1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

A.Sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật 

44 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 94,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sông lớn, và là nền văn minh nông nghiệp. Trong nền kinh tế nông nghiệp, thì yêu cầu trị thủy là một yêu cầu tối quan trọng. Thêm nữa, do phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên các tộc người luôn có xu hướng tranh giành những vùng đất tốt, chiến tranh là điều thường xuyên và ko thể tránh khỏi đối với các nước phương Đông. Nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm đặt ra là vấn đề sống còn với sự tồn tại của các tập đoàn người ở phương Đông. Công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm đòi hỏi phải có sức mạnh đoàn kết vô cùng lớn. Do vậy các tập đoàn người phải tập hợp lại với nhau mới có thể thực hiện được những công việc này. Khi tập hợp lạisông lớn, và là nền văn minh nông nghiệp. Trong nền kinh tế nông nghiệp, thì yêu cầu trị thủy là một yêu cầu tối quan trọng. Thêm nữa, do phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên các tộc người luôn có xu hướng tranh giành những vùng đất tốt, chiến tranh là điều thường xuyên và ko thể tránh khỏi đối với các nước phương Đông. Nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm đặt ra là vấn đề sống còn với sự tồn tại của các tập đoàn người ở phương Đông. Công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm đòi hỏi phải có sức mạnh đoàn kết vô cùng lớn. Do vậy các tập đoàn người phải tập hợp lại với nhau mới có thể thực hiện được những công việc này. Khi tập hợp lại

Trang 1

16

Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

A.Sự ra đời của Nhà nước và Pháp luật :

1 Nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi và chống ngoại xâm là hai trong những nhân tố làm thúc đấy sự ra đời của nhà nước đầu tiên

là điều thường xuyên và ko thể tránh khỏi đối với các nước phương Đông Nhu cầu trịthủy và chống ngoại xâm đặt ra là vấn đề sống còn với sự tồn tại của các tập đoànngười ở phương Đông

Công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm đòi hỏi phải có sức mạnh đoàn kết vô cùnglớn Do vậy các tập đoàn người phải tập hợp lại với nhau mới có thể thực hiện đượcnhững công việc này Khi tập hợp lại như vậy, vai trò của nguời thủ lĩnh, người đứngđầu là rất quan trọng Người thủ lĩnh, người đứng đầu trở thành người có quyền lực tốicao, có thể áp đặt ý chí của mình lên mọi người Cộng thêm với sức mạnh tư tưởng từtôn giáo, vị trí của "vua" ngày càng được nâng cao Như vậy, sự xuất hiện của "vua"chính là sự xuất hiện của NN, vì sau khi nắm quyền lãnh đạo, "vua" sẽ toàn quyền tựmình đặt ra bộ máy giúp việc, bộ máy cai trị, từ đó hình thành nên bộ máy NN

2 Công hữu về ruộng đất trong công xã nông thôn là nguyên nhân làm chậm sự xuất hiện của nhà nước

Nhận định: đúng

Giải thích: công hữu về ruộng đất, là tư liệu sản xuất quan trọng nhất, làm cho tưhữu về tư liệu sản xuất ít chặt chẽ, mẫu thuẫn ít xảy ra, do đó có xung đột nhưngkhông gay gắt, không triệt để nên làm cho tư hữu và sự hình thành giai cấp đối khángchậm phát triển, đó là hai nhân tố quan trọng để làm xuất hiện nhà nước

Trang 2

3 Nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi và chống chiến tranh không phải là nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự ra đời của nhà nước.

Nhận định: đúng

Giải thích: Bản thân hai tác nhân trên không sản sinh ra nhà nước mà nguyên nhân cơbản dẫn đến sự ra đời của nhà nước vẫn thuộc về những nhân tố nội tại là sự phát triểnkinh tế là xuất hiện chế độ tư hữu và sự hình thành các giai cấp đối kháng về mặt lợiích

Câu 4: Nêu và phân tích vai trò của các yếu tố dẫn đến sự hình thành NN đầu tiên trong lịch sử VN?

Câu 5:Bạn hãy cho biết quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở Việt Nam

có gì khác biệt so với quá trình hình thành nhà nước đầu tiên ở phương Tây và các quốc gia phương Đông khác?

Câu 6: Phân tích những điểm đặc thù trong quá trình hình thành nhà nước của người Việt cổ?

B Thời kỳ Bắc thuộc và nhà nước Ngô – Đinh – Tiền Lê :

Câu 1 Chính sách cai trị trong thời kỳ Bắc thuộc mang tính thâm hiểm

Nhận định: đúng

Tăng cường chính sách cưỡng chế, đàn áp, bót lột và đồng hóa, ngu dân

Áp dụng chính sách quan lại thâm hiểm: dùng người Việt trị người Việt

Câu 2 Chính quyền Ngô – Đinh – Tiền Lê mang tính chất quân quản

Nhận định: đúng

Giải thích:

Nhu cầu thiết yếu bảo vệ chính quyền và thống nhất các thế lực

Tổ chức bộ máy nhà nước thực chất là tổ chức quân sự

Hình thức nhà nước theo chính thể quân chủ tập quyền

Pháp luật mang tính thiết quân luật: đầy những cấm đoán và bắt buộc, pháp luật mangtính tàn khốc

Câu 3:Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (938 - 1009) tổ chức và hoạt động của nhà nước mang tính chất quân sự.

Trang 3

- Do hoàn cảnh lịch sử đất nước lúc bấy giờ : trong nước thì loạn lạc tình trạng các cứ

diễn ra khắp nơi, bên ngoài giặc ngoại xâm đang dòm ngó nhà Hán và Chiêm Thành.-Nhà nước thành lập trong điều kiện như vậy nên bắt buộc phải xây dựng một nhànước mang nặng tính quân sự nhằm bảo vệ nhà nước non trẻ vừa thành lập

-Nhà nước được thành lập bằng con đường bạo lực

Lập pháp: Hoàng Đế đứng trên pháp luật, ban hành tuyệt đối các văn bản pháp luật

1 Thể chế quân chủ nhà Trần mang tính tập quyền cao hơn nhà Lý

Chính sách kết hôn nội tộc nhằm bảo đảm tính thuần nhất của dòng họ Rất ưu đãi chocác vương hầu quý tộc: phong cấp đất đai và nắm giữ những chức quyền quan trongtriều đình hay các vị trí trọng yếu của quốc gia

Dùng chính sách hôn nhân để ràng buộc, lôi kéo các thổ quan vùng núi đứng về phíatriều đình Pháp luật của nhà Trần thì tàn khốc hơn nhà Lý nhằm bảo vệ vương quyềnmột cách tuyệt đối Không có quan Tể tướng

Trang 4

2 Tổ chức chính quyền địa phương thời nhà Trần mang tính vùng miền

Nhận định: đúng

Giải thích:

Về tổ chức hành chính thì có sự phân biệt rõ ràng giữa miền xuôi và miền núi Dườicấp Lộ ở miền xuôi là Phủ, miền núi là Châu Bởi miền núi là những vùng biên giớinhạy cảm của Tổ quốc

Có sự linh hoạt trong chính sách quan lại ở địa phương: chính sách thổ quan ở miềnnúi để khai thác tính cục bộ vở miền núi và chính sách lưu quan ở miền xuôi để hạnchế tính cục bộ ở miền xuôi

3.Bạn cho biết pháp luật thời Lý_Trần có những đặc điểm gì?

4.So sánh tổ chức BMNN ở TW thời Lý (1010-1225) với nhà Trần (1226-1400) Qua đó lý giải tại sao thời Trần tồn tại chế độ chính trị "Lưỡng đầu" (Vua và Thái Thượng Hoàng)?

Trang 5

Nho giáo là hệ thống chính trị chính thống

Cơ sở lý luận để xây dựng bộ máy nhà nước

Chuyển hóa thành nội dung pháp luật: nho giáo trực tiếp hoặc gián tiếp đi vào phápluật bằng những nội dung cụ thể

Nho giáo trở thành chủ để để thi cử

Điều chỉnh các quan hệ xã hội

2 Cuộc cải cách chính quyền của Lê Thánh Tông chủ yếu tập trung tăng cường quyền lực của nhà vua và khiến cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn.

Nhận định: đúng

Giải thích:

Chính quyền trung ương là cơ quan đầu não của đất nước, có xây dựng một chínhquyền trung ương vững mạnh, thể hiện quyền lực nằm trong tay nhà vua và triều đìnhtrung ương mới có thể thực hiện được các công việc của triều đình, của đất nước, tạo

cơ sở để triển khai các công việc xuống các địa phương

3 Nguyên nhân và nguyên tắc cải cách chính quyền trung ương và địa phương? Nguyên nhân:

Bất ổn đã được loại bỏ, xây dựng chính quyền từ quân sự sang dân sự nhằm gắn liềnlợi ích của nhà nước với lợi ích của nhân dân

Khát vọng xây dựng nhà nước Đại Việt hùng cường

Giai đoạn vua Lê Thánh Tông: 1460 – 1497 Trước khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông

đã trải qua giai đoạn sống gần gũi với cuộc sống đời thường của dân chúng, ông đãhiểu được những điểm tốt, xấu cùng tồn tại trong xã hội Khi lên ngôi, Lê Thánh Tôngthấy được những bất cập của bộ máy cầm quyền, những năm đầu thời Lê sơ còn mang

Trang 6

nặng “hơi hướng” của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, việc trọng đãi các quý tộchoàng tộc và các bậc “khai quốc công thần” Thêm nữa, cương vực nước Đại Việt đã

mở rộng, yêu cầu xây dựng một nước Đại Việt hùng cường; những bài học của cáctriều đại trước về tổ chức chính quyền địa phương sao cho phát huy hiệu quả nhất Đo

đó Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương,bên cạnh giữ lại những mặt tích cực của các triều đại trước đồng thời loại bỏ các điểmkhông tốt, chính từ những lý do đó mà tổ chức chính quyền địa phương thời vua LêThánh Tông có những điểm giống và khác các triều đại trước

Giai đoạn vua Lê Thánh Tông có hai giai đoạn, thời kỳ 1460 – 1470 và thời kỳ 1471đến 1497

Về tổ chức các cấp chính quyền địa phương:

Chia nước thành 12 thừa tuyên đạo, đến năm 1471 thì thêm đạo thừa tuyên thứ 13

Cả nước chia thành 3 cấp: cấp phủ, cấp huyện – châu, cấp xã

So với tổ chức các cấp của các triều đại khác thì như sau:

Thời các vua Lê trước Lê Thánh Tông: Chính quyền địa phương gồm các cấp: Đạo, lộ(trấn, phủ), châu, huyện và xã

Thời Hồ: cấp lộ, cấp phủ, cấp châu, cấp huyện và cấp xã

Thời Trần: cấp lộ, cấp phủ - châu, cấp xã

Thời Lý: cấp lộ - trại, cấp phủ châu, cấp hương – xã – sách

Thời tiền Lê: cấp đạo, cấp hành chính cơ sở giáp, cấp xã

Sự phân chia các cấp trong chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông so vớicác triều vua Lê trước và triều đại Lý - Trần (ngoại trừ nhà Hồ) vẫn giữ tính vùngmiền Sự phân cấp này nhằm bảo đảm dễ quản lý và ngăn ngừa sự cát cứ Sự phânchia chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông nhằm thu hẹp quyền hành củachính quyền địa phương và tăng sự lệ thuộc vào chính quyền trung ương

Có sự phân công rõ rệt về chức năng nhiệm vụ trong từng cấp

Đối với cơ quan ở cấp đạo thì Ty Tuyên chính sứ (đứng đầu là Tuyên chính sứ) đượclập ra ở cấp đạo từ năm 1464 thay thế cho quan Hành khiển Đứng đầu mỗi thừa tuyênđạo lúc đó gồm có hai cơ quan là Đô tổng binh sứ tuy phụ trách việc cai quản quânđội và Thừa chính sứ ty phụ trách việc hành chính và tu pháp Sự kiện này đánh dấuchuyển hình thức cai quản địa phương bởi một cá nhân, hơn nữa chỉ thiên về quảnlãnh quân sự sang hình thức cai quản bằng một cơ quan có một quan chức đứng đầu

và có sự phân công chức trách giữa các bộ phận trong ty Sự phân chia này nhằm xóa

bỏ tình trạng lộng quyền dẫn đến xu hướng cát cứ ly tâm của quan lại địa phươngđồng thời tạo ra sự thống nhất chỉ đạo từ trên xuoongsm gắn địa phương với trungương để thống nhất các mặt hoạt động của đất nước Từ năm 1467, Lê Thánh Tông

Trang 7

không chỉ trao quyền cho một cơ quan phụ trách mà quyền hành được chia đều cho 3

cơ quan:

Thừa ty phụ trách các công việc thuộc lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự

Đô ty phụ trách quân sự

Hiến ty có chức năng giám sát mọi công việc trong đạo để tâu lên vua

Thực hiện giám sát nhau

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho đặt chứ Hiến sát sứ ở các đạo, sau đó lại đặt chứcgiám sát ngự sử ở 13 đạo để làm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các hiến ty, giám sát đànhoặc các hành vi sai trái của quan lại các thừa tuyên, phủ, huyện

Ở cấp phủ: cũng giống như cấp phủ thời các vua Lê trước, chức năng là truyền luyện

từ trên xuống cho các huyện – châu, đốc thúc và kiểm tra việc thi hành, thu nộp cácloại thuế, các lao dịch, binh dịch

Ở cấp huyện – châu

Giống các triều vua Lê trước là ở miền núi gọi là châu, đông bằng gọi là huyện Ở cấpnày đặc biệt có một điểm giống các triều trước là có tính vùng miền Đối với miền núithì sử dụng các tộc trưởng, tù trưởng để giữ những chức vụ quan trọng nhằm tránhtrình trạng chống đối triều đình hay có âm mưu phản loạn

Một điểm rất khác so với các triều đại khác là tổ chức cấp xã cấp xã.

Chia tách xã theo những qui định có tính qui cũ, xã có 3 loại: xã nhỏ, xã vừa và xã lớntùy vào số hộ trong xã Qui định rõ chức vụ của những người đứng đầu xã tránh trìnhtrạng lợi dụng quan hệ họ hàng thông gia để kéo bè kéo cánh Việc bầu xã trưởng theoqui tắc dân chủ bầu trực tiếp Vua Lê Thánh Tông đã can thiệp trực tiếp sâu rộng vàotrong chính quyền cấp xã, đây là điểm rất khác so với các triều đại trước, nhằm hạnchế nạn cường hào cũng như tình trạng cát cứ ở địa phương

Về việc bổ nhiệm quan lại

Cũng như các triều đại khác thì quan lại bằng chế độ tập ấm, theo đó con cháu củahoàn thân quốc thích quan lại cao cấp được phong tước vị phẩm hàm thậm chí đươctrao một số cong việc triều chính tuy nhiên thời vua Lê Thánh Tông, những quan lạiđược tuyển chọn bằng hình thức này được quy định rất chặt chẽ bằng cách quy định rõtrong một số điều ở chương vi chế Bộ luật Hồng Đức nhằm loại trừ những tiêu cực đốivới hình thức tuyển dụng này Một điểm khác với các triều đại khác là quan lại có thểđược bổ nhiệm bằng con đường đề cử và việc này cũng được quy định một cách chặtchẽ So với các triều đại khác thì quan lại có thể được bổ nhiệm bằng con đường thi cửtuy nhiên thời vua Lê Thánh Tông, việc này được rất chú trọng, bởi vì những hạnhhưởng sâu rộng của tư tưởng Nho giáo Một điểm khác so với các triều đại khác là cácquan lại phải trai qua giai đoạn thử việc và sát hạch để kiểm tra năng lực Áp dụngchính sách luân chuyển công tác và chế độ hồi ty để làm trong sạch đội ngũ quan lạichống trình trạng tham nhũng Qua đó cho thấy các cách thức đào tạo, tuyển dụng và

Trang 8

sát hạch quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông tạo ra một đội ngũ quan lại trên nềntảng lập trường của kẻ sĩ theo Nho học.

Như vậy với tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông, cả nước chiathành 13 thừa tuyên đạo, có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường Nhànước trực tiếp quản lý các địa phương thông qua hệ thống quan lại

Tóm lại, tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông là mô hình tiên tiếnnhất của chế độ quan chủ phong kiến đương thời, thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng chỉđạo của Lê Thánh Tông: lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng kiềm chế nhau,địa phương gắn với trung ương Tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê ThánhTông có trình độ chuyên môn hóa cao hơn hẳn so với các triều đại khác và các nướckhác ở vùng Đông Nam Á

5 Phân tích nguyên tắc hạn chế quyền lực và ngăn chặn tình trạng phân quyền cát cứ thể hiện trong tổ chức bộ máy hành chính địa phương sau cải cách của Lê Thánh Tông Những ưu điểm và hạn chế có thể rút ra cho công tác quản lí hành chính địa phương hiện nay.

Xu hướng chung của các triều đại phong kiến Việt Nam là quân chủ trung ương tậpquyền, thể hiện qua hình ảnh nước Việt Nam thống nhất không phân chia suốt gầnchục thế kỷ độc lập Để được như vậy, không phải chỉ nhờ nét văn hóa đặc thù nảysinh trên điều kiện tự nhiên, kinh tế và lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam mà cònnhờ vào việc các triều đại phong kiến xưa đều có những nỗ lực lớn lao trong việc duytrì quyền lực tập trung Trong các triều đại đó thì triều đại của Lê Thánh Tông là mộttrong những triều đại rực rỡ và thành công nhất về mọi phương diện, tất nhiên là cả về

tổ chức hành chính địa phương để duy trì quyền lực tập trung

Triều Lê sơ vốn hình thành sau cuộc chiến tranh giành độc lập, thế nên tổ chức hànhchính nhà nước nặng về quân sự để phục vụ cho công tác quốc phòng và trị an, đặcbiệt là trong các triều đại đầu tiên Vì vậy, công tác tổ chức bộ máy hành chính ở địaphương được xây dựng theo hướng tập quyền, thể hiện qua việc hầu hết quyền hànhtập trung vào tay một cơ quan đứng đầu bởi một cá nhân (như ở đạo là Hành khiển, ởphủ là tri phủ,…) Nhưng điều này nếu kéo dài thường dễ dẫn đến lạm quyền và tạođiều kiện cho các thế lực địa phương phát triển dẫn đến nguy cơ nội chiến hoặc ít ra làphản loạn Điều này vẫn thường thấy xảy ra với các địa phận của dân tộc ít người do

họ có quyền tự trị tương đối lớn (như loạn Nùng Trí Cao thời nhà Lý) Vì vậy, sau khilên nắm quyền, Lê Thánh Tông bắt đầu tiến hành cuộc cải cách quy mô lớn về tổ chức

bộ máy nhà nước, cả trung ương lẫn địa phương, để tăng cường uy quyền của nhà vua

và hạn chế quyền lực của địa phương cũng như ngăn chặn các thế lực cát cứ

Đầu tiên là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính Biện pháp này không những

có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lí thành một hệ thống quy củ vàthống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ của các thế lựcquý tộc phong kiến Kế đến ở mỗi cấp hành chính, Lê Thánh Tông thực hiện việcphân tán quyền lực ra cho các cơ quan và cá nhân khác nhau để tránh tập trung quyền

Trang 9

lực quá lớn vào tay một người Cụ thể như ở cấp đạo, Tam Ty được thành lập để thaynhiệm vụ của quan Hành Khiển (dân sự) và quan Tổng quản (quân sự) Theo đó Thừa

ty quản lí hành chính, Đô ty quản lí quân sự và Hiến ty quản lí tư pháp Các cơ quanđều có chức năng và quyền lực riêng, từ đó giám sát và chế ức quyền lực của nhau,tránh sự lạm quyền Đây là một bước tiến đáng kể mà so sánh với điều kiện hiện tại,chúng ta có thể thấy rằng bộ máy hành chính địa phương nước CHXHCN Việt Nam

đã thừa kế những thành tựu đó khá tốt với cơ quan lập pháp là Hội đồng nhân dân cáccấp, cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan tư pháp là Tòa ánnhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp

Một biện pháp nữa được Lê Thánh Tông thực thi để tăng cường giám sát với cấp đạo

là việc đặt ra các cơ quan giám sát của trung ương, cụ thể là các Ty ngự sử trực thuộcNgự sử đài, có trách nhiệm đàn hặc và giám sát hoạt động của quan lại cũng như cơquan nhà nước ở cấp đạo Đây là một biện pháp tăng cường mạnh mẽ sự kiểm soátcủa trung ương với địa phương mà so sánh thực tế thì hiện nay chúng ta chưa có cơquan nào thực sự có quyền hành như thế dù rằng Thanh tra nhà nước vẫn có nhiệm vụ

và quyền hạn giám sát, thanh tra Một ưu điểm nữa của Lê Thánh Tông là quy địnhquan lại chỉ được tại chức đến năm 65 tuổi, bãi bỏ luật cha truyền con nối cho cáccông thần Theo tôi điều này cũng góp phần hạn chế quyền hành của các đại thần,tránh tình trạng cả nhà làm quan Chế độ Lưu quan, tức là luân chuyển quan lại quanhcác địa hạt, tránh trình trạng cát cứ

Đặc biệt trong việc tăng cường quyền lực trung ương, hạn chế quyền lực địa phương,

là việc Lê Thánh Tông trực tiếp can thiệp vào công tác quản lí ở làng xã, vốn được coi

là “thành trì” vững chắc của chế độ công xã nông thôn Đó là thông qua việc ban hànhtiêu chuẩn cử xã trưởng cùng với quy định về hương ước, triều đình nhà Lê đã có thểkhống chế tương đối đến tận cấp cơ sở, hạn chế đến mức thấp nhất sự thâu tóm quyềnlực của địa phương vì ngay cả cơ sở là làng xã cũng bị triều đình trung ương giám sát

và ức chế quyền tự trị thì không có lực lượng địa phương nào có thể ngoi lên được.Hiện nay thì khác hẳn, chúng ta đang có tư tưởng bỏ lỏng cấp cơ sở, tập trung vào cáccấp trung gian như quận huyện mà không đầu tư đúng mức cho công tác quản lí vàcông tác cán bộ ở cấp phường xã – cấp cơ sở Đây có thể coi là một sự chậm tiến khicác triều đại phong kiến từng bước thâm nhập vào cơ sở thì chúng ta với điều kiệnkinh tế hiện đại lại không tiếp tục phát huy

Tuy nhiên, qua đó ta cũng đã có thể thấy được các biện pháp cải cách quyết đoán vàtừng bước Lê Thánh Tông thể hiện quyết tâm hạn chế tính địa phương hóa, cát cứ đểtập trung quyền lực về trung ương, phù hợp với văn hóa đoàn kết và nhu cầu xây dựngbảo vệ tổ quốc Đại Việt xưa Dù rằng còn có những hạn chế nhất định của thời đại,nhưng những cải cách trên đã cho thấy một tư duy “vượt trước” nền chính trị ViệtNam phong kiến cũng như thiên tài cá nhân của Lê Thánh Tông, và qua đó giúp chúng

ta rút ra được những bài học lịch sử quý báu trong công cuộc tổ chức quản lí hànhchính địa phương, nhất là trên con đường quá độ lên CNXH đầy gian nan

Tuy nhiên nếu áp dụng vào thời đại ngày nay, khi chính quyền là "do dân và vìdân" thì chủ nghĩa tập trung (tuyệt đối) sẽ có 1số nhược điểm sau:

Trang 10

- Thiếu tính đại diện Chính phủ dân chủ phải là đại diện của nhân dân Do đó nếuchính quyền tập trung hết vào chính phủ trung ương thì làm sao người dân có thể cóđược đại diện của mình được? Dân có thể bầu ra 1 người, 2 người đại diện cho mình ởthủ đô Nhưng làm sao có thể kiểm soát chắc chắn hoạt động của những người này khi

họ ở xa mình có khi là cả nghìn cây số? Quyền lực sẽ thu về tay 1 số tầng lớp cao cấp

- Không thể đáp ứng tốt nguyện vọng của nhân dân, bởi chính quyền địa phương mới

là người hiểu rõ nhu cầu của nhân dân chứ không phải chính quyền trung ương.Không thể trông đợi 1 quan chức ở Hà Nội hiểu rõ sự phát triển, yêu cầu, đòi hỏi củangười dân tỉnh Bình Dương, cũng như không thể trông đợi 1 cán bộ ở quận 1 TpHCMhiểu rõ nhu cầu của huyện Cần Giờ v.v Chỉ có những người trực tiếp sống và làmviệc ngay tại địa phương mới có những hiểu biết tường tận nhất của nhân dân Nóicách khác, chính quyền địa phương gần gũi với người dân hơn chính quyền trungương

Do đó tóm lại 1 chính quyền quá tập trung sẽ dẫn tới mất dân chủ Tuy nhiên rõ ràngkhái niệm dân chủ không tồn tại đối với 1 nhà nước phong kiến Do đó chính sách của

Lê sơ như vậy có thể nói là tương đối tốt Khi áp dụng vào thời đại ngày nay, thời đạicủa tự do dân chủ, thì cần phải cẩn thận

6.Chứng minh tính tản quyền trong cải cách của Lê Thánh Tông

Khái niệm: Tản quyền có nghĩa là một công việc không tập trung vào một cơ quan,một chức quan mà sẻ chia cho nhiều cơ quan, nhiều chức quan cùng đảm trách Mỗi

cơ quan, mỗi chức quan là đảm nhiệm một nhiệm vụ, một lĩnh vực nhất định và hoạtđộng độc lập

Mục đích: tránh tập trung quyền hạn vào một cơ quan, một chức quan, tránh trìnhtrạng ôm đồm bao biện, tránh trình trạng lạm quyền đe dọa tới sự ổn định nhà nước.Yêu cầu: giới hạn quyền hạn, chức năng nhiệm vụ, đề cao vai trò trách nhiệm củatừng cá nhân

Tính tản quyền thể hiện trước hết ở các cơ quan trung ương.

Tính tản quyền thể hiện rõ nhất ở việc xóa bỏ các cơ quan trung gian và thành lập racác cơ quan mới:6 bộ, 6 tự, 6 khoa, đảm trách những công việc cụ thể, thể hiện tínhchuyên môn hóa, trong đó vai trò giải quyết các công việc hành chính của triều đìnhđược chủ yếu giao cho 6 bộ

Tách 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ra khỏi Thượng thư sảnh để lập 6 cơ quanriêng cai quản các mặt hoạt động của nhà nước Mỗi bộ có một Thượng thư phụ trách,chịu trách nhiệm trước Nhà Vua

Những công việc lặt vặt chuyên trách trong bộ thì giao cho các Thanh lại ty, có quanLang trung trông coi và quan viên Ngoại lang giúp việc

Trang 11

Ví dụ: Để công việc bộ Lại được điều hòa nhanh chóng và phân minh, những côngviệc ó tính cách chuyên môn như thuyên chuyển tuyển bổ và khảo sát quan lại đượctrao cho một cơ quan đặc trách là Thuyên khảo Thanh lại ty.

Còn những công việc thường nhật của bộ thì giao cho Tư vụ sảnh, có quan tư vụ đứngđầu

Ví dụ: Nhiệm vụ của bộ Hộ: coi sóc ruộng đất, tài chính, nhân khẩu, tô thuế, kho tàng,thóc tiền và lương của quan quân

Riêng bộ Hộ và bộ Hình còn thêm Chiếu ma sở có quan Chiếu ma phụ trách việc ghichép văn thư vào sổ

Tuy nhiên, công việc của 6 bộ rất nhiều, có nhiều công việc không thể đảm trách hếtđược, do đó vua Lê Thánh Tông lập ra 6 tự phụ trách công việc phụ của 6 bộ Điềuđáng lưu ý là 6 tự (Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự,Thường bảo tự) là cơ quan độc lập với 6 bộ và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của nhà vua.Phụ trách ở mỗi tự có chức quan Tự khanh trật Chánh ngũ phẩm và phụ giúp là quanThiếu khanh Chánh lục phẩm

Để bảo đảm 6 bộ hoạt động có hiệu quả, các quan lại có trách nhiệm hơn thì vua LêThánh Tông thành lập ra 6 khoa (Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa,Công khoa) có chức năng giám sát tương ứng với 6 bộ Quan phụ trách cao nhất củamỗi khoa là quan Đô cấp sự trung với trật Chánh nhất phẩm, dưới là quan Chấp sựtrung trật Chánh bát phẩm Lục khoa không phải là cơ quan cấp dưới của Lục bộ mà

là cơ quan giám sát Lục bộ và báo cáo trực tiếp lên Vua, cho nên mặc dù quan phụtrách ở khoa tuy phẩm trật không lớn nhưng rất có thực quyền

Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác được cải cách phù hợp với chức năng nhiệm

vụ tương ứng với một đối tương, và đảm trách từng công việc cụ thể hơn

Từ sự cách cải theo nguyên tắc tản quyền như đã nêu trên ta thấy có nhiều cơ quanmới được thành lập nhưng bộ máy nhà nước trung ương trở nên tinh gọn hơn, hoạtđộng hiệu quả hơn; nhiều chức quan mới xuất hiện tuy phẩm trật khác nhau nhưngthực quyền như nhau và có trách nhiệm hơn

Thứ hai là tính tản quyền trong cái cách chính quyền ở địa phương.

Tính tản quyền thể hiện ở việc thành lập 13 đạo để thu hẹp bớt quyền hành của chínhquyền địa phương và xóa bỏ một số đơn vị trung gian

Chính trong việc tổ chức mỗi đạo cũng thể hiện tính tản quyền rõ nét

Lê Thánh Tông đã cho cải tổ việc quản lý địa phương bằng cách trao quyền phụ trách

ở một đạo cho 3 cơ quan:

Thừa ty: phụ trách các công việc thuộc lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự

Đô ty: phụ trách quân sự

Trang 12

Hiến ty có chức năng giám sát các công việc trong đạo để tâu lên vua.

Chức quan đứng đầu mỗi cơ quan đảm trách công việc phù hợp với chức năng và trình

độ của mình Ví dụ: Tổng binh xuất thân từ hàng võ, không hiểu chữ nghĩa mà kiêmgiữ hai chức sẽ trở ngại cho việc quân ngũ và việc chính trị, vậy

Tông binh chỉ nên chuyên về việc binh

Để bảo đảm trách nhiệm của từn cá nhân, thì công tác thanh tra giám sát ở các địaphương cũng được chú trong Vua Lê Thánh Tông cho đặt Giám sát ngự sử ở 13 Đạolàm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các Hiến ty, giám sát đàn hoặc các hành vi sai trái củaquan lại các thừa tuyên, phủ, huyện Đồng thời Lê Thánh tông cũng quy định rõ chứctrách của các quan Giám sát ngự sử

Ngoài ra, tính tản quyền còn thể hiện rất rõ ở cấp xã

Chia tách và quy định rõ rõ từng loại xã và người đứng đầu của từng xã

Bỏ chế độ xã quan và đổi thành xã trưởng Phân địn rõ số lượng xã trưởng cho từngloại xa: đại xã thì dùng 5 người, trung xã thì dùng 4 người, xã nhỏ thì 2 người và nhỏdưới 60 hộ thì một người Quy định rõ về người làm xã trưởng: không cho phépnhững người là anh em ruột, anh em con chú, bác, cô, cậu, dì già cùng làm xã trưởng.Trông bộ máy chính quyền xã gồm các chức: xã trưởng, xã sử, xã tư Mỗi chức vụ cómột nhiệm vụ triêng biệt Mỗi xã có thêm nhiều thông nên có thêm chức trưởng thôn

để cùng xã trưởng giải quyết công việc

Nguyên tắc tản quyền ở địa phương mục đích tránh trình trạng cát cứ địa phương ảnhhưởng đến chính quyền trung ương

7.So sánh bộ máy nhà Lê qua 2 giai đọan : (1428-1460) và giai đọan (1460-1527) Làm rõ bước phát triển về tổ chức nhà nước thời kỳ từ năm 1460-1497.

II Về pháp luật

1.Hãy làm sáng tỏ nhận định sau: Pháp luật thời Lê thế kỉ XV đã thể hiện tính dân tộc sâu sắc?

Trả lời

-Pháp luật hình thành bằng con đường thừa nhận, ban hành những quy định mới trong

đó các giá trị truyền thống văn hóa, phong tục tập quán tích cực trong đời sống tinhthần của dân tộc được nhà làm luật thời Lê thừa nhận có chọn lọc, coi trọng chữ hiếutrong mối quan hệ con cái cha mẹ, chữ hòa trong quan hệ anh em

- Pháp luật hình sự nghiêm trị đồng bóng, bói toán có tính mê hoặc, trong hôn nhânnghiêm cấm tảo hôn hay kết hôn giữa những người có cùng huyết thống

Trang 13

- Tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương thân tương ái, các tập quán trong quan hệ sảnxuất, đời sống kinh tế được thừa nhận trong pháp luật Đây là nét khác biệt so vớipháp luật phong kiến trung quốc , nó phản ánh rất rõ tinh thần dân tộc của nhà làmluật nhất là pháp luật dân sự thừa nhận rất nhiều tập quán canh nông, thừa nhận loạiruộng đất làng xã…

2 Chứng minh nhận định sau: “Pháp luật phong kiến rất coi trọng mục đích trừng trị của hình phạt, bởi khả năng tự vệ của xã hội phong kiến trước các hành

vi xâm hại đến điều kiện tồn tại của xã hội còn yếu.”

3.Chứng minh pháp luật hình sự nhà Lê mang tính giai cấp?

4.Các đăc trưng của pháp luật hôn nhân và gia đình?

4.1 Pháp luật hôn nhân và gia đình chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo

Hôn nhân phụ hệ, gia trưởng, đa thuê Được cụ thể hóa bằng các chuẩn mực của nhogiáo sau:

a Quan hệ cha – con:

Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ

Cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng và nuôi dạy con cái: xuất phát từ quyền làm chủ giađình của người tô trưởng, cha mẹ có quyền dạy dỗ, chăm lo đời sống vật chất cho concái khi còn sống chung với cha mẹ

Điều 547: các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăncướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay connhững tan vật ăn trộm ăn cướp Nếu con đã ở riêng thì cha bị xử tội phạt hay biếm;cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng báo rồi mà còn để con ở nhà thì cũng xửnhư chưa báo

Con cái phải phụ tùng mệnh lệnh của cha mẹ: với tư cách là người gia trưởng nên cha

mẹ có quyền quyết định những vấn đề quan trong trong gia đình mà không phụ thuộcvào ý chí của con cái

Điều 2: Khoản 7: bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạybảo; nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc nhưthường; nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà giấu, không cử ai; nối dối là ông bà cha mẹchết

Điều 475: lăng mạ ông bà cha mẹ thì xử tội lưu châu ngoài; đánh thì xử lưu đi châuxa; đánh bị thương thì xử tội giảo; vì lầm lỡ mà làm chết, tì xử tội lưu châu ngoài; bịthương thì xử tội đồ làm chủng điền binh Đánh ông bà ngoại thì giảm tội một bậc.Pháp luật hôn nhân và gia đình đưa ra những những điều kiện chuẩn mực mà mỗingười trong gia đình ở mỗi vị trí khác nhau cần phải có trong quan hệ gia đình Khi

Trang 14

con cái có hành vi phá vỡ trật tự đó xâm phạm các điều kiện tồn tại của gia đình theotrật tự lễ giáo phong kiến thì pháp luật cho phép cha mẹ có quyền loại bỏ người con

đó ra khỏi gia đình

Điều 354: người nào tranh giành ruộng đất thì phải biếm hai tư Nếu đã có chúc thư

mà còn cố tranh giành thì cũng xử biếm như thế và phải tước mất cả phần của mìnhnữa Nếu cha mẹ không nhận làm con, trong chúc thư không có tên mà vẫn cố tranhthì phải biếm ba tư, đòi lại số ruộng đất tranh cho người chủ Nếu người trưởng họđảm bảo sai thì phải biếm một tư

Con cái phải có nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ tuổi cao sức yếu và đó làdịp để con cái báo hiếu cha mẹ Hành vị phạm nghĩa vụ này sẽ cấu thành tội bất hiếutrong nhóm thập ác tội

Điều 506: con cháu trái lời dạy bảo, và không phụng dưỡng bề trên mà bị ông bà cha

mẹ trình lên quan thì xử tội đồ làm khao đinh; con nuôi, con kế tự mà thất hiếu vớicha nuôi, cha kếm thì xử giảm tội trên một bật và mất những tài sản đã được chia.Nghĩa vụ tang chế, thờ phục cha mẹ khi cha mẹ mất

Điều 130: có tang ông bà cha mẹ và chồng mà giấu không khóc thì phải tội đồ làmkhao đinh, đàn bà đồ làm tang thất phụ Trong khi tang mà bỏ đồ tang mặc đồ thường

và vui chơi đàn hát thì biếm hai tư Gặp đàn hát mà nghe ay là dự những tiệc vuimừng đều xử phạt 80 trượng

Điều 543: cha mẹ chết mà nói dối là còn tang người khác, không để đại tang thì xử tội

đồ làm khao đinh Nói dối là ông bà cha mẹ hay chồng chết để đi xin tiền, vay tiền,hay có ý để tránh việc gì, thì phải biếm ba tư Nói dối là bác chú thím cô anh em chị

em chết thì phải biếm một tư

Điều 317: người nào đang có tang cha mẹ hoặc chồng mà lấy chồng hoặc cưới vợ thì

xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử tội biếm ba tư và đôi vợ chồngmới cưới phải chia lìa

Điều 408: đang có tang cha mẹ hay tang chồng mà gian dâm cũng xử tội chém

b Quan hệ vợ - chồng

Vợ chồng phải thủy chung

Nghĩa vụ thủy chung của người vợ: sự thủy chung của người vợ là điều cần thiết, nếu

vi phạm là một trong bảy lý do để buộc người chồng phải bỏ vợ

Điều 321: vợ cả, vợ lẽ tự tiện bỏ nhà chồng đi thì xử tội đồ làm xuy thất tỳ; đi rồi lấychồng khác thì phải đồ làm chung thất tỳ; người và gia sản phải trả về nhà chồng cũ.Người chồng phải gánh vác những việc lớn trong gia đình: bảo đảm đời sống vật chất,kinh tế cho cả gia đình, gìn giữ và duy trì trật tự gia đình là trách nhiệm của ngườichồng theo quan niệm gia trưởng của Nho giáo

Trang 15

Người vợ phải phục tùng chồng và gia đình chồng Nhằm đảm bảo lợi ích của gia đìnhnhà chồng theo chế độ phụ hệ: xuất giá tòng phu.

Nghĩa vụ tang chế của vợ với chồng và cha mẹ chồng: lo toan tang ma, tế tự khi chồngmất hay cha mẹ chồng mất Vi phạm nghĩa vụ này, người vợ bị khép vào tội thập ác.Điều 2: Mười tội ác (Thập ác)

Khoản 7: Bất hiếu, … có tang cha mẹ mà lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc nhưthường; nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà giấu không cử ai; nói dối là ông bà cha mẹchết

Khoản 9: Bất nghĩa, … nghe thấy tin chồng chết không cử ai lại vui chơi ăn mặc nhưthường, cùng là cải giá

c Quan hệ anh em.

Anh em phải hòa thuận

Trong gia đình, anh em phải hòa thuận vì mối quan hệ này quyết định sự thịnh suy củagia đình

Điều 52: Anh em không hòa thuận đến nỗi phải tranh giành kiện cáo nhau, thì ngườitrái lẽ phải xử tội nặng hơn người thường một bậc

Về quan hệ anh em cũng mang nặng tính gia trưởng của nho giáo

Điều 478: Đánh anh chị hàng ty ma thì phải biếm một tư; hàng tiểu công, đại công, thìtăng tội từng một bậc Đánh bậc tôn trưởng lại thêm tội một bậc; đánh trọng thươngthì xử nặng hơn tội đánh bị thương thường một bậc; đánh chết thì phải tội chém Bậctôn trưởng đánh bị thương những con cháu bậc dưới từ hàng ty ma, thì xử nhẹ hơnđánh người thường một bậc; hàng tiểu công, đại công, đều kém dần từng bậc một.Đánh chết thì xử tội giảo; đánh chết không phải bằng mũi nhọn và không phải cố ýgiết thì xử tội lưu đi châu xa

Điều 477: Đánh anh chị cậu dì và ông bà cha mẹ vợ thì xử tội đồ làm khao đinh; đánh

bị thương thì xử đồ làm tượng phường binh; đánh bị thương gãy chân tay, thì xử làm

đồ chuẩn điền binh; đánh bằng gươm giáo bị thương gãy chân tay mù mắt, thì xử lưu

đi châu xa; đánh chết thì xử chém, lăng mạ những người nói trên, thì xử biếm hai tư;ngộ xác thì xử đồ làm chuẩn điền bị; làm lỡ làm bị thương thì đồ làm khao đinh Đốivới bác, chú, thiếm, cô đều xử nặng hơn một bậc Đánh chết em trai, em gái cùng làcon cháu gái con rễ con cháu của anh em thì xử đồ làm chuẩn điền binh; đánh chếtbằng đồ nhọn sắt và cố ý giết thì xử tội lưu đi châu ngoài Ngộ sát thì không phải tội,đánh vợ của anh thì xử tội nặng hơn tội đánh người thường một bậc

Riêng những người chị em dâu có hành vi gây bất hòa với những người anh em kháccủa gia đình chồng thì ngoài việc xử lý hình sự còn là một trong bảy lý do buộc ngườichông ly hôn vợ

Trang 16

Điều 310: vợ cả, vợ lẽ phạm phải điều nghĩa tuyệt như thất xuất mà người chồng chịugiấu không bỏ thì xử tội biếm, tùy theo việc nặng nhẹ.

Trong lĩnh vực thừa kế, nếu có sự tranh giành về quyền được thừa kế thì sẽ bị truấtquyền hưởng thừa kế

Điều 388: nếu đã có lệnh của cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì phảimất phần mình

Giữa anh em còn có nghĩa vụ để tang cho nhau, cao nhất là một năm, ít nhất là batháng Ngoài ra giữa những anh chị em có nghĩa vụ để tang cho nhau thì không đượckết hôn

Điều 319: người vô loại lấy co, dì, chị, em gái, kế nữ, người thân thích, đều phỏngtheo luật gian dâm mà trị tội

4.2 Bảo vệ quyền phụ nữ trong chừng mực nhất định

Pháp luật nhà Lê mặc dù ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo và pháp luật Nhà Tốngnhưng vẫn có những điểm tiến bộ hơn, mang tính nhân văn hơn đó là bảo vệ quyềnphụ nữ Được thể hiện qua các quyền sau:

4.2.1 Quyền nhân thân

Các qui định về kết hôn, từ hôn, ly hôn, nuôi con cái

Bảo vệ danh dự người phụ nữ về kết hôn

Điều 315: nhà trai đã có sính lễ rồi, mà không lấy nữa, thì phạt 80 trượng và mất đồsính lễ

Bảo vệ quyền tự do trong kết hôn.

Điều 338: những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương daanm thì xử tộiphạt, biếm hay đồ

Bảo vệ danh tiết cho người phụ nữ

Điều 320: tang chồng đã hết mà người vợ muốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông bàcha mẹ mà ép gả cho người khác, thì xử biếm ba tư và bắt phải ly dị; người đàn bàphải trả về nhà chồng cũ

Người phụ nữ có thể từ hôn nhằm bảo đảm sự an toàn, sự hạnh phúc cho trương laicủa họ

Điều 322: Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn nếu người con trai bị ác tật hayphạm tội hoặc phá tán gia sản thì cho phép người con gái được kêu quan mà trả đồ lễ.Luật Hồng Đức qui định trong ba trường hợp sau thì người chồng không được ly dịvợ

Trang 17

Đoạn 165 Hồng Đức thiện chính thư có quy định bổ sung: người vợ đã để xong banăm tang cha mẹ chồng; lúc lấy nhau nghèo hèn về sau giàu có và lúc lấy nhau người

vợ còn người thân nhưng lúc bỏ nhau người vợ không còn người thân nào

Người phụ nữ có quyền quyền ly hôn Nếu người chồng vi phạm nghĩa vụ chung sống.

Điều 308: Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sởtại và xã quan làm chứng) thì mất vợ Nếu vợ đã có con, thì cho hạn một năm

Và có hành vi vô lễ với cha mẹ vợ

Điều 333: nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ vợ, đem việc thư quan

sẽ cho ly dị

Điều 402: quyến rũ con gái chưa có chồng, thì xử như tội gian dâm thường, và phảinộp tiền tạ, nhiều ít tính theo bậc sang hèn, trả cho cha mẹ người con gái; người congái không phải tội

Luật Hồng Đức còn bảo vệ phụ nữ một khi họ phạm tội, pháp luật vẫn dành cho họ sựkhoan hồng, bao dung: không bị đánh bằng trượng, không thi hành án tử hình đangnuôi con nhỏ, hay các mức hình phạt đồ dành cho họ nhẹ nhàng hơn sơ với nam giới Điều 680: Đàn bà phải tội tử hình trở xuống, nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ saumột trăm ngày, mới đem hành hình Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan

bị xử biếm hai tư ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh Dù đã sinh rồi nhưng chưa đủhạn 100 ngày mà hành hình thì ngục quan và ngục lại bị tội biếm hay tội phạt Nếu khichưa sinh mà thi hành tội xuy thì ngục quan bị phạt tiền 20 quan, ngục lại bị tội 80trượng Nếu vì đánh roi để xảy ra trọng thương hay bị chết, thì khép vào tội lầm lỡgiết người hay làm bị thương Sau khi sinh đẻ chưa đủ 100 ngày, mà đem thi hành xuyhình, thì chiếu theo tội lúc chưa sinh mà giảm cho một bậc

4.2.2 Bảo vệ về mặt tài sản cho phụ nữ.

Tuy pháp luật về thừa kế còn mang nặng tính nho giáo nhưng ở pháp luật Triều Lêvẫn mang tính nhân văn thể hiện ở chỗ con gãi cũng có quyền thừa kế

Điều 391: Người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không cócon trai trưởng thì dùng con gái trưởng…

Điều 397: Người ông là Trần Giáp sinh được trai gái hai con, trai trưởng là Trần Ất,gái là Trần Thị Bính, Trần Ất sinh được một gái Trần Thị Đinh, còn thơ ấu thì Trần Ấtchết Ông là Trần Giáo lập chúc thư giao phần ruoogj đất hương hỏa cho Trần ThịBính giữ Khii Trần Thị Bính chết, thì phần hương hỏa phải trả lại cho con gái Trần Ất

là Trần Thị Đinh giữ

4.2.3Có quyền sở hữu tài sản

Điều 376: Vợ chồng đã có con thì một người chết trước sau đó con cũng lại chết, thìđiền sản thuộc về chồng hay vợ

Trang 18

Chia tài sản khi ly hôn

4.3 Pháp luật hôn nhân gia đình có những giá trị, chuẩn mực về tập quán

a Những tập quán phù hợp thì được cụ thể hóa trong pháp luật

b Dùng pháp luật để loại bỏ những tập quán tiêu cực

5 Hãy chứng minh rằng pháp luật nhà Lê là sự kết hợp hài hòa của hai nhân tố nhân trị và pháp trị.

Pháp luật nhà Lê là hệ thống pháp luật hoàn thiện nhất, là đỉnh cao trong tiến trình lậppháp của xã hội phong kiến Việt Nam Thời kỳ nhà Lê, hệ tư tưởng Nho giáo được coi

là một hệ tư tưởng chiếm vị trí độc tôn trong việc tổ chức, cai trị xã hội Ý thức hệ chủđạo của Nho giáo là dùng lễ trị, nhân trị để duy trì trật tự xã hội Tư tưởng lễ trị làdùng lễ nghĩa để giáo hóa dân chúng, là nền tảng của mọi quan hệ xã hội theo nhữngthứ bậc, trật tự, gồm quan hệ vua tôi lấy chữ trung làm đầu; quan hệ thầy trò coi trọngchữ nghĩa; quan hệ giữa cha mẹ với con cái lấy chữa hiếu làm trọng, quan hệ anh emlấy chữa hòa để duy trì và bạn bè dùng chữ tín để xác lập,…Bên cạnh đóm chủ nghĩanhân trị đề cao các giá trị đạo đức khác, đòi hỏi con người xử sự với nhau phải có lòngnhân ái, độ lượng, thương yêu nhau; giữa nhà nước với dân chúng (nhất là đối vớingười phạm tội) phải có sự khoan hồng, nhân đạo

Tuy nhiên để cho các giáo lý này được thấm nhuần và trở thành quy phạm xử

sự bắt buộc trong xã hội nên cần phải dùng pháp trị, hình trị Tức trong một số trườnghợp để bảo đảm các giá trị nhân, lễ này phát huy tối đa hiệu lực cần phải dùng đếnnhững hình phạt đối với người không tuân thủ Đối với người phạm vào tội thập ác màxâm phạm đến khách thể là các quan hệ chính trị (tội mưu phản, tội mưu bạn, tội mưuđại nghịch, tội bất kính) làm ảnh hưởng đến an nguy Tổ Quốc (đại diện là vua); kháchthể là các quan hệ hôn nhân gia đình (tội ác nghịch, tội bất hiếu, tội bất mục, tội nộiloạn) làm ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội; khách thể là các luân lý đạo đức xã hội(tội bất đạo, tội bất nghĩa) nhóm tội thập ác là nhóm tội đặc biệt nghiêm trọng đã xâmphạm vào những khách thể mà không thể tha thứ được, hình phạt giành cho tội phạmnày thường rất nghiêm khắc, rất nặng nề hạn chế những qui định mang tính giảm nhẹ,đặc biệt khi đã cấu thành hình thức

Pháp luật không nêu định nghĩa về hình phạt nhưng hình phạt là loại chế tài phổ biếnnhất áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm pháp luật bất kể trong lĩnh vực nào.Chính vì không có sự phân định rõ ràng giữa hành vi phạm tội với những loại vi phạmpháp luật khác nên chế tài mang nặng tính trừng trị, nghiêm khắc nhất Tính nghiêmkhắc của hình phạt thể hiện ở chỗ nó luôn đem đến những bất lợi cho người bị kết án

sự tước bỏ hoặc hạn chế những quyền tự do nhân thân hay tài sanrm thậm chí cảquyền được sống, Pháp luật phong kiến nói chung và của nhà Lê nói riêng dùng hìnhphạt để bảo vệ nội dung và khách thể của pháp luật vốn được xây dựng trên cở sởnhân trị và đức trị, Nói cách khác việc dùng hình phạt (pháp trị) để bảo vệ các giá trị

Trang 19

tư tưởng nhân văn của học thuyết Khổng – Mạnh Vì lẽ đó, nội dung của pháp luậthình sự thể hiện rõ nét nhất sự kết hợp giữa hai hệ tư tưởng pháp trị với lễ trị và nhântrị Điều này thể hiện rõ nét hơn trong chế định hình phạt của luật nhà Lê Việc quyđịnh hình phạt thể hiện sự cứng nhắc thậm chí quá tỷ mỉ và phân hóa theo mức độ hậuquả do hành vi phạm tội gây ra.

Cả hai ý thức hệ nêu trên thẩm thấu một cách nhuần nhuyễn hòa quyện vào nhau vàđược cụ thể hóa thành các quy phạm pháp luật Quan niệm nhân trị, lễ trị được cácnhà làm luật lấy làm cơ sở để xây dựng nên nội dung của pháp lật cũng như xác địnhkhách thể trong các quan hệ pháp luật Tư tưởng pháp trị được các nhà làm luật sửdụng để cụ thể hóa thành các cách thứ bảo vệ nội dung và khác thể của pháp luật Đây

là sự kết hợp hoàn hảo giữa nhân, lễ và pháp và được thể hiện trong toàn bộ hệ thốngpháp luật nhà Lê Vì vậy, không có gì mâu thuẩn khi điều luật này đề cao các giá trị lễnghĩa nhân văn nhưng điều luật khác thể hiện sự mạnh tay (thậm chí thái quá) củapháp luật trong việc trừng trị người phạm tội

6 Chứng minh pháp luật nhà Lê bảo vệ các tập quán?

Phổ biết nhất là các tập quán được sử dụng trong đời sống chính trị như nguyên tắctruyền ngôi theo nguyên tắc thế tập, tập quán trong đời sống dân sự như tập quán về

sở hữu ruộng đất, tập quán canh tác, vay mượn, tập quán phân biệt đẳng cấp hay trọngnam khi nữ ít nhiều được thừa nhận trong quan hôn nhân gia đình; tập quán phân chia

và sở hữu ruộng đất hay canh thu tô trong quan hệ sở hữu ruộng đất…

Trong lĩnh vực pháp luật hình sự

Trong nhóm tội thập ác thì pháp luật cũng đã bảo vệ tập quán về bảo vệ tổ quốc; bảo

vệ vương quyền; con cái phải hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; trò phải kính thầy

Điều 2:

Khoản 1: Mưu phản, là mưu mô là nguy đến xã tắc

Khoản 7: Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo; nuôinấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc như thường;Khoản 8: Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại ngiệm; giết thầyhọc; nghe tin chồng chết không cử ai lại vui chơi ăn mặc như thường, cùng là cải giá;Phạm những tội này thương hình phạt rất hà khắc

Tập quán bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thông trị

Điều 7: Những người thuộc về nghị thân mà phạm tội thì họ tôn thất, họ hoàn thái hậuđều được miễn những tội đánh roi, đánh trượng, thích mặt; họ hoàng hậu thì đượcchuộc bằng tiền

Trong lĩnh vực pháp luật dân sự

Trang 20

Trong lĩnh vực pháp luật về hôn nhân gia đình

7.Tính nhân đạo và tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức ?

Bộ luật Hồng Đức là một tên gọi khác của bộ Quốc triều hình luật (Lê triều hình luật),đây là một công trình pháp luật tiêu biểu được nhà Hậu Lê xây dựng, được coi là bộluật nổi bật nhất, quan trọng nhất và có vai trò rất đặc biệt nhất trong lịch sử phápquyền phong kiến Việt Nam

Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng bộ luật Hồng Đức lại chứa đựngnhiều yếu tố tiến bộ với những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầnglớp dưới, của nô tì, người cô quả, tật … Nhiều quy định của bộ luật tập chung bảo vệngười dân chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại

Đặc biệt bộ luật Hồng Đức còn có một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ

em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh truyền thống nhân đạo, truyền thống tôntrọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làm nền tảng của quốc gia…

Tính dân tộc thể hiện đậm nét trong việc kế thừa và phát huy những thành tựu phápluật của các triều đại trước, kết hợp với những ưu điểm của pháp luật phong kiếnTrung Hoa để xây dựng lên một bộ luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể củaViệt Nam

Ngày nay, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người già yếu… được xếp vào nhóm “đốitượng dễ bị tổn thương” cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng thì hơn 500 nămtrước, trong bộ luật Hồng Đức đã có những quy định về trách nhiệm của xã hội, nhất

là của quan chức đối với nhóm người này Đây chính là một trong những điểm tiến bộ,nhân đạo của pháp luật thời Hậu Lê

1 Những quy định nhân đạo đối với người phạm tội

Điều luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này là điều 16, theo đó những người phạm tội “từ

70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những kẻ phế tật (tức những kẻ si, câm, cơ thểquè quặt, gẫy tay chân) phạm tội lưu, đồ trở xuống được chuộc bằng tiền…

80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và những kẻ bệnh nặng (là những ác tật như điêncuồng, tay chân bại liệt, mù hai mắt) phạm tội phản nghịch, giết người, đáng lẽ phải

Trang 21

xử tử thì trong trường hợp này phải tâu lên để vua quyết định Những người này phạmtội trộm, đánh người bị thương thì cũng cho chuộc tội; 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trởxuống, dù phạm tử tội cũng không áp dụng hình phạt”.

Trong xử lý tội phạm, bộ luật Hồng Đức còn lưu ý đến thời điểm phạm tội sao cho cólợi cho tội nhân khi áp dụng luật, theo đó “khi phạm tội chưa già, tàn tật Khi già, tàntật mới phát giác tội thì xử tội theo luật già, tàn tật…Khi còn nhỏ mà phạm tội, khi lớnmới phát giác tội thì xử tội theo luật tuổi nhỏ” (điều 17)

Luật còn nghiêm cấm áp dụng hình thức tra khảo với một số đối tượng và vấn đề liênquan đến người làm chứng, tại điều 665 quy định: “Những người đáng được nghị xétgiảm tội như 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống, người bị phế tật thì không được trakhảo họ, chỉ cần căn cứ lời khai của nhân chứng mà định tội

Nếu trái luật này thì coi như cố ý buộc tội cho người Luật có ghi điều được phép ẩngiấu cho nhau như người 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và người bệnh nặng đềukhông được buộc họ làm chứng”

Trong những trường hợp nhất định, pháp luật nghiêm cấm việc đối xử bạo ngược với

tù nhân, như trường hợp người tù bị mắc bệnh thì không được tiến hành tra khảo: “…Nếu tù có bệnh ung nhọt, không chờ lành lại tra khảo thì người ra lệnh bị xử biếm.Nếu tù bệnh ấy mà đánh roi, trượng thì phạt 30 quan tiền, nhân đó tù chết thì bị biếm

2 tư…” (điều 669)

Nếu thuộc trường hợp phải nộp tiền ứng với tang vật bị tịch thu nhưng “tội nhânnghèo khổ cùng cực không nộp nổi thì thuộc lại được phép trình bản ty, để nơi đây tâulên vua định đoạt” (điều 697)

Bên cạnh đó để tránh việc lạm dụng bạo lực với tù nhân và bảo vệ quyền lợi thiết yếucủa họ, tại điều 707 có quy định: “Ngục giám vô cớ hành hạ tù nhân đến bị thương thì

xử theo luật đánh người bị thương Nếu xén bớt áo quần, cơm, đồ ăn của tù nhân thìcăn cứ vào việc bớt xén đó kết tội ăn trộm; hoặc bởi đánh đập, bớt cơm mà tù nhânchết thì bị xử đồ hay lưu Ngục quan và giám ngục quan biết sự việc không tố giác thìcũng bị tội trên, nhưng được giảm một bậc”

2 Những quy định nhân đạo đối với người gặp khó khăn đặc biệt

Trang 22

Đối với những người gặp hoàn cảnh khó khăn, không có ai để nương tựa thì quanchức địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ họ, điều 294 quy định: “Ở nhữngphường hẻm hay trong kinh thành hoặc ở hương thôn, xã có người bệnh tật không ainuôi nấng, nằm ở dọc đường sá, cầu, điếm, chùa, quán thì cho phép quan bản phường

xã đó dựng lều cho họ ở, chăm sóc che chở, cấp cơm cháo, thuốc men cứu sống họ,không được bỏ mặc họ rên rỉ, khốn khổ Không may kẻ ấy chết thì trình quan trên,liệu bề chôn cất, không được để hài cốt phơi bày ra đó Nếu trái lệnh này thì quanphường xã bị biếm hay bị bãi chức ”

Một số đối tượng cũng cần được giúp đỡ khác là “những người góa vợ, góa chồng côđộc và người tàn phế nặng, nghèo khổ không người thân nương tựa, không khả năng

tự kiếm sống thì quan sở tại phải nuôi dưỡng họ, nếu bỏ rơi họ thì bị đánh 50 roi biếmmột tư Nếu họ được cấp cơm áo mà thuộc lại ăn bớt thì xử theo luật người giữ kho ăntrộm của công”

3 Những quy định nhân đạo, tiến bộ đối với phụ nữ và trẻ em

Đối với phụ nữ, quyền lợi của đối tượng này được đề cập chủ yếu trong hai chương

“Hộ hôn” và “Điền sản” với những quy định thể hiện sự coi trọng cá nhân và vai tròcủa người phụ nữ cũng như bảo vệ quyền lợi của họ trong việc hương hỏa, tế lễ, thừa

kế và sở hữu tài sản

Người vợ, theo phong tục và quy định phải lệ thuộc vào chồng nhưng trong bộ luậtHồng Đức địa vị của người vợ có những độc lập nhất định như họ có quyền có tài sảnriêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp, ví dụ tại điều 308 quy định:

“Chồng xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan

xã làm chứng thì chồng đó mất vợ Nếu đã có con thì gia hạn 1 năm Những ngườicông sai đi xa không áp dụng luật này Nếu đã thôi vợ mà cản trở người khác cưới vợ

cũ thì xử biếm”

Trong trường hợp cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng bị tội, điều 320 quy định như sau:

“Mãn tang chồng nhưng người vợ thủ tiết, nếu ngoài ông bà, cha mẹ, kẻ nào khác gả

ép người phụ nữ đó thì bị biếm ba tư và buộc phải ly dị Trả người đàn bà về chồngcũ…” hoặc “những nhà quyền thế mà ức hiếp để cưới con gái lương dân thì xử phạt,biếm hay đồ” (điều 338)

Ngày đăng: 15/09/2019, 10:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w