1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THẢO LUẬN LUẬT DÂN SỰ

99 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 625,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì theo khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 quy định trường hợp một người bị coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản c

Trang 1

TOEIC GIAO TIẾP CUC CU – ĐỒNG HÀNH CÙNG SINH VIÊN LUẬT

Trang 2

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT:

CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ

*Bài tập 1: Năng lực hành vi dân sự cá nhân

Câu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) so với Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) về quy định mất năng lực hành vi dân sự.

Khoản 1 Điều 22 BLDS 2005: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án

ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định Khi khôngcòn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”

Khoản 1 Điều 22 BLDS 2015: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Như vậy, so với BLDS 2005, BLDS 2015 về quy định mất năng lực hành vi dân sự có những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên hay hủy bỏ quyết định, BLDS 2015 đã bổ sung “cơ quan, tổ chức hữu quan”

Thứ hai, BLDS 2015 đã thay “kết luận của tổ chức giám định” bằng “kết luận giám định pháp y tâm thần”

Câu 2: Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?

2

Trang 3

Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trường hợp mất năng lực hành

vi dân sự Vì theo giám định pháp y tâm thần kết luận ông P bị rối loạn lưỡng cực và đang thuyên giảm, rối loạn lưỡng cực là một dạng của bệnh trầm cảm nên không đến mức mất năng lực hành vi dân sự Về mặt pháp lý được xem là khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Do vậy ông P thuộc trường hợp có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Câu 3: Nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự.

Về điểm giống nhau:

Thứ nhất, họ là những người từng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Thứ hai, việc họ bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết định của Tòa án trên cở sởyêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan

Thứ ba, giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của người đó; giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho họ với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ thì không bị vô hiệu

Thứ tư, khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân sự của mình

Về điểm khác nhau:

Chủ thể Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích

dẫn đến phá tán tài sản của gia đình

Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Hệ quả pháp lí Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan

đến tài sản của họ phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật

Giao dịch dân sự của họ phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện

3

Trang 4

Câu 4: Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự không? Vì sao?

Trong Quyết định được bình luận, ông P không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự

Vì theo khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 quy định trường hợp một người bị coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự: “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Ông P bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực dẫn đến khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và không thuộc nhóm đối tượng được quy định tại Khoản 1 Điều 24 nên ông P không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Câu 5: Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Có hai điểm khác nhau cơ bản sau:

Chủ thể: người có hạn chế năng lực hành vi dân sự là người không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành

vi tuy nhiên chưa hoàn toàn mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Còn người hạn chế năng lực hành vi dân sự là Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình

Người yêu cầu: đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là bản thân người này, người

có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan Đối với người hạn chế năng lực hành vi dân

sự là người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan

4

Trang 5

Câu 6: Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

có thuyết phục không? Vì sao?

Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có thuyết phục

Vì đáp ứng đủ các điều kiện sau theo Điều 23 BLDS 2015:

• Có yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan: Bà H yêu cầu tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông P.

Có kết luận giám định pháp y tâm thần: Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 286/KLGĐTC, ngày 22/5/2017 đối với ông Lê Văn P của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận: tại thời điểm hiện tại:

o Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại thuyên giảm (F13.7).

o Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.1

Câu 7: Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P là có thuyết phục

Vì bà H là vợ của ông P, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của BLDS 2015 thì bà H là người giám hộ đương nhiên của ông P Tuy nhiên, mục đích của bà H yêu cầu tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là để giải quyết vụ án ly hôn giữa bà H và ông P mà Tòa đã thụ lý Do đó, sau khi Tòa tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì bà H không còn là vợ của ông P nữa Vì vậy bà H không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P

Câu 8: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P là có thuyết phục

Vì ông P yêu cầu Tòa chỉ định bà T là người giám hộ cho mình (phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 46 BLDS 2015) và bà T đồng ý (phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015) Đồng thời, bà T đáp ứng đủ các điều kiện của cá nhân làm người giám hộ theo điều 49 BLDS 2015

1 Quyết định số 11/2017/QDDS-ST ngày 18/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam

5

Trang 6

Câu 9: Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch nào? Vì sao?

Với vai trò của người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong những giao dịch dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 125 của BLDS 2015: “Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều nàykhông bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:

a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người

đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”

6

Trang 7

*Bài tập 2: Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lý

Câu 1: Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện).

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 74 của BLDS 2015:

“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Thứ nhất, pháp nhân được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và các luật khác có liên quan như Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014, tức là phải đuợc thành lập theo đúng trình tự, thủ tục tương ứng do pháp luật quy định cho loại pháp nhân đó Trình tự thủ tục thành lập pháp nhân phụ thuộc vào loại hình và mục đích hoạt động của nó Trên cơ sở sở đó Nhà nuớc ban hành các văn bản pháp luật khác nhau quy định về cơ cấu tổ chức và cách thức, thủ tục thành lập đối với các tổ chức khác nhau Quy định trên nhằm mục đích thừa nhân sự ra đời và khai sinh pháp nhân, từ đó pháp nhân có thểthực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Thứ hai, phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo quy định: Theo đó, pháp nhân phải có cơ quan điều hành,

tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân

Thứ ba, Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình Để một tổ chức tham gia vào quan hệ tài sản với tư cách là chủ thể độc lập thì phải có tài sản riêng, tài sản của pháp nhân là tài sản thuộc quyền sở hữu của pháp nhân hoặc do nhà nước giao cho quản lý

Tính độc lập trong tài sản của pháp nhân được thể hiện ở sự độc lập với tài sản của cá nhân là thành viêncủa pháp nhân, với cơ quan cấp trên và các tổ chức khác

Trên cơ sở tài sản độc lập của pháp nhân, pháp nhân mới có thể chịu trác nhiệm bằng tài sản của mình.Thứ tư, pháp nhân nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập: Pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định củapháp luật và điều lệ Pháp nhân có thể đóng vai trò nguyên đơn hoặc bị đơn trước Tòa khi mà quyền lợi

bị xâm phạm

Câu 2: Trong Bản án số 1117, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên

và Môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản án có câu trả lời?

7

Trang 8

Theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ, vẫn là một đơn vị phụ thuộc vào pháp nhân.

Đoạn trong Bản án có câu trả lời là:

“Như vậy Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân bổ ngân sách của Nhà nước và phân cấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường chứ không phải là một cơ quan hạch toán độc lập Mặc dù trong quyết định 1364 nói trên có nội dung “Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng” nhưng là Cơquan đại diện Bộ phải hạch toán báo sổ nên cơ quan nầy có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ”

Câu 3: Trong Bản án số 1117, vì sao Tòa án xác định Cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tư cách pháp nhân?

Như quy định tại Điều 92 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“…2 Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và được thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích đó…

4 Văn phòng đại diện, chi nhánh không phải là pháp nhân Người đứng đầu Văn phòng đại diện, chi nhánh thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền;

5 Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do Văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập thực hiện”

Như vậy, Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh không có tư cách pháp nhân

Xét theo quyết định số 1364/QĐ-BTNMT ngày 8/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ thuộc theo sự phân

bổ ngân sách của Nhà nước và phân cấp của Bộ Tài nguyên và Môi trường chứ không phải là một cơ quan hạch toán độc lập

Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường không có tư cách pháp nhân vì không có tài sản độc lập, không nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập mà có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và thực hiện bảo vệ các lợi ích đó

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.

Theo suy nghĩ chủ quan của tôi thì hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là hợp

lý và khách quan

8

Trang 9

Thứ nhất, trong vụ tranh chấp bị đơn phương chấp dứt hợp đồng này: Tòa án nhân dân quận 1 và nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc Hùng tại bản án Lao động sơ thẩm số 32/2012/LĐST ngày 9/7/2012 đều xác định bị đơn trong vụ tranh chấp này là Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh Việc xác định như vậy là chưa phù hợp với quyết định số 1364/QĐ-BTNMT ngày 8/7/2008 của

Bộ tài nguyên và môi trường và quy định của điều 92 Bộ luật dân sự năm 2005, đưa cơ quan đại diện của

Bộ tham gia tố tụng là không đúng mà phải đưa Bộ Tài nguyên và Môi trường vào tham gia với tư cách bịđơn mới đúng Vì cơ quan đại diện không có tư cách pháp nhân, chỉ được nhân danh pháp nhân xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền Các giao dịch do cơ quan đại diện xác lập thực hiện nhân danh pháp nhân, trong phạm vi và thời hạn ủy quyền của pháp nhân thì làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với pháp nhân Vậy nên, Tòa án thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy bản án lao động sơ thẩm số 32/2012/LĐST ngày 9/7/2012 về “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động” của Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (Vì chưa xác định đúng thành phần đương sự tham gia phiên tòa) Hơn nữa, để đảm bảo cho nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc Hùng có quyền khởi kiện lại cho đúng đối tượng mà không để quá thời hiệu khởi kiện vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại sơ thẩm vụ án ( Vì theo điều 263, BLTTDS quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm: “Tòa án chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nộidung kháng cáo, kháng nghị”)

Thứ hai, về án phí lao động phúc thẩm: án phí này sẽ được hoàn trả cho cơ quan đại diện cho cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh Điều này là hợp lý (Do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên hủy bản án lao động sơ thẩm số 32/2012/LĐST ngày 9/7/2012 Dựa trên căn cứ pháp lý là điều 12, nghị định số 70/CP ngày 12/06/1997: “Đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm nếu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm, hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm”

Câu 5: Pháp nhân và cá nhân có gì khác nhau về năng lực pháp luật dân sự? Nêu cơ sở khi trả lời (nhất

là trên cơ sở BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015).

BLDS 2005:

Định nghĩa

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân làkhả năng của cá nhân có quyền dân sự

và nghĩa vụ dân sự

9

Trang 10

Có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.

Phạm vi Phù hợp với hoạt động, mục đích của

Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

BLDS 2015:

Định nghĩa

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân làkhả năng của cá nhân có quyền dân sự

ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sựcủa pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký

Chấm dứt từ thời điểm chấm dứt pháp nhân

Có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

Phạm vi Không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật

này, luật khác có liên quan quy định khác Không giới hạn.

Mức độ bình

đẳng

Mỗi pháp nhân sẽ được xác lập những năng lực pháp luật dân sự không giống nhau

Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

10

Trang 11

Câu 6: Giao dịch dân sự do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng buộc pháp nhân không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Giao dịch dân sự do người đại diện của pháp nhân xác lập nhân danh pháp nhân có ràng buộc pháp nhân

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 87 BLDS 2015: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.”

Câu 7: Trong tình huống trên, hợp đồng ký kết với Công ty Nam Hà trong tình huống trên có ràng buộc Công ty Bắc Sơn không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Xét trong truờng hợp trên, Chi nhánh công ty Bắc Sơn đã kí kết hợp đồng với công ty Nam Hà, vậy hợp đồng này sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của Công ty Bắc Sơn chứ không phải chi nhánh của công ty đó

11

Trang 12

*Bài tập 3: Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

Câu 1: Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên và trách nhiệm của các thành viên với nghĩa vụ của pháp nhân.

Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên:

Cơ sở pháp lý: Khoản 1, 2 Điều 87 của BLDS 2015:

“1 Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

2 Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người củapháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

Việc xác lập, thực hiện các giao dịch với tư cách của pháp nhân phải được tiến hành thông qua hànơh vi của người đại diện hợp pháp của pháp nhân, phù hợp với ý chí của pháp nhân và chức năng, nhiệm vụ, mục đích hoạt động của pháp nhân 2

Trách nhiệm của các thành viên với nghĩa vụ của pháp nhân:

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 87 của BLDS 2015:

“3 Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

Thành viên pháp nhân cũng không được quyền tự ý nhân danh pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật, nếu không có ủy quyền của người đại diện hợp pháp của pháp nhân Các thành viên góp vốn hay người đại diện của pháp nhân cũng không được sử dụng danh nghĩa của pháp nhân để xác lập, thực hiện các giao dịch vì mục đích tư lợi cho bản thân mình 3

Câu 2: Trong Bản án được bình luận, bà Hiền có là thành viên của Công ty Xuyên Á không? Vì sao?

Bà Hiền là thành viên của Công ty Xuyên Á Vì bà Hiền có góp vốn 26,05% vào Công ty

Câu 3: Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay của bà Hiền? Vì sao?

2 Lê Minh Hùng, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự của ĐH Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức-Hội Luậtgia Việt Nam 2017, tr 180

3 Lê Minh Hùng, Giáo trình Những quy định chung về luật dân sự của ĐH Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức-Hội Luậtgia Việt Nam 2017, tr 181

12

Trang 13

Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á Vì Công ty Ngọc Bích ký hợp đồng mua bán với Công ty Xuyên Á mà Công ty Xuyên Á có tư cách pháp nhân nên Công ty Xuyên Á phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân theo khoản 1 Điều 87 của BLDS 2015 Đồng thời, bà Hiền là người của pháp nhân chứ không có tư cách pháp nhân nên không phải chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa

vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện theo khoản 3 Điều 87 của BLDS 2015

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa cấp sơ thẩm và Tòa cấp phúc thẩm liên quan đến nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích.

Theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 27/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn buộc ông Phong và bà Hiền trả cho Công ty Ngọc Bích số tiền vốn 77.000.752đ và tiền lãi 30.030.000đ là không hợp lý Vì ông Phong và bà Hiền chỉ là thành viên của Công ty Xuyên Á nên không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của Công ty bằng tài sản của mình

Do đó, bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 10/2016/KDTM-PT ngày 17/03/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm là hợp lý

Câu 5: Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của Công ty Ngọc Bích khi Công ty Xuyên Á đã bị giải thể?

Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ làm rõ để xác định lý do giải thể, thẩm định tài sản của Công ty Xuyên

Á trước khi giải thể và nghĩa vụ về tài sản của Công ty để giải quyết theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp sau khi giải thể, nếu phần tài sản của Công ty Xuyên Á còn và đã được chia cho ông Phong và bà Hiền thì đề nghị ông Phong và bà Hiền hoàn lại số tiền đó để trả nợ cho Công ty Ngọc Bích.Trường hợp sau khi giải thể, nếu Công ty Xuyên Á không còn tài sản thì Công ty Ngọc Bích chịu thiệt số tiền trên

13

Trang 14

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 2

14

Trang 15

*Bài tập 1: Giao dịch xác lập bởi người không có khả năng nhận thức

Câu 1: Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) so với Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005)

về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.

Điều 122 BLDS 2005 Điều kiện có hiệu lực của

giao dịch dân sự

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các

điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi

dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi

phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo

đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự

nguyện

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có

hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn

tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

- Về điều kiện liên quan đến chủ thể (điều kiện chủ quan):

• BLDS 2005: chủ thể tham gia phải có năng lực hành vi dân sự, nghĩa là chủ thể tham gia chỉ có thể là cá nhân (Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005);

• BLDS 2015: chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch, nghĩa là chủ thể tham gia có thể là pháp nhân hoặc

cá nhân (Điểm a khoản 1 Điều 117 BLDS 2015);

Sự thay đổi đã mở rộng hơn về chủ thể tham gia các giao dịch dân sự không chỉ là cá nhân mà còn là pháp nhân, đã phù hợp với thực tiễn đời sống, vì trong thực tiễn đối với một số giao dịch dân sự có pháp nhân là chủ thể tham gia những BLDS 2005 không điều chỉnh được và BLDS 2015 đã khắc phục được điều này

- Về điều kiện liên quan đến giao dịch (điều kiện khách quan):

• BLDS 2005: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (Điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005) Quy định điều cấm là điều cấm của pháp luật, là những quy định của pháp luật, tức là những quy định đó có thể tồn tại trong văn bản luật hoặc văn bản dưới luật.

15

Trang 16

• BLDS 2015: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điềm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015) Quy định điều cấm là điều cấm của luật, là những quy định của luật, tức là những quy định đó chỉ tồn tại trong luật do Quốc hội ban hành.

Sự thay đổi từ pháp luật sang luật đã thu hẹp lại phạm vi quy định, tránh sự tùy tiện về quy định của các văn bản dưới luật

Câu 2: Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được Ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự từ ngày 07/05/2010

Câu 3: Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự Vì ngày 07/05/2010 Tòa án tuyên ông Hội mất năng lực hành vi dân sự còn lúc bà Hương bán cănnhà là vào ngày 08/02/2010

Câu 4: Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Liên quan đến phần của ông Hội, Tòa án khẳng định “căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thì thấy tại thời điểm ông Hội giao kết hợp đồng thì ông chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưngcác đương sự thống nhất trình bày là ông Hội bị bệnh tai biến mạch máu não và bị liệt nằm một chỗ từ cuối năm 2008” Từ đó, Tòa án theo hướng “hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực đối với phần ông Hội” và

“trong trường hợp này phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Hội bà Hương với vợ chồng ông Hùng bà Trinh bị vô hiệu một phần, đối với phần ông Hội”.4

Câu 5: Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết.

-Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc giống với hoàn cảnh của ông Hội

- Cụ thể như sau: Ngày 19-9-2003, ông Tình đến Phòng công chứng ký hợp đồng tặng cho một căn nhà cho bà Nga Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/DSST ngày 17-11-2003, Tòa án nhân dân quận 3, Thành phố

Hồ Chí Minh tuyên bố ông Tình mất năng lực hành vi dân sự Ở đây, ông Tình xác lập hợp đồng trước ngày Tòa án tuyên bố ông mất năng lực hành vi dân sự Về thời điểm thực tế mất năng lực hành vi dân

sự, Tòa án nhận định “ông Tình đã có quá một trình dài bị bệnh tâm thần phải điều trị liên tục từ năm

4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam 2017

(xuất bản lần thứ 6), Bản án số 56-58, tr 427, 428

16

Trang 17

2000” Từ đó, Tòa án đã theo hướng “hợp đồng tặng cho nhà ở số 611/611F đường Điện Biên Phủ giữa ông Tình với bà Nga lập ngày 19-9-2013 tại Phòng công chứng nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh là

vô hiệu”.5

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý.

Theo nhóm em, hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao dịch

do ông Hội xác lập) là hợp lí Vì tại thời điểm giao kết hợp đồng, tuy ông chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng thực chất ông đã bị tai biến mạch máu não và bị liệt nằm một chỗ từ cuốinăm 2008, do đó ông khó nhận thức và thể hiện ý chí của mình nên không thể chắc chắn được việc ký kết hợp đồng do ông xác lập là tự nguyện Vì vậy, theo Điều 117 BLDS 2015 quy định về điều kiện có hiệulực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này mà giao dịch do ông Hội xác lập đã không đáp ứng được điều kiện: “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” nên hợp đồng bị vô hiệu một phần, đối với phần của ông Hội

Câu 7: Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có bị vô hiệu không?

Trang 18

*Bài tập 2: Giao dịch xác lập do có nhầm lẫn

Câu 1: So với BLDS 2005, BLDS 2015 có khác gì về giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn? Suy nghĩ của anh/chị

về sự thay đổi trên.

Điều 131 BLDS 2005 Giao dịch dân sự vô hiệu

do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm

lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập

giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu

bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu

bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có

quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô

hiệu

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho

bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì

được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của

Bộ luật này

Điều 126 BLDS 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu

do bị nhầm lẫn

1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có

sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên

không đạt được mục đích của việc xác lập giao

dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa

án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ

trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn

không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác

lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được

hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự

nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao

dịch dân sự vẫn đạt được

18

Trang 19

- Điều 131, BLDS năm 2005 chia ra hai trường hợp là vô ý và cố ý còn ở Điều 126, BLDS 2015 thì không chia ra làm hai trường hợp như vậy.

Sự thay đổi này là hợp lý vì trường hợp do cố ý đã được quy định rõ trong phần giao dịch vô hiệu do bị lừa dối, ngắn gọn và thuận tiện trong việc xử lý vi phạm

- Điều 131, BLDS năm 2005 quy định “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.” còn về BLDS 2015 thì chỉ cần nhận thấy giao dịch bị nhầm lẫn sẽ có quyển yêu cầu Tòa

án tuyên giao dịch vô hiệu

Việc này giúp cho bên bị nhầm lẫn dễ dàng hơn trong việc giành lại quyền lợi, thuận tiện và nhanh chóng

- Điều 126, BLDS 2015 bổ sung cả khoản 2 điều này

Làm tăng thêm phương án giải quyết cho các bên trong trường hợp bên bị nhầm lẫn không muốn vô hiệu hợp đồng nhưng vẫn đảm bảo đủ quyền lợi hợp pháp

Câu 2: Đoạn nào của bản án trên cho thấy Tòa án đã tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn?

Đoạn của bản án cho thấy Tòa tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn:

“Như vậy, vị thế và giá trị nhà đất có mặt tiền đường nhựa rộng 18m và vị thế, giá trị nhà đất chỉ có lối đi nhỏ rộng 02m là hoàn toàn khác nhau; chênh lệch rất lớn về giá trị và điều này mọi người đều biết và thừa nhận Rõ ràng đường nhựa rộng 18m được vẽ trước nhà (trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là đường đi của quân đội, quản lí trược tiếp là Sư đoàn BB7; sơ đồ bản vẽ thừa đất do cơ quan có thẩm quyền lập (khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Anh vào năm 2010) ghi không rõ ràng, gây nhầm lẫn cho người sử dụng đất và cho nguiờ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Bà Maikhông biết thông tin về đường nhựa rộng 18m trước nhà là của Quân đội, Quân đội sẽ xây tường chắn ngang vào đầu năm 2016; do đó có căn cứ xác định là bà Mai bị nhầm lẫn về vị thế của nhà đất khi thực hiện giao dịch Khoản 1 Điều 126 của BLDS 2015 (Điều 131 của BLDS 2005) quy định “Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu ”; bà Mai có liên hệ với bà Anh để thương lượng giảm giá trị của hợp động là có thiện chí nhưng bà Anh khôngđồng ý thương lượng, trong trường hợp này bà Mai yêu cầu hủy hợp đồng là đúng quy định của pháp luật.”

“2.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim Mai; tuyên bố “hợp đồng mua bán nhà đất”’ xác lập ngày 17/02/2016 và “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” xác lập ngày 02/03/2016 giữa bà Trần Thị Kim Mai và bà Wòng Thị Lan Anh được Văn phòng công chứng Thủ Dầu Mộtcông chứng số 1170 (quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD) là vô hiệu; bà Wòng Thị Lan Anh phải trả lại cho bà Trần Thị Kim Mai só tiền đã nhận là 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng)”

Trang 20

Câu 3: Theo anh/chị, nhầm lẫn là gì và trong vụ việc trên, có nhầm lẫn không? Vì sao?

Nhầm lẫn là sự xác định sai về sự việc một cách vô ý do nhiều yếu tố Trong vụ việc trên, có nhầm lẫn vì theo bản án: "Bà Mai không biết thông tin về đường nhựa rộng 18m trước nhà là của Quân đội, Quân đội sẽ xây tường chắn ngang vào đầu năm 2016; do đó có căn cứ xác định bà Mai bị nhầm lẫn về vị thế của nhà đất khi thực hiện giao dịch."

Câu 4: Giả sử có nhầm lẫn, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?

Giả sử có nhầm lẫn, việc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn là có thuyết phục

Vì theo khoản 1 Điều 126 BLDS 2015: “Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm chomột bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”

Trang 21

*Bài tập 3: Giao dịch xác lập do có lừa dối

Câu 1: Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự do có lừa dối theo BLDS 2005 và BLDS 2015?

Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo Điều 132 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2015 là: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối?

Đoạn cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối của Quyết định số 521: “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân - họ hàng của anh Vinh) không thôngbáo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có Quyết định thuhồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ kí của ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh) Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán nhượng” giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng điều 132-BLDS đề giải quyết”

Câu 3: Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết

Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ

Câu 4: Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

Hướng giải quyết trên còn phù hợp với BLDS 2015 vì theo điều 127 BLDS 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép quy định: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc

bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” Theo Quyết định số 521: “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân - họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi

đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối Mặt khác, tại bản

“Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ kí của ông Đô (chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh) Vì vậy, với những tình tiết trên thìviệc áp dụng BLDS 2015 vẫn còn phù hợp, cụ thể là Điều 127

Câu 5: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên

bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?

Trang 22

Trong Quyết định số 210, theo Tòa án thì: Bà Nhất không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu Bởi lẽ theo quy định của BLDS 1995 và BLDS 2005 bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối Trường hợp này chỉ có ông Tài mới có quyền khởi kiện tuyên bố Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nếu ông Tài không biết việc ông Dưỡng giả mạo chữ kí của bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Câu 6: Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?

Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối đã không còn Vì “Về thời hiệu: Khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là một năm; Khoản 1 Điều 136 BLDS

2005 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập Còn Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày người có quyền khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm

Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện Nên nếu xác định bà Nhất có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do lừa dối, thì cũng đã hết thời hiệu khởi kiện”

Câu 7: Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?

Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng Vì theo khoản 2 Điều 132 của BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này

mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực”

Trang 23

Câu 8: Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS

2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?

Nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết trong QĐ số 210 thì hướng giải quyết cũng không khác so với áp dụng BLDS 1995 và BLDS 2005 Cụ thể:

Về việc ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu thì Điều 127 BLDS 2015 quy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe doạ, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu" Bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch dân sự với ông Tài nên bà Nhất không có quyền yêu cầu khởi kiện tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng bị lừa dối Người được yêu cầu khởi kiện Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

do lừa dối là ông Tài

Về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì Điều 132 BLDS 2015 có quy định:

"Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và

129 của Bộ luật này là 02 năm " Vì bà Nhất khai rằng năm 2007 hai vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện Do đó đã hết thời hiệu khởi kiện

Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối thì Toà vẫn công nhận hợp đồng vì theo khoản 2 Điều 132 luật này: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực"

Câu 9: Quay trở lại vụ việc trong phần nhầm lẫn, vì sao Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

mà không tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối?

Trong phần nhầm lẫn, Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do nhầm lẫn mà không tuyên hợp đồng vô hiệu

do lừa dối vì chính bà Anh cũng không biết 18m đường nhựa là của Sư đoàn BB7 (trong bản vẽ chỉ thể hiện nhà đất có mặt tiền là lề đường rộng 5m rồi đến đường nhựa rộng 18m, ghi là “đường vào Sư BB7 (18m) nhựa”, không thể hiện đường nhựa là cửa quân đội (Sư đoàn BB7); bản vẽ không thể hiện nhà, đất có lối đi nào khác) và Sư đoàn có chủ trương xây hàng rào (bít hoàn toàn mặt tiền có đường nhựa 18m) Bà Anh không có hành vi cố ý làm cho bà Mai hiểu sai lệch vị thế nhà đất có mặt tiền đường nhựa rộng 18m Đây rõ ràng không phải hành vi lừa dối mà là sự nhầm lẫn của bà Anh

Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng tuyên nêu trên của Tòa án.

Theo nhóm em, hướng tuyên nêu trên của Tòa án là hợp lý Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý là BLDS

1995 và BLDS 2005 để đưa ra quyết định Cụ thể ở Điều 132 BLDS 2005 về Giao dịch dân sự vô hiệu do bịlừa dối, đe dọa có quy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu." và ở khoản 1 Điều 142 BLDS 1995 có quy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe doạ, thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu" Từ 2 quy định trên ta có thể hiểu là chỉ người tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu Trong tình huống của bà Nhất, thì bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sở dụng đất vô hiệu do bị lừa dối

Trang 24

*Bài tập 4: Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu

Câu 1: Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.”

Câu 2: Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?

Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện Vì tại khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thànhtiền để hoàn trả”

Câu 3: Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào?

Với khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện thì Hội đồng thẩm phán đã đưa ra hướng giải quyết là: “Nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng Còn nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu.

Theo nhóm em, hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu là hợp lí Vì Công ty Orange đã hoàn tất và bàn giao cho Công ty Phú Mỹ CD và bộ bản vẽ chi tiết của Dự án theo đúng khối lượng và tiến độ công việc như đã cam kết trong hợp đồng

Mà theo khoản 1 Điều 131 của BLDS 2015 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấmdứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.” và khoản 2 “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”

Trang 25

Vì vậy, có nghĩa là Công ty Phú Mỹ có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền còn lại cho Công ty Orange ứng vớikhối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng.

Câu 5: Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?

Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán:

“Nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng Còn nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán như vậy là hoàn toàn hợp lý Vì nếu Hợp đồng dịch vụ hợp pháp thìCông ty Phú Mỹ là bên có nghĩa vụ trả tiền nhưng lại chậm thanh toán do đó phải trả thêm tiền lãi suất theo khoản 1 Điều 357 BLDS 2015: “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.”

Còn nếu Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì theo khoản 2 Điều 131 của BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả” Do đó, Công ty Phú Mỹ chỉ cần thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng mà không cần trả thêm tiền lãi suất

Câu 6: Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu?

Trong quyết định số 75 Toà Dân sự Toà án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu vì xét thấy ngày 25/06/2006 anh Dư, chị Chúc đã chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên cho ông Sanh với giá

là 195.000.000đ Hai bên có lập một giấy "chuyển nhượng đất" và một giấy "chuyển nhượng đất thổ cư

và nhận tiền" cùng ngày 25/06/2005 Cả hai tài liệu trên đều có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Trung Kiên Khi ông Sanh yêu cầu phải hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc không thực hiện

Hợp đồng vô hiệu là do lỗi của anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện thủ tục về hình thức của hợp đồng

Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên.

Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định định hợp đồng vô hiệu là hợp lý Xét thấy xuyên suốt vụ án, hợp đồng chuyển nhượng được xác lập dưới sự tự nguyện của hai bên, hoàn toàn đúng pháp luật nhưng

do lỗi của anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức của hợp đồng dẫnđến hợp đồng vô hiệu vì vi phạm về mặt hình thức

Trang 26

Câu 8: Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại với

số tiền tương đương với phần giá trị hợp đồng đã thanh toán trước đó là 160.000.000 VNĐ vì hợp đồng giữa ông Sanh và vợ chồng anh Dư, chị Chúc vô hiệu là do lỗi của vợ chồng anh Dư và chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức của hợp đồng chứ không phải do lỗi ông Sanh Theo khoản 4 Điều 131 BLDS 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:“Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Câu 9: Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Dậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao?

Việc này chính là hệ quả của giao dịch dân sự Vì quyết định này phù hợp với Điều 131 BLDS 2015 nói về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được thể hiện rõ nhất ở khoản 2 Điều này như sau: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” Do “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” bị vô hiệu nên dẫn đến hậuquả là anh Dậu phải hoàn trả lại toàn bộ phần đất được cho từ ông Văn, bà Tằm

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 4

*Bài tập 1: Đòi động sản từ người thứ ba

Câu 1: Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

Trâu là động sản

Theo điều 174 BLDS 2005 và điều 107 BLDS 2015 có quy định:

“1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2 Động sản là những tài sản không phải bất động sản”

Như vậy, dựa vào khoản 1 của điều 107 BLDS 2015 nêu trên thì trâu không thuộc bất động sản”

Câu 2: Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?

Trâu là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu

Trang 27

Tại khoản 2 điều 106 BLDS 2015 có quy định: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, trâu là động sản nên quyền sở hữu đối với trâu không cần đăng ký

Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

Đoạn cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài của Quyết định là: “Căn cứ vào lời khaicủa ông Triệu Tấn Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20) anh Bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-8-2004, biênbản diễn giải biên bản giám định kết quả giám định trâu ngày 20-8-2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì có đủ

cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tấn Tài”

Câu 4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh như hoàn cảnh có tranh chấp?

Khoản 1 Điều 179 BLDS 2015 quy định: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”

Trong hoàn cảnh tranh chấp này thì người chiếm hữu trâu là ông Dòn vì ông Dòn đang nắm giữ, chi phối con trâu

Câu 5: Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn là không có căn cứ pháp luật Vì theo Khoản 2 Điều

165 quy định: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Khoản 1 điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật”

Câu 6: Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?

Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là việc chiếm hữu của một người không có căn cứpháp luật nhưng không biết và không thể biết (pháp luật không buộc phải biết) việc chiếm hữu là không

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

Trang 28

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của phápluật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quyđịnh của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.”

Điều 180 BLDS 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà ngườichiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

Câu 7: Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

Người như hoàn cảnh ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Vì theo Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” Cụ thể là trong bản án, ông Thi đã đổi con trâu mẹ cho ông Dòn nên ông Dòn có căn

cứ để tin rằng mình có quyền đối với con trâu đang chiếm hữu

Câu 8: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang hàng

vì các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng loại Ví dụ: Hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc

Hợp đồng không có đền bù là những hợp đồng trong đó một bên nhận được một lợi ích nhưng không phải giao lại cho bên kia một lợi ích nào Ví dụ: Hợp đồng tặng cho tài sản

Câu 9: Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?

Ông Dòn có được trâu thông qua giao dịch có đền bù

Vì con trâu mà ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thi, cụ thể là ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi, từ đó ta có thể thấy đây là giao dịch mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Do vậy, đây là giao dịch có đền bù

Câu 10: Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

Trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài

Câu 11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trang 29

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì ông Tài không có quyền đòi trâu từ ông Dòn vì trong quyết định số 123/2006/DS-GĐT, phần xét thấy có đề cập: “…Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lýnên ông Tài phải khởi kiện ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại giá trị con nghé là

900.000đ , bác yêu cầu ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại giá trị con trâu mẹ là không đúng pháp luật”

Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Theo Điều 167 BLDS 2015 quy định về quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu” Trong trường hợp này, vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình, ông có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù và con trâu bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài nên ông Tài có quyền đòi lại con trâu từ ông Dòn Do đó, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm là có căn cứ pháp luật nên việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án dân sự phúc thẩm là chưa hợp lý.

Câu 13: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Khi ông Tài không thể đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật có quy định ở điều 170 BLDS

2015 để bảo vệ quyền lợi cho ông Tài như sau: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại” Ở đây có nghĩa là ông Tài có quyền đòi ông Thơ bồi thường thiệt hại.

Câu 14: Khi ông Tài không được đòi Trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con Trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu theo đoạn: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và quyếtđịnh buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu

và nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật”

Câu 15: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Theo nhóm, hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý Vì chưa chứng minh

rõ ông Thơ chiếm hữu có ngay tình hay không, điều này sẽ giúp đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên đương

sự Trong trường hợp ông Thơ chiếm hữu có ngay tình thì theo Điều 583 BLDS 2015 quy định chủ sở hữu được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán lại chi phí cần thiết cho người chiếm hữu tài sản không có căn

Trang 30

cứ pháp luật nhưng ngay tình Ngược lại, nếu ông Thơ chiếm hữu không ngay tình thì việc bồi thường sẽ theo quy định của pháp luật.

*Bài tập 2: Đòi bất động sản từ người thứ ba

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba và đang được ông Vĩnh chiếm hữu?

Đoạn của Quyết định cho thấy quyền sử dụng đất tranh chấp thuộc sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba

và đang được ông Vĩnh chiếm hữu: “Năm 1995, bà Thu đã bán nhà đất này cho ông Vĩnh, hợp đồng muabán có công chứng Năm 1996, ông Vĩnh tiến hành sửa chữa nhà có giấy phép Năm 2002, vợ chồng ông

La Văn Vĩnh và bà Huỳnh Thị Như Ngọc được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụngđất ở, diện tích nhà 17,1m2, diện tích đất là 19,5m2 Năm 2002, các con cụ Ba là bà Nhân và ông Lai tranh chấp nhà đất với ông Vĩnh Ông Vĩnh và Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong cho rằng, vợ cụ

Ba lấy tên con gái là Nhân đứng tên ký bán nhà đất đang tranh chấp cho vợ chồng bà Thu, đã giao giấy cụ

Ba mua nhà của cụ Cậy cho vợ chồng bà Thu Do ông Cung đã chết, bà Thu nay không rõ đang sống ở đâu nên không lấy được lời khai Tuy nhiên, các cơ quan chuyên môn về quản lý nhà đất của Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và ông Vĩnh chỉ cung cấp được các giấy tờ do Khu vực 6 bán nhà đất cho

vợ chồng bà Thu và giấy tờ bà Thu bán cho ông Vĩnh, không cung cấp được giấy tờ về việc vợ cụ Ba hay

bà Nhân bán nhà đất cho Khu vực 6 và giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho con cụ Ba Do đó, không có căn cứ xác định vợ cụ Ba, hoặc bà Nhân đã bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu vực 6 Nay vợ chồng cụ Ba đã chếtthì các con của cụ Ba được thừa kế tài sản này Nhà của cụ Ba, ông Vĩnh đã phá đi không còn, khi ông Vĩnh phá nhà, các con cụ Ba không chứng minh được đã có khiếu nại, nên chỉ còn đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các con cụ Ba”

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyết sử dụng đất tranh chấp?

Đoạn của Quyết định cho thấy Tòa án xác định ông Vĩnh chiếm hữu ngay tình quyết sử dụng đất tranh chấp: “…Khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Nay ông Vĩnh cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, nên xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản tranh chấp ngay tình.”, “…ông không đồng ý trả lại căn nhà cho nguyên đơn vì ông đã mua căn nhà này hợp pháp”

Câu 3: Suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình?

Việc Tòa án xác định ông Vĩnh là người ngay tình là hoàn toàn phù hợp

Vì khi ông Vĩnh mua nhà đất của vợ chồng bà Thu thì nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, nên ông Vĩnh mua nhà đất này là hợp pháp Nay ông Vĩnh cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữunhà và quyền sử dụng đất ở nên việc giao dịch mua bán tài sản của ông Vĩnh là ngay tình

Câu 4: Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh có phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con của cụ Ba không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý.

Trang 31

Trên cơ sở các quy định hiện hành, ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con của cụ Ba vì trong trường hợp này ông Vĩnh là người thứ ba ngay tình Điều 168 BLDS 2015 quy định chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản có đăng ký hoặc bất động sản từ người chiếm hữu thứ ba ngay tìnhtrừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này Khoản 2 Điều 133 quy định: “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho ngời thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”.

Như vậy, trong trường hợp của ông Vĩnh thì ông Vĩnh chính là người thứ ba ngay tình theo quy định của Điều 168 và khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 Vì vậy ông Vĩnh không phải hoàn trả quyền sử dụng đất tranh chấp cho các con của cụ Ba

Câu 5: Toà án tối cao đã có hướng giải quyết giúp con cụ Ba như thế nào và hướng giải quyết này đã được quy định trong văn bản chưa?

Tại Quyết định số 94/2013/GĐ-DS ngày 25 tháng 07 năm 2013 vụ tranh chấp quyền sở hữu tài sản, để bảo vệ các con cụ Ba hướng giải quyết của Tòa án là không chấp nhận Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn, xác định ông Vĩnh là người mua bán tài sản ngay tình và yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc bán nhà trái pháp luật cho nguyên đơn

Hướng giải quyết này chưa được quy định trong văn bản Vì Tòa án chưa xác đinh được chính xác ai là người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các con cụ Ba và cần phải làm rõ Ông Vĩnh là người chiếm hữu ngay tình, tức là việc mua nhà số 2 Nguyễn Thái Học của ông là do không biết và không thể biết việc chiếm hữu của ông là không có căn cứ pháp luật nên Tòa án cần xác minh ông Sơn hay ông Đạo là nguời

đã bán căn nhà đó và số tiền có phải dùng để xây dựng trường mẫu giáo không, nếu có hiện ai đang quản lí

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên.

Theo nhóm, hướng giải quyết bảo vệ các con của cụ Ba nêu trên là hợp lí Tuy không có giấy tờ cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba nhưng cụ Cậy và các đương sự thừa nhận năm 1973 cụ Cậy bán nhà cho cụ Ba và không có căn cứ xác định vợ cụ Ba hay bà Nhân bán nhà đất đang tranh chấp cho Khu vực 6 nên nhà đất đang tranh chấp thuộc sở hữu của cụ Ba, nay cụ Ba đã chết thì các con cụ Ba được thừa kế tài sản này

*Bài tập 3: Lấn chiếm tài sản liền kề

Câu 1: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

Đoạn thể hiện việc ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê, bà Thi: “Năm 1994, Ủy ban nhân dân huyện CN cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Diệp Vũ Trê (vợ là bà Châu Kim Thi) với diện tích 4.700m2 Phần đất này gia đình ông Trê đã sử dụng từ lâu Giáp với đất của ông Trê là đất của gia đình ông Hậu (ông Hậu nhượng lại của anh Kiệt vào năm 1994) Trong quá trình sử dụng, ông Hậu đã lấn chiếm sang đất của gia đình ông Trê khoảng 185m2 (cụ thể diện tích đất tranh chấp

Trang 32

là tam giác có đáy là mặt tiền sông Bà Bèo dài 12m, cạnh của tam giác là 36m, cạnh đứng khoảng 30m)” Phần lấn cụ thể là 185m2 trong đó có 52,2m2 ông Hậu đã xây dựng nhà.

Câu 2: Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

Gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Trụ, bà Nguyên được thể hiện trong Quyết định số 617 bởi đoạn: “Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông Hòa

có làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định gia đính ông Hòa làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ,

bà Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ là có căn cứ.”

Câu 3: BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?

BLDS có quy định điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Cụ thể theo Khoản 2 Điều 175 BLDS năm 2015:

“Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

Câu 4: Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào?

Ở Pháp, chỉ cần một lấn chiếm nhỏ đất của người khác, Tòa án tối cao Pháp cũng buộc phải tháo dỡ côngtrình lấn chiếm, cho dù người lấn chiếm có ngay tình Giải pháp này giúp bảo vệ quyền sở hữu một cách tuyệt đối; mọi người lấn chiếm (dù việc lấn chiếm lớn hay nhỏ, người lấn chiếm ngay tình hay không) đều phải tháo dỡ phần lấn chiếm để trả lại tình trạng ban đầu cho chủ sở hữu Tuy nhiên đa phần tác giả Pháp cho rằng giải pháp như vậy là quá cứng nhắc và nên có giải pháp mềm dẻo hơn để bảo vệ người lấnchiếm ngay tình.6 Pháp đang tiến hành sửa đổi phần Tài sản của BLDS và Hội luật gia Henri Capitant đã kiến nghị giữ nguyên tắc mà Tòa án tối cao Pháp đang làm nhưng đưa ra ngoại lệ (Điều 539 Tiền Dự thảo) căn cứ vào mức độ lấn chiếm (mốc xác định là hơn 30 cm), sự ngay tình của ngay tình của người lấn chiếm

Ở Quebec, việc xử lý lấn chiếm tài sản mềm dẻo hơn án lệ Pháp hiện nay Theo Điều 992 BLDS Quebec,

“nếu việc lấn chiếm là đáng kể, gây thiệt hại nghiêm trọng hay là được tiến hành một cách không ngay tình thì chủ sở hữu bất động sản bị lấn chiếm có thể hoặc buộc người lấn chiếm nhận bất động sản của mình và thanh toán giá trị hoặc buộc phải tháo dỡ phần xây dựng và khôi phục lại tình trạng ban đầu” Như vậy, khi một người lấn chiếm không ngay tình thì chủ sở hữu được yêu cầu họ tháo dỡ Điều đó có ý

6 Xem Ph Malaurie và L Aynes, Les biens et la publicité foncière, Cujas 1998 (par Ph Thery), tr.128

Trang 33

nghĩa là nếu bị phản đối mà vẫn lấn chiếm thì theo pháp luật nước này người lấn chiếm phải tháo dỡ phần lấn chiếm.

Ở Thụy Sỹ, theo Khoản 3 Điều 674 BLDS Thụy Sỹ, “nếu sau khi biết việc lấn chiếm mà chủ sở hữu bị lấn chiếm không phản đối trong một thời gian hợp lý và khi người lấn chiếm ngay tình và hoàn cảnh cho phép điều này, chủ thể của những công trình xây dựng có thể yêu cầu phần đất lấn chiếm được giao cho mình với sự đền bù một khoản tiền hợp lý” Đây là quy định được các chuyên gia nước ngoài đánh giá cao.7

Câu 5: Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

Đoạn của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao theo hướng buộc gia đình ông Hòa tháo dỡ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, mặt đất và lòng đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên: “Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Quá tình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa

án cấp phúc thẩm xác định gia đình ông Hòa làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông chờm qua phần đất thuộc thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên nên quyết định buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ là có căn cứ

Tuy nhiên, dưới lòng đất sát tường nhà ông Hòa còn ống nước do gia đình ông Hòa chôn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ là không đúng, không đảm bảo được quyền lợi của gia đình ông Trụ”

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

Việc buộc ông Hòa tháo dỡ 4 ô văng của sổ và máng bê tông là hợp lý (căn cứ Điều 175, Điều 174, Điều

178 BLDS 2015) Còn vấn đề ống nước, ta có thể xem xét Điều 245, Điều 252 BLDS 2015, xem việc đặt ống nước có lấn sang đất nhà ông Trụ, bà Nguyên không, nếu có thì phải hạn chế thiệt hại cho gia đình ông Trụ, bà Nguyên và nếu thiệt hại thì đền bù, không nhất thiết phải tháo dỡ

Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Hậu tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m 2 )?

Đoạn của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Hậu tháo dỡ nhà được xây dựng trên đát lấnchiếm(52,2m2) là:

“- Áp dụng khoản 3, Điều 38 Luật đất đai, xử:

+ Buộc ông Nguyễn Văn Hậu trả cho ông Diệp Vũ Trê và bà Châu Kim Thi giá trị quyền sử dụng đất 52,2

m2 là 7,83 chỉ vàng 24K (bảy chỉ tám phân ba ly)

7 Xem Ph Malaurie và L Aynes, Les biens et la publicité foncière, Cujas 1998 (par Ph Thery), tr.128

Trang 34

+ Ông Nguyễn Văn Hậu được sử dụng 52,2m2 đất của căn nhà ông đã xây cất Ông Hậu, ông Trê và bà Thi

có trách nhiệm liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền để chuyển quyền sử dụng phần đất 52,2m2 này” và đoạn: “Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Hậu trả 132,8m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trống cho ông Trê và bà Thi, còn phần đất ông Hậu cũng lấn chiếm nhưng đã xây dựng nhà (52,2m2) thì giao ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi là hợp tình,hợp lí”

Câu 8: Ông Trê, bà Thi có biết và có phản đối ông Hậu xây dựng nhà trên không?

Theo ông Hậu trình bày, sau khi ông nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất của anh Trần Thanh Kiệt xong, ông đã làm nhà cơ bản trên diện tích đất đang tranh chấp, lúc ông xây nhà gia đình ông Trê không có ý kiến gì

Như vậy, theo trình bày của ông Hậu, gia đình ông Trê, bà Thi có biết về việc ông Hậu xây dựng nhà trên phần đất đang tranh chấp và không có ý kiến phản đối

Câu 9: Nếu ông Trê, bà Thi biết và phản đối ông Hậu xây dựng nhà trên thì ông Hậu có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trê, bà Thi không? Vì sao?

Nếu ông Trê, bà Thi biết và phản đối ông Hậu xây dựng nhà trên thì ông Hậu phải tháo dỡ nhà để trả lại nếu việc tháo dỡ không gây thiệt hại lớn hoặc ảnh hưởng đến các nhà kề bên, trường hợp việc tháo dỡ không có khả năng thi hành trên thực tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản các bên thì ông Hậu không phải tháo dỡ mà chỉ cần thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường và bồi thường thiệt hại cho ông Trê, bà Thi nếu có

Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Hậu lấn chiếm và xây nhà trên.

Trong trường hợp của Quyết định số 23 thì cả hai bên đều cùng có lỗi chứ không chỉ là ông Hậu vì khi ông Hậu xây nhà thì ông Trê không phản đối nên để bảo vệ cả hai bên thì Tòa án phải xem xét các yếu tố:

“Theo Tòa án TP.HCM, với những trường hợp này, nếu bên lấn chiếm đã xây nhà kiên cố (nếu đập bỏ nhà

sẽ gây sụp đổ các công trình kiến trúc lân cận hoặc hai bên đã xây tường sát nhau…) thì thẩm phán phải xem xét, cân nhắc kĩ Chỉ nên buộc trả lại nếu có khả năng thi hành trên thực tế, không gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của các bên (trừ trường hợp việc xây dựng đã bị cơ quan chức năng cấm nhưng vẫn cố tình xây dựng) Trường hợp xét thấy không thể buộc bên lấn chiếm trả lại phần đất (và phần không gian đã lấn chiếm) thì nên buộc họ phải thanh toán cho bên kia giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường hoặc bồi thường thiệt hại do phần đất (không gian) mà chủ đất không được sử dụng8” hay “Trường hợp đất lấn chiếm đã được xây dựng nhà kiên cố thì về nguyên tắc, bên bị lấn chiếmđược quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lấn chiếm tháo dỡ phần xây dựng trái phép Tuy nhiên, bên bị lấn chiếm phải chứng minh khi xây dựng trên phần đất lấn chiếm các bên đã có tranh chấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có quyết định cấm xây dựng, nhưng bên lấn chiếm vẫn cố tình xây dựng hoặc vì những lí do khách quan chính đáng mà bên bị lấn chiếm đã không thể biết mình bị lấn chiếm Trong trường hợp điều kiện thực tế thi hành án bên lấn chiếm không thể trả lại phần đất và không gian đã lấn

8 Khải Hà, Xử lí tranh chấp đất đai: Còn nhiều cái rối, báo Pháp luật TP.HCM

Trang 35

chiếm thì bên bị lấn chiếm được quyền đề nghị Tòa án buộc bên lấn chiếm phải thanh toán cho bên kia giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường hoặc bồi thường thiệt hại đối với phần đất hoặc không gian

mà chủ sử dụng đất không sử dụng được9” Vậy hướng giải quyết trên của Tòa liên quan đến phần đất ông Hậu lấn chiếm và xây nhà trên là hợp lí theo quy định pháp luật và các trường hợp khác trên thực tế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên

Câu 11: Theo Tòa án, phần đất ông Hậu xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trê, bà Thi được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời?

Theo Tòa án thì phần đất mà ông Hậu đã xây nhà sẽ thuộc về ông Hậu và ông có nghĩa vụ trả cho ông Trê,

bà Thi giá trị quyền sử dụng đất mà ông Hậu đã lấn chiếm Đoạn trong bản án cho câu trả lời là: “Tại Bản

án sơ thẩm số 09/STDS ngày 21-7-2003, Tòa án nhân dân tỉnh CM đã quyết định: - Buộc ông Hậu trả ông Trê, bà Thi giá trị quyền sử dụng phần đất lấn chiếm đã cất nhà là 52,2m2 bằng giá trị là 7,83 chỉ vàng 24K Giữ nguyên phần đất có căn nhà cho ông Hậu sử dụng”

Câu 12: Đã có Quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết.

Quyết định số 02/2006/DS-GĐT ngày 21/2/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.Tóm tắt vụ việc: Căn nhà bà Khanh có chiều rộng mặt tiền là 7,4m và căn cứ vào giấy phép xây dựng số 51/GP của sở xây dựng tỉnh ĐL nhưng theo biên bản đo đạc của Tòa án nhân dân tỉnh ĐL thì thực tế bà Khanh đã xây dựng chiều rộng mặt tiền là 7,63m, vượt quá diện tích sử dụng là 23cm Thực tế bà Khanh

đã xây dựng kiền móng lấn 20cm móng nhà ông Tùng Bà Khanh khi xây dựng đã thỏa thuận miệng với ông Tùng để bà Khanh xây sát nhà ông Tùng nhưng ông Tùng không thừa nhận và cũng không có chứng

cứ chứng minh Tòa án cấp phúc thẩm không buộc bà Khanh tháo dỡ phần lấn chiếm mà chỉ buộc bồi thường bằng tiền là hợp tình, hợp lí (Hội đồng thẩm phán nhất trí với Viện trường VKSNDTC) Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào khung giá đất tại quyết định số 2920/QĐ-UB với giá 1.720.000 đồng/m2 trong khi không có căn cứ chứng minh giá này phù hợp với giá thị trường chưa đảm bảo đúng quyền lợi của ông Tùng nên cần phúc thẩm lại phần này

Câu 13: Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số

23 được bình luận ở đây?

Theo nhóm, về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán trong Quyết định số 23 được bình luận ở đây là phù hợp Vì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa giải quyết phần diện tích 10,71m2

mà ông Hậu xây hai máng xối và căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 lấn chiếm đất của ông Trê và bà Thi, điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông Trê và bà Thi

Câu 14: Đối với phần chiếm không gian 10,71m 2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m 2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không?

Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm đã không buộc tháo dỡ đối với phần chiếm không gian 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 trên đất lấn chiếm

9 Nguyễn Minh Hằng, Xử lí tình huống trong thi hành Luật Đất đai năm 2013, Nxb Thông tin và truyền thông

Trang 36

Câu 15: Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ trên như thế nào?

Theo nhóm, cần xử lý phần lấn chiếm không gian và căn nhà phụ như sau:

1 Đối với việc căn nhà ông Hậu có hai máng xối đúc bê tông chiếm khoảng không trên phần đất của ông Trê và bà Thi có diện tích 10,71m2 thì xem xét buộc ông Hậu phải tháo dỡ hoặc phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi

2 Đối với căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 của ông Hậu xây dựng trên diện tích đất mà Tòa án các cấp buộc ông Hậu trả lại cho ông Trê, bà Thi thì xem xét ở cả hai phương diện Nếu ông Hậu muốn tiếp tục sửdụng căn nhà trên diện tích đất phải trả cho ông Trê, bà Thi này thì ông Hậu phải thanh toán giá trị quyền

sử dụng đất đó cho ông Trê, bà Thi

Nếu ông Trê, bà Thi muốn lấy lại đất để khai thác, sử dụng thì ông Trê, bà Thi phải thanh toán giá trị căn nhà của ông Hậu đã xây trên mảnh đất đó cho ông Hậu

Tuy nhiên, nếu hai bên có thỏa thuận khác thì nên tôn trọng sự thỏa thuận của hai bên đặt ra

Câu 16: Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam hiện nay.

Theo tôi, việc xử lí lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam hiện nay chưa được giải quyếtmột cách thỏa đáng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Vì về nguyên tắc, cần phải tháo dỡ công trình để trả lại cho chủ sở hữu bị lấn chiếm toàn quyền sở hữu của mình Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế, việc tháo dỡ đối với công trình vi phạm sẽ góp phần hạn chế lãng phí đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên Trong một số trường hợp ta không nên buộc tháo dỡ lấn chiếm mà buộc người lấn chiếm phải đền bù Nếu chúng ta quy định theo hướng bảo vệ tuyệt đối quyền của người có tài sản bị lấn chiếm như hiện nay thì ta chưa bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bên có hành vi lấn chiếm Như trong trường hợp mà việc cho phép tồn tại công trình không ảnh hưởng nghiêm trọng lợi ích của người có bất động sản liền kề bị xâm phạm thì ta nên có

sự cân bằng:

“Tất cả những người lấn chiếm không ngay tình cần phải tháo dỡ phần đất lấn chiếm theo yêu cầu của chủ sở hữu đích thực để sự nghiêm minh của pháp luật được đảm bảo Do vậy, khi người liền kề lấn chiếm quyền sử dụng đất (và không gian) của người khác mà chủ sở hữu đích thực đã phản đối thì cần phải tháo dỡ những công trình đã được xây dựng trên phần đất lấn chiếm; việc tháo dỡ là bắt buộc cho

dù thiệt hại từ việc tháo dỡ là bao nhiêu đối với người lấn chiếm Tuy nhiên, nếu người lấn chiếm ngay tình và việc lấn chiếm là không đáng kể thì chúng ta nên theo hướng là cho phép đền bù để không phải tháo dỡ phần đã lấn chiếm Dưới góc độ đạo đức, quyết định này cũng sẽ giúp cho các bên tranh chấp giữ được quan hệ láng giềng”.10

Câu 17: Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với BLDS 2015 không? Vì sao?

10 Tạp chí khoa học pháp lí số 4/2010

Trang 37

Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 còn phù hợp với BLDS 2015 BLDS 2015 có quy định về bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản (Điều 163); quyền yêu cầu chấm dứt các hành vicản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản (Điều 169) và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 170).

BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ 5

*Bài tập 1: Di sản thừa kế

Câu 1: Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Theo quy định tại Điều 612 di sản bao gồm: Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai (Điều 105) Vậy quyền tài sản đã nằm trong khái niệm tài sản Di sản còn bao gồm cả các quyềntài sản như: quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị, quyền sử dụng nhà thuêcủa nhà nước Mặt khác, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ của người chết Do vậy, trong trường hợp người có tài sản để lại còn có cả nghĩa vụ về tài sản, thì thông thường phần nghĩa vụ này sẽ được thanh tóan bằng tài sản của người chết Phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế và được chia theo di chúc hay quy định của pháp luật Theo đó, nghĩa vụ của người chết được thực hiện như sau: Nếu

di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết

để lại tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận Trong trường hợp di sản chưa được chia, thì nghĩa

vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo đúng thỏa thuận của những người thừa kế Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc, thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân

Câu 2: Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới đó không là di sản

Vì tại thời điểm mở thừa kế thì tài sản của người quá cố đã trở thành di sản, nếu bị thay thế bằng một tàisản mới thì tài sản đó không phù hợp với ý chí của người quá cố và tài sản đó cũng không thuộc quyền

sở hữu của người quá cố (nếu đó là động sản có đăng kí hoặc bất động sản) Bên cạnh đó thì BLDS không

có quy định thêm về vấn đề này

Do vậy, khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế thay thế bởi một tài sản mới sau đó thìtài sản mới đó không được coi là di sản

Câu 3: Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp có phải là di sản của cố Thái Anh và cố Liềng không? Vì sao?

Trong Quyết định số 30, theo Viện kiểm sát, 02 tài sản tranh chấp gồm: căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám vàcăn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn, trong đó “căn nhà số 05 Hoàng Hoa Thám các bên đều thừa nhận Cố

Trang 38

Anh đã cho cụ Tri và không tranh chấp”, “cụ Tri đứng tên là chủ sở hữu từ năm 1967” nên đây không phải

là di sản của cố Thái Anh và cố Liêng Còn đối với căn nhà số 122 Nguyễn Hùng Sơn thì Viện kiểm sát cho rằng đây là di sản của hai cố vì: “Theo bằng khoán điền thổ số 320 ngày 25.6.1935 thì cố Thái Anh là chủ

sở hữu, hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu nào xác định cố Thái Anh đã chuyển sở hữu căn nhà cho cụ

Hy Đến thời điểm cố Thái Anh và cố Liêng chết thì nhà đất chưa chuyển dịch sang tên cho ai, vì vậy căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là di sản của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng để lại chưa chia”

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Viện kiểm sát

Theo nhóm, trong quyết định số 30/2013/DS-GĐT ngày 24/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát xác định nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn vẫn là di sản của cố Thái Anh và cố NguyễnThị Liêng là không đúng

Vì Điều 612 BLDS 2015 quy định về di sản: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản củangười chết trong tài sản chung với người khác” Mà nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là của cố Thái Cẩm An giao cho cụ Thái Thuần Hy để thờ cũng tổ tiên nhưng lúc đó cụ Hy còn nhỏ nên đã nhờ cố Thái Anh đứngtên hộ, khi cụ Hy lớn thì giao lại Như vậy, căn nhà trên là do cố Thái Cẩm An giao lại cho cụ Hy để thờ cúng tổ tiên, không phải di sản riêng của cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng

Câu 5: Trong Quyết định số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp có là di sản của cố Thái Anh và cố Liềng không? Vì sao?

Trong Quyết định số 30, theo Hội đồng thẩm phán, 02 tài sản tranh chấp không là di sản của cố Thái Anh

Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán.

Hướng xác định trên của Hội đồng thẩm phán là đúng và có căn cứ Vì dựa vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được là có cơ sở để xác định vợ chồng cố Thái Anh và cố Nguyễn Thị Liêng tạo lập được 2 căn nhà,

cụ Thái Tri được cho căn nhà số 5 Hoàng Hoa Thám, còn căn nhà 122 Nguyễn Hùng Sơn là cho cụ Thái Thuần Hy vì cụ Hy là con trai trưởng, ở cùng và có công chăm sóc hai cố, bác ruột và em ruột là cụ Lượng

bị bệnh tâm thần và còn có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sau này Vả lại khi cụ Hy phá nhà cũ xây dựng nhà mới thì cụ Tri còn sống nhưng không phản đối, chứng tỏ cụ tôn trọng định đoạt của cha mẹ Do đó đơn kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là không có cơ sở

Trang 39

Câu 7: Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m 2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

Theo Án lệ số 16/2017/AL thì trong diện tích 398m2 đất thì phần di sản của ông Phùng Văn N là 133,5m2

vì việc Phùng Thị G bán số đất 131m2 là nhằm phục vụ cho sinh hoạt của cả gia đình và được tất cả thànhviên tán thành nên nó không còn là di sản nữa

Câu 8: Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

Theo Án lệ, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K không được coi là di sản để chia

Vì ban đầuphần diện tích đất đó tuy thuộc di sản để chia cho bà Phùng Thị G và các con bà G nhưng các con bà G đều biết việc bà chuyển nhượng đất cho ông K nhưng không ai có ý kiến phản đối gì và đều khai

bà G bán đất để lo cuộc sống của bà và các con nên có cơ sở để xác định các con bà Phùng Thị G đã đồng

ý để bà G chuyển nhượng diện tích 131m2 nêu trên cho ôngPhùng Văn K Do đó phần đất đã chuyển nhượng không còn được coi là di sản để chia nữa

Câu 9: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

Nhóm đồng ý với hướng giải quyết của Án lệ 16/2017/AL liên quan đến phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K Bởi vì:

Trong vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận rằng lúc còn sống bà Phùng Thị G đã chuyển nhượng 131m2 đất cho ông Phùng Văn K và không hề phản đối việc này Sau đó ông K cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứng tỏ mảnh đất đó chuyển nhượng là không trái pháp luật

Bà G bán đất cho ông K để thực hiện nghĩa vụ chung là lo cho cuộc sống của bà và các con

Như vậy, phần đất đã chuyển nhượng cho ông K là hoàn toàn hợp pháp và không liệt kê phần đất chuyểnnhượng cho ông K (131m2) vào di sản để chia là hoàn toàn hợp lí hợp tình

Câu 10: Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống của các con mà dùng tiền đó cho việc cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản đẻ chia không? Vì sao?

Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cho cuộc sống gia đình như trong quy định tại khoản 2 điều 130 luật Hôn nhân gia đình thì số tiền bán đất đó vẫn không được xem là di sản (theo nguyên tắc thì131m2 đất đó sẽ quy vào di sản để chia) Bởi vì, bà G có bán đất để lo cho việc riêng thì 131m2 đất đó vẫnnằm trong phần tài sản được định đoạt của bà là 199m2/398m2 đất

Như vậy, với trường hợp này thì bà G sẽ không còn được chia ½ của 267m2 đất còn lại nữa mà chỉ còn 68m2 đất thuộc tài sản của bà (vì đã trừ 131m2/199m2)

Câu 11: Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là bao nhiêu? Vì sao?

Trang 40

Ở thời điểm bà Phùng Thị G chết, di sản của bà Phùng Thị G trong diện tích đất trên là 133,5m2 Vì “…diện tích 267m2 đất đứng tên bà Phùng Thị G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phảiđược xác định là tài sản chung của vợ chồng ông Phùng Văn N và bà Phùng Thị G chưa chia Bà Phùng Thị

G chỉ có quyền định đoạt ½ khối tài sản (133,5m2)…”

Câu 12: Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m 2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Việc Tòa án xác định phần còn lại của di sản của bà Phùng Thị G là 43,5m2 làchưa thuyết phục vì theo quyđịnh tại Điều 612 BLDS 2015 thì bà đã được chia ½ số tài sản nhưng bà đáng lý phải được chìa thêm 1/7 trong số ½ của diện tích 267m2 đất còn lại (sau khi trừ bỏ 131m2 mà bà đã bán cho ông Phùng Văn K) vì

bà cũng thuộc một trong số những thành viên được nhận thừa kế từ ông Phùng Văn N

Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì nội dung của Án lệ số 16 là nói về việc thừa nhận diện tích 131m2 đất mà bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K là hợp pháp và không còn thuộc phần di sản thừa kế còn lại phải chia

Câu 13: Việc tòa án quyết định “còn lại là 43,5m 2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

Tòa án quyết định “còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại” là thuyết phục Vì theo khoản 2 Điều 651 BLDS 2015 quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau” và Điều 609 BLDS 2015 quy định về quyền thừa kế: “…Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” Theo di chúc là Phùng Thị G để lại thì chị Phùng Thị H1 được hưởng 90m2 đất, còn 5 người con của bà Phùng Thị G là chị Phùng Thị N1, Phùng Thị H2, Phùng Thị P, Phùng Thị N2, Phùng Văn Pđược thừa kế theo pháp luật là chia phần di sản còn lại là 43,5m2 đất thành 5 phần bằng nhau Đây không phải là nội dung của Án lệ số 16 vì nội dung của Án lệ số 16 là nói về việc thừa nhận diện tích 131m2 đất mà bà Phùng Thị G đã bán cho ông Phùng Văn K là hợp pháp và không còn thuộc phần di sản thừa kế còn lại phải chia

*Bài tập 2: Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản

Câu 1: Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

-Theo BLDS, nghĩa vụ mang tính nhân thân của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt Căn cứ vào Khoản 8, Điều 372, BLDS 2015 quy định về Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự: “8 Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện”.-Theo BLDS, nghĩa vụ về tài sản của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt Căn cứ vào Điều 615, BLDS 2015 quy định về Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:

“1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Ngày đăng: 05/09/2019, 16:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w