinh ra nó
- Phân loại nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu giữ vaitrò quyết định đối với kết quả
- Biết sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều nguyên nhân để tạo ra kết quả nhất định
- Biết sử dụng kết quả để tác động lại nguyên nhân, thúc đẩy nguyên nhân tích cực,
hạn chế nguyên nhân tiêu cực
- Vận dụng: chia hai giai đoạn,
Trước khi có đảng có nhiều phong trào đấu tranh anh dũng nhưng đều thất bại cho
ví dụ cụ thể
Sau khi có đảng nhờ có sự lãnh đạo của đảng thì có nhiều thắng lợi hướng tới xã hộichủ nghĩa CNH - HĐH cho ví dụ minh họa trong mọi thời kì cách mạng dân tộc dânchủ và xây dựng xã hội chủ nghĩa
Câu 7: Từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng, anh
chị hãy giải thích hiện tượng một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên thoái hóa, biếnchất?
Trang 12- Khái niệm Phạm trù bản chất và hiện tượng
Bản chất: Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên tương
đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó Cònhiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài
Hiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài của
bản chất.
Bản chất chính là mặt bên trong, mặt tương đối ổn định của hiện thực khách quan
Nó ẩn dấu đằng sau cái vẻ bề ngoài của hiện tượng và biểu lộ ra ngoài những hiệntượng ấy Còn hiện tượng là mặt bên ngoài, mặt di động và biến đổi hơn của hiện thựckhách quan
- Mối quan hệ biện chứng bản chất và hiện tượng
Sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan Tại sao vậy:
+ Bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định Các yếu tố ấytham gia vào những mối quan hệ qua lại đan xen chằng chịt với nhau, trong đó cónhững mối quan hệ tất nhiên, tương đối ổn định Những mối liên hệ này tạo nên bảnchất của sự vật
+ Sự vật tồn tại khách quan và những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định nàylại ở bên trong sự vật, nên đương nhiên chúng cũng tồn tại khách quan, do đó bản chấtcủa sự vật cũng tồn tại khách quan
+ Hiện tượng chỉ là sự biểu hiện bản chất ra bên ngoài, cũng là cái khách quankhông phải do cảm giác chủ quan của con người quyết định
Sự thống nhất của bản chất và hiện tượng
+ Bản chất và hiện tượng liên hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau Sự vật nào cũng
là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
+ Sự thống nhất đó thể hiện trước hết ở chỗ bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra quahiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là biểu hiện của bản chất Không có bản chấtnào tồn tại một cách thuần túy, không cần có hiện tượng Ngược lại, cũng không cóhiện tượng nào lại không phải là sự biểu hiện của một bản chất nhất định Lênin viết :
“Bản chất hiện ra Hiện tượng là có tính chất bản chất”
+ Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng còn thể hiện ở chỗ: bất kỳ bản chất nàocũng được bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, và bất kỳ hiện tượng nào cũng là
sự bộc lộ của bản chất ở mức độ nào đó (hoặc nhiều hoặc ít)
Tóm lại: bản chất và hiện tượng về căn bản phù hợp với nhau Thí dụ trong xã hội
có giai cấp, bất kỳ Nhà nước nào cũng là một bộ máy trấn áp của giai cấp này đối vớigiai cấp khác Bản chất ấy thể hiện ở chỗ bất kỳ Nhà nước nào cũng có quân đội, cảnh
Trang 13sát, toà án, nhà tù, Tất cả bộ máy này đều nhằm mục đích trấn áp sự phản kháng củagiai cấp khác để bảo vệ quyền lợi kinh tế và chính trị của giai cấp thống trị.
+ Như vậy, bản chất bao giờ cũng tự bộc lộ ra thông qua những hiện tượng nhấtđịnh Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra thành những loại hiện tượng khác nhau Bản chấtnào thì có hiện tượng đó Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện nó cũng thayđổi theo Khi bản chất biến mất thì hiện tượng biểu hiện nó cũng biến mất Bản chấtmới ra đời thì hiện tượng mới cũng ra đời
Tính mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng tuy thống nhất với nhau, nhưng đó là sự thống nhất biệnchứng, nghĩa là trong sự thống nhất ấy đã có bao hàm sự khác biệt Nói cách khác, tuybản chất và hiện tượng thống nhất với nhau, về căn bản phù hợp với nhau nhưng chúngkhông bao giờ phù hợp hoàn toàn Bởi vì hiện tượng không bao giờ trùng khớp hoàntoàn với bản chất Sự không hoàn toàn trùng khớp đó khiến cho sự thống nhất giữa bảnchất và hiện tượng là một sự thống nhất mang tính mâu thuẫn.Tính mâu thuẫn của sựthống nhất giữa bản chất và hiện tượng được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: bản chất phản ánh cái chung tất yếu, cái chung quyết định sự tồn tại vàphát triển của sự vật, còn hiện tượng phản ánh cái cá biệt Hiện tượng không những bịquy định bởi bản chất mà còn bởi sự tương tác với các sự vật khác Vì vậy, cùng mộtbản chất có thể được biểu hiện ở nhiều hiện tượng khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh cụthể Chính vì thế, hiện tượng phong phú hơn bản chất; ngược lại, bản chất sâu sắc hơnhiện tượng
Thứ hai:Bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện tượng khách quan, cònhiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan ấy.Về cơ bản, hiện tượng phùhợp với bản chất, nhưng không bao giờ phù hợp hoàn toàn Chúng biểu hiện bản chấtkhông dưới dạng y nguyên như bản chất vốn có mà dưới hình thức cải biến, nhiều khixuyên tạc nội dung thực sự của bản chất
Bản chất tương đối ổn định, biến đổi chậm còn hiện tượng không ổn định, nó luônluôn trôi qua, biến đổi nhanh hơn so với bản chất Có tình hình đó là do nội dung củahiện tượng được quyết định không chỉ bởi bản chất của sự vật mà còn bởi những điềukiện tồn tại bên ngoài của nó, bởi tác động qua lại của nó với sự vật xung quanh Cácđiều kiện tồn tại bên ngoài này cũng như sự tác động qua lại của sự vật này đối sự vậtkhác xung quanh lại thường xuyên biến đổi Vì vậy, hiện tượng cũng thường xuyênbiến đổi trong khi đó bản chất vẫn giữ nguyên V.I Lênin viết “cái không bản chất, cái
bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám chắc, không ngồi vững bằng “bảnchất” Sự vận động của một con sông- bọt ở bên trên và luồng nước ở dưới sâu Nhưngbọt cũng là biểu hiện của bản chất!”
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là từ lúc ra đời cho đến khi mất đi, bản chất vẫngiữ nguyên như cũ Bản chất cũng thay đổi Chỉ có điều là bản chất biến đổi chậm hơnhiện tượng Trong toàn bộ sự thay đổi, phát triển của sự vật, các hiện tượng luôn luôn
Trang 14biến đổi, còn bản chất về căn bản vẫn giữ nguyên như cũ Nó có thay đổi, nhưng thayđổi ít hơn, chậm hơn so với hiện tượng.
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vậnđộng và phát triển của sự vật, còn hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài,
là cái không ổn định và biến đổi nhanh hơn so với bản chất, nên trong nhận thức, đểhiểu đầy đủ và đúng đắn về sự vật, không nên dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìmhiểu bản chất của nó Còn trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào bản chất chứ khôngphải dựa vào hiện tượng
Nếu trong hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn cần nắm được bảnchất và dựa vào bản chất của sự vật, thì nhiệm vụ của nhận thức nói chung và của nhậnthức khoa học nói riêng là phải vạch ra được cái bản chất đó
Vì bản chất tồn tại khách quan ngay ở trong bản thân sự vật nên chỉ có thể tìm rabản chất của sự vật ở trong chính sự vật chứ không thể ở ngoài nó, và khi kết luận vềbản chất của sự vật cần tránh những nhận định chủ quan, tùy tiện
Vì bản chất không tồn tại dưới dạng thuần tuý mà bao giờ cũng bộc lộ ra ngoàithông qua các hiện tượng tương ứng của mình nên chỉ có thể tìm ra cái bản chất trên cơ
sở nghiên cứu các hiện tượng
Nhưng vì hiện tượng bao giờ cũng biểu hiện bản chất dưới dạng đã cải biến, nhiềukhi xuyên tạc bản chất, nên trong quá trình nhận thức bản chất của sự vật phải xem xétrất nhiều hiện tượng khác nhau, và từ nhiều góc độ khác nhau Nhưng trong cùng mộthoàn cảnh và một phạm vi thời gian nhất định không bao giờ có thể xem xét hết đượcmọi hiện tượng biểu hiện bản chất của sự vật Do vậy, phải ưu tiên cho việc xem xéttrước hết các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình Dĩ nhiên, kết quả củamột sự xem xét như vậy chưa thể phản ánh đầy đủ bản chất của sự vật, mà chỉ mớiphản ánh một cấp độ nhất định của nó Quá trình đi vào nắm bắt các cấp độ tiếp theo,ngày càng sâu sắc hơn trong bản chất của sự vật là một quá trình hết sức khó khăn, lâudài, công phu, không có điểm dừng
- Thực trạng một số cán bộ dảng viên biến chất gây ảnh hưởng uy tính đảng
Nêu thực trạng, vận dụng giải thích cho biết đây là bản chất hay hiện tượng => đưa
ra mặt ưu và khuyết so sánh ưu và khuyết từ đó rút ra kết luận
Giải pháp căn bản: Đòi hỏi có chính sách phù hợp: luật pháp, chính sách lươngbỗng, kinh nghệm của các nước khác trong sự quản lý của nhà nước
Câu 8: Phân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện
chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên? Và hãy cho biết sự khẳng định của đảng cộng sảnviệt nam tại Đại hội toàn quốc của đảng lần thứ XI: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của đảng; phát huy sức mạnh toàn dân tộc; đẩy mạnh toàn diện
Trang 15công cuộc đổi mới; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại” Có phải là tất nhiên không? Tại sao?
- Khái niệm
Tất nhiên (tất yếu) là cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vậtchất quyết định và trong những hiện tượng nhất định, nó phải xảy ra đúng như thế chứkhông thể khác được
Ngẫu nhiên là cái không phải do mối quan hệ bản chất của các kết cấu vật chất, bêntrong sự vật quyết định mà do những yếu tố bên ngoài, do sự ngẫu hợp nhiều hoàncảnh bên ngoài quyết định Do đó nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thểxuất hiện như thế này hoặc có thể xuất hiện như thế khác
Ví dụ: Gieo một con xúc xắc sẽ có một trong sáu mặt ngửa và một trong sáu mặtsấp, đó là tất nhiên, nhưng mặt nào sấp, mặt nào ngửa trong mỗi lần tung lại khôngphải là cái tất nhiên, mà là cái ngẫu nhiên
Khi phân biệt phạm trù tất nhiên và phạm trù ngẫu nhiên cần chú ý: Không đồngnhất phạm trù tất nhiên với phạm trù “cái chung” Bởi vì: phần lớn cái chung đượcquyết định bởi bản chất nội tại, bởi quy luật bên trong của sự vật khi đó cái chung gắnliền với cái tất nhiên, nhưng cũng có cái chung chỉ là những thuộc tính được lặp đi lặplại ở nhiều sự vật riêng lẻ, khi đó cái chung là hình thức thể hiện của cái ngẫu nhiên Vìvậy, có cái chung là tất nhiên, nhưng cũng có cái chung là ngẫu nhiên
Cả ngẫu nhiên và tất nhiên đều có nguyên nhân Sự khác nhau giữa chúng chỉ là ởchỗ cái tất nhiên gắn liền với nguyên nhân cơ bản, nội tại của sự vật, còn ngẫu nhiên làkết quả tác động của một số nguyên nhân bên ngoài
Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có quy luật Sự khác nhau ở chỗ: tất nhiên được tuântheo một loại quy luật được gọi là quy luật động lực: khi biết trạng thái ban đầu của hệthống nào đó ta có thể tiên đoán chính xác trạng thái tương lai của nó
- Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật
Trong quá trình phát triển của sự vật, không phải chỉ có cái tất nhiên mà cả cái ngẫu
nhiên đều có vai trò quan trọng Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên ảnh hưởng tới sự phát triển đó, có thể làm cho sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm.
Tất nhiên và ngẫu nhiên cùng tồn tại
Nhưng chúng không bao giờ tồn tại một cách biệt lập với nhau dưới dạng thuần túy,
mà bao giờ cũng cùng nhau tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ Sự thống nhất đó đượcthể hiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô sốcái ngẫu nhiên Còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời
là cái bổ sung cho cái tất nhiên
Trang 16Điều đó có nghĩa là, cái tất nhiên bao giờ cũng là khuynh hướng chủ yếu của sựphát triển, nhưng khuynh hướng ấy mỗi khi tự bộc lộ mình thì bao giờ cũng phải phảibộc lộ ra dưới một hình thức ngẫu nhiên nào đó Hơn nữa, bản thân cái tất nhiên ấy chỉ
có thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên (tất cả những cái ngẫu nhiên ta thấy tronghiện thực không phải là ngẫu nhiên thuần tuý mà là những ngẫu nhiên trong đó đã baohàm cái tất nhiên, che giấu cái tất nhiên nào đó)
Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cùng với sựthay đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hoáthành ngẫu nhiên và ngược lại Sự chuyển hóa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên còn thểhiện ở chỗ, khi xem xét trong mối quan hệ này, thông qua mặt này thì sự vật, hiệntượng đó là cái ngẫu nhiên, nhưng khi xem xét trong mối quan hệ khác thông qua mặtkhác thì sự vật, hiện tượng đó lại là cái tất nhiên Như vậy, ranh giới giữa tất nhiên vàngẫu nhiên chỉ có ý nghĩa tương đối Do vậy không nên cứng nhắc khi xem xét sự vật,hiện tượng
- Ý nghĩa phương pháp luận:
Vì cái tất nhiên là cái trong những điều kiện nhất định dứt khoát phải xảy ra và phảixảy ra đúng như thế này chứ không thể thế khác, còn cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy
ra cũng có thể không xảy ra, có thể xảy ra thế này, cũng có thể xảy ra thế khác Chonên, trong hoạt động thực tiễn, ta cần dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa vào cáingẫu nhiên Nhưng không phải vì thế mà có thể bỏ qua cái ngẫu nhiên, vì tuy cái ngẫunhiên không chi phối sự phát triển của sự vật, nhưng nó có ảnh hưởng đến sự phát triển
ấy, đôi khi có thể làm cho tiến trình phát triển bình thường của sự vật đột nhiên biếnđổi Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn cần có các phương án hành động dự phòng chotrường hợp các sự biến ngẫu nhiên xuất hiện Có như vậy mới tránh được bị động trongcác hoạt động thực tiễn
Vì cái tất nhiên bao giờ cũng biểu lộ ra ngoài thông qua cái ngẫu nhiên, vạch đường
đi cho mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên, cho nên muốn nhận thức cái tất nhiên cầnbắt đầu từ nghiên cứu rất nhiều cái ngẫu nhiên
Cái ngẫu nhiên là hình thức trong đó ẩn nấp cái tất nhiên, cho nên trong hoạt độngnhận thức cũng như hoạt động thực tiễn không nên bỏ qua cái ngẫu nhiên, mà bao giờcũng phải chú ý tìm ra cái tất nhiên ẩn giấu đằng sau những cái ngẫu nhiên đó
Cái ngẫu nhiên không chỉ là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, mà còn là cái bổxung cho tất nhiên, do đó, ta phải nghiên cứu cái ngẫu nhiên để có thể biết cách ngănngừa hạn chế những ngẫu nhiên có hại và lợi dụng những ngẫu nhiên có lợi
Không phải cái chung nào cũng đồng thời là cái tất nhiên, cho nên vạch ra được cáichung chưa có ý nghĩa là đã vạch ra được cái tất nhiên Đó mới chỉ là một bước trêncon đường vạch ra cái tất nhiên mà thôi
Trang 17Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫu nhiên, vàngược lại, cho nên cần chú ý tạo ra những điều kiện cần thiết hoặc để tạo điều kiện,hoặc để ngăn trở sự chuyển hoá đó diễn ra tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn.
- Vận dụng
Câu trả lời đó là tất nhiên, đưa ra các dẫn chứng từ yếu tố bên ngoài (tăng cườngquan hệ, đa phương hóa, toàn cầu hóa) và nội lực bên trong (định hướng đúng đắn củađảng; các nhân tốt thiên thời địa lợi: nhân lực; nguồn tài nguyên; đổi mới phương thứcsản xuất…) để chứng minh Ví dụ cụ thể, chi tiết càng tốt
Bên cạnh đó còn tồn tại một số hạn chế, tập trung vào 04 nội dung nguy cơchệch hướng XHCN, đưa ví dụ, có thể dẫn đến biến cái tất nhiên thành ngẫu nhiên Đềxuất giải pháp
Câu 9: Từ việc nghiên cứu nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất
và ngược lại? (gọi tắt là quy luật lượng chất), vận dụng vào xem xét quá trình cải tạo
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam?
Độ là phạm vi, giới hạn trong đó lượng đổi chưa làm chất thay đổi
Bước nhảy là sự thay đổi về chất từ chất cũ sang chất mới Bước nhảy có nhiều hìnhthức đa dạng phong phú tùy theo bản chất của sự vật và điều kiện tồn tại của sự vật Cócác dạng: Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần; Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy
bộ phận
Điểm diễn ra bước nhảy gọi là điểm nút
- Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
* Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật
Chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau Chất nào có lượng đó; lượngnào có chất đó Chất và lượng có sự phù hợp với nhau Sự phù hợp này diễn ra trongmột phạm vi, giới hạn nhất định gọi là “độ”
* Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất
- Sự phát triển bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Lượng biến đổi trong phạm vi “độ”chưa làm chất thay đổi
Trang 18- Vượt quá độ, sự biến đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Chất cũ mất đi,chất mới ra đời Sự thay đổi về chất gọi là bước nhảy Điểm diễn ra bước nhảy gọi làđiểm nút.
* Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi
về lượng
Chất mới ra đời thúc đẩy quá trình biến đổi về lượng với quy mô và tốc độ cao hơn.Bởi vì, trong phạm vi chất cũ, lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định thì bị chất cũkìm hãm Do đó, thay chất cũ bằng chất mới là phá bỏ sự kìm hãm đó Mặt khác, chấtmới cần được kết hợp với lượng mới
- Ý nghĩa phương pháp luận
Giúp ta hiểu được cách thức của sự phát triển Chống lại các quan điểm duy tâm, siêuhình
Trong hoạt động thực tiễn muốn có chất mới, cần phải có quá trình tích lũy vềlượng Cần chống khuynh hướng bảo thủ trì trệ, tranh thủ tạo ra những bước nhảy đểthúc đẩy sự vật phát triển tiến lên Đồng thời phải chống lại bệnh chủ quan nóng vội,duy ý chí, thực hiện bước nhảy khi chưa có sự chín muồi về lượng và bất chấp nhữngđiều kiện tồn tại cụ thể của sự vật, hiện tượng
- Vận dụng: chia 2 giai đoạn
Trước đổi mới: nôn nóng không tuân qui luật: chưa tích đủ về lượng (lực lượng sảnxuất trình độ tri thức thấp, tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất thiếu thốn) nhưng đã làmbước nhảy về chất cho vd
Sau đổi mới: quay về qui luật lượng chất: tích về lượng thực hiện bước nhảy về chất(từng bước nâng cao trình độ lực lượng sản xuất : đánh giá (ứng dụng KHKT, nâng caonăng lực quản lý cải tạo công cụ, đào tạo kỹ năng người lao động); xây dựng quan hệsản xuất phù hợp trình độ lực lượng sản xuất ở 3 mặt : quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chứcquản lý,…để tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng sản xuất phát triển; từngbước CNH-HĐH nền sản xuất, mở cửa hội nhập, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ
để tận dụng mọi nguồn lực cho sự phát triển của nền kinh tế
Nêu hạn chế hiện nay
Tuy nhiên không phải tất cả đều đi theo qui luật lượng chất vd minh họa cụ thể
Câu 10: Từ việc nghiên cứu nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lặp? (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn), vận dụng vào xem xét phương pháp giải quyếtmột số loại mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam qua các thời kì cách mạng?
- Khái niệm:
Mâu thuẫn: là một phạm trù triết học chỉ sự liên hệ, sự tương tác, sự tác động lẫn
nhau của 2 mặt đối lập biện chứng Một mâu thuẫn được hình thành từ 2 mặt đối lập