Nhất là trong giai đoạn lãnh đạo đất nước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên nhưng nguyê
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TỔNG HỢP
-o0o -TIỂU LUẬN MÔN LUẬT KINH DOANH
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : Đặng Công Tráng Sinh viên thực hiện : Hà Văn Kiệt
Mã sinh viên : 14089311
Lớp chuyên ngành : DHQT10ATT
TP.Hồ Chí Minh – 10/2015
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu 2
CHƯƠNG I : Những vấn đề chung về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm chung về doanh nghiệp 3
1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của doanh nghiệp 3
1.2.1 Vài trò của doanh nghiệp 3
1.2.2 Xu hướng phát triển 4
CHƯƠNG II : Thực trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam 2.1 Đánh giá khái quát 4
2.1.1 Quy mô vốn 5
2.1.2 Một số ưu nhược điểm chủ yếu 5
CHƯƠNG III : Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ở Việt Nam 3.1 Mục tiêu chủ yếu của quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước 6
3.2 Các biện pháp chủ yếu 6,7,8,9,10,11 KẾT LUẬN .12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 –1986) Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới nền kinh tế một cách toàn diện, chuyển nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Lý luận kinh tế về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lúc này đã có những thay đổi căn bản, sự tồn tại khách quan của năm thành phần kinh tế được thừa nhận Kinh tế quốc doanh nay được gọi là khu vực doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì nhận thức về vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước cũng được đổi mới Trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta luôn khẳng định thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Lý luận về kinh tế nhà nước là một trong những vấn đề lý luận kinh tế trung tâm của các đảng cộng sản Nhất là trong giai đoạn lãnh đạo đất nước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hiệnnay lý luận đó vẫn mang ý nghĩa thời sự cấp bách cả về nhận thức lý luận và thực tiễn Ở Việt Nam thì kinh tế nhà nước là một bộ phận có vai trò quyết định trong
cơ cấu kinh tế của nước ta Trong các bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước thì khuvực doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chủ yếu có vị trí đặc biệt Nhưng thực trạng của khu vực doanh nghiệp nhà nước của nước ta hiện nay thì chưa thể hiện được vai trò then chốt và chủ đạo trong nền kinh tế, một số ngành, một số lĩnh vực của doanh nghiệp nhà nước không năng động bằng khu vực kinh tế tư nhân Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do khâu tổ chức và vận hành doanh nghiệp nhà nước chưa thật hợp lý Vậy để doanh nghiệp nhà nước có thể thể hiện được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân thì vấn đề tất yếu là ta phải tổ chức và sắp xếp lại các doanh nghiệp cho thật hợp lý
Trang 4CHƯƠNG I : Những vấn đề chung về doanh nghiệp
1.1 Khái niệm chung về doanh nghiệp:
- Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Căn cứ vào quy định này thì doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định,
có tài sản,
- Đã được đăng ký kinh doanh ,
- Hoạt động kinh doanh
Theo điều 4 Luật Doanh nghiệp thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của doanh nghiệp:
1.2.1 Vai trò của doanh nghiệp:
- Các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc điều tiết cung cầu, ổn định giá cả, chống lạm phát, ổn định tỷ giá, khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường
- Doanh nghiệp nhà nước chiếm 1 phần rất quan trọng trong XNK, trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ tỷ trọng tuyệt đối trong hoạt động XNK, riêng công nghiệp năm 1999 đã xuất khẩu được 6,17 tỷ USD
- Doanh nghiệp nhà nước đóng góp nguồn thu tập trung lớn và ổn định cho ngân sách nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra điều kiện vật chất kỹ thuật, là một trong những nhân tố có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chuyển từ thiếu sang đáp ứng được nhu cầu
cơ bản nông sản, thực phẩm chất lượng ngày càng cao của nhân dân và có phần xuất khẩu chủ yếu thông qua xây dựng các đường giao thông huyết mạch, cung cấp giống cây con, chuyển giao kỹ thuật và bước đầu phát triển công nghiệp chế biến…
Trang 51.2.2 Xu hướng phát triển:
- Với vị trí và lợi thé của doanh nghiệp cần tập trung phát triển các doanh nghiệp này theo hướng “đa hình thức, đa sản phẩm và đa lĩnh vực” Chú ý phát triển mạnh hơn nữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến Doanh nghiệp phải là nơi thường xuyên sáng tạo sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu mới
CHƯƠNG II : Thực trạng phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam
2.1 Đánh giá khái quát
- Hiện nay ở nước ta các DN tuyển dụng gần 1 triệu lao động, chiếm gần một nửa (49%) lực lượng lao động trong tất cả các loại hình doanh nghiệp - Các DN chiếm 65,9% so với tổng số doanh nghiệp nhà nước, chiếm 33,6% so với doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài.
- Sản phẩm của khu vực kinh tế tư nhân (hầu hết là DN ) khoảng 25-28% GDP Nộp ngân sách, chỉ tính riêng khoản thu thuế công,thương nghiệp ngoài quốc doanh hàng năm bằng 30% thu thuế từ kinh tế quốc doanh
(khoảng 8000 tỷ đồng năm 1999). DN chiếm khoảng 31% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp hằng năm .Chiếm 78% tổng mức bán lẻ của ngành thương nghiệp và 64% tổng lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tăng hiệu quả kinh tế ,tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới trong sản xuất.
2.1.1 Quy mô vốn
- Theo tính toán của các nhà nghiên cứu kinh tế, em thấy trong thời gian qua các DN phát triển rất mạnh mẽ , số lượng các doanh nghiệp tăng nhưng hầu hết đó là các doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn nên nguồn vốn đầu tư hàng năm có tăng mạnh về tốc độ nhưng về giá trị tuyệt đối thì không lớn lắm.
- Theo số liệu tính toán gần đây nhất của Bộ kế hoạch và đầu tư thì tính
từ ngày 1/1/1992 đến 31/12/1997 đã có 38.423 doanh nghiệp được thành lập theo Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn đầu tư lên tới 84.396 tỷ VND Năm 1993 là năm tăng nhanh nhất về cả số lượng và chất lượng vốn đầu tư Mức vốn đầu tư năm 1993 là 21.221 tỉ đồng đã tăng
13.519 tỉ đồng so với năm 1992 tương ứng với tốc độ tăng so với năm 1992
Trang 6là 275% Từ năm 1993 đến nay, nhìn chung hàng năm nền kinh tế cũng thu thêm được lượng vốn không nhỏ Tuy nhiên mức độ tăng thêm có giảm dần bởi những năm đầu phát triển, nhiều nhà đầu tư thấy cơ chế chính sách thông thoáng, thấy đầu tư vào đó thuận lơi , nhưng sau vài năm đi vào hoạt động nhiều doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, không đứng vững được trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường, một số doanh nghiệp
đã bị phá sản, làm cho một số nhà đầu tư giảm sút lòng tin vào các doanh nghiệp này Mặt khác lúc này, thị trường trong những lĩnh vực béo bở đã dần dần bị thu hẹp, nhu cầu vốn cho các hoạt động kinh doanh ngắn hạn chớp nhoáng đã tương đối bão hòa Tuy nhiên do vốn nhu cầu dài hạn cho nên nền kinh tế vẫn còn rất cao.
- Cũng trong thời gian này, Nhà nước đã có chủ trương sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, do đó đã rất hạn chế việc thành lập mới các doanh nghiệp có qui mô vừa và nh, do đó vốn đầu tư của Nhà nước vào khu vực này giảm Chính vì vậy mà đồng vốn đầu tư vào các DN có xu hướng giảm và đến năm 1997 con 9.612 tỉ đồng
2.1.2 Một số ưu nhược điểm chủ yếu
Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước đống vai trò chủ đạo Các doanh nghiệp nhà nước có những ưu và nhược điểm của nó:
Các doanh nghiệp nhà nước không năng động sáng tạo vì các doanh nghiệp chỉ thụ động trong sản xuất, mọi quyền quyết định đều thuộc quản lí cấp trên Lợi nhuận có được cũng thuộc về nhà nước, các doanh nghiệp chỉ được hưởng mức lương ấn định Đây chính là nhược điểm của doanh nghiệp nhà nước. Điểm mạnh của các doanh nghiệp nhà nước chính là cách giải quyết vấn đề Nó mang tính thống nhất, đồng bộ, kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh trong nền kinh tế Ví dụ như khi tổng cầu của một loại hàng hóa nào đó trong thị trường vượt quá mức cung, chính phủ sẽ đều động các doanh nghiệp nhà nước tăng cường về sản xuất mặt hàng đó để đảm bảo cung ứng cho xã hội Ngược lại khi tổng cung vượt quá tổng cầu thì các doanh nghiệp nhà nước sẽ có sự thống nhất hạn chế sản xuất mặt hàng đó
Trang 7CHƯƠNG III : Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ở Việt Nam
3.1 Mục tiêu chủ yếu của quá trình đổi mới và phát triển doanh
nghiệp nhà nước
1 – Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp tục giảm bớt gánh nặng đối với ngân sách nhà nước Đây là mục tiêu rất cơ bản nhưng rất khó thực hiện, vì tình trạng kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trở thành khuyết tật cố hữu mang tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước tư bản phát triển Vì vậy, nâng cao hiệu quả, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách là mục tiêu quan trọng, là nhiệm vụ bức bách đối với toàn bộ hệ thống cũng như từng doanh nghiệp nhà nước
2 – Nâng cao vai trò của doanh nghiệp nhà nước, làm cho doanh nghiệp nhà nước trở thành lực lượng vật chất và công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ mô theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mục tiêu này xuất phát từ đặc điểm của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất phát triển thấp, nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, do đó cần củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước để tạo động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, góp phần đảm bảo sản xuất, giữ vững và phát triển những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế (điện năng, viễn thông, vận tải, xây dựng những công trình xã hội, cung cấp nước, bảo vệ môi trường…), ngăn chặn và khắc phục những hậu quả xã hội do kinh tế thị trường đẻ ra, chủ động giải quyết sự bất bình đẳng xã hội, thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo…
3.2 Các biện pháp chủ yếu
- Để thực hiện các mục tiêu trên đây, việc đổi mới, củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước cần tập trung giải quyết những nội dung chủ yếu như: đổi mới cơ chế quản lý; nâng cao khả năng cạnh tranh; hiện đại hóa trang bị kỹ thuật công nghệ; quản lý và sử dụng vốn hợp lý; nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ; có chính sách đồng bộ, nhất quán; tạo được động lực và có những điều kiện cần thiết, xây dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả Mặt khác, để nâng cao vai trò của doanh nghiệp nhà nước, phải tiếp tục đổi mới cơ cấu, đa dạng hóa hình thức sở hữu, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, nhất là những doanh nghiệp nắm giữ các ngành, lĩnh vực quan trọng nhất, cổ phần đủ sức khống chế để Nhà nước đủ khả năng định hướng, chủ động điều tiết nền kinh tế
Trang 8- Như vậy, việc củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi phải tiến hành đồng thời nhiều biện pháp Theo chúng tôi, trước mắt cần tập trung thực hiện các biện pháp chủ yếu sau:
Một là: Đổi mới cơ cấu, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách có hạn, phải đổi mới cơ cấu, quản lý và
sử dụng vốn có hiệu quả; đồng thời, tiếp tục đẩy nhanh tốc độ đa dạng hóa hình thức sở hữu nhằm huy cộng sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế Mặt khác, phải đánh giá, chọn lọc, bố trí, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở xác định các ngành, lĩnh vực trọng điểm, then chốt để doanh nghiệp nhà nước nắm giữ Một số ngành công nghiệp cơ bản có tính chất chiến lược cần vốn đầu tư lớn, trong khi vốn vòng quay chậm, lợi nhuận thấp, thường thua lỗ, Nhà nước phải trợ cấp, bù giá, bù lỗ, cho vay tín dụng lãi thấp, miễn hoặc giảm thuế, xóa nợ… Nhưng sự hỗ trợ này thường gây ra tình trạng tiêu cực trong công tác quản lý Do vậy, để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện cải cách cơ bản về tài chính của nhà nước theo hướng thúc đẩy, khai thác tiềm năng thiên nhiên và của các tầng lớp nhân dân, Nhà nước giảm dần bao cấp, yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước tự chủ tài chính, tự chủ kinh doanh, tự trang trải và tiến tới sản xuất, kinh doanh có lãi Bởi vậy một trong những vấn đề quan trọng là, Nhà nước phải có chính sách thuế hợp lý, vừa có khả năng tập trung nguồn thu vào ngân sách, bảo đảm các nhu cầu chi của nhà nước, vừa phải thu hợp lý để các doanh nghiệp nhà nước không những tiếp tục tồn tại mà còn tăng khả năng tích tụ để không ngừng phát triển
Hai là: Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Hiện nay, theo luật định, doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới hai hình thức: doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị và doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị Nhà nước giao cho các doanh nghiệp nhà nước quản lý vốn, tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội do Nhà nước giao Vì vậy, đây là loại hình doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư 100% vốn Nhà nước là chủ sở hữu, nên Nhà nước giữ vai trò quản lý Nhưng Nhà nước là ai? Các thành viên đại diện cho Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là những người làm công ăn lương của Nhà nước, họ tham gia hội đồng quản trị, có thể là chủ tịch hội đồng quản trị, nhưng bản thân họ không có một đồng vốn ở doanh nghiệp nhà nước, mà vốn của doanh nghiệp là vốn của Nhà nước Nhà nước giao cho họ trách nhiệm là thay mặt nhà nước thực hiện quản lý doanh nghiệp nhà nước với tư
Trang 9cách là chủ sở hữu Như vậy, những thành viên của hội đồng quản trị không phải là chủ sở hữu thực sự vốn doanh nghiệp nhà nước nên trách nhiệm của
họ bị hạn chế Khi làm ăn thua lỗ, hội đồng quản trị, giám đốc, bộ máy giúp việc và cán bộ công nhân viên không ai chịu trách nhiệm mà Nhà nước là người gánh chịu trách nhiệm và hậu quả Do đó, cần chuyển doanh nghiệp nhà nước (100% vốn của nhà nước) sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, một chủ sở hữu là sở hữu nhà nước để doanh nghiệp nhà nước là người thực sự chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Nhưng đây là một hình thức mới ở Việt Nam, cần thực hiện thí điểm trước khi nhân ra diện rộng Những doanh nghiệp nhà nước đặc thù hoạt động phục vụ mục tiêu công cộng, hoặc phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, vẫn thực hiện theo Luật Doanh
nghiệp nhà nước Nhưng cần thiết phải sửa đổi Luật Doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng hoạt động kém hiệu quả Cụ thể là:
- Tăng quyền tự chủ đi đôi với tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước; bỏ bao cấp, chuyển hẳn sang hoạch toán thị trường, lấy thu bù chi, lời
ăn, lỗ chịu
- Tăng trách nhiệm cá nhân tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các cá nhân, các cấp đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp, giám đốc và bộ máy giúp việc về các quyết định đầu tư, về sự thua lỗ, mất vốn nhà nước, về thu nhập thấp của người lao động…
- Giảm bớt tầng nấc, biên chế cồng kềnh, chồng chéo, khắc phục tình trạng ra quyết định chậm và không chịu trách nhiệm về quyết định đó Tăng quyền quyết định cho hội đồng quản trị doanh nghiệp để không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Quy định tiêu chuẩn tuyển chọn giám đốc, bỏ quy định giám đốc doanh nghiệp nhà nước là công chức nhà nước, chuyển sang cơ chế hợp đồng thuê giám đốc gắn tiền lương, tiền thưởng với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ba là: Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước.
Trước sức ép của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nhà nước phải đối mặt với cuộc cạnh tranh hết sức gay gắt giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa quốc gia với quốc gia Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp, các tập đoàn tăng cường liên minh, liên kết với nhau nhằm chống lại
ý đồ thôn tính của các tập đoàn đối thủ Cạnh tranh có mặt tích cực là nâng cao trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao
Trang 10chất lượng, giảm giá thành, đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhưng hậu quả của cạnh tranh là, có thể dẫn tới tình trạng phá sản, những vụ sa thải công nhân, người lao động mất việc làm
Ở nước ta, hiện nay, có khoảng hơn 5 000 doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ những ngành, những lĩnh vực then chốt, là xương sống của nền kinh tế, nên nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân Những ưu đãi khuyến khích đầu tư theo ngành, vùng, ưu đãi cho các doanh nghiệp mới thành lập cũng sẽ bị loại bỏ Tình hình đó càng gây thêm sự bất lợi cho khả năng cạnh tranh, nên các doanh nghiệp nhà nước phải nỗ lực vượt bậc, tìm đủ các biện pháp hữu hiệu nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh Đồng thời phải có sự giúp đỡ của Nhà nước về kinh phí để tăng cường các biện pháp xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới, cung cấp thông tin, dự báo thị trường, đẩy mạnh quản lý thị trường, chống gian lận thương mại, chống sản xuất và buôn bán hàng giả, xử lý nghiêm những hành vi đầu cơ, nâng giá bất chính Doanh nghiệp nhà nước phải xác định đúng đắn chiến lược kinh doanh, chiến lược đầu tư, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Đẩy mạnh liên doanh, liên kết, tìm kiếm thị trường sản xuất và tiêu thụ Hiện đại hóa trang bị kỹ thuật công nghệ Tạo ra bước đột phá về chất lượng, giảm chi phí sản xuất, cải tiến mẫu mã đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng Tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh Có kế hoạch sắp xếp lại sản xuất, sử dụng hợp lý các nguồn vốn, giảm bớt vốn vay, xóa bỏ các khoản chi phí bất hợp lý, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí Quản lý tốt lao động, tạo ra năng suất, chất lượng cao Phân phối hợp lý, gắn lương, thưởng với kết quả lao động để tạo chuyển biến tích cực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Bốn là: Chuyển đổi sở hữu và phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước.
Mặc dù Đảng, Nhà nước và các doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng chuyển biến chậm Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động kém hiệu quả, đang là gánh nặng cho ngân sách nhà nước Một trong những biện pháp giải quyết tình trạng này là, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nước Những hình thức chuyển đổi nên được áp dụng là:
- Đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm 100% vốn thì tiến hành cổ phần hóa