1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế

22 930 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 563,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật việt nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế

Trang 1

ĐỀ ÁN:

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI NÓI ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA 3

I Khái niệm Nhà nước pháp quyền – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 3

1.1 Nhà nước pháp quyền 3

1.2 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 3

II Lịch sử hình thành hệ thống pháp luật Việt Nam 3

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUA CÁC GIAI ĐOẠN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 5

I Giai đoạn trước năm 1992 7

1.1 1986 – 1987: đổi mới tư duy, chuẩn bị về mặt tư tưởng, đường lối đổi mới và tiến hành đổi mới trên thực tế ở một số lĩnh vực 7

1.2 1988 – 1991: Tiến hành đổi mới một cách có hệ thống, tương đối đồng bộ và triệt để trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế 7

II Giai đoạn 1992 – 2006 8

2.1 1992 – 1996: Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới thể chế và định hình khung cấu trúc thể chế của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần 8

2.2 1996 – 2000: Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đề ra nhiệm vụ “đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” 9

2.3 2001 – 2006: 10

III.Giai đoạn 2006 – nay 15

CHƯƠNG 3:KINH TẾ VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC KHÁC – KIỆN TOÀN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VÀ HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 20

I Kinh tế Việt Nam so với một số quốc gia tương đồng 20

II Kiến nghị kiện toàn bộ máy Nhà nước và hoàn thiện luật pháp trong thời kỳ đổi mới

21

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, và pháp luật đóng vai trò đặt biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.Pháp luật giúp Nhà nước kiểm soát được kinh tế; đảm bảo thực hiện việc xây dựng vàphát triển nhanh, bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phápluật là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, quy định của nó không được cao hơnhay thấp hơn trình độ phát triển của nền kinh tế đã sinh ra nó Vai trò của pháp luật thểhiện qua việc nó góp phần tích cực vào việc tổ chức, quản lý và điều tiết nền kinh tế Vượt qua đêm trường bao cấp, Việt Nam mở cửa nền kinh tế từ năm 1986, bắtđầu giao thương làm ăn với các quốc gia trên khắp thế giới Và Nhà nước phải tiếnhành cải cách phương thức quản lý, cũng như hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng nhucầu trong thời đại mới là một tất yếu khách quan Hơn 20 năm qua, chúng ta đã làmđược gì, đạt được những thành tựu đáng kể nào, những nhược điểm còn tồn tại đòi hỏiphải giải quyết triệt để trong giai đoạn mới để vực dậy nền kinh tế đang xuống dốc?

Trang 4

CHƯƠNG 1 : SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA

I Khái niệm Nhà nước pháp quyền – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền

Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đótính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo…của bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật vàchịu sự điều chỉnh của pháp luật

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang những đặc điểm chungcủa kiểu Nhà nước pháp quyền, bên cạnh đó còn mang nhiều đặc trưng riêng của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước “của dân, do dân,

vì dân” phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình từng giai đoạn phát triển của cách

mạng, thể hiện từ định hướng nhất quán của Đảng và Nhà nước về xác lập tổ chức môhình thực hiện quyền lực nhân dân Đó là nhà nước thực sự của dân dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản với lý tưởng dân chủ, nhân đạo, công bằng, công khai, văn minh,tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; được tổ chức và vận hành một cách khoa học, phùhợp với thực tiễn đất nước; tổ chức hoạt động phải trên cơ sở của pháp luật và quản lý

xã hội bằng pháp luật; quyền lực Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhấtquyền lực, có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việcthực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế an toàn và hiệu quả nhằmngăn chặn mọi sự lạm quyền, vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi và lợi ích hợppháp của công dân

II Lịch sử hình thành hệ thống pháp luật Việt Nam

Hệ thống pháp luật Việt Nam manh nha hình thành từ thời kỳ bắt đầu có nhànước Văn Lang – Âu Lạc Trong thời kỳ này, pháp luật thành văn chưa tồn tại, cácquan hệ trong cuộc sống chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán, phong tục hay mệnhlệnh khẩu truyền của nhà vua

Thời kỳ Bắc thuộc (179TCN - 938): Các quan hệ trong thời kỳ này chủ yếu

được điều chỉnh bởi luật tục của người Việt và luật pháp phong kiến Trung Hoa

Trang 5

Thời kỳ phong kiến (939-1945): Pháp luật dần dần được định hình trên các văn

bản thành văn; quy định các nguyên tắc chung, tội phạm, hệ thống hình phạt, nhữngquy định về hôn nhân gia đình, những quy định trong lĩnh vực dân sự và tố tụng… màđỉnh cao là Bộ luật Hồng Đức, được xây dựng trong thời kỳ Lê sơ từ đời vua Lê Thái

Tổ đến Lê Thánh Tông Đây là bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất trong lịch sử Nhànước phong kiến Việt Nam Bộ luật chứa nhiều nội dung tiến bộ, nhân văn sâu sắc, kỹthuật pháp lý hoàn thiện hơn so với các bộ luật cùng thời, có những điểm tiếp cận gầnvới kỹ thuật pháp lý hiện đại

Thời kỳ Pháp thuộc (1826-1954): Pháp ban hành bộ Dân luật giản yếu

(26/3/1883) cho Nam phần; bộ Dân luật Bắc (01/7/1931) cho Bắc phần; bộ Dân luật

Trung (1936-1938) cho Trung phần Các bộ luật trên đều dựa trên những quy tắc của

Dân luật Pháp

Thời kỳ sau CMT8-1945: Ngoài các bộ luật do thực dân Pháp ban hành, còn

song song tồn tại các luật bất thành văn được áp dụng tại các vùng kháng chiến Sau

1975, Nghị quyết 76/CP ngày 25/3/1977 của hội đồng chính phủ được ban hành để

thống nhất việc áp dụng luật lệ trong toàn quốc Sau đó ban hành Luật Hiến pháp vàcác bộ luật chung, luật chuyên ngành lần lượt ra đời, phù hợp với từng giai đoạn pháttriển chung của đất nước

Trang 6

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUA CÁC GIAI ĐOẠN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những thành công bước đầu trongviệc hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh tương ứng vai tròcủa Nhà nước đối với nền kinh tế Trước hết đó là sự thay đổi cơ bản quan niệm vềchức năng của Nhà nước trong nền kinh tế Nếu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII

chỉ dừng lại ở mức độ xác định nhiệm vụ "Bộ máy nhà nước từng bước chuyển sang

chức năng quản lý nhà nước, khắc phục dần sự can thiệp vào điều hành kinh doanh "

thì đến Đại hội VIII, quan điểm này được cụ thể hoá hơn "Nhà nước định hướng phát

triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực, thiết lập khuôn khổ pháp luật, xây dựng chính sách nhất quán, phân phối lại thu nhập, hạn chế tiêu cực của thị trường" Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ định hướng đổi mới chính sách căn bản là

"Tiếp tục đổi mới các công cụ vĩ mô của quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá, nâng cao công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoách phát triển kinh tế - xã hội” Nhà nước cũng đã bước đầu phát huy

vai trò của mình trong việc sửa chữa "những khiếm khuyết của thị trường" thông quacác chính sách bảo trợ xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên và môi trường.Nhà nước tham gia vào quá trình kinh tế thị trường với tư cách vừa là bộ máyquản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế Với các tư cách

đó, Nhà nước thực hiện ba chức năng:

- Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển;

- Phân phối lại thu nhập quốc dân;

- Bảo vệ môi trường

Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm ba chức năng đó, thể hiện ở cả balĩnh vực kinh tế cơ bản như sau:

- Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu

tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sởhữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam hiện nay Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, đònbẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò

Trang 7

chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốcdân.

- Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách… tạo điều kiện

thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất địnhtham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạchphát triển của doanh nghiệp

- Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế

do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực – trực tiếp là bộ phận kinh tế nhànước – để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng

ưu tiên phân phối theo lao động và phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế vớithực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơnđáp nghĩa…

Để thực hiện tối đa vai trò của nhà nước trong cả ba lĩnh vực kinh tế kể trên, thìNhà nước dựa vào hệ thống pháp luật để thực thi các cơ chế, chính sách mà nhà nướcban hành Sự tác động của pháp luật đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh được thựchiện thông qua một cơ chế phức tạp Hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiến hànhthông qua hoạt động có ý thức của con người và phải tuân theo những quy luật kinh tếkhách quan Pháp luật không đặt ra các quy luật mà chỉ tác động đến hành vi củangười kinh doanh, đặt ra các tiêu chuẩn cho con người tuân thủ, chấp hành Đồng thờipháp luật còn thể hiện yêu cầu của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế dưới dạngquyền và nghĩa vụ của chủ thể Do vậy, pháp luật đã trở thành một công cụ vô cùngquan trọng giúp nhà nước quản lý kinh tế Hơn nữa quản lý kinh tế bằng pháp luật làmột cách quản lý vô cùng khoa học, vì có tính dự báo nên nó có khả năng (dù khônghoàn toàn) theo kịp được sự phát triển của kinh tế nước ta

Quá trình đổi mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác định trên cơ

sở vai trò của Nhà nước và pháp luật đối với nền kinh tế, tương ứng với ba giai đoạnphát triển của nền kinh tế như sau:

I Giai đoạn trước năm 1992

1986 – 1987: đổi mới tư duy, chuẩn bị về mặt tư tưởng, đường lối đổi mới và tiến

hành đổi mới trên thực tế ở một số lĩnh vực.

- Trên tinh thần Điều 18 Hiến pháp 1980 thì thành phần kinh tế quốc doanh thuộc

Trang 8

sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

- Đại hội Đảng VI: đề ra đường lối đổi mới, trong đó, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới

tư duy Tư tưởng coi việc “sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng

thứ hai của cơ chế mới về quản lý” (sau tính kế hoạch), đòi hỏi “sản xuất phải gắn với thị trường, mọi hoạt động kinh tế phải so sánh chi phí với hiệu quả, các tổ chức và đơn vị kinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng”, v.v được ghi

trong Báo cáo Chính trị của Đại hội là đột phá quan trọng về tư tưởng và đường lốiphát triển kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

- 1987: Sửa đổi Luật Đất đai, ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài – mộtđạo luật được coi là rất thông thoáng Chuyển sang chính sách tỷ giá sát với tỷ giá thịtrường Mở cửa cho xuất khẩu các loại nông sản, đặc biệt là gạo

Thực trạng: nền kinh tế trong giai đoạn lạm phát phi mã, khủng hoảng nặng nề.

Tình hình này tạo áp lực phải tiến hành đổi mới trên thực tế một cách mạnh mẽ vàquyết liệt Một số đổi mới thực tế ban đầu theo hướng thị trường và mở cửa đã tạo ranhững chuyển biến có sức thuyết phục, tăng thêm quyết tâm đổi mới hệ thống, đồng

bộ và mạnh mẽ

1988 – 1991: Tiến hành đổi mới một cách có hệ thống, tương đối đồng bộ và triệt để

trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.

- 5/1990 – Pháp lệnh Ngân hàng ra đời, hệ thống Ngân hàng chính thức chuyểnsang hoạt động theo mô hình hai cấp Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lýNhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngânhàng

- Xoá bỏ chế độ hai giá, áp dụng hệ thống giá thị trường, thống nhất hệ thống tỷgiá và thực hiện chế độ lãi suất dương để chống lạm phát;

- Thông qua Pháp lệnh về các NHTM và các Tổ chức tín dụng;

- Sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài;

- Ban hành Luật Công ty

- 1991: Đại hội Đảng VII, thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên CNXH” Cương lĩnh khẳng định đường lối “Phát triển một nền kinh tế

Trang 9

hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác.”

Kết quả: Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 3 thế giới; lạm phát phi mã

được kiềm chế và kiểm soát Năm 1990, GDP tăng trưởng 8,3% Vốn FDI đăng ký đạthơn 1 tỷ USD; khai thác được hơn 2 triệu tấn dầu thô

II Giai đoạn 1992 – 2006

1992 – 1996: Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới thể chế và định hình khung cấu trúc thể chế

của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.

- Năm 1992, thông qua Hiến pháp mới, chính thức thừa nhận nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần;

- Thí điểm cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước (1992), bắt đầu triển khai rộng

từ năm 1996

- Ban hành Luật Đất đai năm 1993 thay thế Luật đất đai năm 1987, ban hành LuậtPhá sản; Luật DNNN

- Đẩy mạnh quan hệ song phương, đa phương và khu vực

- Năm 1993, lệnh cấm vận của Mỹ được tháo bỏ

- Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên ASEAN và bình thường hoá quan hệvới Mỹ

- Bãi bỏ nhiều loại giấy phép xuất khẩu và chế độ quản lý bằng hạn ngạch

- Nhận thức được nhiều thiếu sót trong vấn đề thuế, Nhà nước đã thực hiện cảicách thuế bước 1 từ năm 1990-1995 nhằm hình thành một hệ thống thuế thống nhất ápdụng cho tất cả các thành phần kinh tế

Kết quả: Nhờ các biến đổi thể chế được tiến hành đồng bộ và nhất quán, nền kinh

tế đã đạt được những kết quả tăng trưởng và phát triển “ngoạn mục”:

Ngoại thương tăng trưởng 25-40%/năm;

Trang 10

GDP tăng trưởng đạt kỷ lục năm 1995 là 9,54%

FDI đăng ký đạt 10 tỷ USD năm 1994 và 27 tỷ USD năm 1996

Đà tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh được xác lập, tỷ lệ ngườinghèo giảm nhanh

1996 – 2000: Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đề ra nhiệm vụ “đẩy mạnh quá

trình hội nhập kinh tế quốc tế”

- Bắt đầu bước vào thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, đặt mục tiêu đến năm

2020 đưa nước ta “về cơ bản trở thành nước công nghiệp”.

- Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 1996-2000 lần thứ I

- Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu ASEM

- Năm 1998, Chính phủ áp dụng chính sách "kích cầu đầu tư" nhằm khắc phục xu

hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng và tình trạng trì trệ trong nền kinh tế

- Tháng 11/1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Thái Bình Dương APEC

Á Năm 2000 ban hành Luật DN, bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinhdoanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏnhững rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí

- Thực hiện cải cách thuế từ 1996-2000 với mục tiêu không làm giảm nguồn thungân sách NN và hệ thống thuế phải góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theohướng CNH-HĐH, phù hợp với thông lệ quốc tế, minh bạch và đơn giản

Kết quả: Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực

(giai đoạn 1997 - 1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp, đặt nền kinh tế nước

ta trước những thử thách khốc liệt; tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăngtrưởng khá GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông – lâm

- ngư nghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ tăng

Trang 11

5,2% Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân là7,5% So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần.

2001 – 2006:

- Đưa ra nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp, kinh tế tư nhân thông qua việc ban hànhLuật đất đai 2003 và Luật doanh nghiệp năm 2005 Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụngchung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn

sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của cácdoanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu Điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu

tư của Việt Nam, đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho nhà đầu tư nướcngoài để tạo thêm hấp dẫn

- Trong Đại hội X năm 2006 cho phép Đảng viên được làm kinh tế tư nhân (trướckia đây là điều cấm kị, nếu làm sai có thể khai trừ khỏi Đảng cộng sản vì Đảng CộngSản là chống tư hữu, quan niệm làm kinh tế tư nhân là theo con đường tư sản)

- "Tiếp tục tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại nôngthôn đến năm 2010".( Quyết định 311/QĐ-TTg ngày 20/3/2003)

- Đề ra nhiệm vụ, kế hoạch và Triển khai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2001 – 2010 và Kế hoạch 5 năm lần thứ II 2001 - 2005 với mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn

kế hoạch 5 năm lần thứ I

- Cải cách thuế bước 3 từ 2001-2010 với mục tiêu và quan điểm hệ thống thuếphải góp phần lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô

Kết quả: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, năm

sau cao hơn năm trước GDP tăng bình quân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%;trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngànhdịch vụ tăng 7% Riêng quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm 2005đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995 GDP bình quân đầu ngườikhoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của các nước đangphát triển có thu nhập thấp (500 USD) Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhậpkhẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo

Ngày đăng: 18/05/2014, 22:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: GDP bình quân đầu người tăng qua các năm (%) - Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế
Bảng 1 GDP bình quân đầu người tăng qua các năm (%) (Trang 12)
Bảng 3: Xuất nhập khẩu Việt Nam qua các năm - Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế
Bảng 3 Xuất nhập khẩu Việt Nam qua các năm (Trang 13)
Bảng 4: Diễn biến trần lãi suất huy động từ 2011 đến nay - Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế
Bảng 4 Diễn biến trần lãi suất huy động từ 2011 đến nay (Trang 16)
Bảng 6: GDP qua các năm - Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế
Bảng 6 GDP qua các năm (Trang 20)
Bảng 5: Chỉ số giá tiêu dùng qua các năm - Đề án nghiên cứu các giải pháp và vai trò của nhà nước và pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đối với nền kinh tế
Bảng 5 Chỉ số giá tiêu dùng qua các năm (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w