Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, tất cả các quốc gia đều không tránh khỏi tác động bất lợi.. Có nhiều quan điểm: Suy thoái kinh tế là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội thực
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 2007-2010
đã ảnh hưởng tới hầu hết mọi nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vậy suy thoái kinh tế là gì? Nguyên nhân và tác động của hiện tượng này như thế nào? Chính sách thuế góp phần giảm thiểu suy thoái như thế nào? Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, tất cả các quốc gia đều không tránh khỏi tác động bất lợi Tuy nhiên các quốc gia khác nhau chịu tác động của khủng hoảng không đồng đều bởi độ mở khác nhau của các nền kinh tế Các quốc gia đã đưa ra các chính với những hướng đi riêng nhằm cải thiện tình hình kinh tế
Để hiểu rõ các vấn đề trên, cá nhân tôi đã tìm hiểu đề tài: “Chính sách thuế
và vấn đề chống suy thoái kinh tế”
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về suy thoái kinh tế
1.1.1 Suy thoái kinh tế là gì?
Có nhiều quan điểm:
Suy thoái kinh tế là sự suy giảm tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm định nghĩa này không được chấp định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi
Theo cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ: suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng Suy thoái kinh tế liên quan sự suy giảm đồng thời các chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái đi liền với giảm phát, hoặc lạm phát trong thời kì đình lạm Khi suy thoái trầm trọng và lâu dài thì gọi là khủng hoảng kinh tế
1.1.2 Nguyên nhân suy thoái kinh tế
Các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của:
Các yếu tố nội sinh theo chu kỳ: lạm phát bởi cung tiền tệ, quản lý tiền tệ yếu kém, cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị
sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát
Các cú sốc ngoại sinh như: giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn
1.1.3 Các kiểu suy thoái kinh tế
Phân loại theo hình dáng của đồ thị tăng trưởng theo quý, có các kiểu suy thoái sau:
Suy thoái hình chữ V (kiểu suy thoái thường thấy): có pha suy thoái ngắn, tốc độ suy thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đồi chiều giữa hai pha này rõ ràng
Trang 3Suy thoái hình chữ U (kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm): nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suy thoái Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, các quý tăng trưởng dương và âm xen kẽ nhau
Suy thoái hình chữ W (kiểu suy thoái liên tiếp) Nền kinh tế vừa thoát khỏi suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái
Suy thoái hình chữ L (suy thoái không lối thoát hay khủng hoảng kinh tế) Nền kinh tế rơi vào suy thoái nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái
1.1.4 Những tác động của suy thoái kinh tế
Thất nghiệp tăng
GDP thực tế giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng vì khi các doanh nghiệp sản xuất ít hàng hoá và dịch vụ hơn, họ sa thải bớt công nhân và số người thất nghiệp tăng Trong mỗi đợt suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên rất cao Khi suy thoái kết thúc
và sản lượng bắt đầu tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần biến động xung quanh tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên bằng khoảng 5 phần trăm
Biến động kinh tế bất thường và không thể dự báo
Biến động của nền kinh tế thường được gọi là “chu kỳ kinh doanh”, gắn liền với những thay đổi trong điều kiện kinh doanh Tuy nhiên, thuật ngữ “chu kỳ kinh doanh” có thể dẫn tới hiểu lầm, vì nó có vẻ hàm ý biến động kinh tế diễn ra theo quy luật, có thể dự báo được Trên thực tế, chu kỳ kinh doanh không hề có tính chất định kỳ và không thể dự báo với độ chính xác cao
Hầu hết các biến số kinh tế vĩ mô cùng biến động
Khi GDP giảm trong thời kỳ suy thoái, thì thu nhập cá nhân, lợi nhuận công ty, tiêu dùng, đầu tư, sản lượng công nghiệp, doanh số bán lẻ, quy mô mua bán nhà cửa và ô tô… cũng giảm Do suy thoái là một hiện tượng xảy ra trong toàn nền kinh tế, nên nó biểu thị trong nhiều số liệu vĩ mô khác nhau và mức độ biến động của các biến số vĩ mô cũng khác nhau Cụ thể, đầu tư biến động rất mạnh trong chu
kỳ kinh doanh Mặc dù đầu tư chỉ bằng khoảng một phần bảy GDP, nhưng sự suy giảm trong đầu tư đóng góp vào hai phần ba mức suy giảm GDP trong thời kỳ suy
Trang 4thoái Nói cách khác, khi các điều kiện kinh tế xấu đi, phần lớn mức suy giảm đều bắt nguồn từ sự giảm sút chi tiêu để xây dựng nhà máy, nhà ở và bổ sung thêm hàng tồn kho mới