Bài học cho các công ty xây dựng Việt Nam từ kinh nghiệm về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty của Mỹ ..... Bên cạnh những phức tạp, khó khăn, quản lý tài c
Trang 1HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
NGUYỄN ĐĂNG THUẬN
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
thuộc bộ quốc phòng
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2016
Trang 2HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
NGUYỄN ĐĂNG THUẬN
hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
thuộc bộ quốc phòng
Chuyờn ngành : Kế toỏn
Mó số : 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGUYỄN TUẤN PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu và kết quả trong Luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Đăng Thuận
Trang 4HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG 16
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XÂY DỰNG TRONG NỀN KINH TẾ 16 1.1.1 Khái niệm và vai trò công ty xây dựng 16 1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng trong mối
quan hệ với giám sát hoạt động tài chính 18 1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA
CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG 21 1.2.1 Bản chất và vai trò của giám sát hoạt động tài chính trong các công
ty xây dựng 21 1.2.2 Mục tiêu, nội dung và chủ thể giám sát hoạt động tài chính trong
các công ty xây dựng 27 1.2.3 Chỉ tiêu và phân loại hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính
trong các công ty xây dựng 32 1.2.4 Nội dung các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính công ty xây
dựng 39 1.3 KINH NGHIỆM VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG
TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY CỦA MỸ VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆP CHO VIỆT NAM 57 1.3.1 Kinh nghiệm về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính
trong các công ty của Mỹ 57 1.3.2 Bài học cho các công ty xây dựng Việt Nam từ kinh nghiệm về hệ
thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty của
Mỹ 65
Trang 5ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ
QUỐC PHÒNG 67
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 67
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 67
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 68
2.1.3 Cơ chế tài chính của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 70
2.2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 92
2.2.1 Thực trạng về chỉ tiêu giám sát hoàn thành kế hoạch 93
2.2.2 Hệ thống chỉ tiêu giám sát huy động và sử dụng vốn 93
2.2.3 Thực trạng về chỉ tiêu giám sát hiệu quả sử dụng vốn 95
2.2.4 Chỉ tiêu giám sát hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế 96
2.2.5 Chỉ tiêu giám sát khả năng trả nợ 97
2.2.6 Thực trạng về chỉ tiêu giám sát sử dụng chi phí 98
2.3 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 98
2.3.1 Kết quả đạt được 98
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 100
Kết luận chương 2 107
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 109
3.1 ĐỊNH HƯỚNG, NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 109
Trang 63.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài
chính trong các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 110
3.1.3 Yêu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 110
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG THUỘC BỘ QUỐC PHÒNG 112
3.2.1 Hoàn thiện nhóm chỉ tiêu tài chính bên trong của doanh nghiệp 113
3.2.2 Xây dựng nhóm chỉ tiêu cảnh báo rủi ro 134
3.2.3 Nhóm chỉ tiêu phi tài chính 140
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách 144
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện quy trình giám sát hoạt động tài chính tại các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 148
3.2.6 Hoàn thiện chế độ kế toán và quản lý các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 152
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 153
3.3.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan chức năng (BQP) 153
3.3.2 Đối với Doanh nghiệp xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 154
Kết luận chương 3 157
KẾT LUẬN 158
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 168
Trang 8Bảng 1.1: Rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh 63
Bảng 1.2: Các chỉ số phản ánh rủi ro tài chính 64
Bảng 2.1a: Vốn đầu tư của chủ sở hữu năm 2011, 2012, 2013 72
Bảng 2.1b: Vốn đầu tư của chủ sở hữu năm 2012, 2013, 2014 72
Bảng 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư của chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn 73
Bảng 2.3: Vốn huy động từ các nguồn tự bổ sung 73
Bảng 2.4a: Vốn huy động từ nợ phải trả 2011, 2012, 2013 74
Bảng 2.4b: Vốn huy động từ nợ phải trả 2012, 2013, 2014 75
Bảng 2.5: Tỷ trọng nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn 76
Bảng 2.6a: Tình hình đầu tư vào vốn hàng tồn kho và các khoản phải thu 78
Bảng 2.6b: Tình hình đầu tư vào vốn hàng tồn kho và các khoản phải thu 79
Bảng 2.7a: Kết quả hoạt động sử dụng vốn cho sản xuất kinh doanh của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 80
Bảng 2.7b Kết quả hoạt động sử dụng vốn cho sản xuất kinh doanh của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 81
Bảng 2.8: Giá trị đầu tư vào các công ty con, liên doanh liên kết và đầu tư dài hạn khác 82
Bảng 2.9: Giá trị đầu tư tài chính ngắn hạn của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 83
Bảng 2.10a: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty 84
Bảng 2.10b: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty 85
Bảng 2.11a: Tổng tài sản của các công ty trong thời gian 2011, 2012, 2013 85
Bảng 2.11b: Tổng tài sản của các công ty trong thời gian 2012, 2013, 2014 85
Bảng 2.12: ROE của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng 96
Bảng 2.13: Tình hình khả năng thanh toán nợ đến hạn của 5 công ty 97
Bảng 3.1: Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính giám sát hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 117
Bảng 3.2: Bộ chỉ tiêu phản ánh tình hình phân bổ vốn 118
Bảng 3.3: Cơ cấu tài sản dài hạn trong doanh nghiệp xây dựng 118
Bảng 3.4: Bộ chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn: 121
Bảng 3.5: Chỉ tiêu tài chính trung bình của doanh nghiệp ngành xây dựng 134
Bảng 3.6: Cách xác định các chỉ tiêu phi tài chính 141
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất
công nghiệp tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân Ngành xây dựng cơ
bản so với các ngành sản xuất khác có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng biệt
thể hiện ở sản phẩm và quá trình tạo ra sản phẩm Đặc điểm này chi phối tới
công tác quản lý và giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
Xây dựng trong các công ty xây dựng nói chung và các công ty xây dựng
thuộc BQP nói riêng đã có từ lâu, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh trong thời
gian gần đây, khi cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam đổi mới và có nhiều biến
chuyển về mọi mặt Hiện nay nhu cầu đầu tư xây dựng là rất lớn, nhưng trên
thực tế, quá trình quản lý, giám sát chất lượng và hiệu quả quản lý các dự án đầu
tư xây dựng còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn Tình trạng đó có thể xuất
phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do cơ cấu tổ chức quản
lý chưa được hoàn thiện, quy trình quản lý chưa chặt chẽ, tính chuyên nghiệp
hóa chưa cao và chất lượng đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý các dự án xây
dựng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Tất cả những vấn đề đó được lý giải từ
nguyên nhân hệ thống giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng
nói chung và các công ty xây dựng thuộc BQP nói riêng cần phải hoàn thiện
Trong thực tế hiện nay, cơ chế quản lý tài chính trong quân đội: công tác
quản lý, sử dụng tài sản, nguồn kinh phí có nhiều đặc thù Đối với BQP, công
tác quản lý, sử dụng tài sản và kinh phí diễn ra trực tiếp từ các đơn vị trực thuộc
BQP trở xuống như các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng, học viện nhà
trường, tổng cục và các đơn vị cấp dưới Mặt khác hoạt động quân sự lại mang
tính đặc thù riêng, do đó hoạt động tài chính và giám sát hoạt động tài chính
cũng mang tính đặc thù riêng Sự phức tạp trong quản lý, cấp phát ngân sách dẫn
tới lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ nghiệp vụ trong các đơn vị xây dựng thuộc BQP
Trang 10thường dựa trên các quy định của pháp luật, kinh nghiệm cá nhân để giải quyết
công việc cũng như kiểm tra, giám sát hơn là một cái nhìn tổng quát về hệ thống
các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính Rất ít các đơn vị có được chính sách
công cụ và thủ tục giám sát hoạt động tài chính riêng, phù hợp với thực tiễn và
thực sự hiệu lực, hiệu quả để thực hiện công tác quản lý tài chính một cách hữu
hiệu Việc thiếu một kỹ năng phân tích, kỹ năng giám sát và nhất là một hệ thống
đồng bộ các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính, từ mục tiêu, cảnh báo rủi ro
đến các hoạt động về kiểm soát, giám sát, dẫn đến lãng phí nguồn lực vào những
thủ tục kiểm soát, thủ tục giám sát không cần thiết, hoặc không hiệu quả do thời
điểm giám sát sau khi thực hiện, trong khi lại bỏ sót những thủ tục quan trọng
Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính ở các
đơn vị xây dựng thuộc BQP là hết sức cần thiết và là một trong những yêu cầu
cấp bách hiện nay
Bên cạnh những phức tạp, khó khăn, quản lý tài chính ở các đơn vị xây
dựng thuộc BQP cũng có những điểm tương đồng, vì vậy tổ chức và xây dựng
một hệ thống các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính hoàn chỉnh sẽ là công cụ,
là biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại tất cả
các đơn vị
Các công ty xây dựng thuộc BQP cũng là các đơn vị thụ hưởng NSNN
nhưng mang tính đặc thù, mang tính mệnh lệnh Quốc phòng Hoạt động xây
dựng vừa mang mục tiêu chính trị vừa có hoạt động xây dựng mang tính kinh
doanh Tính đặc thù của các hoạt động vì mục tiêu chính trị là tính mệnh lệnh,
tính chất cơ mật, quyết liệt, cơ động cao, tính đặc trưng của cơ cấu tổ chức, môi
trường hoạt động đặc biệt Đặc điểm này ảnh hưởng và chi phối một cách trực
tiếp và toàn diện đối với mọi hoạt động tài chính Quân đội Nghị quyết của Quân
ủy Trung ương và BQP đã chỉ rõ: hoạt động tài chính Quân đội phải lấy việc
phục vụ nhiệm vụ Quân sự quốc phòng là mục tiêu hàng đầu song phải gắn liền
với yếu tố tiết kiệm, hiệu quả Tổ chức giám sát hoạt động tài chính trong các
công ty xây dựng thuộc BQP phải phù hợp với yêu cầu hoạt động Quân sự, đạt
Trang 11được hiệu quả toàn diện và thích ứng với các tình huống, các trạng thái sẵn sàng
chiến đấu và chiến đấu cao, đồng thời cũng phải đáp ứng yêu cầu quản lý tài
chính của Nhà nước, BQP, đảm bảo chặt chẽ, tuân thủ đúng pháp luật
Có thể nói, trong những năm gần đây, công việc xây dựng cơ sở hạ tầng
phát triển rất nhanh và trở thành ngành mũi nhọn, đóng góp phần lớn GDP của
đất nước Nhưng thể chế nói chung và thể chế kế toán tài chính nói riêng chưa
thực sự hoàn thiện để tạo lập một nền tài chính hiệu quả trên cơ sở thông tin xác
thực, kịp thời và minh bạch Số lượng các công ty xây dựng nói chung và các
công ty xây dựng thuộc BQP nói riêng ngày càng nhiều và phát triển quy mô cả
về chất và về đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư xây dựng Thông tin công bố, đặc biệt
là các thông tin tài chính còn tương đối nghèo nàn và chưa kịp thời, chính xác
Việc hoàn thiện hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính trước, trong và sau quá
trình đầu tư, xây dựng sẽ giúp cho nhà quản lý nắm bắt kịp thời các nhu cầu,
điều chỉnh phù hợp các sai sót và tiến tới hoạch định được chiến lược đầu tư
tương lai, tránh rủi ro cho các đối tượng có liên quan và nền kinh tế Qua đó góp
phần xây dựng nền tài chính quốc gia hiện đại, hội nhập vào nền tài chính thế
giới Xuất phát từ vai trò, nhu cầu khách quan và chủ quan liên quan đến hệ
thống các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính, đồng thời sau một thời gian
nghiên cứu, tác giả lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng" làm đề
tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới luận án
Quản lý hoạt động tài chính, giám sát hoạt động tài chính, đầu tư vốn nhà
nước tại doanh nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của quá trình đổi mới, nâng cao
hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp có vốn nhà nước và các doanh nghiệp xây
dựng thuộc BQP ở nước ta Đặc biệt trong bối cảnh Đảng, Chính phủ đang đẩy
mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, công tác quản lý, giám sát hoạt động tài
chính, duy trì, bảo tồn và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh
nghiệp là vấn đề hết sức cần thiết…
Trang 12Những kết quả ban đầu:
Trước hết phải khẳng định, hệ thống cơ chế, chính sách quản lý, giám sát
hoạt động tài chính nói chung và hoạt động tài chính các công ty xây dựng thuộc
BQP nói riêng (DN BQP) trong thời gian qua đã được Chính phủ, Bộ Tài chính,
BQP ban hành đồng bộ, liên tục sửa đổi hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình
thực tiễn Vì vậy, đã góp phần ngày càng hoàn thiện hơn các cơ chế, chính sách
tài chính, hạn chế rủi ro, thất thoát trong quản lý, xây dựng tại các DN BQP
Trong những năm qua, hệ thống cơ chế, chính sách tài chính DN đã được
hình thành và đang dần được hoàn thiện, thống nhất với mọi thành phần kinh tế,
góp phần tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các DN Các chính sách
hỗ trợ DN được điều chỉnh theo hướng giảm dần việc hỗ trợ trực tiếp từ NSNN
cho các DN BQP sang hỗ trợ gián tiếp bằng các quy định thông thoáng hơn, tạo
lập quyền tự chủ cho các đơn vị Qua đó góp phần tạo động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế, an ninh quốc phòng
Sự đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách tài chính DN trong thời gian qua
đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm thiểu can thiệp hành chính của
cơ quan quản lý nhà nước gắn với nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của DN trong hoạt động kinh doanh và tài chính Khuyến khích DN nâng cao
chất lượng quản trị, năng lực cạnh tranh, công khai, minh bạch thông tin, thích
ứng với điều kiện hội nhập Với hệ thống cơ chế quản lý, giám sát hoạt động tài
chính trong các DN BQP ngày càng được hoàn thiện đã tạo cơ sở pháp lý cho
việc thực hiện tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành sản
xuất kinh doanh của các đơn vị này Đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước
từ quản lý hành chính sang quan hệ đầu tư, kinh doanh vốn, xác định rõ mối
quan hệ giữa chủ sở hữu vốn, người quản lý điều hành DN, tăng cường tính tự
chủ cho DN BQP Vì vậy, bước đầu đã xác lập rõ được quyền và nghĩa vụ của
người đại diện phần vốn nhà nước tại DN Bên cạnh đó, tạo sự phân công, phân
cấp giữa các cơ quan thuộc Chính phủ, BQP; thay đổi phương thức quản lý,
giám sát từ “hậu kiểm” sang “tiền kiểm”, gắn với việc phân loại, đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh và các mục tiêu chính trị của các DN BQP
Trang 13Công tác quản lý, giám sát hoạt động tài chính DN đã được triển khai
thông qua các hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính, phân tích, đánh giá, xếp
loại DN, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện cơ chế, chính sách tài chính
DN, công bố công khai thông tin về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính
DN… Riêng đối với các công ty xây dựng thuộc BQP, định kỳ hàng năm BQP
phối hợp với các cơ quan chuyên trách như KTNN, Cục TCDN kiểm tra việc
thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài chính của chủ sở hữu, đánh giá tình hình
hoạt động tài chính của doanh nghiệp Cùng với đó, tổng hợp, phân tích đánh giá
về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh báo cáo Quân ủy trung ương và
BQP, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Thông qua giám sát hoạt
động tài chính, phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, đưa ra kiến nghị
và cảnh báo về rủi ro trong hoạt động của các công ty xây dựng thuộc BQP để cơ
quan chủ sở hữu có giải pháp khắc phục
Hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính là vấn đề có ý nghĩa cả về
thực tiễn và lý luận Do vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập
đến Mỗi một công trình nghiên cứu hay mỗi một tác giả có cách nhìn nhận về hệ
thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính khác nhau Sau đây luận án tiến hành
khái quát một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giám sát, giám
sát hoạt động tài chính, các đơn vị thuộc BQP, các chỉ tiêu giám sát
2.1 Các nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
2.1.1 Các luận án tiến sĩ liên quan đến hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt
động tài chính của các doanh nghiệp xây dựng thuộc BQP
Phạm Bính Ngọ (2011): “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các
đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng”, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn
về kiểm soát nội bộ (sự cần thiết phải kiểm soát nội bộ, các yếu tố của quá trình
kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng tới kiểm soát nội bộ, nội dung và phương pháp tổ
chức kiểm soát nội bộ ) Đề tài chủ yếu đề cập đến cơ sở lý luận về chất lượng
kiểm soát nội bộ dựa vào các văn bản dưới luật, các quy định hiện có chưa hoàn
Trang 14thiện, sửa đổi; nội dung và phương pháp kiểm soát, quy trình kiểm soát của các
nước trên thế giới Đây là một đề tài nghiên cứu khá thành công về cơ sở lý luận
và cách thức, nội dung kiểm soát nội bộ dự toán các đơn vị trực thuộc BQP của
Việt Nam và có tham khảo các nước trên thế giới, có giá trị tham khảo tốt, gợi
mở hướng nghiên cứu cho luận án Tuy nhiên, do chỉ nghiên cứu về cơ sở lý luận
kiểm soát nội bộ của các đơn vị dự toán trực thuộc BQP nên đề tài chưa thực sự
đầy đủ, chỉ đáp ứng được khâu dự toán và là một phần trong hệ thống các chỉ
tiêu giám sát hoạt động tài chính các công ty xây dựng thuộc BQP
Nguyễn Tiến Hùng (2013): “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh
nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về điều kiện thành lập, hoạt
động của các DNBH trên thị trường Việt Nam Tuy nhiên, luận án này không đề
cập gì đến giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc BQP
Phan Hồng Mai (2012): “Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành
xây dựng niêm yết ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Luận án lựa chọn các công ty cổ phần xây dựng niêm yết ở Việt Nam để
nghiên cứu Nội dung nghiên cứu của luận án là các nội dung quản lý tài sản tại
doanh nghiệp ngành xây dựng gồm: quản lý dòng tiền, các khoản phải thu, hàng
tồn kho, tài sản cố định Luận án đã đánh giá thực trạng công tác quản lý tài sản
tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam Dựa trên thực
trạng đánh giá và lý luận nghiên cứu, luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao công tác quản lý tài sản tại các công ty này, như: đánh giá tác động của quản
lý tài sản đến ROA, ROE; ứng dụng mô hình Miller-Orr vào quản lý ngân quỹ;
các giải pháp về huy động vốn…Tuy nhiên luận án chưa đề cập đến các chỉ tiêu
giám sát hoạt động tài chính đối với các công ty xây dựng
Nguyễn Trọng Cơ (1999): “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam”, Học viện Tài chính
Luận án lựa chọn các công ty cổ phần phi tài chính để nghiên cứu Nội
dung của luận án đã đề cập đến các hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong
Trang 15các công ty cổ phần phi tài chính Dựa trên những tồn tại trong hệ thống chỉ tiêu
phân tích tài chính của trong các công ty cổ phần phi tài chính ở Việt Nam, luận
án đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu này Tuy nhiên luận
án chưa đề cập đến hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công
ty xây dựng thuộc BQP
Nguyễn Ngọc Quang (2002): “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài
chính trong các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam”, Đại học Kinh tế quốc dân
Luận án đã lựa chọn các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Nội dung
của luận án là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong
các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Luận án chưa đề cập đến các chỉ tiêu
giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng thuộc BQP
2.1.2 Các đề tài khoa học liên quan đến nội dung hoàn thiện các chỉ tiêu
giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính: “Nâng cao hiệu quả giám
sát hoạt động tài chính của các công ty cổ phần sau cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước” (2010) của TS Nguyễn Tuấn Phương và các cộng sự Đề tài đề cập
đến các vấn đề giám sát hoạt động tài chính đối với công ty cổ phần sau cổ phần
hóa DNNN, chưa đề cập đến các công ty xây dựng thuộc BQP Đề tài đã đánh
giá thực trạng giám sát hoạt động tài chính của các công ty cổ phần sau cổ phần
hóa DNNN để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động
tài chính Đối tượng nghiên cứu là các công ty cổ phần sau cổ phần hóa DNNN
Đề tài chưa đề cập đến các công ty xây dựng thuộc BQP
Đề tài nghiên cứu cấp Học viện Tài chính của nhóm tác giả do PGS.TS
Vũ Công Ty chủ nhiệm đề tài: “Tái cấu trúc các tổng công ty xây dựng ở Việt
Nam, bài học kinh nghiệm và giải pháp” (2011), Học viện Tài chính Nội dung
nghiên cứu của đề tài:
+ Nguyên nhân dẫn đến nhu cầu thực thi các giải pháp tái cấu trúc các
tổng công ty xây dựng Việt Nam
Trang 16+ Khảo sát thực nghiệm về kinh nghiệm quá trình tái cấu trúc tại Châu Âu từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình tái cấu trúc các tổng công ty xây dựng
+ Giải pháp để tái cấu trúc các tổng công ty xây dựng là tái cấu trúc thông
qua công ty mua bán nợ, thực hiện định giá doanh nghiệp bằng phương pháp tài
sản, được thực hiện bởi công ty kiểm toán độc lập hoặc công ty định giá độc lập
Các đề tài nghiên cứu ở trên sử dụng bộ số liệu nghiên cứu đến hết năm
2011, mà giai đoạn này thì bối cảnh kinh doanh của các công ty xây dựng chưa
bộc lộ hết các khó khăn Ngoài ra đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu trên
là các công ty xây dựng nói chung, chưa có nghiên cứu nào về các công ty xây
dựng thuộc BQP Nội dung nghiên cứu chưa đề cập đến các chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính
2.2 Các nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
Có một số tài liệu của một số cơ quan giám sát khác trên thế giới đề cập
đến hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính
Kinh nghiệm giám sát hoạt động tài chính tại Mỹ:
Để có thể dự báo và kiểm soát được rủi ro tài chính, các tập đoàn kinh tế
của Mỹ thường áp dụng nhiều phương pháp Có nhiều phương pháp dự báo nguy
cơ vỡ nợ của doanh nghiệp đó được xây dựng và công bố Tuy nhiên nếu chỉ sử
dụng các chỉ tiêu phân tích tài chính riêng biệt để chấm điểm xếp hạng thì không
thể dự báo chính xác xu hướng khả năng xảy ra khó khăn về tài chính của doanh
nghiệp, vỡ nợ cũng phụ thuộc vào nhận thức riêng của từng chủ thể quản lý
Nhiều biến số đó được sử dụng trong các mô hình kiểm soát rủi ro tài chính để
tăng cường tính dự báo nguy cơ vỡ nợ Một phương pháp đó được kiểm tra kỹ
lưỡng và được nhiều doanh nghiệp chấp nhận rộng rãi ở Mỹ hiện nay là hàm
thống kê Z-score của I.Altman Chỉ số này giúp các doanh nghiệp dự đoán được
nguy cơ phá sản trong tương lai gần để từ đó biết được mức độ rủi ro của mình
Hệ số nguy cơ phá sản, hay cũng gọi là Z-score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ
Edward I.Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập Hệ số này chỉ
áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như
Trang 17ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính Ở Mỹ, chỉ số Z-score đó dự đoán
tương đối chính xác tình hình phá sản cũng như mức độ rủi ro của các doanh
nghiệp trong tương lai gần Có khoảng 95% doanh nghiệp phá sản được dự báo
nhờ Z-score trước ngày sập tiệm một năm, nhưng tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn
74% cho những dự báo trong vòng 02 năm
Trên đây là các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên
quan đến luận án Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp đáng kể
trong việc giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính trong giai đoạn lịch sử nhất định, có thể tham khảo, kế thừa
có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu luận án Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện và có hệ thống cả về lý luận và
thực tiễn về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính ở các công ty xây
dựng thuộc BQP Chính vì vậy, qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả đã
quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám hoạt
động tài chính của các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng”
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc BQP, luận án hướng tới các
mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt
động tài chính cho các công ty xây dựng
- Đánh giá thực trạng về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của
các công ty xây dựng thuộc BQP
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài
chính của các công ty xây dựng thuộc BQP
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ
thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc BQP
cùng với quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động
Trang 18tài chính của công ty xây dựng và các công ty xây dựng thuộc BQP nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý và giám sát hoạt động tài chính của các công ty này
Phạm vi nghiên của luận án được giới hạn ở các công ty xây dựng thuộc
BQP Số liệu minh họa thực tế được lấy từ một số công ty xây dựng điển hình
Thời kỳ nghiên cứu đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt
động tài chính của các công ty thuộc BQP là giai đoạn 2011-2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng cở sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các
nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, định hướng của Đảng, Nhà nước và Bộ
Quốc phòng về phát triển các công ty xây dựng thuộc BQP
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp,
trong đó các phương pháp chủ yếu được sử dụng như sau:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích hệ thống hóa những vấn đề lý luận và
thực tiễn
- Phương pháp khảo sát, đánh giá tài liệu, quan sát, kiểm chứng để nghiên
cứu, tổng kết, phân tích làm nổi bật thực trạng các vấn đề nghiên cứu, xác định
rõ những nguyên nhân làm cơ sở đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
thuộc BQP
- Phương pháp thống kê, so sánh: sử dụng các số liệu thống kê để phân
tích, so sánh, tổng kết và rút ra các kết luận làm cơ sở đề xuất những định hướng
và giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các
công ty xây dựng thuộc BQP
Cụ thể:
- Tác giả luận án sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo
sát, áp dụng các công cụ tin học… Các phương pháp này giúp tác giả có luận cứ
khoa học để cập nhật số liệu tài chính nhằm đánh giá công tác giám sát hoạt
động tài chính và các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây
dựng thuộc BQP trong thời gian qua, từ đó đề xuất phải pháp
Trang 19- Luận án chọn mẫu nghiên cứu của 05 DNXD BQP, là những DNXD
điển hình của BQP, có doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước chiếm tỷ
trọng lớn Luận án sử dụng bộ số liệu trên báo cáo tài chính từ năm 2011 đến
2014 Tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so
sánh để tính toán các chỉ tiêu cơ bản phản ánh hoạt động tài chính của các công
ty xây dựng thuộc BQP trong thời gian qua, đó là: hoạt động huy động vốn, hoạt
động đầu tư và sử dụng vốn, hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế Tiếp theo
luận án nghiên cứu những chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty
này trong thời gian qua
- Luận án sử dụng phương pháp điều tra Phương pháp điều tra được sử
dụng để thu thập các thông tin về thực trạng giám sát của các công ty xây dựng
thuộc BQP Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp xây dựng, các cán bộ quản lý
doanh nghiệp xây dựng (chủ sở hữu), các cán bộ làm công tác giám sát hoạt
động tài chính tại các công ty xây dựng thuộc BQP
Cùng với việc nghiên cứu các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của
các công ty xây dựng thuộc BQP, luận án cũng đã sử dụng kết quả điều tra các
công ty xây dựng thuộc BQP để đánh giá công tác giám sát hoạt động tài chính
nói chung và các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính nói riêng trong các công ty
xây dựng thuộc BQP
Để có căn cứ tin cậy cho việc thực hiện đề tài, luận án đã tiến hành thu
thập các nguồn thông tin sau:
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Luận án tiến hành thu thập các thông tin và dữ
liệu tài chính trực tiếp từ các công ty xây dựng thuộc BQP
Số liệu sơ cấp của luận án có được từ phiếu điều tra các doanh nghiệp xây
dựng thuộc BQP, các cán bộ quản lý doanh nghiệp XDQP (chủ sở hữu vốn), các
cán bộ làm công tác giám sát hoạt động tài chính tại DNXD BQP và các chuyên
gia độc lập Cụ thể, tác giả luận án đã phát ra 200 phiếu điều tra, thu về 156
phiếu điều tra Phiếu điều tra gồm 38 câu hỏi đóng và 21 câu hỏi mở 38 câu hỏi
đóng được chia thành 7 nhóm:
Trang 20- Nhóm 1: Các câu hỏi về đặc thù quản lý của công ty (5 câu hỏi);
- Nhóm 2: Các câu hỏi về cơ cấu tổ chức của công ty (10 câu hỏi);
- Nhóm 3: Các câu hỏi về chính sách nhân sự của công ty (4 câu hỏi);
- Nhóm 4: Các câu hỏi về công tác kế hoạch của công ty (3 câu hỏi);
- Nhóm 5: Các câu hỏi về HT CTGS HĐTC của công ty (8 câu hỏi);
- Nhóm 6: Các câu hỏi về tổ chức bộ máy GS HĐTC (5 câu hỏi);
- Nhóm 7: Các câu hỏi về tác động môi trường GS HĐTC từ bên ngoài
công ty (3 câu hỏi)
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận án sử dụng các thông tin tài chính và các
thông tin khác của các chuyên gia, số liệu thống kê, báo cáo của BQP, Bộ Tài
chính và các bộ khác
6 Các câu hỏi nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở tổng kết, kế thừa các nghiên cứu trước đó, luận án tập trung
nghiên cứu các nội dung mới đáp ứng nhu cầu thực tiễn và lý luận về hoàn thiện
các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng thuộc BQP
nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Lý luận cơ bản về giám sát hoạt động tài chính và các chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng?
- Thực trạng chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công ty xây
dựng thuộc BQP hiện nay như thế nào?
- Giải pháp hoàn thiện các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các
công ty xây dựng thuộc BQP?
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
7.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, luận án củng cố và
hoàn thiện, tổng hợp cơ sở lý luận về giám sát hoạt động tài chính, các chỉ tiêu
giám sát hoạt động tài chính trên các góc độ: khái niệm, nội dung, các nhân tố
ảnh hưởng đến xây dựng các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính, kinh nghiệm
quốc tế về các chỉ tiêu cảnh báo rủi ro để làm cơ sở cho việc hoàn thiện chỉ tiêu
Trang 21giám sát hoạt động tài chính cho các công ty xây dựng thuộc BQP Từ số liệu sơ
cấp và thứ cấp, luận án đã đánh giá thực trạng hoạt động tài chính, công tác giám
sát hoạt động tài chính và các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công
ty xây dựng thuộc BQP; từ đó đưa ra định hướng, mục tiêu, quan điểm và giải
pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các
công ty xây dựng thuộc BQP
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Đối với chủ sở hữu
Việc phân tích đánh giá hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của
các công ty xây dựng thuộc BQP giúp chủ sở hữu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
các văn bản pháp lý về giám sát hoạt động tài chính và các chỉ tiêu giám sát hoạt
động tài chính tại các công ty xây dựng thuộc BQP
Giúp chủ sở hữu nâng cao năng lực giám sát hoạt động tài chính của các
công ty xây dựng để giám sát đồng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hiệu
quả hơn
Điều chỉnh chính sách quản lý, đánh giá giám sát các doanh nghiệp trực
thuộc mình quản lý đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Đối với công ty xây dựng thuộc BQP
Trên cơ sở nghiên cứu đặc trưng, nội dung giám sát hoạt động tài chính,
giúp nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch giám sát hoạt động tài
chính cho doanh nghiệp
Thông qua các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính, nhà quản trị doanh
nghiệp có thể xây dựng được hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính phù
hợp với công ty mình
Giúp nhà quản trị có được hệ thống chỉ tiêu cảnh báo được rủi ro, từ đó
giúp nhà quản trị có được biện pháp ứng phó kịp thời
Giúp nhà quản trị doanh nghiệp qua việc đánh giá các chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính còn nắm được tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp
để từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện tình hình tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp
Trang 228 Dự kiến các đóng góp mới của luận án
Về lý luận: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giám sát hoạt
động tài chính và hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính trong các công
ty xây dựng nói chung và các công ty xây dựng thuộc BQP nói riêng Những
đánh giá này sẽ giúp các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học tài chính, các cơ
quan quản lý, giảng viên, sinh viên kinh tế… có nguồn tài liệu tham khảo hữu
ích cho công việc của mình
Về thực tiễn: Làm rõ, đưa ra các đặc điểm của công tác giám sát hoạt tài
chính trong các công ty xây dựng và các công ty xây dựng thuộc BQP, những
nhân tố ảnh hưởng đến công tác giám sát hoạt động tài chính và hệ thống giám
sát hoạt động tài chính trong các công ty xây dựng và các công ty xây dựng
thuộc BQP thông qua việc phân tích từng khâu, từng chỉ tiêu, từng giai đoạn
quản lý Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính, cảnh báo
những rủi ro trong quá trình giám sát hoạt động tài chính đối với những nhân tố
do ảnh hưởng của công tác quản lý, điều hành thực hiện những mục tiêu kinh tế,
chính trị, từ đó làm rõ sự cần thiết phải thiết kế quy trình, hoàn thiện hệ thống
chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc BQP
Phân tích sâu sắc và đánh giá đúng thực trạng hệ thống chỉ tiêu giám sát
hoạt động tài chính hiện nay của công ty xây dựng thuộc BQP Từ đó, đề xuất các
giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty
xây dựng thuộc BQP trong thời gian tới phù hợp với điều kiện và đặc điểm của
các công ty xây dựng thuộc BQP Những giải pháp này không những giúp cho các
nhà quản lý, cơ quan quản lý Nhà nước có thể giám sát một cách có hiệu quả hơn
hoạt động tài chính của các công ty xây dựng thuộc BQP mà còn có thể giúp cho
các nhà quản trị của chính các công ty này thông qua các chỉ tiêu giám sát để có
được sự cảnh báo cần thiết trong hoạt động kinh doanh của công ty mình
9 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố
liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được chia
thành 3 chương:
Trang 23Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính
của các công ty xây dựng
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính của
các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài
chính trong các công ty xây dựng thuộc Bộ Quốc phòng
Trang 24Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XÂY DỰNG TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm và vai trò công ty xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm công ty xây dựng
Ngành xây dựng bao gồm các hoạt động:
- Xây dựng và lắp đặt các thiết bị trong các công trình phục vụ sản xuất,
đời sống xã hội và dân cư;
- Sửa chữa lớn các công trình xây lắp;
- Hoạt động thi công cơ giới phục vụ cho việc xây dựng các công trình;
- Hoạt động xây dựng, lắp đặt và sửa chữa lớn tự làm của các thành phần
kinh tế và các hộ dân cư
Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư
xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công
xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt
động khác có liên quan đến xây dựng công trình
Hoạt động xây dựng là quá trình lao động để tạo ra các sản phẩm xây
dựng cho nền kinh tế quốc dân gồm những công việc sau:
- Thăm dò, khảo sát thiết kế;
- Xây dựng mới, xây dựng lại các công trình;
- Cải tạo mở rộng, nâng cấp, hiện đại hóa các công trình;
- Cho thuê phương tiện, máy móc thi công có người điều khiển đi kèm
Các công ty thực hiện chức năng cung cấp các sản phẩm dịch vụ xây dựng
trong một khoảng thời gian nhất định gọi là các công ty xây dựng Vậy công ty
xây dựng có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, chuyên
sản xuất xây dựng trên thị trường để đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận
Trang 25Trong những năm qua, thị trường xây dựng Việt Nam đã phát triển không
ngừng và các doanh nghiệp xây dựng gia tăng không ngừng về số lượng và quy
mô hoạt động Có thể phân loại các công ty xây dựng theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn thì có thể phân chia công ty xây dựng
thành công ty xây dựng Nhà nước, công ty xây dựng thuộc thành phần kinh tế
ngoài nhà nước
- Căn cứ theo hình thức pháp lý thì có thể phân chia công ty xây dựng
thành công ty cổ phần xây dựng, công ty TNHH một thành viên xây dựng; công
ty TNHH hai thành viên trở lên xây dựng; doanh nghiệp tư nhân xây dựng
- Căn vào quy mô sản xuất kinh doanh thì có thể chia thành công ty xây
dựng có quy mô lớn, công ty xây dựng có quy mô vừa và nhỏ
- Căn cứ vào sản phẩm kinh doanh của công ty xây dựng thì có thể chia
thành công ty xây dựng công trình dân dụng; công ty xây dựng công trình công
nghiệp; công ty xây dựng công trình giao thông; công ty xây dựng công trình
nông nghiệp và phát triển nông thôn; công ty xây dựng công trình hạ tầng kỹ
thuật; công ty xây dựng công trình quốc phòng, an ninh
Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, trong thực tế công ty
xây dựng có thể hoạt động kinh doanh mang tính chất tổng hợp, kinh doanh
đồng thời nhiều sản phẩm xây dựng
1.1.1.2 Vai trò của công ty xây dựng trong nền kinh tế
Xây dựng là ngành sản xuất vật chất quan trọng thuộc hệ thống các ngành
kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, là ngành sản xuất đặc thù có chức năng tái
sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân bằng các hình thức xây mới,
xây dựng lại, khôi phục và cải tạo các công trình, hạng mục công trình, tạo cơ sở
vật chất cho xã hội, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước
Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tế
quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên cơ
sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định phục vụ cho quá trình sản xuất và đời sống
con người
Trang 26Các công ty xây dựng đã tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập
quốc dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho một số lượng lớn
lao động
Sự phát triển của các công ty xây dựng cũng như ngành xây dựng đã góp
phần thúc đẩy các ngành kinh tế có liên quan khác phát triển như ngành công
nghiệp, du lịch, giao thông vận tải…
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng trong
mối quan hệ với giám sát hoạt động tài chính
1.1.2.1 Đặc điểm sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng là các công trình, hạng mục công trình hoàn thành
toàn bộ có thể bàn giao đưa vào sử dụng hoặc khối lượng xây dựng lắp đặt đạt
điểm dừng kinh tế kỹ thuật, được nghiệm thu và thanh toán Sản phẩm xây dựng
có một số đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, sản phẩm xây dựng là cố định gắn chặt với đất đai, với điểm
xây dựng Đặc điểm này tạo tiền đề nảy sinh những đặc điểm khác Nó đòi hỏi
sản phẩm xây dựng khi sản xuất cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng việc chọn địa
điểm xây dựng của sản phẩm đó Vị trí xây dựng ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng công trình sau này, hiệu quả hay không hiệu quả
Thứ hai, về nguyên tắc sản phẩm xây dựng bao giờ cũng được sản xuất
theo yêu cầu trước, chứ không phải tự sản xuất ra như các loại hàng hóa thông
thường khác sau đó mới đem đi trao đổi Đặc điểm này quyết định đến trình tự
xây dựng cơ bản và đòi hỏi cơ chế quản lý cũng như giám sát riêng
Thứ ba, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có
giá trị dự toán riêng tại một thời điểm nhất định Đặc điểm sản phẩm xây dựng
mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về mọi mặt kinh tế, kỹ thuật, chính trị, mỹ thuật
Thứ tư, sản phẩm xây dựng rất đa dạng, tính cá biệt cao và chi phí xây
dựng lớn So với các ngành sản xuất khác, sản phẩm được sản xuất hàng loạt để
bán thì ngành xây dựng lại khác Mỗi một công trình xây dựng đều có đặc điểm
riêng do điều kiện địa chất và địa hình mang lại Đặc điểm này yêu cầu phải xác
định giá cả của sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra
Trang 271.1.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất vật chất
mang tính công nghiệp nhưng khác ngành sản xuất vật chất khác Hoạt động kinh
doanh của công ty xây dựng có những đặc điểm riêng biệt và các đặc điểm này có
ảnh hưởng đến việc giám sát các hoạt động tài chính của công ty xây dựng
Thứ nhất, tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn
định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng Trong xây dựng, con người và
công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác
còn sản phẩm xây dựng thì hình thành và đứng yên một chỗ Các phương án
xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa
điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho việc sản xuất,
khó cải thiện điều kiện cho người lao động, làm phát sinh nhiều chi phí Đặc
điểm này cũng đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải tăng cường tính cơ
động, linh hoạt và gọn nhẹ Về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn
hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cường điều hành tác nghiệp, phấn
đấu giảm chi phí vận chuyển Trong công tác giám sát hoạt động tài chính phải
chú ý đến giám sát việc sử dụng chi phí
Thứ hai, vốn lớn và chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình)
thường dài Để có thể xây dựng các công trình, các công ty xây dựng cần phải
ứng trước một lượng vốn lớn, đồng thời thời gian xây dựng lại kéo dài Đặc điểm
này làm cho vốn đầu tư xây dựng các công trình và vốn sản xuất của công ty xây
dựng thường bị ứ đọng lâu tại các công trình đang được xây dựng Các công ty
xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, các công trình xây
dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ Đặc
điểm này đòi hỏi các công ty xây dựng phải chú ý đến lựa chọn phương án thời
gian xây dựng phù hợp, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra chất lượng trung
gian thích hợp, dự trữ nguyên vật liệu hợp lý Đặc điểm này cũng đòi hỏi các
công ty xây dựng phải có các chỉ tiêu giám sát hoạt động tài chính cho phù hợp,
nhất là giám sát việc sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn
Trang 28Thứ ba, sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng
trường hợp cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu
Trong nền kinh tế thị trường, việc nhận thầu xây dựng được tiến hành theo
phương thức đấu thầu giữa các doanh nghiệp Vì vậy, để trúng thầu, được nhận
thi công công trình thì doanh nghiệp xây dựng phải xây dựng được giá đấu thầu
hợp lý trên cơ sở các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản Nhà nước ban hành
trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp về tiến độ thi công, tổ
chức quản lý và việc phấn đấu hạ thấp chi phí, đảm bảo hoạt động kinh doanh có
lãi Hoạt động xây lắp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký kết với chủ đầu
tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu Trong hợp đồng, hai bên thống
nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác
Đặc điểm này đòi hỏi các công ty xây dựng phải có bộ chỉ tiêu giám sát việc
hoàn thành kế hoạch
Thứ tư, quá trình sản xuất rất phức tạp Các đơn vị tham gia xây dựng các
công trình phải đến công trường thi công với diện tích có hạn để thực hiện phần
việc của mình theo trật tự về không gian và thời gian Đặc điểm này đòi hỏi các
đơn vị thi công phải có phối hợp tổ chức cao trong sản xuất, phải coi trọng công
việc chuẩn bị, thiết kế và tổ chức thi công
Thứ năm, sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời, phụ thuộc vào điều
kiện thời tiết, điều kiện lao động nặng nhọc Ảnh hưởng của thời tiết thường làm
gián đoạn quá trình thi công, quá trình sản xuất không được liên tục, phải dự trữ
nhiều vật liệu… Đặc điểm này đòi hỏi các công ty xây dựng phải lập tiến độ thi
công hợp lý để tránh thời tiết xấu, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sản phẩm trong
phân xưởng để tránh làm việc ngoài trời, áp dụng cơ giới hóa hợp lý, cải thiện
điều kiện làm việc cho người lao động
Thứ sáu, điều kiện địa điểm xây dựng ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được
của công ty xây dựng Cùng một công trình nhưng nếu nó được đặt tại nơi có sẵn
nguồn nguyên vật liệu, máy móc thi công và nguồn lao động, địa hình thuận lợi
thì công ty xây dựng có điều kiện để giảm chi phí, tăng lợi nhuận
Trang 29Ngành xây dựng là ngành kinh tế thâm dụng vốn, những nguyên liệu ban
đầu chiếm nhiều vốn, chi phí cố định cao Đặc điểm của ngành là nhạy cảm với
chu kỳ kinh doanh với nền kinh tế vĩ mô Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số
và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao do nhu cầu xây dựng được mở rộng Ngược
lại khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị đình trệ do người dân
không bỏ nhiều tiền vào xây dựng nhà cửa, Chính phủ không mở rộng đầu tư
vào các cơ sở hạ tầng như cầu cống, bến bãi, trường học, bệnh viện… Điều này
làm cho doanh thu và lợi nhuận của ngành sụt giảm
Một đặc tính nữa là ngành xây dựng có mối quan hệ với thị trường bất
động sản Khi thị trường bất động sản “đóng băng” thì ngành xây dựng sẽ gặp
khó khăn và ngược lại
Tất cả những đặc điểm trên ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng của công
ty xây dựng, từ đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính và giám sát hoạt động tài
chính của công ty xây dựng
1.2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA
CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG
1.2.1 Bản chất và vai trò của giám sát hoạt động tài chính trong các
công ty xây dựng
1.2.1.1 Hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
Hoạt động của công ty xây dựng cũng giống như các doanh nghiệp khác
trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, trong đó có hoạt động tài
chính Để có thể tìm hiểu và có cách nhìn nhận chính xác về giám sát hoạt động
tài chính của công ty xây dựng thì cần tiếp cận từ khái niệm tài chính và hoạt
động tài chính
Theo khái niệm tổng quát về tài chính thì: “Tài chính thể hiện ra là sự vận
động của vốn, tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp
các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua
việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau
của các chủ thể trong xã hội” (PGS.TS Dương Đăng Chinh, Giáo trình Lý thuyết
Trang 30tài chính, NXB Tài chính, 2005) Trong đó các quỹ tiền là một lượng nhất định
các nguồn tài chính đã huy động để sử dụng cho một mục đích nhất định và
nguồn tài chính thể hiện là những tiềm năng tài chính và các chủ thể trong xã hội
có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình
Do đó, tài chính có thể hiểu một cách khái quát là sự vận động của vốn giữa
các chủ thể trong xã hội và các mối quan hệ kinh tế nảy sinh giữa các chủ thể
trong quá trình vận động đó Các hoạt động gắn liền với sự vận động của vốn giữa
các chủ thể được gọi là hoạt động tài chính Như vậy hoạt động tài chính của các
công ty xây dựng là các hoạt động gắn liền với sự dịch chuyển, vận động của vốn
trong đó vốn có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất, phi vật chất
Nội dung các hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
Các hoạt động tài chính trong xây dựng bao gồm hoạt động tạo lập nguồn
vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế
Hoạt động tạo lập nguồn vốn của công ty xây dựng
Hoạt động tạo lập nguồn vốn chính là quyết định về nguồn tài trợ Quyết
định về nguồn tài trợ có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình đảm bảo nguồn vốn
cho hoạt động kinh doanh của công ty xây dựng Lựa chọn nguồn vốn hợp lý sẽ
giúp nâng cao tính ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho duy trì và phát triển hoạt
động kinh doanh
Trong các công ty xây dựng, hoạt động tạo lập nguồn vốn bao gồm các
hoạt động khai thác và huy động từ các kênh huy động vốn khác nhau để hình
thành nguồn vốn kinh doanh của công ty Quyết định về nguồn tài trợ bao gồm
quyết định huy động vốn ngắn hạn và quyết định huy động vốn dài hạn Quyết
định huy động vốn ngắn hạn bao gồm quyết định vay ngắn hạn hay sử dụng tín
dụng thương mại… Quyết định huy động vốn dài hạn bao gồm quyết định sử
dụng vốn cổ phần bằng phát hành cổ phiếu hay sử dụng lợi nhuận để lại để tái
đầu tư; sử dụng nợ bằng phát hành trái phiếu, vay ngân hàng hay thuê tài
chính… Mỗi một kênh huy động vốn có những ưu điểm và nhược điểm riêng
Các công ty xây dựng cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của công ty mình để
lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp
Trang 31Một vấn đề rất quan trọng trước khi huy động vốn mà các công ty xây
dựng cần phải xem xét đó là phải xây dựng được cơ cấu nguồn vốn hợp lý Khi
xem xét cơ cấu nguồn vốn của một doanh nghiệp, người ta chú trọng đến mối
quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp
Nguồn tài trợ có ảnh hưởng đáng kể đến tính tự chủ về tài chính và rủi ro
tài chính của công ty Do vậy, nhiệm vụ của người quản lý là phải lựa chọn được
cơ cấu nguồn vốn phù hợp với chi phí sử dụng vốn thấp nhất, xác định và duy trì
một tỷ lệ nợ hợp lý để giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhưng không làm gia
tăng rủi ro tài chính; cân đối giữa nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn để
đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp không gặp khó khăn về vốn
Hoạt động sử dụng vốn của công ty xây dựng
Hoạt động sử dụng vốn của công ty xây dựng bao gồm: hoạt động sử dụng
vốn tại doanh nghiệp và hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài Thực chất đây là
quyết định đầu tư của doanh nghiệp Quyết định đầu tư có liên quan đến giá trị
và cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Trong công ty xây dựng, quyết định đầu tư
được xếp vào là một trong những hoạt động tài chính quan trọng bậc nhất vì nếu
quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động; ngược lại
quyết định đầu tư sai lầm sẽ làm lãng phí nguồn lực, giảm hiệu quả kinh doanh
và gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp Quyết định về đầu tư bao gồm: đầu tư xây
dựng, mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động và các yếu tố khác để phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; quyết định về cơ cấu đầu tư vào tài
sản Trong đó quyết định về đầu tư tài sản cố định của công ty xây dựng chủ yếu
là quyết định mua sắm máy móc thi công Đối với công ty xây dựng, tùy theo
quy mô và điều kiện sản xuất kinh doanh của mình, công ty sẽ có kế hoạch đầu
tư vào tài sản cố định phù hợp Ví dụ: Đối với những công ty xây dựng lớn, để
tạo dựng được năng lực xây dựng lớn giúp doanh nghiệp có thể thắng thầu thì
cần phải đầu tư nhiều máy móc thi công, công nghệ hiện đại Quyết định về đầu
tư tài sản lưu động: quyết định về tồn quỹ, quyết định chính sách nợ phải thu…
Quyết định về cơ cấu đầu tư giữa tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn bao gồm các
quyết định về điểm hòa vốn, quyết định về độ lớn đòn bẩy kinh doanh…
Trang 32Hoạt động sử dụng vốn đầu tư ra bên ngoài của công ty xây dựng gồm:
đầu tư vốn vào các công ty khác, góp vốn liên doanh liên kết với các công ty
khác, mua một phần hoặc toàn bộ công ty khác, đầu tư thành lập một doanh
nghiệp mới, mua bán lại các doanh nghiệp; kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ,
thị trường chứng khoán… Khi dư thừa vốn, công ty có thể đầu tư vốn ra bên
ngoài để gia tăng lợi nhuận
Hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế của các công ty xây dựng
Nếu hoạt động kinh doanh của công ty có lợi nhuận, công ty sẽ tiến hành
phân phối lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế có thể được phân chia thành
hai bộ phận, một bộ phận lợi nhuận giữ lại để tiếp tục tái đầu tư, một bộ phận
phân chia cho các cổ đông, chủ sở hữu Hoạt động phân phối lợi nhuận sau thuế
chính là quyết định phân phối lợi nhuận liên quan đến xác định tỷ lệ lợi nhuận
giữ lại để tái đầu tư và lợi nhuận phân chia cho các cổ đông, chủ sở hữu
Quyết định phân phối lợi nhuận sau thuế có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển của công ty xây dựng vì lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư là nguồn vốn
nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững của công ty xây dựng Việc phân
chia lợi nhuận sau thuế cần đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động, chủ sở
hữu và bản thân doanh nghiệp
1.2.1.2 Bản chất giám sát hoạt động tài chính đối với các công ty xây dựng
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Nga cho rằng giám sát là một hoạt
động theo dõi của một chủ thể quản lý đối với một khách thể quản lý Theo đó
có thể hiểu giám sát hoạt động tài chính là theo dõi tình hình tài chính của khách
thể quản lý và như vậy giám sát hoạt động tài chính là một bộ phận cấu thành
trong hoạt động quản lý
Với nghĩa chung nhất giám sát là hoạt động theo dõi, kiểm tra của chủ thể
quản lý đối với khách thể quản lý đảm bảo các hoạt động của khách thể quản lý
vận hành theo đúng mục tiêu mà chủ thể quản lý đã lựa chọn, phù hợp với pháp
luật hiện hành Giám sát, kiểm tra là một chức năng quan trọng của hoạt động
quản lý nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều chỉnh hoặc xử lý các hoạt động thực tế
Trang 33của khách thể quản lý, đảm bảo cho các mục tiêu của hoạt động quản lý được
thực hiện đúng đắn và hiệu quả
Giám sát là một hoạt động được thực hiện một cách liên tục nhằm thu
thập và phân tích các thông tin, từ đó giúp cho nhà quản lý biết chắc các hoạt
động của doanh nghiệp có được thực hiện đúng tiến độ, kết quả theo kế hoạch
đề ra không và kịp thời có các biện pháp can thiệp cần thiết để khắc phục
những khó khăn, vướng mắc nếu có Quá trình giám sát còn giúp các doanh
nghiệp kịp thời hỗ trợ việc ra quyết định tạo nền tảng cho việc đánh giá và bài
học kinh nghiệm
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường: “Giám sát tài chính là sự kiểm tra và
đôn đốc thi hành đối với các hoạt động kinh tế và các hạng mục sự nghiệp có
liên quan thông qua thu - chi tài chính” [61]
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một định nghĩa chính thức nào về giám sát
hoạt động tài chính đối với doanh nghiệp Tuy nhiên với cách hiểu chung nhất
thì giám sát hoạt động tài chính là sự theo dõi việc thực thi những quy định về
tài chính và quản lý tài chính của người được ủy quyền đối với hoạt động tài
chính của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu những rủi ro tiềm năng có thể xảy ra
trong hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp xây dựng là các hoạt động gắn liền
với sự chuyển dịch vốn giữa các chủ thể trong doanh nghiệp Như vậy giám sát
hoạt động tài chính đối với doanh nghiệp xây dựng là hoạt động theo dõi, kiểm
tra, đánh giá định tính và định lượng đối với hoạt động tài chính của doanh
nghiệp nhằm mục đích ngăn ngừa nguy cơ mất an ninh tài chính, giảm thiểu rủi
ro về tài chính
Tuy chưa có định nghĩa thống nhất về giám sát hoạt động tài chính đối với
doanh nghiệp xây dựng, nội hàm của giám sát hoạt động tài chính có thể được
nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, song có thể thấy một cách khái quát như sau:
- Giám sát là một công cụ có hiệu lực để chủ thể quản lý thực hiện chức
năng quản lý đối khách thể quản lý
Trang 34- Giám sát là một biện pháp quản lý để đảm bảo an toàn, đồng thời thúc
đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giám sát là một công cụ, đồng thời là phương thức quản lý để bảo vệ lợi
ích và quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu
Thực chất giám sát hoạt động tài chính là nhằm:
- Giám sát việc huy động, quản lý và sử dụng vốn, tổ chức luân chuyển
các dòng vốn, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
gian qua
- Kiểm tra, giám sát tình hình và hiệu quả sử dụng tiền vốn, ngăn chặn
những biểu hiện tiêu cực trong sử dụng vốn Giám sát về khả năng thanh toán,
kết cấu tài chính, việc phân phối và sử dụng các quỹ trong doanh nghiệp để đánh
giá hiệu quả hoạt động và dự báo về xu hướng phát triển của doanh nghiệp
- Đánh giá phát hiện những sai lệch giữa tình hình hoạt động, kết quả hoạt
động thực tế của doanh nghiệp so với quy định, yêu cầu của chủ sở hữu đối với
doanh nghiệp gồm mục tiêu, nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch, chính sách, định mức,
các quy định pháp lý có liên quan…
Đặc thù của giám sát hoạt động tài chính doanh nghiệp xây dựng là luôn
gắn chặt với phạm trù giá trị Đối tượng của giám sát hoạt động tài chính là toàn
bộ các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, các hoạt động tài chính
của doanh nghiệp xây dựng rất nhiều, rất đa dạng và phức tạp nên không thể
giám sát được mọi hoạt động tài chính phát sinh Mặt khác, các hoạt động tài
chính của doanh nghiệp xây dựng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, với các mối
tác động qua lại có tính chất chi phối lẫn nhau, vừa có quan hệ điều kiện - hệ quả
nên không nhất thiết phải kiểm soát hết các hoạt động tài chính mà có thể lựa
chọn những hoạt động then chốt, có tác động bao trùm hoặc chọn mẫu bất kỳ
Thêm vào đó, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhất là công
nghệ thông tin, chúng ta có phương tiện hữu hiệu để mở rộng các đối tượng giám
sát hoạt động tài chính, tăng cường hiệu quả của giám sát hoạt động tài chính
Trang 351.2.1.3 Vai trò giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
Giám sát là một công cụ quản lý Việc thực hiện giám sát hoạt động tài
chính của các công ty xây dựng là một tất yếu khách quan Mỗi một công ty xây
dựng hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều chịu sự tác động của nhiều yếu
tố: từ bên ngoài như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và từ bản thân hoạt động
của chính doanh nghiệp Giám sát hoạt động tài chính có chức năng đánh giá
những tác động đó và cảnh báo kịp thời những nguy cơ có thể gây ra bất ổn định,
đổ vỡ tài chính, từ đó đề xuất giải pháp loại bỏ những nguy cơ trước khi nó tác
động xấu đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Vai trò quan trọng của giám sát hoạt động tài chính thể hiện ở chỗ nó là
một công cụ hỗ trợ để đảm bảo cho quá trình huy động, sử dụng vốn của doanh
nghiệp một cách có hiệu quả
Các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây dựng nói riêng hoạt
động trong nền kinh tế thị trường đều muốn hoạt động kinh doanh của mình phát
triển, thu được nhiều lợi nhuận Song vì mục tiêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp
này có thể không tuân thủ theo các quy định, quy tắc tài chính Điều đó rất dễ
gây ra những biến cố mà hậu quả của nó khó mà lường hết được Do vậy, việc
giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp là quan trọng và cần thiết
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng cần có sự thanh tra, kiểm tra, đặc
biệt là đối với hoạt động tài chính Vì hoạt động tài chính gắn liền với việc sử
dụng tiền bạc, tài sản của doanh nghiệp, của nhà đầu tư, môi trường dễ nảy sinh
sai sót, vi phạm do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Nếu không có sự
thanh tra, giám sát để ngăn ngừa kịp thời những sai phạm thì tất yếu sẽ gây tổn
hại đến doanh nghiệp
1.2.2 Mục tiêu, nội dung và chủ thể giám sát hoạt động tài chính
trong các công ty xây dựng
Mục tiêu giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng
Đứng trên góc độ chủ sở hữu, chủ thể giám sát hoạt động tài chính thường
hướng tới các mục tiêu bảo vệ và gia tăng lợi ích của chủ sở hữu Cụ thể, mục
Trang 36tiêu chính là bảo toàn và phát triển số vốn đầu tư tại công ty Ngoài ra còn có
thêm một số mục tiêu là tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu, nâng cao vị thế của
công ty trên thị trường trong nước cũng như trong khu vực và thế giới
Đứng trên vai trò quản lý công ty, giám đốc (tổng giám đốc) thực hiện
giám sát đối với công ty nhằm kiểm tra việc tuân thủ chính sách pháp luật, pháp
luật kinh doanh, tài chính và các quy định của công ty
Nội dung giám sát hoạt động tài chính của công ty xây dựng
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là những hoạt động liên quan đến
sự vận động của tiền Do đó, tiền luân chuyển đến đâu thì doanh nghiệp phải
giám sát đến đó Giám sát hoạt động tài chính của các công ty xây dựng bao gồm
các nội dung sau:
- Giám sát việc xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu, chiến lược
kinh doanh của công ty Giám sát việc thực hiện mục tiêu nhiệm vụ được giao,
kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và dài hạn, tình hình tài chính, hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp
- Giám sát việc tạo lập, huy động vốn của công ty Trong nền kinh tế mở,
công ty xây dựng có thể tạo lập, huy động vốn từ rất nhiều nguồn: nguồn vốn
bên trong doanh nghiệp (lợi nhuận sau thuế để lại để tái đầu tư, khấu hao tài sản
cố định) và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp (phát hành cổ phiếu, phát hành
trái phiếu, vay ngân hàng, sử dụng thuê tài chính…) Việc tạo lập, huy động hợp
lý vốn từ bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu phát triển
của doanh nghiệp cần gắn với việc đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn cao nhất, phù
hợp với khả năng trả nợ, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Giám sát việc sử dụng vốn, đầu tư vốn của công ty Đầu tư, sử dụng tài
sản phải hợp lý và có hiệu quả, tránh để thất thoát tài sản, bảo toàn và làm tăng
giá trị tài sản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Giám sát việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty Việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan
trọng đối với doanh nghiệp Giám sát việc phân phối kết quả sản xuất kinh doanh
Trang 37nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, chủ sở hữu và người lao động
trong doanh nghiệp
- Giám sát về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua giám sát chi
phí, doanh thu, lợi nhuận, chính sách giá cả Đây là những vấn đề có tác động rất
lớn đến sự tồn tại, phát triển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các doanh
nghiệp xây dựng cần hướng tới kiểm soát và tiết kiệm chi phí, chính sách giá
- Giám sát việc trả lương, thưởng, kỷ luật cho cán bộ quản lý cấp cao và
người lao động của công ty
Chủ thể giám sát các hoạt động tài chính của công ty xây dựng
Chủ thể giám sát là chủ thể sở hữu vốn Giám sát hoạt động tài chính của
các công ty xây dựng là giám sát của chủ thể sở hữu vốn đối với hoạt động tài
chính thông qua các chủ thể quản lý (chủ thể sử dụng vốn) trong công ty xây
dựng Giám sát tồn tại như một tất yếu trong hoạt động quản lý của chủ sở hữu
đối với vốn đầu tư của mình tại doanh nghiệp Các chủ sở hữu vốn không tham
gia vào việc điều hành các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp mà để quản lý
các khoản đầu tư cũng như thực hiện quyền sở hữu đối với các khoản vốn đã đầu
tư của mình, các chủ thể sở hữu vốn thực hiện giám sát hoạt động tài chính thông
qua các chủ thể quản lý (giám đốc, tổng giám đốc)
Giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp là quá trình theo dõi, kiểm
tra của chủ thể quản lý đối với khách thể thông qua các chỉ tiêu tài chính hay các
nghiệp vụ kiểm tra, kiểm toán, kế toán… Mục tiêu của nó là đảm bảo sự an toàn
và hiệu quả của các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp, đảm bảo sự chấp
hành đúng các quy định, chính sách pháp luật về tài chính, bảo toàn và phát triển
số vốn đầu tư tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Phương thức giám sát hoạt động tài chính
Tùy theo mục đích, chủ thể và đối tượng giám sát mà giám sát hoạt động
tài chính được sử dụng các hình thức và phương pháp khác nhau nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất mà chủ thể quản lý đặt ra
Trang 38Tùy theo cấp độ quản lý hay chủ thể giám sát, giám sát hoạt động tài
chính doanh nghiệp có thể chia thành: (1) Giám sát hoạt động tài chính của các
cơ quan quyền lực, quản lý nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ngành;
(2) Giám sát hoạt động tài chính của bản thân doanh nghiệp (tự giám sát); (3)
Giám sát hoạt động tài chính của các tổ chức độc lập: công ty kiểm toán, công ty
xếp hạng tín nhiệm, cổ đông, nhà đầu tư…; (4) Giám sát hoạt động tài chính của
các cơ quan ngôn luận và toàn thể xã hội
Ngoại trừ nhóm thứ hai là giám sát hoạt động tài chính từ bên trong, ba
nhóm còn lại là giám sát hoạt động tài chính từ bên ngoài
Giám sát hoạt động tài chính của cơ quan quản lý nhà nước đứng trên hai
góc độ: một là với tư cách chủ sở hữu doanh nghiệp, hai là với tư cách cơ quan
quản lý nhà nước
Giám sát hoạt động tài chính của bản thân doanh nghiệp là hình thức tự
giám sát Với tư cách là chủ thể hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tự
mình thực hiện hoạt động giám sát nhằm thực hiện có hiệu quả các quyết định tài
chính, kinh doanh của mình
Hoạt động tự giám sát hoạt động tài chính được thực hiện trước hết ở
công việc công khai hóa các hoạt động tài chính doanh nghiệp và được thực hiện
thông qua hoạt động kiểm toán nội bộ Việc công khai hóa các hoạt động tài
chính để người lao động, chủ sở hữu doanh nghiệp nắm bắt được thông tin và
kiểm tra Kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá chất lượng và độ tin cậy của các
thông tin tài chính, sự tuân thủ các quy định tài chính
Theo mục đích của giám sát hoạt động tài chính có thể có hình thức giám
sát sau: (1) giám sát tuân thủ; (2) giám sát cảnh báo, ngăn ngừa; (3) giám sát
hiệu quả tài chính
Giám sát tuân thủ với mục đích chủ yếu là đảm bảo cho các hoạt động tài
chính được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, ngăn ngừa các vi phạm
Giám sát cảnh báo, ngăn ngừa dựa trên thu thập, phân tích và đánh giá các
thông tin tài chính để dự báo rủi ro tài chính của doanh nghiệp, những hoạt động
Trang 39vượt quá sự an toàn tài chính của doanh nghiệp, nhằm mục đích kịp thời cảnh
báo những nguy cơ mất khả năng thanh toán, mất an ninh tài chính doanh nghiệp,
dẫn đến nguy cơ phá sản
Giám sát hiệu quả tài chính là hình thức khó khăn và phức tạp Nâng cao
hiệu quả tài chính là nhiệm vụ của chính các doanh nghiệp, là điều kiện sống còn
để các doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường
Để giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp một cách có hiệu quả
cần phải có các phương pháp giám sát từ xa và giám sát thanh tra tại chỗ
Việc giám sát từ xa được thực hiện thông qua thu thập, phân tích và đánh
giá các thông tin từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp Vấn đề quan trọng của
phương pháp này là việc cung cấp thông tin phải đầy đủ và chất lượng Bên cạnh
đó, việc xử lý, phân tích thông tin cũng như dự báo tài chính cũng rất quan trọng
Giám sát từ xa phải được phối hợp với giám sát thanh tra tại chỗ Giám sát
tại chỗ giúp cho việc giám sát từ xa kiểm tra lại thông tin giám sát, đồng thời
điều chỉnh quy trình, hình thức và biểu mẫu giám sát cho thích hợp
Nếu theo thời điểm thực hiện giám sát có thể gồm: giám sát trước, giám
sát trong và giám sát sau khi các hoạt động tài chính được thực hiện
Giám sát trước và trong là một loại hình kiểm tra được thực hiện trước
hay trong khi một hoạt động tài chính phát sinh, với mục đích định hướng các
hoạt động tài chính được thực hiện theo đúng quy định, nhằm ngăn ngừa kịp thời
các sai sót vô tình hay cố ý có thể gây thất thoát tài sản và vốn của doanh nghiệp,
gây thiệt hại trong kinh doanh
Giám sát sau hoạt động có nghĩa là các hoạt động tài chính đã được thực
hiện Trong trường hợp này, giám sát chỉ nhằm xem doanh nghiệp làm ăn có
trung thực không, đồng thời phát hiện các vi phạm, gian lận nếu có
Để thực hiện việc giám sát có hiệu quả cần phải có một hệ thống quản lý
và sự phân nhiệm rõ rệt giữa những người có trách nhiệm thực hiện các hoạt
động liên quan đến tài chính
Trang 401.2.3 Chỉ tiêu và phân loại hệ thống chỉ tiêu giám sát hoạt động tài
chính trong các công ty xây dựng
1.2.3.1 Khái niệm, mục tiêu và vai trò của chỉ tiêu giám sát hoạt động
tài chính trong các công ty xây dựng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
luôn biến động và diễn ra liên tục theo chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Diễn biến và kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp được phản ánh thông qua công tác hạch toán theo chuẩn mực, thông lệ và
quy tắc nhất định Những số liệu phản ánh tình hình và hoạt động kinh tế của
doanh nghiệp gọi là chỉ tiêu kinh tế Các nhà quản lý dựa vào hệ thống chỉ tiêu
kinh tế do bộ phận hạch toán cung cấp để quản lý, giám sát và điều hành doanh
nghiệp Như vậy, chỉ tiêu kinh tế là một phạm trù kinh tế có nội dung tương đối
ổn định, phản ánh quá trình và kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp theo
thời gian, không gian và đơn vị đo lường xác định Tuy nhiên một chỉ tiêu kinh
tế thì không thể phản ánh tổng thể cả bức tranh về hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp, do vậy phải sử dụng nhiều chỉ tiêu kinh tế Tập hợp các chỉ tiêu kinh tế
gọi là hệ thống chỉ tiêu kinh tế
Hệ thống chỉ tiêu kinh tế giúp các nhà quản lý có cơ sở cần thiết để ra
quyết định quản lý Hệ thống chỉ tiêu kinh tế có thể được phân nhánh theo các
tiêu thức khác nhau Một trong các nhánh của hệ thống chỉ tiêu kinh tế doanh
nghiệp là các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Hệ thống chỉ tiêu tài chính doanh
nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp,
phản ánh toàn bộ tình hình, kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong
khoảng thời gian xác định
Để có thể ngăn ngừa được những rủi ro có thể nảy sinh thì một trong
những biện pháp quan trọng, cần thiết và không thể thiếu được là phải thường
xuyên giám sát hoạt động tài chính Để hình thành việc giám sát, đánh giá, quan
trọng là phải hình thành hệ thống chỉ tiêu giám sát, đánh giá