1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về phòng chống tham nhũng nói chung và tham nhũng chính sách nói triêng chính sách tiểu luận cao học

33 419 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam là một nước đang phát triển, Việt Nam gặp phải nhiều vấn đề thách thức trong quá trình hội nhập nhất là về kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Bằng việc phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài, Việt Nam đang cố gắn tiến những bước lớn trên con đường phát triển kinh tế. Nhưng có một thách thức lớn đang cản trở con đường ấy, đó là các tội phạm về tham nhũng, tham nhũng chính sách (mà theo ngôn ngữ của người dân là những con sâu mọt đang đục khoét xó hội) cũng đang ngày càng gia tăng về mức độ phổ biến, quy mô và thủ đoạn. Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng và đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh vi, xảo quyệt ở nhiều cấp, nhiều ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình trong nhân dân. Mặc dù tham nhũng và tham nhũng chính sách là một mối nguy hiểm và có tính chất truyền thống nhưng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống loại tội phạm này lại là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và người nghiên cứu khoa học luật hình sự nói riêng. Thông qua các phuơng tiện truyền thông và trong thực tế xã hội, emnhận thức rõ tầm quan trọng của việc phòng chống tham nhũng và “tham nhũng chính sách” nên em chọn đề tài “Quan điểm của đảng ta về phòng chống tham nhũng chính sách” để nghiên cứu trong phạm vi nhất nhất định.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là một nước đang phát triển, Việt Nam gặp phải nhiều vấn đềthách thức trong quá trình hội nhập nhất là về kinh tế, khoa học - kỹ thuật vàcông nghệ Bằng việc phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và sử dụng

có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài, Việt Nam đang cố gắn tiếnnhững bước lớn trên con đường phát triển kinh tế Nhưng có một thách thứclớn đang cản trở con đường ấy, đó là các tội phạm về tham nhũng, thamnhũng chính sách (mà theo ngôn ngữ của người dân là những con sâu mọtđang đục khoét xó hội) cũng đang ngày càng gia tăng về mức độ phổ biến,quy mô và thủ đoạn

Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại củatham nhũng Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấutranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng và đã đạtđược kết quả bước đầu Tuy nhiên nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổbiến, ngày càng tinh vi, xảo quyệt ở nhiều cấp, nhiều ngành Thậm chí, thamnhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác phong làm việc hàng ngày của một số cán

bộ, công chức, làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bìnhtrong nhân dân

Mặc dù tham nhũng và tham nhũng chính sách là một mối nguy hiểmvà có tính chất truyền thống nhưng việc nghiên cứu và tìm ra các biện phápphòng chống loại tội phạm này lại là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh

tế trên thế giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng Đó là mộtnhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và ngườinghiên cứu khoa học luật hình sự nói riêng

Thông qua các phuơng tiện truyền thông và trong thực tế xã hội,emnhận thức rõ tầm quan trọng của việc phòng chống tham nhũng và “tham

nhũng chính sách” nên em chọn đề tài “Quan điểm của đảng ta về phòng chống tham nhũng chính sách” để nghiên cứu trong phạm vi nhất nhất định.

Trang 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ

THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH

1 Khái niệm tham nhũng

Tham nhũng là hiện tượng xuất hiện từ lâu trong xã hội loài ngườiđược nhiều học giả và các tổ chức quan tâm nghiên cứu

Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nguồn gốcsâu xa của tệ tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: quyền lực công vàlòng tham của cá nhân C Mác cho rằng, để tồn tại và phát triển trong xã hộicòn phân chia giai cấp xuất hiện những cơ quan quyền lực có chức năng điềuhòa những lợi ích của những nhóm người khác nhau, thậm chí đối lập nhau đểhình thành một trạng thái cân bằng chung Tuy nhiên, quyền lực của những cơquan đó lại chỉ có thể hiện diện và được thực thi thông qua hành động củanhững con người cụ thể nắm quyền lực trong các cơ quan đó Trong khi đómỗi con người đều hành động dưới sự hướng dẫn của nhu cầu cá nhân mà nhucầu cá nhân lại luôn lớn hơn khả năng có thể tự thỏa mãn của họ Vì thế, một

số người nắm quyền lực nảy sinh động cơ tận dụng đến mức cao nhất quyềnlực do địa vị xã hội, chức vụ nhà nước giao để thỏa mãn một cách khôngchính đáng nhu cầu của họ C Mác nói rằng: "Lịch sử loài người là lịch sửcủa những con người hành động nhằm theo đuổi những mục đích của mình,nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình" Sự lạm dụng quyền lực công cho

để thỏa mãn nhu cầu cá nhân là tham nhũng

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhiều lần đề cập đến hiện tượng thamnhũng Người cho rằng, tham ô "là lấy của công làm của tư Là gian lận thamlam", "tham ô là trộm cướp" Theo Hồ Chí Minh, đứng về phía cán bộ mà nói,tham ô là: ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộđội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng

Trang 3

cho địa phương mình, đơn vị mình cũng là tham ô Đứng về phía nhân dân mànói, tham ô là "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" [18, tr 488].

Điểm đặc trưng của hành vi tham ô theo Hồ Chủ tịch chính là việcbiến "của công" thành "của tư" "Của công" chính là tài sản của nhân dân, donhân dân đóng góp, phục vụ mục đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựngđất nước "Của tư" không chỉ là tài sản riêng của một cán bộ, công chức màcòn là tài sản chung của bộ phận nhưng không dành phục vụ mục đích chung,chỉ dành làm của riêng, quỹ riêng cho một tập thể, một địa phương

Sâu sắc hơn nữa, Hồ Chủ tịch còn chỉ ra hình thức tham ô tinh vi, rấtkhó nhận thấy trong cuộc sống đời thường, đó là "tham ô gián tiếp", tức hiệntượng cán bộ Chính phủ, dù được nhân dân trả lương hàng tháng đều đặn,nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này, trông núi nọ, làm việc chậmchạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân [18, tr 436]

Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế

chống tham nhũng thì "Tham nhũng - đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng" bao gồm những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô,

trộm cắp tài sản của Nhà nước, hoặc lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêngthông qua việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình, hoặc tạo

ra xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cánhân để mưu cầu trục lợi Với cách xem xét như vậy, quan niệm của Liên hợpquốc về tham nhũng đã vượt ra ngoài giới hạn của tệ hối lộ

Ban Tổng thư ký Liên hợp quốc, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệmcủa các nước khác nhau, cho rằng, tham nhũng bao hàm trong các hành vi sau:

- Hành vi ăn cắp, tham ô và chiếm đoạt tài sản của nhà nước mà chủthể của hành vi đó là những người có chức có quyền;

- Lạm dụng chức quyền để trục lợi bất hợp pháp thông qua việc sửdụng các qui chế chính thức một cách không chính thức;

Trang 4

- Mâu thuẫn không cân đối giữa lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa

vụ xã hội với những món lợi tư riêng

Theo quan niệm này, tham nhũng xuất hiện dưới nhiều dạng thức khácnhau như các cuộc vận động chính trị không minh bạch, đối xử thiên vị nhằm

vụ lợi, chế độ bảo hộ mậu dịch có lợi cho nhóm ủng hộ, bố trí lãnh tụ chính trịvà quan chức nhà nước vào các hãng tư nhân hoặc liên doanh, đầu tư cơ sở hạtầng bằng ngân sách nhà nước hay bố trí vốn vay của các tổ chức quốc tế cólợi cho nhóm hối lộ nhà nước, biến tấu tài sản của Nhà nước thành tài sản củacông ty cổ phần, làm tiền trên cơ sở nắm được thông tin về sự kết cấu của các

tổ chức, đơn vị phạm pháp, lợi dụng việc nắm rõ thông tin về chính sách củaNhà nước để đầu cơ trục lợi…

Theo định nghĩa của Ban Nghiên cứu thuộc Hội đồng Châu Âu thìtham nhũng bao gồm hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác củanhững người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực nhànước hoặc khu vực tư nhân, nhưng đã vi phạm trách nhiệm được giao để thubất kỳ một thứ lợi ích bất hợp pháp nào đó cho cá nhân hoặc cho người khác

Trong cuốn "Poliical Corrupion: A han Book" (Oxford,1989) Giáo sư

J Nai quan niệm rằng: Tham nhũng bao hàm trong nội dung của nó cả tệ nạnhối lộ (nấp dưới hình thức "thù lao" để quyến rũ những người đang bị mắcnợ), tệ gia đình chủ nghĩa (sự ban ơn, bao che trên cơ sở những quan hệ cánhân) và sự chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản công cộng để biến tài sản đóthành của riêng cá nhân

Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biếntrong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa đạt tới sự thống nhất về quanniệm Từ điển Tiếng Việt ghi rằng, "tham nhũng là lợi dụng quyền hành đểnhũng nhiễu nhân dân lấy của" [37] Theo quan niệm này tham nhũng gồmhai hành vi phối hợp với nhau: nhũng nhiễu của người có quyền hành và thulợi bất chính từ lạm dụng quyền hành đó

Trang 5

Theo Luật Phòng, chống tham nhũng, "tham nhũng là hành vi củangười có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì mục đích

vụ lợi" [26, Điều 1 khoản 2] Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ởnhững người trong khu vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệthống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước)

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng nhìn chung, có hai

loại quan niệm khá phổ biến về tham nhũng

Quan niệm thứ nhất hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng bao gồm mọihành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm

vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để

vụ lợi Chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức nhà nước,viên chức hoặc những người làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức xãhội và khu vực tư nhân

Quan niệm thứ hai hiểu tham nhũng theo nghĩa hẹp, là hành vi sửdụng quyền lực được Nhà nước hoặc tổ chức chính trị hưởng lương ngân sáchnhà nước giao phó không theo đúng mục đích đã đề ra, không vì lợi ích côngmà vì lợi ích cá nhân hoặc nhóm cá nhân có quan hệ lợi ích với nhau

Việc xác định rõ ràng và có quan niệm đúng đắn về tham nhũng làmột trong những yếu tố quan trọng bảo đảm tính hiệu quả trong đấu tranhphòng và chống lại tệ nạn này Trong điều kiện cuộc đấu tranh chống thamnhũng ở nước ta còn nhiều cam go, phức tạp thì sự thống nhất trong quanniệm về tham nhũng là rất cần thiết

Tiếp thu những điểm hợp lý trong những quan điểm trên, chúng tôicho rằng, tham nhũng hiện nay không chỉ trong phạm vi quyền lực công mà

còn mở rộng đến khu vực tư và về cơ bản một hành vi được coi là tham nhũng là hành vi sử dụng quyền lực của tổ chức giao phó nhưng chủ thể được

Trang 6

giao nhiệm vụ sử dụng nó như một công cụ để trục lợi cho mình và cho người

khác

2 Khái niệm chính sách, Tham nhũng chính sách

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau:

“Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực

cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộcvào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đíchtheo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họquan tâm”

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Chính sách công:

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà

nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi làchính sách công Cho đến nay có nhiều quan điểm về khái niệm này:

William Jenkin cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định cóliên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liềnvới việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”.Theo quan điểm của Wiliam N Dunn thì: “Chính sách công là một kết hợpphức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết địnhkhông hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đềra” Còn Peter Aucoin lại khảng định: “Chính sách công bao gồm các hoạtđộng thực tế do Chính phủ tiến hành”, B Guy Peter đưa ra định nghĩa:

“Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trựctiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”,…

Trang 7

Giáo trình chính sách kinh tế – xã hội, các tác giả đưa ra định nghĩa: “Chínhsách kinh tế -xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp vàcông cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thểquản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”.

Những đặc trưng trong mỗi luận cứ của mối tác giải phản ánh chính sách công

từ các góc độ khác nhau, song đều hàm chứa những nội dung thể hiện bảnchất của chính sách công, có thể tóm lược một số đặc trung của chính sáchcông như sau:

– Có một cấp thẩm quyền ban hành

– Mang lợi ích công

– Mọi người đều có quyền tiếp cận (công khai, minh bạch)

– Nhìn chung là bắt buộc thi hành (tuy nhiên cũng có những hình thức khôngmang tính bắt buộc, thường là các chính sách khuyến khích, hỗ trợ)

– Thường thể hiện dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật, liên quan đến nhauvà mang tính hành động, tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đờisống kinh tế – xã hội theo những mục tiêu xác định

Như vậy : “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định”.

Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công còn mới mẻ, thông thường chúng taquen dùng cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của nhà nước hoặc chính sách củaĐảng và Nhà nước, vì ở nước ta, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duynhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông quaviệc vạch ra đường lối, chiến lược, các định hướng chính sách, đó chính lànhững căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công Như vậy,

về thực chất, các chính sách công là do Nhà ban hành nhưng các chính sách

Trang 8

này chính là cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng chính sáchcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta Từ góc

độ chủ thể hoạch định chính sách giữa Đảng và Nhà nước mà có các thuậtngữ: Đường lối chính sách, Chủ trương chính sách,Cơ chế chính sách, Chế độchính sách

Chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động:

Đến nay, khái niệm chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu laođộng vẫn chưa được chuẩn hoá, chưa có một nhà khoa học hay tổ chức lýluận nào đưa ra khái niệm chuẩn mực, nhiều tác giả có các bài viết trên cácbáo hay tạp chí ngôn luận gọi đây là “chính sách hậu xuất khẩu lao động” khiluận bàn những vụ việc hay vấn đề liên quan đến nội dung này Theo chúngtôi có thể đưa ra khái niệm sau đây:

Chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ: là tổng thể các quan điểm, nguyên tắc và biện pháp của nhà nướcnhằm tổ chức khai thác, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực sau khi hoàn thành hợp đồng lao động ở nước ngoài trở về.

Như vậy, khái niệm trên hàm chứa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luậtcủa các cơ quan nhà nước, bao gồm hoạt động xây dựng và ban hành văn bảnliên quan đến hoạt động quản lý và sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ, từcác đạo luật, nghị định, quyết định, chỉ thị, hiệp định, thông tư, văn bản thôngbáo và hướng dẫn, hợp đồng và ghi nhớ hợp đồng, thoả thuận, phương án,…mang tính bắt buộc thực hiện hoạt động sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ.– Các quyết định về tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý để triển khaithực hiện sử dụng nguồn nhân lực sau XKLĐ

Bộ máy quản lý nguồn nhân lực sau XKLĐ là tổ chức nằm trong hệ thốngđiều hành của nhà nước để thực thi nhiệm vụ quản lý, bộ máy có các vị trí chotừng bộ phận, từng con người cụ thể với chức năng rõ ràng để hoàn thànhnhững nhiệm vụ cụ thể trong mục tiêu đặt ra, bộ máy này có thể theo hệ

Trang 9

thống từ trung ương đến địa phương, cả trong và ngoài nước với cơ chế, biênchế cứng kết hợp với biên chế mềm về tổ chức nhân sự.

– Các quy định về quản lý, khai thác, thu hút, tuyển chọn, sử dụng nguồnnhân lực sau XKLĐ

Đây thực chất là các chế độ, cơ chế hoạt động của bộ máy theo chức năng,nhiệm vụ cụ thể trong hoạt động quản lý và sử dụng nguồn nhân lực sauXKLĐ, các quy định này sẽ liên quan đến hàng loạt các tổ chức, đơn vị thamgia hoạt động xuất khẩu lao động và cơ chế phối hợp cả trong và ngoài nước,

kể cả các tổ chức thực hiện các chính sách liên quan đến hoạt động XKLĐ.– Các văn bản quy định về chế độ liên quan đến đời sống kinh tế, tài chính,chính trị, xã hội của người lao động sau khi XKLĐ về nước, từ sinh hoạt đoànthể, đảng, đoàn, hộ khẩu, đăng ký tài sản, ưu tiên vùng – miền, trợ cấp, hỗ trợ,

ưu đãi,… đối với người lao động tái định cư sau khi hoàn thành hợp đồng laođộng về nước

– Các văn bản quy định về tổ chức và hoạt động trong đào tạo lại, bồidưỡng nghề nghiệp, bảo vệ, thông tin, kiểm tra, thanh tra, đánh giá,điều chỉnh nguồn nhân lực, liên quan đến khai thác và sử dụng nguồnnhân lực sau XKLĐ

Tham nhũng chính sách:

Các chuyên gia cho rằng, “tham nhũng chính sách” là lối nói của văn tây chứkhông phải của tiếng Việt và đề nghị không nên sử dụng cụm từ “tham nhũngchính sách” mà chỉ cần dùng khái niệm lợi dụng chính sách để tham nhũnghoặc tham nhũng bằng các quy định do mình đặt ra

Trong thực tế, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay bao gồm cả một

hệ thống văn bản pháp quy từ hiến pháp đến các luật, nghị quyết của Quốchội, của Chính phủ đến thông tư của các bộ Hầu hết văn bản của UBND cáccấp chỉ là văn bản hành chính

Trang 10

Trong thể chế hiện hành, việc “cài cắm” vào các văn bản chính sách để phục

vụ lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân là bất khả thi

Trang 11

CHƯƠNG II

II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

“THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH”

1 PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1 Tác hại của tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước

Tham nhũng là căn bệnh nguy hiểm tiềm ẩn ngay trong cơ thể củaNhà nước, nếu không được chữa trị kịp thời thì có thể gây rất nhiều tác hại màmột số tác hại chính là:

* Tham nhũng làm sai lệch hoạt động của cơ quan nhà nước dẫn đến nhiều hệ lụy không tốt

- Tham nhũng có thể làm cho công chức không thực hiện đúng nhiệm

vụ do nhà nước giao Ví dụ, để làm lợi cho ai đó, công chức có thể vạch chínhsách, kế hoạch, quy hoạch không hiệu quả dẫn đến lợi ích chung của xã hội bịsuy giảm Hoặc tham nhũng làm cho cán bộ thuế đối xử không công bằng đốivới người nộp thuế, vừa làm mất uy tín của Nhà nước, vừa làm thất thu ngânsách nhà nước…

- Tham nhũng dẫn tới hậu quả nghiêm trọng như nghiệm thu cầu,đường không đúng chất lượng gây đổ vỡ, tai nạn; tham nhũng làm mất tài sảnnhà nước vào tay tư nhân khi giao đất giá rẻ…

- Tham nhũng gây ách tắc công việc Ví dụ việc cố tình trì hoãn làmthủ tục thông quan hàng hóa làm chậm quá trình xuất khẩu hàng hóa củadoanh nghiệp; chậm làm thủ tục hành chính gây mất thời gian chờ đợi củadân cư hoặc buộc dân cư phải mất thêm chi phí nếu như không muốn mất thờigian chờ đợi…

Trang 12

* Tham nhũng làm hủy hoại khả năng quản lý hiệu quả và uy tín của Nhà nước

Công chức tham nhũng là mắt xích hỏng trong dây chuyền quản lýnhà nước Không những công chức tham nhũng làm hỏng công việc của họmà còn gây tác hại xấu tới các khâu công việc khác do làm chậm tiến độ, tạo

ra lỗ hổng trong dây chuyền hoặc làm cho khâu quản lý phía sau trở nên phihiệu quả hoặc thậm chí vô ích Chính vì tính chất liên hệ dây chuyền giữa cơquan, công chức nhà nước tham nhũng với cơ quan nhà nước và công chứckhông tham nhũng nên người dân khó phát hiện đích danh ai, cơ quan nàotham nhũng Hệ quả là họ gán tình trạng tham nhũng cho cả bộ máy nhà nướcvà mất lòng tin vào tất cả các cơ quan đó

Khi dân chúng mất lòng tin vào công chức và cơ quan nhà nước thìhiệu quả quản lý nhà nước sẽ thấp, các xu hướng chống đối gia tăng trong khichi phí quản lý không giảm Đây là tình trạng xấu, tiềm ẩn nguy cơ khủnghoảng của Nhà nước

* Tham nhũng bào mòn sự tín nhiệm của nhân dân đối với Nhà nước

Nếu tình trạng tham nhũng kéo dài, trầm trọng và không có hy vọng

có thể được giải quyết dứt điểm thì người dân buộc phải thay đổi hành vi của

họ để thích nghi Một bộ phận dân cư có tiền sẽ gia nhập đội ngũ những ngườiđưa hối lộ để cải thiện tình trạng pháp lý của họ và do đó làm cho tình hìnhxấu thêm Một bộ phận dân cư không có tiền sẽ phải chịu tình trạng pháp lýtồi tệ hơn do đó dễ nảy sinh tư tưởng chống đối, bạo loạn, thậm chí lật đổ

Trong bối cảnh đó các hành vi đạo đức tốt không được ủng hộ và duytrì, hành vi xấu ngự trị càng làm tăng bất bình đẳng xã hội và tâm lý bất bình.Chính vì thế niềm tin của nhân dân vào Nhà nước bị bào mòn và họ có xuhướng ủng hộ bất kỳ sự thay đổi nào đó miễn là thay đổi cung cách hành độngcủa nhà nước hiện tại

Trang 13

* Tham nhũng làm tha hóa đội ngũ công chức

Về bản chất, công chức là những người đại diện cho dân chúng hoặcđược dân chúng thuê để làm các công việc có lợi cho xã hội Nhưng khi thamnhũng công chức đã không thực hiện đúng chức năng của mình, đã ăn cắpthời gian và quyền lực được ủy quyền để làm lợi cho cá nhân hoặc bè nhóm

Do bản chất xấu của tham nhũng nên nó phải bị loại trừ Hay nói cách khác,tham nhũng là hành vi trái đạo đức của công chức

Hơn nữa, nếu công chức tham nhũng không bị trừng phạt về mặt đạođức và về mặt luật pháp, vô hình chung mọi người đều coi hành vi tham nhũng

đó là "bình thường" Khi đã coi là bình thường thì nhiều công chức khác sẽ chophép mình thực hiện Tình trạng tham nhũng phổ biến, vì thế, báo động tìnhtrạng xuống cấp đạo đức nghiêm trọng của công chức và cơ quan nhà nước

* Tham nhũng làm giảm sức cạnh tranh của môi trường kinh doanh quốc gia

Công chức tham nhũng sẽ khiến các nhà đầu tư phải chi phí nhiều hơnmức cần thiết cho hoạt động quản lý nhà nước Điều này làm giảm khả năngthu hút đầu tư của môi trường kinh doanh quốc gia Hơn nữa, tình trạng thamnhũng phổ biến tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn cho nhà kinh doanh Thứ nhất làrủi ro do sự thay đổi tỳ tiện của công chức tham nhũng; thứ hai là rủi ro dothành quả của việc chống tham nhũng; thứ ba là rủi ro do đối thủ cạnh tranhhối lộ nhiều hơn…

Nhìn chung, tham nhũng là yếu tố ảnh hưởng xấu đến hành vi kinhdoanh lành mạnh Vì thế tình trạng tham nhũng cao là lý do đầy sức thuyếtphục làm cho môi trượng cạnh tranh quốc gia bị giảm cấp

* Tham nhũng làm giảm uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Quan hệ quốc tế đa phương và song phương chỉ có hiệu quả nếu dựatrên tín nhiệm và mức độ nghiêm túc khi thực hiện cam kết Một quốc gia có

Trang 14

nhiều cơ quan nhà nước tham nhũng là mối e ngại cho quốc gia và tổ chứcquốc tế muốn thiết lập quan hệ Hơn nữa, để quan hệ với các quốc gia có độtham nhũng cao, các nước, các tổ chức quốc tế thường tốn kém chi phí hơn choviệc thiết lập và thực thi các cam kết, đồng thời khó dự đoán trước kết quả

Ngày nay, thông tin về các quốc gia được cập nhật trên các phươngtiện truyền thông và mạng Internet nên các quốc gia tham nhũng thường mấtđiểm trong con mắt của các cơ quan định mức tín nhiệm quốc tế và do đóthường chịu thua thiệt và mất vị thế thuận lợi trong đàm phán

* Tham nhũng cản trở phát triển kinh tế hiệu quả và công bằng

Tham nhũng không những khiến cho chi phí kinh doanh tăng lên màcòn làm sai lệch so sánh tương đối giữa các tổ chức, ngành nghề, doanhnghiệp khiến quá trình phân bổ nguồn lực cũng không đạt tới trạng thái hiệuquả Hơn nữa, tham nhũng cản trở các quá trình kinh tế diễn ra bình thường,dung dưỡng tầng lớp người dựa vào ưu thế của nhà nước tiến hành kinh doanhthuận lợi, cạnh tranh không sòng phẳng với nhóm người, ngành nghề khác

Tham nhũng cũng tạo điều kiện cho công chức tham nhũng và nhómngười hưởng lợi bất chính có được thu nhập không dựa trên công sức đốnggóp có ích cho xã hội khiến cho tình trạng phân phối không công bằng trong

xã hội bị khoét sâu hơn

1.2 Nguyên tắc phòng chống tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước

Tham nhũng trong cơ quan hành chính nhà nước là điểm gặp nhau củalợi dụng quyền lực công và lòng tham nên khi nào còn có cơ hội cho hai tácnhân này gặp nhau thì còn tham nhũng Lòng tham của con người mang tínhbản năng không thể triệt tiêu hoàn toàn Vì thế, để hạn chế tham nhũng phải

có cơ chế kiềm chế lòng tham của con người trong những phạm vi được xãhội chấp nhận Quyền lực công là cần thiết nhưng cần phải được giám sát chặt

Trang 15

chẽ nhằm ngăn ngừa nguy cơ bị lạm dụng Bản chất của tham nhũng quy địnhrằng, muốn phòng và chống tham nhũng phải tuân thủ những nguyên tắc sau:

* Nguyên tắc giới hạn chặt chẽ việc sử dụng quyền lực công bằng luật pháp

Quyền lực của cơ quan nhà nước là quyền mà công dân ủy quyền cho

để phục vụ xã hội công dân Công chức chỉ được sử dụng quyền lực công đểthực hiện các trách nhiệm được giao phó Tuy nhiên, xã hội công dân baogồm nhiều nhóm người và bản thân công chức cũng là công dân nên có thể có

sự nhầm lẫn đối tượng phục vụ hoặc làm sai trách nhiệm được giao phó Doquyền và trách nhiệm của công chức có thể thay đổi theo hoàn cảnh lịch sửnên quy định công chức được làm gì, được sai khiến ai là công việc càngphức tạp hơn Hơn nữa, sự giao phó quyền cho công chức là do cộng đồngdân cư tự nguyện dưới hình thức một quyết nghị chung Để công chức khônglạm dụng quyền lực, việc giao phó, ủy quyền đó phải thể chế thành luật càng

cụ thể càng tốt Khi đã có luật, phạm vi sử dụng quyền của công chức là làmtheo luật chứ không phải làm theo những gì công chức muốn Nếu không luậthóa phạm vi sử dụng quyền lực của công chức thì không có cơ sở để xem xétcông chức đó làm đúng hay sai

Luật hóa phạm vi sử dụng quyền lực của công chức cũng là đưa ra mộtgiới hạn phạm vi mà công chức không thể vượt qua Khi đó, hành vi của côngchức là hành vi của luật pháp đã có hiệu lực, nhân danh luật pháp chứ khôngphải nhân danh công chức Bất cứ hành vi nào của công chức không nhândanh luật pháp vì mục tiêu luật pháp đã chế định thì không được coi là đúng

* Nguyên tắc giám sát của người giao quyền hoặc ủy quyền

Mặc dù quyền lực công đã được giới hạn và giao phó cho từng cánhân công chức và cơ quan nhà nước, nhưng trong quá trình sử dụng vẫn cóthể xuất hiện sự sai lạc nếu công chức không chịu sự kiểm tra, giám sát chặt

Trang 16

chẽ Sự kiểm tra của người giao quyền hoặc ủy quyền là cần thiết để một mặttạo môi trường định hướng công chức, mặt khác tạo áp lực và răn đe các côngchức nào có ý định sử dụng quyền lực công không đúng mục đích

Hơn nữa, kiểm tra, giám sát còn để phát hiện kịp thời sai lệch nhằmđiều chỉnh kịp thời, ngăn ngừa công chức phạm sai lầm nghiêm trọng hoặcdấn quá sâu vào con đường tham nhũng mà không bị phát hiện

* Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước

Sự công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước khiến công chức khóche giấuđược hành vi không đúng của mình do đó giảm động cơ tham nhũng.Công khai, minh bạch còn cung cấp cơ chế tự giám sát công chức của ngườidân và của đồng nghiệp nên mỗi sai lầm của công chức đều được phát hiệnnhanh và đề nghị sửa chữa, vì thế cơ hội thực hiện tham nhũng giảm thiểu

* Nguyên tắc giải trình

Công chức phải có nghĩa vụ giải trình hành động và kết quả hànhđộng trước những người thuê hoặc giao phó công việc cho họ Trách nhiệmgiải trình càng cao thì ý thức tuân thủ nghĩa vụ càng lớn Đây là lớp vỏ giúpcông chức khó tiếp cận với các cơ hội tham nhũng

* Nguyên tắc về đạo đức công chức

Không tham nhũng phải được coi là tiêu chuẩn đạo đức hành nghề củacông chức Hành vi tham nhũng có thể buộc công chức mãi mãi ra khỏi độingũ công chức hoặc bị truy tố trước pháp luật

Hơn nữa, với tư cách là người thay mặt Nhà nước thực hiện dịch vụcông, công chức nhà nước phải tuân thủ một hệ thống các quy tắc, hành viđược coi là tiêu chuẩn đạo đức công chức Các tiêu chuẩn hành vi đó phảiđược xây dựng cụ thể, thiết thực, phù hợp với công việc hành chính nhà nướcvà văn hóa, tập quán dân tộc Cơ quan nhà nước phải có bộ phận thườngxuyên xây dựng, điều chỉnh, ban hành và theo dõi thực hiện đạo đức công

Ngày đăng: 17/06/2017, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w