- Đối tượng nghiên cứu: Trường phái này tập trung sự nghiên cứu của mình vào việc tìmhiểu, giải thích các chế định pháp luật được quy định trong Corpus Juris Civillis.Trường phái Glossat
Trang 1Chương 2 DÒNG HỌ CIVIL LAW
(13 tiết) Tên gọi của dòng họ: Civil law
- Nghĩa gốc của cụm từ “civil law” là luật dân sự Nhưng khi dịch ra Tiếng Việt nhưvậy, gắn với DHPL thì dòng họ pháp luật dân sự là tên gọi gây nhầm lẫn rằng dòng họnày chỉ chú trọng Luật dân sự Vì không có thuật ngữ tiếng Việt nào tương đương có thểhàm chứa tất cả bản chất của nó Civil law hàm chứa ý nghĩa về các HTPL coi trọngPháp luật thành văn, có hoạt động pháp điển hóa và thường có BLDS đồ sộ Vì vậy, nên
để thuật ngữ Civil law là chính xác nhất
- Ngoài tên gọi Civil law, dòng họ này còn có vài tên gọi trong các tài liệu khác như:DHPL Châu âu lục địa (tuy vậy tên gọi này không phản ánh đúng quy mô & tầm cỡhiện nay của DH này), DHPL La Mã – Giec manh (không dùng tên gọi này vì phủ nhậncác Luật khác tạo nên dòng họ này như Luật giáo hội, tập quán thương mại các quốc giaChâu Âu.)
I Sự hình thành và phát triển của DH Civil law
1 Sự hình thành và phát triển của DH civil law ở Châu âu lục địa
a Một số vấn đề cơ bản về Luật La mã.
- Dẫn nhập: Dòng họ Civil Law ra đời ở Châu Âu lục địa, là một trong hai dòng họ lớn
trên thế giới, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Luật La Mã, ở mức độ thấp hơn còn tập quánGiéc manh, Luật giáo hội, ở mức độ thấp nhất còn chịu ảnh hưởng của một số tập quángiao lưu thương mại quốc tế ở một số quốc gia Châu Âu
- Thuật ngữ Luật La Mã (LLM) có 3 cách hiểu khác nhau:
+ Tất cả những sản phẩm có thể coi là pháp luật ra đời gắn liền với sự tồn tại, phát triểncủa Nhà nước La Mã (từ 450 TCN - đầu thế kỉ 6 SCN)
+ Từ đầu thế kỉ 6 SCN (có một số người hiểu và đồng nhất Luật La Mã với công trìnhcủa Hoàng đế La Mã là Corpus juris civillis (CJC)
Trang 2+ Luật La Mã bao gồm Corpus juris civillis và tất cả các thành quả nghiên cứu của cáctrường phái nghiên cứu Luật La Mã ở các trường Đại học từ thế kỉ XI – XVIII
Kết luận: Việc hiểu theo cách (1) là chuẩn xác nhất vì nói đến pháp luật thì phải gắn liềnvới Nhà nước ban hành ra nó
- Các thành tố cơ bản của LLM:
+ Luật 12 bảng:
* Hoàn cảnh ra đời: Thời điểm ra đời 450 TCN, Hoàng Đế La Mã triệu tập ủy ban gồm
10 pháp quan - rất thông thạo tiếng Hy Lạp để nghiên cứu Luật Hy Lạp để sao chép họchỏi, tìm kiếm tập quán Latinh để xây dựng luật (Đây chính là so sánh lập pháp) Đây làluật thành văn đầu tiên của Nhà nước La Mã, được khắc trên 12 bảng đồng nên gọi làluật 12 bảng
* Đặc điểm về nội dung Luật 12 bảng: Luật 12 bảng chỉ chứa đựng những nguyên tắc
pháp lý cơ bản nên sau khi ban hành Luật 12 bảng, Nhà nước vẫn sử dụng nhiều tậpquán pháp áp dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội Luật này không có tham vọng điềuchỉnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của người dân
Ví dụ: Có nhiều nguyên tắc tiến bộ như nguyên tắc không ai bị tử hình mà không quaquá trình xét xử mà ngày nay tất cả các quốc gia hiện đại khai thác áp dụng Nhưng có
nhiều quy định lỗi thời: chế tài đối với trộm cắp có thể bị tử hình tùy thuộc địa vị người
trộm cắp là nô lệ, tài sản trộm cắp là gì Hình phạt không đảm bảo sự công bằng nhưngày nay
+ Tác phẩm các thiết chế (Institutions của Gaius)
- Là cuốn sách được viết trên da cừu, vào khoảng thế kỉ 3 TCN của tác giả có tên làGaius Nó là tài liệu luật thành văn đầu tiên trong xã hội loài người, ghi chép nội dung
cơ bản của Luật La Mã, nếu không có nó thì ngày nay chúng ta không biết đến Luật La
Mã cổ có những gì
- Nội dung cho thấy luật La Mã có 3 phần: (người, vật, hành động) Nội dung này cóảnh hưởng lớn tới các nước Châu Âu lục địa xây dựng luật dân sự của mình Cụ thể:phần quy định về người là nền tảng để xây dựng chế định địa vị pháp lý của cá nhân,
Trang 3phần quy định về vật là nền tảng các nước Châu Âu lục địa quy định về chế định tài sản,
sở hữu, phần quy định về vật là nền tảng xây dựng chế định hợp đồng, nghĩa vụ
(3) Corpus Juris Civillis: Đầu thế kỷ 6 SCN
- Bối cảnh ra đời: Đế quốc La Mã lúc này bị phân chia thành hai vùng Đông La Mã,
Tây La Mã Hoàng Đế Đông La Mã thấy sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã, đau xóttuyên bố: sẽ phục hồi Nhà nước La Mã rực rỡ huy hoàng như trong lịch sử đặc biệt vềpháp luật Vào đầu thế V, ông thành lập nên ban soạn thảo để soạn thảo ra cỏpus
- Nội dung Corpus Juris Civillis: 4 bộ phận
(1) Bản chuyên luận có hệ thống về luật (Code) : được viết dựa trên tác phẩm các
theiets ché của Gaius, có tới 2/3 nội dung được đúc rút ra từ các thiết chế Nhờ vậy, nóvừa có tính khoa học và tính pháp lý Cuốn sách chứa đựng tất cả các kiến thức cơ bảncủa luật học được dùng để giảng dạy cho sinh viên luật khoa Nó mang tính pháp lí
(2) Tuyển tập các quan điểm pháp lý (Digest):
Giá trị là quan trọng nhất của CJC, = bách khoa toàn thư về các tư tưởng pháp lý củacác nhà khoa học nổi tiếng của La Mã Về nội dung: Đây là cuốn sách chứa đựng kiếnthức cao siêu về luật, hữu ích cho nhà nhà nghiên cứu, luật gia
Ảnh hưởng tới dòng họ civil law: địa vị PL cá nhân, bồi thường trách nhiệm dân sựngoài hợp đồng, làm giàu bất chính, Hợp đồng &GPPL
(3) Bộ pháp điển (codex): là bộ sưu tập có hệ thống luật La Mã, gồm các đạo luật
Hoàng gia và Phán quyết của tòa án
(4) Bộ sưu tập các đạo luật Hoàng gia (Novel): 168 đạo luật do Hoàng đế kế nhiệm
Justinian ban hành Khác với trước: là các đạo luật từ Hoàng đế Justinian
KL: Corpus juris civilli là sự chọn lọc, chưng cất những tinh túy của luật La Mã đưa vào
nên nội dung không hoàn toàn giống mà được biến đổi
b Các giai đoạn phát triển của dòng họ pháp luật Civil Law
b.1 Thế kỉ 5 SCN tới đầu thế kỉ 11: Luật La Mã suy giảm
- Bối cảnh LS: Sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ, không có nhà nước nào mạnh bằng Đế
quốc La Mã thành lập Các quốc gia ra đời rồi lại lụi tàn nên Luật quốc gia không cónhiều Luật áp dụng ở Châu Âu lục địa lúc này hỗn hợp gồm nhiều loại luật là tập quán
Trang 4địa phương (tuy nhiên tập quán Giéc manh vẫn còn mạnh) Luật La Mã nằm trongCorpus Juris Civillis còn rơi rớt lại, đặc biệt là ở vùng đất thuộc Ý ngày nay Luật thànhvăn (thực chất là tập quán Giec Manh được ghi chép thành văn bản tạo thành luật thànhvăn có ảnh hưởng tới luật tư sau này như luật hôn sản, luật thừa kế của các hệ thốngpháp luật ở Châu Âu lục địa; Và Luật La Mã được người Giec Manh biên soạn lại bằngngôn ngữ tầm thường)
b.2 Từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XVIII: Phục hồi nghiên cứu Luật La Mã.
- Lý do nghiên cứu Luật La Mã:
Sau Đế quốc La Mã sụp đổ, khoa học luật La Mã biến mất Tới giữa thế kỉ XI,kinh tế - chính trị ở châu Âu có nhiều biến đổi, nhu cầu giao lưu thương mại giữa cácquốc gia, các vùng ở châu Âu tăng lên làm nảy sinh một vấn đề là xuất hiện nhiều cáctranh chấp trong thương mại đòi hỏi nhu cầu giải quyết các tranh cấp đó làm nảy sinhnhu cầu cần có luật điều chỉnh Phong trào phục hồi nghiên cứu luật cổ xuất hiện Đầutiên ở Bắc Ý người ta bắt đầu quan tâm nghiên cứu Corpus Juris Civillis, giáo sưIrnerius ở đại học Boglona khởi đầu nghiên cứu luật La Mã, tập trung nghiên cứuDigest Công trình này hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì có những vấn đề, nhiều chế địnhkhông còn tồn tại lúc bấy giờ (như chế định nô lệ) Hơn nữa, Digest được chưng cất từnhiều tác phẩm, được cô đọng nên khó hiểu, cần phải nghiên cứu nhiều Từ đó, ở châu
Âu lục địa hình thành các trường phái nghiên cứu luật La Mã
(1) Trường phái Bình chú luật (Glosstator)
- Trường phái này ra đời vào cuối thế kỉ XI, phát triển mạnh ở thế kỉ XIII, rồi lụi tàn và
bị thay thế bởi trường phái khác
- Trường phái bình chú luật khởi đầu từ khoa luật ở đại học Boglona (Ý)
Trang 5- Đối tượng nghiên cứu: Trường phái này tập trung sự nghiên cứu của mình vào việc tìmhiểu, giải thích các chế định pháp luật được quy định trong Corpus Juris Civillis.Trường phái Glossators đã đạt được những thành tựu lớn vào thế kỉ thứ XIII với tácphẩm đồ sộ của Accursius (1182-1236) với công trình Great Gloss với 96000 lời chúgiải về luật La Mã cổ đại.
- Phương pháp nghiên cứu là: cơ cấu lại từng văn bản cho logic, đưa thêm vào các chúgiải
- Mục đích: nghiên cứu để nêu ra vấn đề, gợi mở các vấn đề cho các nhà nghiên cứutrong tương lai, gợi mở giải pháp pháp lý cho các thẩm phán Đến cuối thế kỉ XIII,trường phái này lụi tàn, nhường chỗ cho trường phái thứ hai
(2) Trường phái bình luận luật (Commentator)
- Trường phái bình luận luật cũng ra đời ở Ý vào khoảng cuối thế kỉ XIII, phát triểnmạnh ở cuối thế kỉ XIV và tồn tại tới cuối thế kỉ XV
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của trường phái bình luận luật mở rộnghơn so với trường phái bình chú luật, không chỉ nghiên cứu Corpus Juris Civillis mà cònnghiên cứu cả luật giáo hội, không chỉ nghiên cứu lí thuyết mà còn nghiên cứu cảphương diện áp dụng pháp luật, đặc biệt là trong các lĩnh vực luật thương mại và xungđột pháp luật Lí do mà trường phái này nghiên cứu cả luật giáo hội là do bắt đầu từ thế
kỉ XII, các quốc gia rất yếu, cứ ra đời rồi lại lụi tàn, chính quyền không đủ sức đảmđương vai trò, Nhà thờ nổi lên thực hiện một số chức năng như làm luật, xét xử Luậtgiáo hội thường ban hành điều chỉnh lĩnh vực gia đình Vì vậy, trường phái bình luậnluật nghiên cứu cả luật giáo hội
- Phương pháp nghiên cứu: Trường phái bình luận luật sử dụng kết quả của trường pháibình chú luật và đưa thêm lời bình luận
- Mục đích nghiên cứu của trường phái bình luận luật khá thực dụng, đó là tìm cách giảithích các quy định của pháp luật La Mã, luật giáo hội làm cho chúng phù hợp với điềukiện mới, từ đó tìm ra giải pháp giải quyết khúc mắc trong thời đại của họ
Trường phái này có ảnh hưởng lớn đến phát triển khoa học pháp lí ở châu Âu
(3) Trường phái nhân văn pháp lý (humannist)
Trang 6- Trường phái này ra đời ở Pháp, lúc này trung tâm nghiên cứu luật chuyển từ Ý sangPháp.
- Đối tượng nghiên cứu: trường phái này không tin vào kết quả nghiên cứu của haitrường phái trước mà đi nghiên cứu nguyên bản luật La Mã, nhằm khôi phục lại nhữnggiá trị nguyên thủy của luật La Mã cổ đại
- Phương pháp nghiên cứu: trường phái này chú trong phương pháp lịch sử và triết học.Trường phái này sử dụng đối tượng và nghiên cứu cổ xưa nên kết quả nghiên cứu khôngđược thừa nhận rộng rãi, ít có giá trị vì nhu cầu cần luật để giải quyết những vấn đề hiệntại mà không cần xem luật cổ quy định gì Trường phái nhân văn pháp lí là tác nhân làmbiến mất luật chung ở châu Âu vốn đã suy yếu
(4) Trường phái pháp luật tự nhiên (The natural law)
- Sự ra đời: trường phái luật tự nhiên ra đời vào thế kỉ XV ở Hà Lan.
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu Corpus Juris Civillis gốc, vì các nhà khoa học
không tin vào kết quả nghiên cứu của trường phái bình chú và trường phái bình luậnluật
- Phương pháp nghiên cứu: suy diễn- phương pháp của khoa học tự nhiên như toán học.
- Đóng góp của trường phái luật tự nhiên:
+ Làm các quốc gia quan tâm hơn đến luật của quốc gia mình, khơi dậy chủ nghĩa dântộc pháp lý
+ Khởi xướng phong trào pháp điển hóa ở châu Âu lục địa
+ Phát triển mô hình công pháp
Đây là đóng góp lớn của trường phái pháp luật tự nhiên Vì từ luật La Mã chủ yếuphát triển luật tư, còn luật công thì lờ đi vì giai cấp thống trị không muốn chịu sự ràngbuộc pháp luật Nhà nước chỉ duy nhất phát triển luật hình sự - ngành luật công đặc biệt(mục đích chứ không phải đối tượng để xếp nó thuộc lĩnh vực là luật công, mục đíchcủa luật hình sự là Nhà nước cần áp dụng chế tài đối với các cá nhân công dân phạmtội.) Đối với luật nhà nước, luật hành chính thì không được phát triển
Trong khi đó, theo trường phái pháp luật tự nhiên, các quyền được sống, tự do, antoàn, mưu cầu hạnh phúc, quyền sở hữu tư nhân là các quyền tự nhiên thiêng liêng bất
Trang 7khả xâm phạm Luật pháp do nhà nước xây dựng phải phù hợp với pháp luật tự nhiên,lấy pháp luật tự nhiên làm cơ sở, nền tảng Trường phái pháp luật tự nhiên đấu tranh choquyền công dân và quyền con người, chống lại sự lạm dụng quyền lực của các cơ quannhà nước Tư tưởng này đặt nền móng cho việc xây dựng các luật trong lĩnh vực côngpháp nhằm hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ các quyền và tự do cá nhân.
Giai đoạn từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVIII là giai đoạn hình thành hệ thống phápluật chung thống nhất ở châu Âu Vào đầu thế kỉ XIII không chỉ châu Âu mà các nướcthuộc lục địa châu Âu cũng không có hệ thống pháp luật thống nhất Nguyên nhân làmỗi quốc gia đều áp dụng pháp luật tập quán cho các vùng miền khác nhau Ở Pháp cótới khoảng 60 loại tập quán áp dụng chung cho các tỉnh, các vùng như tập quán Paris,tập quán Bordeaux, tập quán Orleans, tập quán Normandie và khoảng 300 tập quán địaphương, có hiệu lực trong phạm vi huyện, xã, thị trấn Nhà văn Voltaire có nhận xétrằng đi trên các vùng đất của Pháp, người ta phải thay đổi pháp luật như thay đổi ngựa
Ở các nước khác cũng có tình trạng tương tự Việc nghiên cứu và giảng dạy luật La Mãnhằm đào tạo ra các thẩm phán, luật sư và các chuyên gia pháp luật khác trong cáctrường đại học ở châu Âu qua nhiều thế kỉ đã dần tạo ra tư duy pháp luật chung, ngônngữ luật chung, phương pháp luận chung về pháp luật thống nhất Người ta gọi hệ thốngpháp luật thống nhất của châu Âu lục địa là Jus commune Tuy nhiên Jus commune – làpháp luật thống nhất được hình thành từ các giảng đường đại học được tiếp nhận mộtcách tự giác chứ không phải bằng con đường quyền lực nhà nước như nước Anh vì vậy
nó được hiểu một cách mềm dẻo, không phải khuôn mẫu mang tính bắt buộc nhưcommon law ở nước Anh Như vậy, luật chung của châu Âu ra đời là sản phẩm nghiêncứu của chủ yếu hai trường phái pháp luật đầu tiên, trong đó trường phái bình chú luận
có ảnh hưởng gián tiếp, còn trường phái bình luận luật có ảnh hưởng trực tiếp tới sựhình thành luật chung châu Âu Đây là kết quả nghiên cứu văn hóa pháp lý cộng đồng từthế kỉ XI tới thế kỉ XIV
Mức độ tiếp nhận, thẩm thấu của luật chung châu Âu ở các quốc gia châu Âu cókhác nhau Ở, nước Ý – quê hương của luật La Mã cổ đại, với sự ra đời từ sớm củatrường đại học Boglona, luật La Mã được nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá rộng rãi
Trang 8nên hình thành pháp luật thống nhất diễn ra nhanh chóng, dễ dàng Ở Pháp tiếp nhậnpháp luật thống nhất khó khăn hơn vì Bắc Pháp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tập quánGiec Manh, miền Nam chịu tiếp nhận luật La Mã dễ hơn Hơn nữa, ở Pháp pháp luậtthống nhất chỉ được chỉ được coi là “lẽ phải thành văn” (raison ecsrit) được hiểu là nướcPháp chỉ chấp nhận ảnh hưởng của pháp luật thống nhất, bởi vì vua nước Pháp cho rằngtính bắt buộc của luật nhà vua cao hơn pháp luật thống nhất Lúc này, pháp viện Pariscũng như pháp viện các tỉnh, thành phố khác ở Pháp là các tòa án cấp tỉnh khi xét xửkhông bị bắt buộc phải áp dụng tập quán hay pháp luật thống nhất Giải pháp mà họthường áp dụng khi xét xử là giải pháp công bằng Vì vậy, Jus commune mà các giáo sưdạy ở các trường đại học và pháp luật mà thẩm phán áp dụng để xét xử không phải làmột mà nhiều khi khác nhau rất xa So với Pháp, Đức tiếp nhận pháp luật thống nhất dễdàng hơn vì theo quan niệm của người Đức thì hoàng đế Đức là người thừa kế hợp phápcủa hoàng đế La Mã Cũng vì lí do này mà người ta thấy luật dân sự Đức rất giống luật
La Mã Tuy nhiên, pháp luật thống nhất mà nước Đức tiếp nhận không phải là CorpusJuris Civillis của thế kỉ thứ VI mà là luật La Mã đã được cải tiến theo quan điểm của cácnhà pháp điển hiện đại Tuy vậy, cũng như ở Pháp, một số vùng ở phía Bắc nước Đứcnhư vùng Saxon, người ta coi Jus commune chỉ là nguồn luật bổ sung mà thôi Juscommune cũng được tiếp nhận Jus commune được tiếp nhận ở Tây Ban Nha, Bồ ĐàoNha như là pháp luật chung của những nước theo đạo Thiên Chúa Tới giữa thế kỉ XV,vai trò luật chung châu Âu suy giảm, do chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy, các quốc gia quaylại áp dụng luật quốc gia mình, nhưng không xây dựng được ngay mà quay về áp dụngtập quán
b.3 Từ thế kỉ XVIII tới thế kỉ XX: pháp điển hóa và luật thành văn ra đời
- Từ thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX: pháp điển hóa diễn ra ở Phổ, Áo nhưng thất bại
do các nước này quá tham vọng Họ không chỉ muốn có luật thống nhất mà còn muốnhợp nhất tư duy triết học, chính trị của mình
- Trong thế kỉ XIX: pháp điển hóa diễn ra thành công Đặc biệt là ở Pháp, Đức tiến hànhpháp điển hóa đặc biệt thành công Ở Pháp đã ban hành được khoảng 40 bộ luật Đầuthế kỉ XX, các bộ luật quan trọng của nước Pháp được ra đời: Bộ luật dân sự Napoleon
Trang 9năm 1804, Bộ luật tố tụng dân sự năm 1806, Bộ luật thương mại năm 1807, Bộ luật tốtụng hình sự năm 1808, Bộ luật hình sự năm 1810 Vào thế kỉ XIX, các bộ luật cơ bảncủa Đức cũng được xây dựng như: Bộ luật thương mại năm 1866, Bộ luật hình sự năm
1871, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1877, Bộ luật tố tụng dân sự năm 1877, Bộ luật dân
sự năm 1896 Trong đó, Bộ luật dân sự Pháp năm 1804, Bộ luật dân sự Đức năm 1896
có sức sống trường tồn, được nhiều quốc gia trên thế giới đã sao chép, học hỏi để xâydựng luật dân sự của nước mình Thế kỉ XX, hoạt động pháp điển hóa tiếp tục diễn raThụy sỹ, Áo, Hungari, Ba Lan… và gặt hái được nhiều thành công Ví dụ: Thụy sỹ banhành Bộ luật dân sự năm 1907, Bộ luật nghĩa vụ năm 1911 được Thổ Nhĩ Kỳ sao chéptoàn bộ
- Điều kiện pháp điển hóa thành công:
+ Tiến hành ở các quốc gia có chủ quyền, đã khai sáng văn minh và không bị cản trởbởi quá khứ, sẵn sàng phá vỡ đặc quyền đặc lợi trong xã hội cũ, quan niệm cũ để tiếpnhận những nguyên tắc pháp lý tiến bộ mới được các quốc gia khác học hỏi, tiếp nhậnđược
+ Quốc gia đủ mạnh để có thể gây ảnh hưởng tới quốc gia khác (thường các nước phápđiển hóa thành công phải là cường quốc thì các quốc gia khác mới ngưỡng mộ và họchỏi)
KL: Dòng họ civil law ra đời từ thế kỷ XIII hình thành trên cơ sở văn hóa pháp lý cộngđồng, tồn tại và phát triển tới thế kỉ XVIII
2 Sự mở rộng của dòng họ civil law.
a Lý do mở rộng:
- Chính sách thuộc địa hóa: Do nhiều quốc gia Tây Âu như Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Hà Lan, Italia nên dòng họ civil law đã có điều kiện thuận lợi để phát triển
sang khác châu lục khác Theo Rene David, dòng họ civil law phổ biến ở châu Phi và
Madagaska Trước khi người Tây Âu đô hộ thì những nước này không có hệ thống phápluật phát triển nên họ dễ dàng tiếp nhận một nền văn hóa pháp luật cao hơn Các nướcBắc Phi thuộc hệ thống civil law vì các nước Bắc Phi tiếp nhận các đạo luật của Pháp và
ý do quá trình thuộc địa hóa hoặc dưới ảnh hưởng chính trị và văn hóa Pháp, mặc dù
Trang 10pháp luật Hồi giáo vẫn giữ vai trò quan trọng ở những nước này Ở châu Mỹ, những
thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp và Hà Lan là những vùng lãnh thổ tiếpnhận các chế định thuộc dòng họ civil law và xây dựng các bộ luật theo các hình mẫucủa châu Âu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của châu Mỹ thì hệ thống pháp luật án lệ
đã thống soái ở đây Các lãnh thổ thuộc quyền cai trị của Tây Ban Nha trước đây, hiệnnay là các tiểu bang của Hoa Kỳ như Florida, California, New-Mexico, Arizona, Texaschỉ giữ lại được vài ba chế định của hệ thống civil law, còn cơ bản đã thuộc về dòng họcommon law Cá biệt, một số khu vực như bang Luisiana của Hoa Kỳ, bang Quebec củaCanada, Pueto – Rico do nhiều chế định của dòng họ civil law vẫn còn tồn tại nên hiện
nay ở các khu vực này cùng tồn tại cả hai dòng họ pháp luật civil law, common law Ở
châu Á, các quốc gia như Thổ Nhĩ Kì, Ai Cập, Iraq, Israel, Jordanie, Koweit cũng tiếp
nhận và chịu ảnh hưởng sâu sắc của dòng họ civil law bên cạnh việc duy trì pháp luậtHồi giáo truyền thống Các nước Viễn Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, các nước ĐôngNam Á cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc các chế định pháp luật của dòng họ civil law tronglĩnh vực công pháp cũng như tư pháp Hầu như tất cả các nước nói trên đều chịu ảnhhưởng không chỉ các học thuyết, các tư tưởng pháp luật mà còn chịu ảnh hưởng các chếđịnh pháp luật cụ thể như hợp đồng, thừa kế, sở hữu, pháp nhân… trong luật tư và cácchế định nghị viện, tổng thống, chính phủ, hệ thống tòa án, chính quyền địa phươngtrong luật công Các hiến pháp, bộ luật dân sự, hình sự, thương mại, tố tụng hình sự, tốtụng dân sự của các nước lục địa châu Âu cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình xâydựng và hoàn thiện pháp luật của các nước châu Á cũng như các châu lục khác
- Do xu hướng thích văn minh pháp lí phương Tây Một số quốc gia vì ngưỡng mộ vănminh pháp lý châu Âu nên tự nguyện học hỏi như trường hợp của Nhật Bản Thái Lanchưa từng bị nô dịch bởi cường quốc nào; một phần do ngưỡng mộ, một phần do thấycác nước xung quanh bị các cường quốc châu Âu xâm chiếm với một trong các lí do làkhai sáng văn minh, vậy nên Thái Lan mình tự học hỏi khai sáng trước để họ không có
lí do xâm chiếm
b Phạm vi mở rộng
Trang 11- Thế giới mới: châu Mỹ Latinh như các khu vực bang Lousiana của Hoa Kỳ, tỉnhQuebec của Canada, Puerto Rico, kênh đào Panama, Guina là những vùng nay có hệthống pháp luật hỗn hợp của civil law và common law.
- Châu Phi và Madagascar: bằng con đường thuộc địa Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Hy Lạp mang theo mô hình mang pháp luật của mình cấy ghép vào Một số quốc giahỗn hợp của hai mô hình civil law và common law như Liên minh Nam phi Đạo hồiảnh hưởng lớn Bắc Phi nên thuộc địa của Pháp, Ý không thay thế được Luật hồi giáo
mà kết hợp với civil law
- Châu Á:
+ Mô hình thuần civil law: Nhật Bản (nhưng ngày nay, Nhật ngày càng coi trọng án lệ),Đài Loan, Hàn Quốc, Siam, Thổ Nhĩ Kì, Thái Lan
+ Mô hình hỗn hợp civil law và luật Hồi giáo: Arab, Afganistan, Indonexia
+ Mô hình civil law và pháp luật XHCN: Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều tiên
+ Mô hình civil và common: Phillipin, Srilanka
KL: Sau khi ra đời, dòng họ civil law lan tỏa và có mặt ở hầu hết các châu lục trên thế
giới chỉ trừ châu Úc không đặt chân được tới
II Cấu trúc pháp luật của các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ civil law.
1 Sự phân chia pháp luật thành Luật công và luật tư
a Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của Luật công & Luật tư.
Luật công
- Khái niệm: Luật công bao gồm các
quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ pháp luật có Nhà nước
(Vd: 2 bên chủ thể đều là cơ quan nhà
nước, ít nhất 1 bên là nhà nước.)
- Tiêu biểu luật công là Luật hiến pháp,
Luật hành chính, Luật thuế, Luật môi
Luật tư
- Khái niệm: Luật tư bao gồm quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hộikhông có Nhà nước
(Vd: hai bên là cá nhân công dân, hoặc 1bên là cá nhân, 1 bên là tổ chức phi nhànước doanh nghiệp, cả hai bên là tổ chứcphi nhà nước như 2 doanh nghiệp.)
- Tiêu biểu luật tư là Luật dân sự và luậtthương mại, luật hôn nhân và gia đình, luật
Trang 12trường, Luật an sinh xã hội, luật hình sự,
Luật tài chính công
+ Quyền lực tối cao của Nhà nước (là
quyền làm luật) thuộc Nhân dân cần có
cơ chế kiểm soát để thực hiện (thường
tồn tại một cơ quan có chức năng bảo vệ
Kết luận: Hệ thống pháp luật của các nước Civil law được cấu trúc thành hai mảng lớn
là luật công và luật tư
b Tại sao phân chia thành Luật công và Luật tư.
- Lý do phân chia: Sự phân chia công pháp và tư pháp dựa trên tư tưởng đã hình thành
từ lâu trong các luật gia lục địa châu Âu với “quan niệm rằng mối quan hệ giữa ngườicai trị và người bị trị trong xã hội đòi hỏi những chế định pháp luật khác với mối quan
Trang 13hệ giữa tư nhân với nhau Lợi ích công và lợi ích tư không thể đặt lên cùng một bàn cânđược” Trong thời gian dài, mối quan tâm của các nhà luật học chủ yếu tập trung vào tưpháp vì công pháp thường gắn với quyền lực của hoàng đế Bàn luận về quyền lực củaHoàng đế trong điều kiện chưa có các thiết chế dân chủ cũng không khác gì đùa với hổ.Người La Mã có câu châm ngôn: “Hãy im lặng khi người ta nói về vua và nhà thờ” Vìthế mà thành Rome không có luật hiến pháp và luật hành chính Còn luật hình sự đượcphát triển vì mục đích của luật hình sự, trong mức độ nào đó mối quan hệ giữa cá nhânvới cá nhân (tội phạm và người bị hại, gia đình người bị hại) nhằm trừng trị kẻ phạmtội Nó không hoàn toàn thuộc về luật công Các nhà luật học theo trường phái pháp luật
tự nhiên cho rằng pháp luật là trật tự của tự nhiên, không phụ thuộc vào nhà nước vàcao hơn nhà nước Trường phái pháp luật tự nhiên phát triển mạnh (thế kỉ XVII, XVIII)
đã tạo ra khả năng mới cho phát triển luật công
- Cơ sở lí luận: (không có cơ sở rõ ràng)
+ Không có sự thỏa thuận của các quốc gia về sự phân chia này
+ Không có thống nhất của các quốc gia về phạm vi của công pháp và tư pháp Vì vậynên có luật lưỡng tính Do vậy, sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, một số ngànhluật còn đang tranh cãi Như vậy, hiện nay có luật công, luật tư, luật lưỡng tính Ví dụLuật lao động thời điểm mới ra đời điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa chủ và giới làmcông nên xếp vào nhóm luật tư là rõ ràng Ngày nay, cả cơ quan nhà nước cũng tuyểnlao động dưới hình thức hợp đồng lao động nên Luật lao động là luật mang tính chấtlưỡng tính
c Hệ quả sự phân chia thành luật công và luật tư
- Sản sinh mô hình tổ chức hệ thống tòa án khác ở các nước Châu Âu lục địa đó là hệthống tòa án hành chính Tòa án hành chính được thành lập để giải quyết các tranh chấpcông
- Sự phân công lao động đặc trưng trong nghề luật:
+ Luật sư công và luật sư tư, theo đó luật sư hành nghề trong lĩnh vực nào chỉ chuyên vềlĩnh vực đó
+ Giáo sư chuyên về luật công, các giáo sư chuyên về luật tư
Trang 14+ Cua học tại các khoa luật tập trung vào một trong hai lĩnh vực, luật công hoặc luật tưnhằm giúp cho sinh viên có thể lựa chọn học phục vụ sau khi ra trường.
2 Luật công ở các nước thuộc dòng họ civil law.
a Sự phát triển của luật công và điểm yếu của luật công
- Trong thời điểm Đế quốc La Mã thì có luật tư được chú ý phát triển Nhà nước La Mãkhông có Luật hiến pháp và luật hành chính chỉ có luật hình sự nên luật công có tuổi đờinon trẻ hơn nhiều so với luật tư
- Từ thời trung cổ tới thế kỉ XVIII
+ Ban đầu luật áp dụng đa dạng như tập quán pháp, luật La Mã, tập quán Giec Manh,Luật giáo hội nên Luật công không có chỗ đứng
+ Giai đoạn Nhà nước tập trung và cơ quan nhà nước bắt đầu hình thành nên Luật công
có chỗ đứng Những điều kiện hỗ trợ cho Luật hành chính đã hình thành
+ Thế kỷ XIX: xuất hiện các cơ quan hành chính nhà nước và phát triển nguyên tắc dânchủ tự do; Luật hành chính bắt đầu phát triển ở Pháp, Đức; cùng với đó là thành lập Tòa
án hành chính để giải quyết các tranh chấp luật công
- Điểm yếu của luật công:
+ Nhà nước La mã: Luật công không phát triển
+ Ngày nay, các nước Châu Âu lục địa, luật công vẫn yếu hơn luật tư (biểu hiện ở luậtcông nằm tản mạn trong các văn bản luật khác nhau, không được pháp điển hóa (ngay
cả Pháp, luật hành chính nội dung rất phát triển, cũng không có bộ luật hành chính);Phán quyết của tòa án - luật hành chính nội dung chủ yếu dựa vào phán quyết của tòa,chỉ có luật tố tụng hành chính thành văn
b Luật hành chính - hình thức điển tồn tại điển hình của Luật công ở các nước thuộc dòng họ Civil law.
- Tại sao Luật hành chính là ngành luật điển hình của Luật công?
+ Có 3 ngành luật công nước nào cũng công nhận Luật công tiêu biểu là Luật hiến phápLuật hình sự, Luật hành chính Tuy nhiên, Luật hiến pháp theo các quy định của nó thìđây là đối tượng nghiên cứu của khoa học chính trị nhiều hơn pháp luật, còn luật hình
Trang 15sự ngay từ khi mới ra đời đã ở dưới bóng của luật tư bởi được xét xử tại tòa án tư phápnên ngày nay khi nói luật công chủ yếu chỉ nói về luật hành chính
- Định nghĩa Luật hành chính: Luật hành chính là ngành luật chứa đựng tất cả những
quy phạm pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mối quan
hệ giữa cơ quan nhà nước với nhau và cơ quan nhà nước với công dân, tổ chức trong xãhội
- Nguồn của luật hành chính: nằm tản mạn ở nhiều nơi, không có quốc gia nào có Bộ
luật hành chính Nguồn của Luật hành chính nằm trong văn bản Luật, đạo luật, văn bảndưới luật Tuy nhiên, tại các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ civil law không thừa
nhận án lệ như một nguồn chính thống nhưng do sự nghèo nàn của luật nội dung nên
được khai thác bởi tòa án hành chính cấp trên (Tòa tham chính viện) để là nguồn chohoạt động xét xử Các tòa án hành chính cấp dưới lấy đó để xét xử Phán quyết trong tòahành chính có ưu thế hơn luật hành chính thành văn vì mức độ pháp điển hóa ở Phápcòn thấp Còn ở Đức luật hành chính nội dung giàu có hơn ở Pháp, luật thành văn chiếm
ưu thế hơn so phán quyết của tòa án Bất kể sự khác biệt đó, trong thực tiễn thẩm phánkhông tìm thấy giải pháp thì họ sử dụng các nguyên tắc chung của luật tư lại thườngđược sử dụng để hỗ trợ luật hành chính nhằm lấp chỗ trống những lỗ hổng của phápluật
Kết luận: Do không được pháp điển hóa, luật hành chính ở các hệ thống pháp luậtthuộc dòng họ civil law thiếu ổn định hơn luật tư Các quy phạm pháp luật của luật côngthường cho phép chính quyền nhà nước tùy tiện nhưng các chủ thể tham gia vào quan
hệ có rất ít lựa chọn
3 Luật tư ở các nước thuộc dòng họ civil law
a Sự phát triển của luật tư ở các nước civil law
- Luật tư phát triển hơn luật công vì thừa kế luật La Mã và luật giáo hội Luật tư baogồm có luật dân sự và luật thương mại là điển hình
b Các loại luật tư:
- Các loại luật tư bao gồm luật dân sự, luật thương mại, luật bản quyền, luật hàng hải,luật sở hữu trí tuệ
Trang 16- Luật dân sự:
+ Nội dung cơ bản của luật dân sự gồm những chế định về người, (thể nhân & phápnhân), về gia đình (kết hôn, li hôn, nghĩa vụ vợ chồng, cha mẹ con cái), chế định hônsản (để nâng cao tầm quan trọng nên không để trong luật gia đình mà tác riêng: tài sảnchung, và tài sản riêng (trường hợp một trong hai bên là chủ doanh nghiệp tư nhân chịutrách nhiệm vô hạn, khi vỡ nợ thì có quyền tấn công vào tài sản chung vợ chồng), chếđịnh sở hữu (tài sản tư hữu là thiêng liêng, bất khả xâm phạm), chế định nghĩa vụ là chếđịnh đồ sộ nhất trong dân luật (Vì thế mà ở Thụy sỹ đã ban hành bộ luật dân sự và bộluật nghĩa vụ) Chế định nghĩa vụ có 3 tiểu chế định: Hợp đồng, Bồi thường thiệt hạidân sự ngoài hợp đồng, làm giàu bất chính (thực chất là trong quan hệ dân sự có tìnhhuống tài sản không thuộc sở hữu của mình buộc phải hoàn trả lại…)
+ Về nguồn của luật dân sự ở hầu hết các nước đều có Bộ luật dân sự đồ sộ, ngoài ramột số văn bản dưới luật
- Luật thương mại:
+ Nội dung cơ bản của luật thương mại gồm các chế định công ty, ngân hàng, các công
cụ chuyển nhượng
+ Nguồn của luật thương mại thường có bộ luật thương mại, và cần có văn bản dưới luậtchi tiết hơn
4 Sự giống và khác nhau giữa luật công và luật tư ở các nước civil law
- Luật công và luật tư có sự khác biệt nhiều về quy phạm nội dung:
+ Luật công vốn thay đổi tùy thuộc vào ý nguyện cử tri (của người dân trong Hiến pháp
và luật hành chính phụ thuộc theo luật hiến pháp) và mức độ tập trung hóa của quốc gia.+ Luật tư: mỗi chuyên ngành đạt tới một giai đoạn phát triển khác nhau; ở một số quốcgia, luật có hoàn thiện mà có quốc gia không có do mức độ phát triển thương mại ở cácquốc gia khác nhau trong khi nước khác không biết đến là gì
- Giống nhau về kết cấu do:
+ Luật công có sự tương đồng trong tư duy chính trị và triết học; phương pháp chungtrong đào tạo luật nảy sinh cùng kiểu tư duy cho luật gia
Trang 17+ Luật tư ở hầu hết các hệ thống pháp luật đều xây dựng dựa trên cơ sở luật La Mã,TQHM (ít hơn) & tập quán thương mại quốc tế châu Âu (mảng luật thương mại rút ra từcác vùng khác nhau của Châu Âu); một số quốc gia tiếp nhận cả luật giáo hội.
III Nguồn luật của các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil law
1 Pháp luật thành văn.
a Quy phạm pháp luật
- Quan niệm về quy phạm pháp luật:
Ở các nước châu Âu lục địa, các luật gia có quan điểm khá giống nhau về quyphạm pháp luật Quy phạm pháp luật được hiểu là quy tắc xử sự có tính chất chung và
có ý nghĩa rộng hơn áp dụng vào một vụ việc cụ thể nào đó Đối với họ, tuyển tập thựctiễn xét xử của tòa án có thể là công cụ hữu ích cho các nhà thực hành nhưng chúngkhông có sự bao quát của khoa học pháp lí Nhiệm vụ của các nhà luật học là rút ra từkhối hỗn loạn đó những quy phạm, nguyên tắc, đưa việc giải quyết vấn đề tránh khỏinhững yếu tố ngẫu nhiên và đưa ra cho nhà thực hành sự hướng dẫn chung đối với việcgiải quyết vụ việc cụ thể Quy phạm pháp luật không phải và không thể do thẩm phántạo ra, nó là sản phẩm của tư duy dựa trên nghiên cứu thực tiễn và những suy nghĩ vềcông lí, đạo đức, chính trị và sự hài hòa của những quan hệ xã hội Khái niệm quy phạmpháp luật trên đây ở các nước Châu Âu lục địa là cơ sở của việc pháp điển hóa pháp luật
vì nếu hiểu quy phạm pháp luật là mỗi quyết định của tòa án đưa ra theo từng vụ việc cụthể được coi là án lệ thì khó có thể xây dựng thành các bộ luật Nhiệm vụ của các bộluật là đưa ra những quy tắc chung và liên kết chúng thành hệ thống, bao quát được cácquan hệ xã hội trong những lĩnh vực nhất định Quy phạm pháp luật không được chungchung quá, và được khái quát hóa đến mức độ cần thiết để điều chỉnh những dạng quan
hệ xã hội nhất định chứ không chỉ là áp dụng vào tình huống cụ thể như tòa án Cácnước châu Âu lục địa đã phải trải qua nhiều kinh nghiệm pháp điển hóa mới có đượcgiải pháp tối ưu Do quy phạm pháp luật có tính khái quát cao nên quy phạm pháp luậtkhông chỉ áp dụng cho một trường hợp mà có thể áp dụng cho nhiều trường hợp khácnhau, do đó nảy sinh nhu cầu giải thích pháp luật của các thẩm phán Các nước có hệthống pháp luật thuộc dòng họ common law, quy phạm pháp luật được xây dựng theo
Trang 18xu hướng thật cụ thể, chính xác, trong khi đó các nước civil law thì cho rằng quy phạmpháp luật phải để khoảng trống cho thẩm phán, không nên quy định quá chi tiết vì nhàlập pháp không lường trước được hết sự đa dạng các vụ việc trong thực tiễn.
- Cơ quan soạn thảo quy phạm pháp luật: pháp luật thành văn là quy phạm pháp luật do
cơ quan lập pháp và hành pháp ban hành Trong khi đó quy phạm pháp luật ở dòng họcommon law là do thẩm phán sáng tạo ra thông qua các án lệ Luật thành văn có đặcđiểm là mang tính trừu tượng, khái quát cao
- Tầm quan trọng của các quy phạm pháp luật thứ cấp: quy phạm pháp luật thứ cấp cóvai trò bổ sung, hỗ trợ và lấp lỗ hổng pháp luật
Ở dòng họ civil law, pháp luật thành văn được coi trọng và có trình độ hệ thống hóa,pháp điển hóa cao Trường phái pháp luật thực chứng trong lịch sử đã coi pháp luậtthành văn hầu như là nguồn duy nhất của pháp luật, họ coi các bộ luật như là sự hoànhảo của lí trí Ngày nay không ai còn ảo tưởng về vai trò tuyệt đối của pháp luật thànhvăn, tuy nhiên theo tư tưởng truyền thống, pháp luật thành văn vẫn được coi là nguồnquan trọng nhất trong các nguồn pháp luật
+ Hiến pháp (Constitution) là đạo luật cơ bản của nhà nước, văn bản có hiệu lực pháp lícao nhất do nghị viện ban hành với điều kiện có từ 2/3 trở lên số nghị sĩ của cả hai viện
bỏ phiếu thuận Ở một số nước, sau khi hai viện thông qua còn cần phải trưng cầu ýdân Hiến pháp chỉ được thông qua khi đa số cử tri bỏ phiếu thuận Việc sửa đổi hiếnpháp cũng phức tạp, ở một số nước, các đảng phái không có quyền biểu quyết để thayđổi nó, chỉ có cách là trưng cầu dân ý để sửa đổi và quy trình sửa đổi hiến pháp cũng rấtkhó khăn, phức tạp Ở Pháp: sửa Hiến pháp cần thông qua của Nghị viện và còn trưngcầu dân ý để dân bỏ phiếu thông qua 50% Thế kỉ XIX, hiến pháp thường được bảo vệ
Trang 19bằng uy tín chính trị Sang thế kỉ XX, một sự thay đổi lớn là xuất hiện cơ chế bảo hiến.
Để bảo vệ hiến pháp đa số các nước Châu Âu lục địa đã thành lập tòa án hiến pháp hoặchội đồng bảo hiến Ví dụ ở nước Đức Tòa án Hiến pháp liên bang có quyền xem xét tínhhợp hiến của các đạo luật
+ Điều ước quốc tế: Điều ước quốc tế thường được kí kết khi không trái với hiến phápquốc gia, trong trường hợp cần thiết thì phải sửa đổi hiến pháp trước khi kí kết điều ướcquốc tế Một số quốc gia như Pháp, Hà Lan quy định các Điều ước quốc tế có hiệu lựccao hơn nội luật Nhìn chung các nước châu Âu lục địa đều có quan điểm tương đốithống nhất là điều ước quốc tế có hiệu lực dưới hiến pháp nhưng trên các đạo luật quốcgia
+ Bộ luật: Lúc mới ra đời bộ luật có nghĩa là tuyển tập những luật khác nhau Các bộluật Pheodosia và Bộ luật Justinian nổi tiếng thời kì cổ đại đều vậy Vào thời kì phongkiến các bộ luật không còn là tuyển tập các luật mà là một văn bản luật tổng hợp vàtrình bày có hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các loại quan hệ xã hội khácnhau bao gồm cả hình sự, dân sự, hành chính, thương mại, đất đai, hôn nhân gia đình…như Bộ luật 1683 của Đan Mạch, Bộ luật 1687 của Na Uy, Bộ luật 734 của Thụy Điển
và Phần Lan, Bộ luật năm 1794 của Phổ, Bộ luật năm 1832 của Nga Hiện nay, thuậtngữ Bộ luật được sử dụng để chỉ văn bản luật tổng hợp và trình bày có hệ thống các quyphạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực các quan hệ xã hội nhất định
+ Đạo luật: Luật là những văn bản quy phạm pháp luật do nghị vienen ban hành theomột trình tự, thủ tục nhất định và phải được đa số nghị sĩ ở cả hai viện bỏ phiếu thuận.+ Các văn bản khác: Văn bản dưới luật do cơ quan Nhà nước được trao quyền cho, cònvăn bản luật do cơ quan lập pháp ban hành Văn bản dưới luật thì tùy từng quốc gia têngọi khác nhau, nghiên cứu nước nào tìm hiểu cụ thể
2 Tập quán
- Tập quán là những nguyên tắc quy tắc xử sự hình thành một cách tự phát, tồn tại từ lâuđời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành thói quen tự nhiên và mangtính bắt buộc chung như quy phạm pháp luật