Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Đôi tượng nghiên cứu của tiểu luận là bảo vệ quyền của người khuyết tậttrong pháp luật quôc tế và pháp luật Việt Nam... CHƯƠNG 1: NHỮNG V
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội có những con người bình thường được sinh ra với cơ thể lànhlặn khỏe mạnh thì sẽ có nhiều cơ hội dẫn đến thành công bằng tài năng và sự côgắng của họ bên cạnh đó cũng có những người khi sinh ra đã bị khiếm khuyết mộtphần cơ thể thì dù họ có tài năng và có cô gắng thì vị trí của họ trong xã hội vẫnkhông thể được như người bình thường Họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc sinhhoạt, học tập và làm việc, con đường dẫn đến thành công của họ luôn chông gai hơn
so với người bình thường Do đó, đảm bảo sự bình đẳng quyền của người khuyết tậtluôn là vấn đề được Việt Nam và các nước trên thế giới quan tâm
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những chính sách, quy địnhpháp luật riêng để bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật như Liên hợp quôc đãthông qua Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 – đây là một bướctiến mạnh mẽ đầu tiên thể hiện được sự quan tâm đặc biệt của quôc tế đôi với ngườikhuyết tật Riêng với Việt Nam, ngoài việc tham gia vào Công ước, trong Hiến phápcác thời kì 1946, 1959, 1980, 1992 của nước ta cũng quy định rõ người khuyết tật làmột bộ phận của xã hội cần được quan tâm và đôi xử bình đẳng Bên cạnh đó tại kỳhọp thứ 7, khóa XII ngày 17 tháng 6 năm 2010 Quôc hội Việt Nam đã thông quaLuật người khuyết tật – một bước tiến lớn của Việt Nam trong việc tạo điều kiệnthuận lợi cho người khuyết tật thực hiện các quyền của mình
Tuy việc ban hành Luật người khuyết tật đã tạo được một hành làng pháp lýđể tạo điều kiện thuận lợi hơn trong xã hội cho người khuyết tật nhưng vẫn cònnhiều bất cập trong việc thực hiện như cơ hội làm việc và học tập của người khuyếttật vẫn chưa thực sự rộng mở, chưa tạo được môi trường để người khuyết tật pháthuy hết năng lực của mình, xã hội vẫn còn có những bộ phận kì thị, phân biệt đôi xửvới người khuyết tật nhưng chưa có chế tài cụ thể để xử lý
Trang 22 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đôi tượng nghiên cứu của tiểu luận là bảo vệ quyền của người khuyết tậttrong pháp luật quôc tế và pháp luật Việt Nam Về pháp luật quôc tế, người viếtnghiên cứu Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007 và các văn bản quôctế liên quan đến bảo vệ quyền của người khuyết tật; về pháp luật Việt Nam, ngườiviết chọn Luật người khuyết tật năm 2010 và các văn bản pháp luật khác trong hệthông pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề quyền của người khuyết tật
Về phạm vi nghiên cứu, người viết chỉ tập trung vào các quyền cơ bản củangười khuyết tật trong pháp luật quôc tế và pháp luật Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Trong hơn 3 năm học về Luật, người viết chưa được tiếp cận nhiều về cácvăn bản, chế định riêng về bảo vệ quyền của người khuyết tật, do đó người viếtmong muôn qua tiểu luận này có thể tìm hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luậtquôc tế và Việt Nam về vấn đề này Bên cạnh đó người viết cũng mong muôn có thểđưa ra những quan điểm của bản thân nhằm góp phần thực hiện pháp luật bảo vệquyền của người khuyết tật tôt hơn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện tiểu luận, trong quá trình tìm và đọc các tài liệu , người viết cócó kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: tổng hợp, liệt kê, phân tích, so sánh,đánh giá, diễn dịch, …
5 Bố cục tiểu luận:
Tiểu luận gồm có 3 phần chính:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền của người khuyết tật
Chương 2: Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật quôc tế và Việt NamChương 3: Thực trạng và giải pháp trong thực hiện pháp luật bảo vệ quyển củangười khuyết tật
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT
1.1 Khái niệm về người khuyết tật và quyền của người khuyết tật
Theo Điều 1 Công ước quôc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007 thìngười khuyết tật được hiểu là: “Những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất,tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau cóthể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sởbình đẳng với những người khác”1
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bịsuy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, họctập gặp khó khăn”
Không có một khái niệm chung về người khuyết tật trong các hệ thông phápluật tuy nhiên các khái niệm này đều phản ánh một thực tế là Người khuyết tật trướchết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế – xã hội,đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội nhưng người khuyết tật cóthể gặp các rào cản do yếu tô môi trường hoặc con người trong khi tham gia vào cáchoạt động xã hội
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhànghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm khuyết bộ phận
cơ thể hoặc suy giảm chức năng Ở Việt Nam, việc phân loại người khuyết tật dựatrên quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật.2Theo đó các dạng tật bao gồm:Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâmthần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi loại khuyết tật này có những đặc điểmnhất định về tâm, sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của ngườikhuyết tật
1 “Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007”, Văn phòng điều phôi các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD), Nxb Lao động-Xã hội, năm 2008.
2 Điều 3, Luật người khuyết tật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2010
Trang 4• Khuyết tật vận động: Là những người bị tổn thương ở các cơ quan vận động, khó
khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm…người khuyết tật vận động hầu nhưgặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày, vui chơi, học tập và lao độngnhưng đa sô có bộ não phát triển bình thường nên họ vẫn có thể học tập, làm đượcviệc có ích cho gia đình, bản thân và xã hội
• Khuyết tật nghe, nói (khuyết tật ngôn ngữ): Người khuyết tật nghe, nói là người có
nhiều khó khăn trong nói hoặc đọc viết, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao tiếpvà học tập Khó khăn về nói, nghe, đọc của người khuyết tật ngôn ngữ ảnh hưởngtrực tiếp đến giao tiếp từ đó làm hạn chế sự làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồngcủa người khuyết tật
• Khiếm thính: Theo quan điểm y tế3 thì người khiếm thính là những người bị mấthoặc suy giảm về sức nghe, từ đó bị hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng nhưkhả năng giao tiếp Đặc điểm của những người khó khăn về nghe khiếm không cókhả năng tri giác thế giới âm thanh đặc biệt ngôn ngữ âm thanh
• Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những người có tật về mắt
như: mắt không nhìn thấy được, không đủ sức nhận biết thế giới quan bằng mắthoặc nhìn không rõ Ngoài ra còn các khái niệm để phân biệt mức độ khuyết tậtnhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn kém, mù4 Người khuyết tật nhìn có trí tuệ pháttriển bình thường, có hai cơ quan phân tích thường rất phát triển: thính giác và xúcgiác, nếu được huấn luyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay thế cơ quan thịgiác bị phá hủy Cách sử dụng ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của nhữngngười này đều như người bình thường
• Khuyết tật trí tuệ: là nhóm khuyết tật thường chịu khó khăn, thiệt thòi nhất so với
các nhóm khuyết tật khác Khuyết tật về trí tuệ được xác định khi: chức năng trí tuệdưới mức trung bình ( chỉ sô thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lầnthực hiện trắc nghiệm cá nhân); bị khiếm khuyết các chức năng như giao tiếp, tựchăm sóc bản thân, kỹ năng xã hội, cá nhân, học tập, làm việc, giải trí, sức khỏe
3 “Quản lý giáo dục hòa nhập”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Phụ nữ, năm 2010, tr 32
4 “Quản lý giáo dục hòa nhập”, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Phụ nữ, năm 2010, tr 32-33
Trang 5Người khuyết tật về trí tuệ có nhiều hạn chế về trí nhớ, gặp khó khăn về trí nhớ cảngắn hạn và dài hạn, dễ quên.
Ngoài ra còn có những nhóm người khuyết tật như: người bị rôi loạn hành vicảm xúc, người bị hội chứng tự kỉ, rôi loạn ngôn ngữ, đa tật…
Quyền của người khuyết tật là tập hợp con của quyền con người, quyền củangười khuyết tật mang đầy đủ những đặc điểm của quyền con người gồm:
Tính phổ biến: là những gì bẩm sinh, vôn có và được áp dụng bình đẳng chotất cả các thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đôi xử vì bất
kỳ lý do gì.5 Và cũng không có phận sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mọi ngườiđiều bình đẳng như nhau
Tính không thể chuyển nhượng: quyền này không thể bị tước đoạt hay hạnchế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả cơ quan nhà nước, trừ một sôtrường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một con người phạm tội ác thì có thể bịtước quyền tự do.6
Tính không thể phân chia: các quyền con người điều có tầm quan trọng nhưnhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào,vì tất cả quyền này đều có ý nghĩa quan trọng đôi với việc bảo đảm nhân phẩm vàgiá trị con ngườt kể cả những người khiếm khuyết về cơ thể.7
Quyền của người khuyết tật không phải chỉ một quyền mà nó bao gồm tất cảcác quyền như: quyền sông, ăn, mặc, cư trú, học tập,… Nếu như một quyền nào củangười bị hạn chế hay bị mất đi sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác
5 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội, năm 2009, tr 22.
6 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội, năm 2009, tr 22
7 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội, năm 2009, tr 22
Trang 6Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: thể hiện ở chỗ việc đảm bảo các quyềncủa người khuyết tật, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong môi liên hệ phụ thuộc vàtác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đếnviệc đảm bảo các quyền khác và ngược lại, tiến bộ trong việc đảm bảo một quyền sẽtrực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc đảm bảo các quyền khác.8
Công ước Quôc tế về quyền của người khuyết tật cũng như Luật ngườikhuyết tật của Việt Nam công nhận những quyền cơ bản của người khuyết tật, đưa
ra các biện pháp thích hợp để bảo đảm cho người khuyết tật được tiếp cận vào mọiphương diện của xã hội trên cơ sở bình đẳng Như vậy có thể hiểu quyền của ngườikhuyết tật và một phần quyền của con người, tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳngcho người khuyết tật, gạt bỏ tất cả các loại rào cản trong xã hội đôi với ngườikhuyết tật, đồng thời gắn kết người khuyết tật tạo cơ hội cho người khuyết tật pháttriển và hòa nhập vào cộng đồng
Trong Hiến pháp các thời kì đã thể hiện rõ sự quan tâm, nhìn nhận của Nhànước về quyền bình đẳng của người khuyết tật trong xã hội tuy nhiên để tạo giảipháp hỗ trợ, điều kiện tôt nhất giúp người khuyết tật tiếp cận các chương trình ansinh xã hội, xây dựng cơ sở vật chất, giúp họ có cơ hội tiếp cận việc làm, bảo đảmcuộc sông và hòa nhập cộng đồng, đồng thời để đảm bảo sự phù hợp với Công ướcquôc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007, tại kỳ họp thứ 7, khóa XII ngày
17 tháng 6 năm 2010 Quôc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật – mộtbước tiến lớn của Việt Nam trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tậtthực hiện các quyền của mình
8 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội, năm 2009, tr 22.
Trang 71.2.2 Ý nghĩa của Luật người khuyết tật
Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các quyền của ngườikhuyết tật, đem lại các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạođiều kiện tôt nhất cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng Đồng thời, xóa bỏ mọiphân biệt đôi xử với người khuyết tật, đảm bảo sự công bằng giữa những ngườikhuyết tật với nhau
Luật người khuyết tật bảo vệ những quyền cơ bản về quyền con người củangười khuyết tật, giúp bảo vệ người khuyết tật khỏi sự phân biệt đôi xử, giúp họbình đẳng về cơ hội việc làm và nghề nghiệp với những người bình thường, bảođảm được các quyền cơ bản của họ như quyền được học tập, quyền được dạynghề… Bên cạnh đó Luật còn đảm bảo sự tham gia bình đẳng trong xã hội củangười khuyết tật thông qua việc tạo điều kiện cho họ tiếp cận với các dịch vụ chămsóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giáo dục đào tạo, dạy nghề, thể thao, vui chơigiải trí… Luật người khuyết tật tạo điều kiện tôt nhất cho người khuyết tật để pháthuy tôi đa năng lực của mình, cùng chung sức đóng góp và xây dựng đất nước
Trang 8CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO
VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT
2.1 Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật
2.1.1 Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật theo Công ước quyền của người khuyết tật năm 2007
Ngày 13 tháng 12 năm 2006, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quôc đã thông
qua Công ước Quốc tế về các Quyền của Người Khuyết tật Tính đến ngày 07 tháng
01 năm 2011, đã có 147 quôc gia ký và 97 nước phê chuẩn Việt Nam là thành viênthứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22 tháng 10, 2007
Công ước quôc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007 đã quy định cácnhóm quyền cụ thể sau đây:
2.1.1.1 Nhóm quyền được sống và được đối xử bình đẳng
Điều 10 Công ước quy định, các quôc gia thành viên cần khẳng định rằng mọingười đều có quyền được sông và sẽ tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để đảmbảo người khuyết tật được thực sự thụ hưởng quyền này trên cơ sở bình đẳng vớinhững người khác Theo đó, các quôc gia thành viên sẽ thực hiện tất cả các biệnpháp thích hợp và phù hợp với cam kết của quôc gia đó theo luật quôc tế, bao gồmLuật Nhân đạo quôc tế và Luật Nhân quyền quôc tế để đảm bảo người khuyết tậtluôn được bảo vệ an toàn trong các tình huông xung đột vũ trang, tình trạng khẩncấp nhân đạo, thảm họa thiên nhiên.9
Điều 12 Công ước quy định, các quôc gia thành viên tái khẳng định, ngườikhuyết tật có quyền được công nhận ở tất cả mọi nơi là những con người trước phápluật Công nhận người khuyết tật có năng lực pháp lý, trên cơ sở bình đẳng nhưcông dân khác trong tất cả các mặt của đời sông Công ước quy định các quôc giathành viên phải thực hiện các biện pháp thích hợp để người khuyết tật có thể đượcnhững hỗ trợ mà họ cần để thực thi năng lực pháp lý của họ và đồng thời đảm bảo
9 Điều 11 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 9rằng tất cả các biện pháp có liên quan đến việc thực thi năng lực pháp lý này là phùhợp với Luật Nhân quyền quôc tế Các biện pháp này phải phù hợp và hiệu quả đểđảm bảo quyền bình đẳng của người khuyết tật về sở hữu, thừa kế tài sản, tự quyếtvà kiểm soát được vấn đề tài chính của họ, tiếp cận được tới việc vay vôn ngânhàng, thế chấp và các hình thức tín dụng tài chính khác đồng thời đảm bảo rằngngười khuyết tật không bị tước mất tài sản của họ nếu không phải vì lí do chínhđáng.10
• Quyền được tiếp cận luật pháp
Điều 13 của Công ước quy định: “Các quôc gia thành viên sẽ bảo đảm chongười khuyết tật được tiếp cận pháp luật có hiệu quả trên cơ sở bình đẳng với nhữngngười khác, bao gồm thông qua việc cung cấp những điều chỉnh hợp lý về thủ tụcvà độ tuổi, nhằm phát huy vai trò thực sự của họ như những người tham gia trựctiếp hoặc gián tiếp, bao gồm cả việc ra làm nhân chứng trong tất cả các thủ tục pháp
lý, bao gồm giai đoạn điều tra và các giai đoạn sơ bộ khác” Quy định này nhằmđảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận một cách có hiệu quả tới luật pháp, do đócác quôc gia thành viên của Công ước cần tổ chức tập huấn cho những người làmviệc trong lĩnh vực hành chính luật pháp, bao gồm cảnh sát và các nhân viên củatrại giam khi tiếp xúc và làm việc với người khuyết tật11
2.1.1.2 Nhóm quyền được đảm bảo tự do cơ bản
• Quyền tự do và an toàn cá nhân
Điều 14 Công ước quy định: “Các quôc gia thành viên phải bảo đảm rằng trên
cơ sở bình đẳng với những người khác, người khuyết tật được hưởng quyền tự dovà an ninh con người Không bị tước quyền một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện,bất cứ trường hợp bị tước quyền tự do nào cũng phải tuân thủ theo pháp luật, đồngthời không có trường hợp nào bị tước đi quyền tự do vì lý do khuyết tật Các quôcgia thành viên đảm bảo rằng nếu người khuyết tật bị tước quyền tự do thông qua bất
cứ thủ tục nào thì họ trên cơ sở bình đẳng với những người khác, có quyền được
10 Điều 12 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
11 Điều 13 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 10bảo vệ phù hợp với Luật Nhân quyền quôc tế và được đôi xử phù hợp với mục đíchvà nguyên tắc của Công ước này, bao gồm được cung cấp sự điều chỉnh thíchhợp”.12 Người khuyết tật phải được tôn trọng, bảo vệ sự toàn vẹn thể chất, tinh thần,không bị tra tấn, bị đôi xử vô nhân đạo, không bị bóc lột sức lao động, lạm dụng vàbạo lực
• Quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư
Điều 22 Công ước quy định, không một người khuyết tật nào, dù ở tư gia haysông trong các cơ sở nuôi dưỡng, bị người khác can thiệp một cách tùy tiện hay tráipháp luật đến sự riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc các hình thức giao tiếp kháchoặc xâm phạm trái pháp luật tới danh dự và danh tiếng của họ Các quôc gia thànhviên phải bảo vệ bí mật thông tin về cá nhân, sức khỏe và phục hồi chức năng củangười khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với những người khác trong xã hội.13
Điều 19 Công ước quy định, người khuyết tật có quyền được sông độc lập trongcộng đồng, có những sự lựa chọn bình đẳng với những người khác, được hưởng thụđầy đủ quyền này và bảo đảm sự hoà nhập và tham gia đầy đủ của họ vào cộngđồng và bảo đảm người khuyết tật có cơ hội lựa chọn nơi sinh sông và họ sông ởđâu và với ai, không bị bắt buộc phải sông ở nơi nuôi dưỡng cụ thể nào Ngườikhuyết tật sẽ được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tại gia, khu vực sinh sông và trongcộng đồng, bao gồm sự trợ giúp cá nhân cần thiết để hỗ trợ việc sông và hoà nhậpvới cộng đồng Bên cạnh đó, cần có các dịch vụ và hạ tầng cơ sở công cộng phùhợp với nhu cầu của người khuyết tật để họ sử dụng.14
• Quyền được tôn trọng gia đình và tổ ấm
Điều 23 Công ước quy định, các quôc gia thành viên cần thực thi các biện pháphiệu quả và thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đôi xử, kì thị đôi với người khuyết tậtcác vấn đề liên quan đến hôn nhân, gia đình, công nhận tất cả những người khuyết
12 Điều 14 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
13 Điều 22 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
14 Điều 19 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 11tật ở độ tuổi kết hôn đều có quyền kết hôn dựa trên cơ sở tự nguyện Người khuyếttật có quyền kết hôn, tự do quyết định và chịu trách nhiệm về sô con, khoảng cáchgiữa các thời gian sinh con, được tiếp cận với các thông tin, chương trình giáo dụcvề sinh sản và kế hoạch hoá gia đình.15.
• Quyền tự do đi lại, tự do cư trú và tự do quốc tịch
Điều 18 Công ước quy định, các quôc gia phải thực hiện các quyền tự do đi lạicủa họ không được cản trở quyền đi lại của họ Các quôc gia thành viên phải thựchiện những biện pháp hữu hiệu để đảm bảo sự độc lập trong đi lại của người khuyếttật ở mức cao nhất có thể, bao gồm: được tạo điều kiện cho việc đi lại bằng phươngtiện và thời gian linh hoạt, với chi phí có thể chấp nhận được, tiếp cận với cácphương tiện, thiết bị, công nghệ hỗ trợ vận động chất lượng cao Được tự do xuấtnhập cảnh tại bất cứ quôc gia nào, bao gồm đất nước của họ Bên cạnh đó, họ cóquyền tự do chọn quôc tịch và nơi sinh sông cho bản thân: họ có quyền được có vàchuyển đổi quôc tịch, không bị tước quôc tịch, giấy tờ về quôc tịch hay những giấytờ nhận dạng khác một cách tuỳ tiện Trẻ em khuyết tật khi sinh ra sẽ được đăng kýkhai sinh ngay lập tức, các em cũng có quyền có tên, có quôc tịch và, nếu có thể, cóquyền được biết cha mẹ và được cha mẹ chăm sóc.16
• Quyền tự do biểu đạt, chính kiến và tiếp cận thông tin
Điều 21 Công ước quy định, các quôc gia thành viên tiến hành mọi biện phápphù hợp để bảo đảm rằng người khuyết tật có thể thực hiện quyền tự do ngôn luậncủa mình gồm tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền tải thông tin và ý kiến trên cơ sởbình đẳng, bằng những hình thức giao tiếp mà họ muôn Tạo điều kiện thuận lợi chohọ trong việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi Braille hay cách giao tiếp thay thếkhác, bằng tất cả các phương tiện và phương thức giao tiếp họ có thể lựa chọn,trong những giao tiếp hằng ngày Bên cạnh đó, các quôc gia cần thúc đẩy các tổchức tư nhân cung cấp các dịch vụ công như Internet, cung cấp thông tin và cácdịch vụ bằng các hình thức mà người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng được
15 Điều 23 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
16 Điều 18 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 12khuyến khích họ sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng Công nhận và thúcđẩy việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu.17
2.1.1.3 Nhóm quyền được bảo v ệ
Nhóm quyền được bảo vệ bao gồm:
• Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, bị đối xử, áp dụng các hình phạt tàn nhẫn
Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 của Liên Hiệp Quôc quy định rằng:
“Không ai bị tra tấn hay bị đôi xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạthấp nhân phẩm” Theo Điều 15 Công ước về Quyền của người khuyết đã nhấnmạnh quyền này của người khuyết tật, Công ước quy định người khuyết tật cóquyền được bảo vệ không bị tra tấn, bị đôi xử, áp dụng những hình phạt tàn nhẫn,
vô nhân đạo hoặc bị nhục hình, bị ngược đãi, đặc biệt cấm coi họ là đôi tượng củathí nghiệm y tế hoặc thí nghiệm khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của họ.Các quôc gia có trách nhiệm tiến hành tất cả các biện pháp có hiệu quả về luật pháp,hành chính, pháp lý hoặc những biện pháp khác để bảo vệ người khuyết tật, trên cơ
sở bình đẳng với những người khác, để không bị hành hạ hoặc đôi xử tàn ác, vônhân đạo, làm giảm phẩm giá hay ngược đãi.18
• Quyền không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng
Điều 16 Công ước quy định: “Các quôc gia thành viên tiến hành mọi biện phápthích hợp về lập pháp, hành pháp, xã hội, giáo dục và các biện pháp khác để bảo vệngười khuyết tật cả ở trong gia đình, tránh khỏi tất cả các hình thức bóc lột, bạohành và lạm dụng, bao gồm các mặt về giới Các quôc gia thành viên cũng tiến hànhtất cả các biện pháp thích hợp để ngăn chặn tất cả các hình thức bóc lột, bạo hành vàlạm dụng bằng cách bảo đảm tất cả các hình thức hỗ trợ và giúp đỡ thích hợp vềnhạy cảm giới và độ tuổi dành cho người khuyết tật, gia đình họ và những ngườichăm sóc bao gồm thông qua việc cung cấp thông tin và giáo dục về cách tránh,nhận biết và báo cáo về các trường hợp bóc lột, bạo hành và lạm dụng Các quôc gia
17 Điều 21 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
18 Điều 15 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 13thành viên sẽ đảm bảo các biện pháp bảo vệ phù hợp với độ tuổi, giới và khuyết tật.Để ngăn ngừa sự xuất hiện của mọi hình thức bóc lột, bạo hành và lạm dụng, cácquôc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng tất cả các cơ sở vật chất và chương trình đượcthiết kế để phục vụ người khuyết tật được giám sát có hiệu quả bới các nhà chứctrách độc lập Các quôc gia thành viên thực hiện tất cả những biện pháp có hiệu quảđể thúc đẩy sự bình phục về thể chất, nhận thức và tâm lý, phục hồi chức năng vàtái hòa nhập xã hội của người khuyết tật là nạn nhân của bất cứ hình thức bóc lột,bạo hành hay lạm dụng nào bao gồm thông qua việc cung cấp những dịch vụ bảovệ Sự bình phục và tái hòa nhập này sẽ được tiến hành trong môi trường nhằm tăngcường sức khỏe, phúc lợi, tự tôn, phẩm giá và tự quản của con người và có tính tớinhững nhu cầu cụ thể về giới và tuổi tác Các quôc gia thành viên đưa ra nhữngchính sách và luật pháp có hiệu quả, bao gồm cả những chính sách vá luật pháp tậptrung vào phụ nữ và trẻ em nhằm đảm bảo phát hiện, điều tra và nếu phù hợp đem
ra truy tô những trường hợp bóc lột, bạo hành hay lạm dụng người khuyết tật”.19
2.1.1.4 Nhóm quyền được tham gia bao gồm:
• Quyền được tham gia đời sống chính trị và cộng đồng
Điều 29 Công ước quy định, các quôc gia thành viên sẽ bảo đảm cho ngườikhuyết tật có cá quyền về chính trị và cơ hội được hưởng thụ các quyền đó một cáchbình đẳng với người khác Để người khuyết tật tham gia đầy đủ và có hiệu quả vàođời sông chính trị cộng đồng bình đẳng với những người khác, một cách trực tiếphoặc thông qua tự do lựa chọn đại diện, trong đó người khuyết tật có quyền và cơhội bầu cử và ứng cử không kể những điều khác, bằng cách bảo đảm thủ tục, trangthiết bị và tài liệu bầu cử phù hợp, dễ tiếp cận, dể hiểu và dễ sử dụng Các quôc giacần tích cực cải thiện môi trường để người khuyết tật được tham gia đầy đủ và cóhiệu quả trong việc thực hiện các hoạt động công cộng, không bị phân biệt đôi xửvà dựa trên cơ sở bình đẳng với người khác và khuyến khích họ tham gia các hoạtđộng công cộng bao gồm: tham gia các tổ chức phi chính phủ và các hội liên quanđến hoạt động chung và hoạt động chính trị của đất nước trong các hoạt động, công
19 Điều 16 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 14tác điều hành các đãng chính trị; thành lập và tham gia các tổ chức của ngườikhuyết tật để đại diện cho người khuyết tật trong các hoạt động quôc tế, quôc gia,khu vực và địa phương Bên cạnh đó các quôc gia cần bảo vệ quyền bầu cử củangười khuyết tật bằng cách bỏ phiếu kín trong các cuộc bầu cử, không bị đe dọa, cóquyền ứng cử, có thể thực sự điều hành văn phòng và thực hiện tất cả các chức năngcông ở các cấp chính quyền tạo thuận lợi cho việc sử dụng hỗ trợ và các kỹ thuậtmới ở những nơi thích hợp Bảo đảm quyền được tự do thể hiện ý nguyện của ngườikhuyết tật trong vai trò người tham gia bầu cử và để đạt điều đó, theo yêu cầu củahọ, người khuyết tật có thể chọn một người hỗ trợ trong quá trình bầu cử20
• Quyền tham gia các hoạt động văn hoá, nghỉ ngơi, giải trí và thể thao
Điều 30 Công ước quy định, các quôc gia thành viên cam kết công nhận quyềncủa người khuyết tật được tham gia trên cơ sở bình đẳng với người khác vào đờisông văn hóa và sẽ thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật cóthể hưởng sự tiếp cận các tài liệu văn hóa dưới dạng dễ tiếp cận Người khuyết tậtđược hưởng sự tiếp cận các chương trình truyền hình, phim ảnh, nhà hát và các hoạtđộng văn hóa khác ở dạng dể tiếp cận, tiếp cận những nơi dành cho trình diễn vàdịch vụ văn hóa như rạp hát, bảo tàng, rạp chiếu phim , thư viện, dịch vụ du lịch,đồng thời có thể tiếp cận với các tượng đài và những nơi có tầm văn hóa quan trọngquôc gia Các quôc gia thành viên thực thi các biện pháp phù hợp để bảo đảm ngườikhuyết tật có cơ hội phát triển và sử dụng khả năng sáng tạo, khiếu nghệ thuật và trítuệ cả họ không chỉ vì lợi ích của riêng người khuyết tật mà còn vì sự giàu có củaxã hội Các quôc gia thành viên sẽ thực hiện những bước đi phù hợp theo luật quôctế để bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ không tạo thành rào cản phân biệt đôi xử phi lýkhiến người khuyết tật không tiếp cận được các tài liệu văn hóa Trên cơ sở bìnhđẳng với người khác, người khuyết tật có quyền được hoàn toàn công nhận và hỗtrợ về đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ của họ, bao gồm cả ngôn ngữ ký hiệu và văn
20 Điều 29 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 15hóa của người khiếm thính Bảo đảm người khuyết tật được tiếp cận những dịch vụcủa các cơ sở tham gia tổ chức hoạt động giải trí, du lịch, nghỉ ngơi và thể thao21.
2.1.1.5 Nhóm quyền được hỗ trợ đặc biệt, có cơ hội và được phát triển bằng
chính công việc do bản thân tự do lựa chọn
• Quyền hưởng các dịch vụ y tế
Điều 25 Công ước quy định, cam kết thực hiện các biện pháp phù hợp để bảođảm người khuyết tật có quyền tiếp cận với các dịch vụ y tế một cách thích hợp.Các quôc gia thành viên cần phải: cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ vàchương trình y tế cùng mức, có chất lượng, đạt tiêu chuẩn, miễn phí hoặc với mứcphí có thể chấp nhận được, tương tự như cung cấp cho những người không khuyếttật khác, cung cấp các dịch vụ y tế cần thiết mà người khuyết tật cần theo dạng tậtcủa họ, bao gồm phát hiện sớm và can thiệp sớm, nếu phù hợp, và các dịch vụ đượcthiết kế nhằm giảm thiểu và ngăn chặn khuyết tật, bao gồm ở trẻ em và người caotuổi, cung cấp các dịch vụ y tế này ở những nơi càng gần với cộng đồng mà ngườikhuyết tật sinh sông càng tôt, kể cả ở vùng nông thôn Bên cạnh đó, cấm các quôcgia thành viên không được phân biệt đôi xử với người khuyết tật trong việc cungcấp bảo hiểm y tế và bảo hiểm nhân thọ nếu bảo hiểm đó được luật pháp quôc giacho phép và các bảo hiểm này phải được cung cấp theo phương thức công bằng vàhợp lý Đồng thời cũng ngăn chặn sự từ chôi cung cấp các dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ hoặc chăm sóc y tế, hoặc thực phẩm và thức uông mang tính phân biệt đôi xửvì lý do khuyết tật.22
• Quyền được hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng
Điều 26 Công ước quy định, các quôc gia thành viên cần thực thi các biện phápphù hợp và có hiệu quả, bao gồm sự hỗ trợ đồng cảnh giúp người khuyết tật đạtđược và duy trì tôi đa sự độc lập, khả năng đầy đủ về thể chất, trí tuệ, xã hội vànghề nghiệp, sự hòa nhập và tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực của đời sông Cácquôc gia cần tổ chức tăng cường và mở rộng các dịch vụ chương trình toàn diện về
21 Điều 30 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
22 Điều 25 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
Trang 16hỗ trợ các chức năng, phục hồi chức năng nhất là trong lĩnh vực y tế, việc làm, giáodục và các dịch vụ xã hội Các quôc gia cần hỗ trợ người khuyết tật tham gia và hòanhập mọi mặt trong xã hội một cách chủ động và có sẵn để người khuyết tật sửdụng, kể cả ở những vùng nông thôn Thúc đẩy sự phát triển công tác tập huấn banđầu và liên tục dành cho những chuyên viên cán bộ làm việc trong nghành hỗ trợchức năng và phục hồi chức năng Thúc đẩy sự sẵn có, hiểu biết và việc sử dụng cácthiết bị, kỹ thuật hỗ trợ được thiết kế dành cho người khuyết tật bởi chúng có liênquan đến hỗ trợ chức năng và phục hồi chức năng.23
• Quyền có mức sống thích đáng và bảo trợ xã hội đầy đủ
Điều 28 Công ước quy định, các quôc gia thành viên công nhận quyền củangười khuyết tật có được mức sông đầy đủ cho bản thân gia đình họ bao gồm có đủthức ăn, quần áo và nhà ở, có quyền không ngừng cải thiện điều kiện sông Cácquôc gia thành viên thực thi những bước phù hợp để bảo đảm và thúc đẩy việc côngnhận quyền đó mà không có sự phân biệt đôi xử vì lý do khuyết tật Các quôc giathành viên công nhận quyền của người khuyết tật được nhận bảo trợ xã hội và đượchưởng quyền này mà không bị phân biệt đôi xử vì lý do khuyết tật Bảo đảm chongười khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em gái khuyết tật và người cao tuổi khuyếttật được tiếp cận các chương trình bảo trợ xã hội và chương trình giảm nghèo Bảođảm cho người khuyết tật và gia đình họ đang sông trong tình cảnh nghèo đói đượctiếp cận sự hỗ trợ của Nhà nước cho ngững chi phí liên quan đến khuyết tật baogồm được tạo đầy đủ tư vấn, hỗ trợ tài chính và chăm sóc nghĩ dưỡng nhằm bảođảm người khuyết tật được tiếp cận các chương trình công cộng về nhà ở Bảo đảmcho người khuyết tật tiếp cận bình đẳng những lợi ích và chương trình hưu trí 24
Điều 24 Công ước quy định, các quôc gia thành viên cần công nhận quyền họctập của người khuyết tật Với quan điểm công nhận quyền này mà không phân biệtđôi xử và dựa trên cơ hội bình đẳng, các quôc gia thành viên bảo đảm có một hệ
23 Điều 26 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007
24 Điều 28 Công ước về quyền của người khuyết tật 2007
Trang 17thông giáo dục hòa nhập ở mọi cấp và chương trình học suôt đời Các quôc gia cầntrợ giúp người khuyết tật phát triển đầy đủ tiểm năng, phẩm giá và giá trị của conngười, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền, quyền tự do cơ bản và tính đa dạng củacon người, để người khuyết tật có thể phát triển cá tính, tài năng và sự sáng tạoriêng của họ, cũng như những khả năng về trí tuệ và thể chất để phát huy hết nhữngtiểm năng của họ, giúp người khuyết tật tham gia có hiệu quả trong xã hội Cungcấp các biện pháp hỗ trợ có hiệu quả được thiết kế cho từng cá nhân trong các điềukiện phát huy tôi đa sự phát triển về học thức xã hội, phù hợp với mục tiêu hòa nhậptoàn diện Các quôc gia thành viên sẽ hỗ trợ để người khuyết tật có đời sông học tậpvà phát triển các kỹ năng xã hội nhằm tạo thuận lợi để người khuyết tật có đời sônghọc tập và phát triển các kỹ năng xã hội nhằm tao điều kiện thuận lợi để họ tham giađầy đủ và bình đẳng trong giáo dục cũng như mọi thành viên khác trong cộngđồng25
• Quyền có cơ hội công việc và việc làm
Điều 27 Công ước quy định, các quôc gia thành viên công nhận quyền được làmviệc của người khuyết tật, trên cơ sở bình đẳng với người khác bao gồm cả quyềncó cơ hội kiếm sông bằng một công việc được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trongthị trường lao động và môi trường làm việc mở, hòa nhập và để tiếp cận đôi vớingười khuyết tật Các quôc gia thành viên bảo vệ và thúc đẩy việc công nhận quyềnlàm việc, bao gồm của cả những người bị khuyết tật khi làm việc bằng cách thực thinhững bước phù hợp, bao gồm thông qua luật pháp để nghiêm cấm phân biệt đôi xửvì lý do khuyết tật trong các vấn đề liên quan đến tất cả các hình thức về việc làm,bao gồm các điều kiện tuyền dụng, thuê và nhận vào làm, thăng tiến trong sự nghiệpvà các điều kiện lao động an toàn và bảo đảm sức khỏe Các quôc gia thành viênbảo vệ quyền của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với người khác nhằm cóđiều kiện lao động công bằng và thuận lợi, bao gồm cơ hội bình đẳng và được trảlương bình đẳng cho những công việc như nhau, có các điều kiện an toàn và đảmbảo sức khỏe, bao gồm việc bảo vệ khỏi bị quấy rôi và được bồi thường cho nỗi bất
25 Điều 24 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007