Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu.
Trang 1QUAN HỆ VIỆT-LÀO NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI
(2001-2018)
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử quan hệ quốc tế,mối quan hệ của các nước láng giềng, cùng néttương đồng văn hóa luôn là một trong các mối quan hệ quan trọng nhưng đồng thời cũngkhá phức tạp và rất nhạy cảm Giữa các nước láng giềng với nhau thì ngoài việc chia senhững giá trị chung trong cùng khu vực địa lý, sự gần gũi nhau về văn hóa truyền thốngcũng như về trai trò địa chiến lược…, thì cũng vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà cũngthường tồn tại, nảy sinh một số va chạm hoặc thậm chí mâu thuẫn về lợi ích của các quốcgia láng giềng với nhau như: biên giới lãnh thổ, lãnh hải hay các nguồn tài nguyên thiênnhiên cũng như một số vấn đề về sắc tộc tôn giáo… Vì lí do đó mà các quốc gia dù lớnhay nhỏ cũng đều đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy mối quan hệ tốt đẹpgiữa các nước láng giềng và trong khu vực
Để có được môi trường quốc tế hòa bình và ổn định, đáp ứng được đầy đủ nhữngnhu cầu phát triển của đất nước thì vấn đề được đặt ra hết sức quan trọng đối với cácnước trước tiên là phải xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng xungquanh Nhận thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta trong khi khởi xướng côngcuộc đổi mới đã ngày càng chủ động và đổi mới tư duy trong quan hệ đối ngoài nhằmhoạch định tốt cũng như triển khai thực hiện chính sách mở rộng để củng cố, phát triểnquan hệ với các nước láng giềng cũng như các quốc gia khác trong khu vực và trên toànthế giới Trong suốt hơn 30 năm đổi mới vừa qua, quan hệ đối ngoại của Việt Nam đãkhông ngừng được mở rộng, vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốctế
Củng cố và phát triển mối quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa ba nước Đông
Dương luôn là sự ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các
nước láng giềng Trong quan hệ với Lào, Việt Nam triển khai hợp tác một cách toàn diện,giúp bạn phát triển kinh tế – xã hội, góp phần duy trì ổn định chính trị – xã hội, an ninh
Trang 2của Lào Quan hệ hợp tác với “Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” (CHDCND Lào) là mộttrong những mối quan hệ đối ngoại hàng đầu của nước ta.
Bước vào thế kỉ XXI, tình hình môi trường an ninh, kinh tế thế giới và khu vựcđang có những diễn biến hết sức phức tạp, đặt quan hệ Việt – Lào trước những cơ hội vàthách thức mới Tuy nhiên, nhờ những sự nỗ lực và quyết tâm cao của hai Đảng và haiNhà nước, quan hệ đặc biệt Việt – Lào vẫn luôn được duy trì và phát triển tốt đẹp Trongnhững năm sắp tới, quan hệ giữa hai quốc gia có thể se phải đối diện với nhiều thách thứclớn hơn nữa do sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo của cả hai nước Trong bối cảnh đó, rấtcần những bài viết, những bài báo cáo hay những công trình nghiên cứu sâu về mối quanhệ Việt – Lào những năm đầu thế kỉ XXI để nhằm khẳng định một cách đầy đủ nhất vềnhững thành tựu đạt được, chỉ ra những cái hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân từ đó tìmkiếm và đưa ra các biện pháp khắc phục ưu việt nhất
Ngoài ra tôi đang theo học môn Lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại tại trường Đại
học Thủ Dầu Một và cần làm đề tài kết thúc môn học
Với lý do trên tôi chọn đề tài “Quan hệ Việt – Lào những năm đầu thế kỉ XXI”
làm đề tài tiểu luận kết thúc môn học Lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, các nhà nghiên cứutrong nước ngày càng quan tâm nhiều hơn những vấn đề chung của thế giới, sự khởi sắctrong lĩnh vực nghiên cứu này đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng định hướngchiến lược đối ngoại của đất nước ta Nhiều công trình được nghiên cứu đã cung cấp khốilượng tri thức phong phú và đa dạng trong đó có một số nội dung liên quan đến chínhsách và quan hệ Việt Nam với các quốc gia láng giềng
Sau đây tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu trước đây mà tôi tìm hiểu
được về vấn đề này như: Giao lưu và hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước láng
giềng của tác giả Bùi Danh Lưu (Nxbb Giao thông, Hà Nội, 2003); Ba mươi năm quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào (1977-2007) của Nguyễn Hào Hùng (T/c Nghiên cứu
Đông Nam Á, 8-2007); Tổng quan hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Lào
(1991-2001) của Nguyễn Hoàng Giáp (T/c Những vấn đề kinh tế thế giới, 4/2001)…
Trang 3Nhìn chung, các công trình trên đã phần nào phác họa được bức tranh tổng thể, đa dạngvề đường lối cũng như chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kyđổi mới Có nhiều công trình đi sâu vào một số khía cạnh chính sách của Việt Nam đốivới Lao và các quốc gia ASEAN khác Đây chính là những tài liệu hết sức quan trọng vàhữu ích để tôi có thể tham khảo, kế thừa và khai thác trong quá trình nghiên cứu về nộidung của đề tài này.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài làm rõ thực trạng quan hệ giữa Việt Nam và Lào trên một số lĩnh vực:Chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế… từ năm 2001 đến năm 2018 và hoàn thành bài
tiểu luận kết thúc môn học Lịch sử quan hệ quốc tế
4 Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ giữa Việt Nam và Lào trên một số lĩnh vực: Chính trị, an ninh, quốcphòng, kinh tế… từ năm 2001 đến năm 2018
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: giới hạn nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về
quan hệ Việt Nam và Lào trên một số lĩnh vực như: Chính trị, an ninh, quốc phòng, kinhtế…
- Về thời gian: Giới hạn nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu từ năm
2001-2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử: Vấn đề được trình bày theo tiến trình không gian và thời
gian từ đó cho thấy sự vận động thay đổi và phát triển từ thấp đến cao, từ quá khứ đếnhiện tại của mối quan hệ này
Phương pháp logic: Đề tài đi vào nghiên cứu từng vấn đề trong từng mối quan hệ
để từ đó hiểu được bản chất, tính cần thiết cho sự phát triển mối quan hệ này trong thờigian tới
Trang 4Phương pháp thu thập thông tin: Thông tin phục vụ nghiên cứu được thu thập qua các
sách tham khảo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, các trang nghiên cứu trên mạng thông tin,Internet, trên các thư viện,…; từ các kết quả nghiên cứu trong các công trình của các tác giả
đi trước, kết hợp với kết quả quan sát và tổng hợp của tác giả
7 Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm rõ thêm những quan điểm cơ bản trong chính sách của Đảng và Nhànước ta, quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào và thực trạng quan hệ của haiquốc gia Việt-Lào những năm đầu thế kỉ XXI (2001-2018) Ngoài ra đề tài còn là bài kết
thúc môn Lịch sử Đông Nam Á cận hiện đại.
Trang 5B NỘI DUNGChương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT - LÀO TƯ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2018
1.1 Khái quát tình hình thế giới, khu vực
Đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, xu thếcạnh tranh quyền lực giữa một số nước lớn ngày càng mạnh lên so với xu thế hòa dịu vàhợp tác trong thập niên 90 của thế kỉ XX Nhiều nhân tố mới chi phối tình hình thế giớivà khu vực ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ Việt-Lào trong giai đoạn này
Bước sang thế kỉ XXI, Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh me đã trở thànhmột cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ Sự trỗi dậy của Trung Quốccũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng và chi phối không nhỏ đến tình hình thế giớivà tình hình khu vực Tiếp thêm là sau khoảng thời gian suy yếu vào những năm 90 củathế kỉ XX, nước Nga thời kì này cũng đã phục hưng Sự phục hưng của Nga cộng thêmsự trỗi dậy của Trung Quốc khiến cho các quốc gia trên thế giới lo ngại sự cạnh tranhngày càng gay gắt giữa Trung - Mỹ, Mỹ - Nga
Trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và từ nhu cầu thực tiễn,ASEAN đã quyết định đưa hợp tác của tổ chức này lên một tầm cao mới, làm cho việchội nhập của khu vực Đông Nam Á sâu sắc hơn thông qua việc thành lập Cộng đồngASEAN gọi tắt là AC Việc nâng tầm hợp tác của ASEAN cũng như nhiều những cơ chếhợp tác khu vực mới ra đời đã mở ra nhiều kênh hợp tác mới hơn cho Việt Nam và Lào,tạo ra nhiều cơ hội lớn cho việc hợp tác Việt - Lào phát triển Ngoài ra, những năm 90của thế kỷ trước, Mỹ là một siêu cường quốc đã không chú ý đến khu vực Đông Nam Ánên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc phát huy ảnh hưởng của mình tạiđây Đứng trước tình hình đó, các quốc gia Đông Nam Á đã không ngừng kêu gọi Mỹquay trở lại để cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc tại khu vực này, điều này cũng đã tácđộng không nhỏ đến quan hệ Việt – Lào
Trang 6Toàn cầu hóa kinh tế phát triển mạnh me ngày càng lôi cuốn nhiều các quốc giatham gia Trong xu thế toàn cầu hóa, các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhaukhiến cho tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng Tại khu vựcchâu Á-Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á việc hợp tác diễn ra sôi động trênnhiều mức độ khác nhau từ liên khu vực đến hợp tác theo các nhóm nước hoặc hợp tácsong phương giữa các quốc gia, chủ yếu từ lĩnh vực kinh tế rồi mở rộng ra là các lĩnh vựckhác như: chính trị, an ninh, giáo dục… Bên cạnh đó, sự cạnh tranh sức ảnh hưởng giữacác nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt, kiềm chế lẫn nhau Tuy nhiên, tình hình khu vựccũng diễn biến hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấpvề biên giới lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên hay tranh chấp sự ảnh hưởng và quyền lựccủa các quốc gia cùng với sự bất ổn về tình hình chính trị, xã hội, kinh tế ở một số quốcgia.
1.2 Khái quát lịch sử quan hệ Việt – Lào từ năm 1930 đến năm 2000
1.2.1 Giai đoạn 1930 - 1945
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đã đánh dấu một bướcngoặt trọng đại của cách mạng Việt Nam Ngay khi mới thành lập, Đảng đã ban hành
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, trong đó đã xác
định rõ con đường giải phóng của dân tộc Việt Nam là làm tư sản dân quyền cách mạngvà thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Đảng đóng vai trò lãnh đạo cách mạng, làđội tiên phong của giai cấp vô sản
Hai quốc gia Việt Nam và Lào đều cùng một kẻ thù chung đó là thực dân Pháp, cócùng một mục tiêu, một khát vọng là độc lập, tự do nên con đường giải phóng dân tộcViệt Nam theo tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cũng phù hợp đối với công cuộc giải phóngđất nước của Lào Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tiền thân của Đảng Cộng sảnĐông Dương chính là sự mở đầu của những trang sử vẻ vang và hào hùng của mối quanhệ đặc biệt Việt - Lào
Trang 7Từ giữa năm 1930, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam bùng nổ, lan rộngkhắp cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ – Tĩnh đã nhanh chóng tác động và ảnh hưởngđến phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc Lào Nhân dân Lào đã tiến hành nhiềucuộc đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau như: đòi tăng lương, giảm giờ làm, phảnđối một số chủ mỏ sa thải công nhân, giảm thuế… Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh củacông nhân bến tàu Viêng Chăn, công nhân mỏ Bò Nèng (tỉnh Khăm Muộn) Trong cáccuộc đấu tranh đó, những người Việt sinh sống ở Lào đã tích cực cùng tham gia, cùng sátcánh với nhân dân Lào để đứng lên đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.
Trên cơ sở phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời
Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập vào tháng 9 năm 1934 đã đánh dấumột cột mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân Lào, khẳng địnhcái vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với cách mạng Lào cũng nhưbước tạo nên một bước phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước là Việt Nam và Lào
Đại hội Đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra vào tháng 3năm 1935 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác các dân tộc Đông Dương đểcùng nhau chống lại kẻ thù chung trên nguyên tắc chân thật, tự do và bình đẳng cáchmạng làm căn bản Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất đã thúc đẩy nhândân Việt – Lào đoàn két cùng đấu tranh chống chế độ thuộc địa của bọn thực dân nóichung và thực dân Pháp nói riêng
Trong những năm 1930 – 1939, dưới sự lạnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương, cac cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã ảnh hưỡng lẫn nhau vôcùng mạnh me, góp phần phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy sức mạnh của mỗidân tộc đồng thời tăng cường hơn mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân 2 nước, là cơ sở đểnhân dân 2 nước là Việt Nam và Lào cùng phối hợp, gắn bó với nhau để tiến lên trong sựnghiệp chống thực dân Pháp
Từ tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ Ở các nước ĐôngDương, chính quyền thuộc địa ra sức đàn áp các phong trào đấu tranh cách mạng của
Trang 8nhân dân và vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho chính quốc Trước tình hình đó,Đảng Cộng sản Đông Dương và đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc đã họp và đưa ra quyếtđịnh giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng quốc gia Những chủ trương đúngđắn của Đảng đã dẫn đường cho nhân dân Việt Nam và Lào phát huy mạnh me tinh thầnđoàn kết đấu tranh giành độc lập và đồng thời tăng cương hơn mối liên hệ mật thiết giữanhân dân 2 nước trong sự nghiệp giành độc lập, tự chủ.
Trong khi phong trào đấu tranh của nhân dân 2 nước Việt Nam và Lào đang pháttriển vô cùng mạnh me thì tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp lấy thời cơvà giành thắng lợi, giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ và thống trị của bọn phát xít Nhậtvà thực dân Pháp tháng 8 năm 1945 Thắng lợi của cách mạng Việt Nam năm 1945 đã tạođiều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào lúc bấy giờ.Nhận thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ Việt - Lào , chủ tịch Hồ Chí Minh ngàycàng nhấn mạnh hơn về uy tín, quyết tâm, tạo thêm chất keo dính nhằm gắn kết chặt chehơn tình cảm của đồng bào 2 nước
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp bắt đầu quay lại xâm lược Đông Dương mà mởđầu là thành phố Sài Gòn Đứng trước sự tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước ĐôngDương là Việt Nam - Lào – Campichia, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác lập và địnhhướng liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương Theo tinh thần đó, quân và dân củaViệt - Lào cùng phối hợp đánh quân Pháp, tiêu biểu cho sự liên minh chiến đấu và tình
1 Ký ngày 16-10-1945
2 Ký ngày 30-10-1945
Trang 9đoàn kết của nhân dân Lào - Việt là trận chiến đấu bảo vệ Thà Khẹc ngày 21 tháng 3 năm
1946 Tinh thần chiến đấu mạnh me và sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ liên quânLào- Việt trong đó có chiến sĩ Việt Nam Lê Thiệu Huy đã “nhắc nhở cho thanh niên Lào,cho nhân dân Lào, luôn luôn bền bỉ chiến đấu để giết đế quốc xâm lăng và giành độc lậpthực sự cho đất nước”3
Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương họp vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang(Việt Nam) đã mở ra chặng đường phát triển mới của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữanhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia ngoài ra còn tạo cơ sở nâng cao quan hệđoàn kết và phối hợp chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương
Những thắng lợi vang dội của nhân dân ba nước Đông Dương trong Đông Xuân
1953 - 1954, đỉnh điểm là chiến thắng Điện Biên Phủ, nước Pháp phải đồng ý ký kết hiệpđịnh Giơ-ne-vơ vào ngày 21 tháng 7 năm 1954 qua đó Pháp và các nước tham gia hộinghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nướcĐông Dương4 Chiến thắng Điện Biên Phủ cùng với ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ đã thểhiện được tinh thần đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung và mối quanhệ mật thiết giữa Việt Nam và Lào nói riêng
1.2.3 Giai đoạn 1954 - 1975
Mỹ là thành phần tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ tuy nhiên lại không ký kết vào hiệpđịnh, vẫn từng bước thực hiện âm mưu xâm lược miền Nam Việt Nam và Lào Trên tìnhthần đó, việc thành lập Đảng Nhân dân Lào tháng 4 năm 1955 đã tạo cơ sở vững chắcnhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào kháng chiến ở Lào đồng thờiđây cũng là nhân tổ có ý nghĩa quyết định sự thúc đẩy quan hệ đoàn kết giúp đỡ lẫn nhaugiữa hai nước Việt - Lào
Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ đối với Lào, lãnh đạo cấp cao củaĐảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào đã tích cực xây dựng và phát triển lực
3 Thư của Hoàng thân Xu-pha-na-vông gửi cụ Lê Thước đề ngày 7 tháng 11 năm 1951 Phòng tư liệu viện nghiên
cứu Đông Nam Á
4 Mỹ là thành phần tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ nhưng không ký vào Hiệp định
Trang 10lượng mọi mặt để sẵn sàng chuyển sang hoạt động quân sự rộng rãi trên cả nước Saunhiều thất nặng nề của Mỹ buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1962 đã cho thấy sựlãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản, sự đấu tranh mạnh me của dân và quân Lào cũngnhư sự đoàn kết gắn bó giữa hai dân tộc Việt - Lào như đồng chí Cay-xỏn-phôm-vi-hảnđã phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam
(12/1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình
và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”5
Những chiến thắng to lớn dưới sự liên minh giữa hai dân dân tộc Việt - Lào từnăm 1968 đến 1973 về nhiều mặt như: quân sự, chính trị, ngoại giao, lĩnh vực xây dựngkinh tế, phát triển văn hóa đã góp phần buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định
“lập lại hoà bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào” (21/2/1973), mở ra cơ hội mới cho
liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào đẩy mạnh đấu tranh giành thắng lợi hoàn toàn Từnăm 1973 đến năm 1974, dưới sự phối hợp chặt che và hiệu quả giữa Việt Nam và Lào đãlàm cho thế và lực của cách mạng Lào ngày càng lớn mạnh vượt bậc buộc Chính phủ liênhiệp Lào phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra (12/1974) Trước thắng lợi to lớn của nhân dânViệt Nam, Campuchia, Bộ Chính trị Đảng nhân dân cách mạng Lào quyết định phát độngcả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và đã giành thắng lợi hoàn toàn
Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (12/1975) chính là thắng lợi to lớncủa nhân dân Lào và đồng thời đây cũng là thắng lợi của quan hệ hai quốc gia Việt - Lào,giúp cho mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên khắng khít hơn, sâu đậm hơn, gắn bókeo sơn hơn nữa
1.2.4 Giai đoạn 1975 – 1986
5 Dẫn theo Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 – 2007, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội, 2001, tr.439
Trang 11Sau năm 1975, quan hệ Việt - Lào đã có nhiều sự thay đổi theo chiều hướng tốtđẹp hơn Cả hai nước từ cùng chiến đấu đánh đuổi chung một kẻ thù để giành độc lập thìgiờ đây nhân dân hai nước đã bước sang giai đoạn mới - giai đoạn tăng cường quan hệhợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục… Tuynhiên, mối quan hệ Việt - Lào sau thắng lợi kháng chiến chống Mỹ cũng đối diện vớinhiều khó khăn, thử thách không hề nhỏ: cả hai nước đều phải ra sức khắc phục hậu quảchiến tranh nặng nề, nền kinh tế của cả hai nước về cơ bản đều là nền kinh tế nôngnghiệp có trình độ canh tác và năng suất thấp, tư duy lãnh đạo còn mang nặng tính tậptrung bao cấp… Ngoài ra tình hình quốc tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệcủa hai nước: Liên Xô và các nước Đông Âu là những quốc gia theo hệ thống xã hội chủnghĩa đang lâm vào khủng hoảng, trì trệ từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, các thế lựcthù địch trong và ngoài nước của cả Việt Nam và Lào luôn tìm cách phá hoại và chia requan hệ Việt - Lào Năm 1977, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và lợi ích
sống còn của hai dân tộc, hai nước chính thức ký kết các hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và
hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Trên cơ sở các hiệp ước đã ký giữa Việt - Lào, nhân nhân dân hai nước đều ra sứcnỗ lực phấn đấu và đạt được những thành quả to lớn trên nhiều lĩnh vực: chính trị và đốingoại, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, ngoài ra còn có sự hợptác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân
1.2.5 Giai đoạn 1986 – 2000
Trong 10 năm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh (1976 - 1985), môhình kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp vẫn được duy trì làm cho cả hai nước lâm vàotình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng Trong khi đó, tình hình thế giới vàkhu vực cũng có những biến đổi to lớn, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa tiếp tục tácđộng sâu sắc đến mọi quốc gia Trước tình trên, Đảng Nhân dân cách mạng Lào tổ chứcđại hội lần thứ IV (11/1986) và Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức đại hội lần thứ VI đã
Trang 12thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo công cuộc xây dựng đấtnước và đề ra những đường lối mới xây dựng đất nước trong giai đoạn quá độ lên chủnghĩa xã hội.
Việc xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn của Việt Nam và Làođã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện Việt – Lào bước sang giaiđoạn phát triển mới, phát triển cao hơn nữa Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ đượcký trong năm 1992 đã đề ra Chiến lược hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuậtgiữa Việt Nam và Lào Chiến lược này chính là cơ sở, là nền tảng để hai bên phối hợpxây dựng và quyết định các chương trình và dự án kế hoạch hợp tác cùng phát triển đếnnăm 2000
Trang 13Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT - LÀO TƯ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2018
Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh khôi phục kinh tế sau khủng hoảng tài tiền tệ châu Á năm 1997 và sự dịch chuyển đầu tư và trao đổi thương mại ở khu vực châuÁ - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, quan hệ hợp tác Việt - Làochuyển sang giai đoạn mới, chịu sự tác động trực tiếp của quá trình hội nhập quốc tế vàkhu vực mà trọng tâm là tự do hóa thương mại
chính-Việt Nam và Lào tuy đều là những thành viên mới của ASEAN6, tuy nhiên đã sớmnắm bắt được tình hình và thông qua ASEAN cả hai nước chủ động tham gia vào cácchương trình hợp tác Đông Á, đồng thời tích cực hưởng ứng các phương thức hợp tácASEAN+1, ASEAN+3,… trên cơ sở sự mở rộng của khu vực thương mại tự do ASEAN(AFTA), những nỗ lực của các nước ASEAN trong xây dựng Cộng đồng kể từ cuối 20157
Với những điều kiện mới của bối cảnh quốc tế và khu vực, Việt Nam và Lào có cơhội khai thác vị trí địa lý, tiềm năng và lợi thế của riêng mỗi nước nhằm bổ sung cho
nhau cùng phát triển vì vậy cả hai nước cùng ký Thỏa thuận chiến lược hợp tác kinh tế,
văn hóa, khoa học - kỹ thuật giai đoạn 2001-2010 và Sáu chương trình hợp tác trọng điểm giai đoạn 2006-2010 8
2.1 Trên lĩnh vực chính trị và dối ngoại
6 Tháng 7 năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN; hai năm sau (tháng 7 năm 1997), đến lượt Lào gia nhập chính thức tổ chức này.
7 Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27 tổ chức tại Kuala Lumpur ngày 22-11-2015 đã ra Tuyên bố chung về thành lập Cộng đồng ASEAN từ ngày 31-12-2015.
8 Sáu chương trình hợp tác trọng điểm giai đoạn 2006-2010 gồm: Chương trình 1: Hợp tác giáo dục - đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; Chương trình 2: Hợp tác phát triển bền vững vùng biên hai nước; Chương trình 3: Hợp tác thông tin, văn hóa, tư tưởng; Chương trình 4: Phát triển thương mại, đầu tư; Chương trình 5: Hợp tác kết nối mạng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, du lịch giữa hai nước; và Chương trình 6: Duy trì hoạt động và nâng cao năng lực các chương trình, dự án phục vụ hợp tác giữa hai nước.