- Do những bất lợi trên, khí cụ tháo lắp được sử dụng trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị, và sau đó thường được thay thế bằng khí cụ cố định.. Khí dụ tháo lắp thường được phân th
Trang 1KHÍ CỤ CHỈNH HÌNH RĂNG MẶT THÁO LẮP
MỤC TIÊU
1 Nêu được các điểm thuận lợi và bất lợi của khí cụ tháo lắp
2 Mô tả được một trong các khí cụ chức năng
3 Mô tả được các thành phần của khí cụ tháo lắp di chuyển răng
4 Trình bày được các chỉ định sử dụng khí cụ tháo lắp
1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ BẤT LỢI CỦA KHÍ CỤ THÁO LẮP
1.1 Thuận lợi
- Bệnh nhân có thể tự tháo ra theo ý muốn nên khí cụ dễ được đa số bệnh nhân chấp nhận
- Giảm thời gian làm trực tiếp ở trên ghế bệnh nhân trong giai đoạn đầu của điều trị, do khi cụ đã được hoàn tất trong labo
- Thích hợp với những điều trị dựa vào sự tăng trưởng của bệnh nhân 1.2 Bất lợi
- Kết quả điều trị hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ hợp tác của bệnh nhân, vì khí cụ chỉ có tác động khi bệnh nhân mang vào
- Không tạo ra được những chuyển động phức tạp của răng, nên khí cụ có chỉ định sử dụng hạn chế
- Do những bất lợi trên, khí cụ tháo lắp được sử dụng trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị, và sau đó thường được thay thế bằng khí cụ cố định
Khí dụ tháo lắp thường được phân thành hai loại: khí cụ chức năng làm thay đổi sự tăng trưởng của xương hàm và khí cụ tháo lắp làm di chuyển răng
- Khí cụ tháo lắp được chỉ định trong trường hợp:
- Thay đổi sự tăng trưởng của xương hàm trong thời kỳ răng hỗn hợp
- Di chuyển răng hạn chế (như làm nghiêng răng), đặc biệt trong trường hợp nới rộng cung răng hoặc sắp xếp một răng sai vị trí
- Duy trì kết quả sau điều trị toàn diện
2 KHÍ CỤ CHỨC NĂNG
Khí cụ chức năng là khí cụ làm thay đổi tư thế của hàm dưới, giữ hàm dưới
ở hướng mở hoặc mở và ra trước Áp lực tạo ra bởi sức căng của các cơ và mô mềm được truyền qua xương và răng, làm di chuyển răng và đổi sự tăng trưởng của xương hàm Khí cụ monobloc được phát triển bởi Robin vào đầu thập niên
1900 được xem là khí cụ đầu tiên của tất cả các khí cụ chức năng, nhưng khí cụ activator được phát triển bởi Andresen trong thập niên 1920 là khí cụ chức năng đầu tiên được sử dụng rộng rãi
2.1 Khí cụ chức năng tác động thụ động lên răng
Khí cụ chức năng tác động thụ động lên răng không có lò xo hay ốc nới rộng để tạo lực di chuyển răng Răng di chuyển là do sức căng của mô mềm và cơ truyền đến răng qua trung gian khí cụ
2.1.1 Khí cụ Activator
Trang 2Khí cụ Activator có nền nhựa hàm trên và nền nhựa hàm dưới liên kết với nhau (hình 11.1) Hàm dưới được giữ về phía trước và có độ mở vừa phải theo chiều đứng để điều trị sai khớp cắn hạng II Cung môi dùng kiểm soát các răng trước hàm trên Nền nhựa phủ bờ cắn các răng cửa hàm dưới để kiểm soát sự trồi
và nghiêng ngoài của các răng này Các mặt nhựa hướng dẫn các răng cối trồi và
di gần/ xa Mặt nhựa phía lưỡi là cơ chế chủ yếu giữ hàm dưới về phía trước để đạt tương quan hạng I
Hình 1: khí cụ Monoblock
2.1.2 Khí cụ Bionator
Khí cụ bionator có hình dạng tương tự activator nhưng gọn hơn Nền nhựa hàm trên tiếp xúc các răng sau và không tiếp xúc các răng dưới Cung môi với phần bù trừ được kéo dài đến vùng răng sau nhằm chống lại lực từ các cơ má ngăn cản việc nới rộng cung răng Thanh ngang khẩu cái có tác dụng hướng dẫn lưỡi và đưa hàm dưới về tương quan hạng I
Hình 2: Khí cụ bionator 2.1.3 Khí cụ Herbst
Là khí cụ chức năng cố định hoặc tháo lắp Thành phần chính của khí cụ gồm hai hệ thống ống pít tông lồng vào nhau được gắn vào răng qua trung gian khâu (trong khí cụ cố định) hoặc hai máng nhựa ở hàm trên và hàm dưới (trong khí cụ tháo lắp) Hai hệ thống ống pít-tông ở bên phải và trái giữ hàm dưới ở về phái trước để điều trị sai khớp cắn hạng II
Trang 3Hình 3: Khí cụ Herbst 2.1.4 Khí cụ Twin Block
Khí cụ Twin Block gồm hai nền nhựa hàm trên và hàm dưới riêng rẽ, có bờ nhựa nghiên để hướng dẫn hàm dưới ở về phía trước khi bệnh nhân ngậm miệng (hình 11.4)
Hình 4: Khí cụ Twin Block 2.2 Khí cụ chức năng tác động chủ động lên răng
Phần lớn là những biến đổi của khí cụ activator và bionator có gắn thêm ốc nới rộng hay lò xo để di chuyển răng Trong điều trị sai khớp cắn hạng II, hầu như cần sự nới rộng cung răng trên theo chiều ngang để tránh tình trạng cắn chéo răng sau khi hàm dưới được đưa ra trước
Việc sử dụng lò xo và ốc nới rộng để nới rộng theo chiều ngang trong trường hợp răng chen chúc có thể đưa đến kết quả không ổn định, do đó cần sử dụng cẩn thận
Trang 4Hình 5:
2.3 Khí cụ tác động lên mô mềm:
Khí cụ điều hòa chức năng Frankel là khí cụ chức năng tác động lên mô mềm Các thành phần của khí cụ Frankel nằm chủ yếu ở vùng hành lang miệng Cánh nhựa ở mặt má và miếng nhựa ở mặt môi giữ các cơ vùng môi má không chạm vào răng và mô nướu, nên làm giảm sức căng của mô mềm lên răng Sự mở khớp cắn theo chiều đứng thường ít hơn khi so với các khí cụ chức năng khác Khí
cụ có vẻ cồng kềnh nhưng phần lớn nằm ở vùng hành lang miệng nên ít ảnh hưởng đến việc phát âm
Hình 6: Khí cụ điều hòa chức năng Frankel
3 KHÍ CỤ THÁO LẮP DI CHUYỂN RĂNG
3.1 Chỉ định
- Nới rộng cung răng
- Sắp xếp từng răng riêng rẽ trong một cung răng
3.2 Thành phần
3.2.1 Nền nhựa
- Giữ vững khí cụ trong miệng
- Giữ khoảng trong thời kỳ răng hỗn hợp
- Nâng cao khớp cắn
3.2.2 Thành phần tạo lực
Trang 53.2.2.1 Ốc nới rộng
Khí cụ nới rộng cung răng theo chiều ngang được chỉ định trong trường hợp hẹp cung răng trên với khuynh hướng cắn chéo răng sau Do chỉ làm nghiêng các răng sau ra phía má nên khí cụ không được sử dụng trong các trường hợp cắn chéo do hẹp xương hàm trên
Hình 7: ốc nới rộng 3.2.2.2 Lò xo
Lò xo dùng kéo khít khe hở, làm nghiêng răng, xoay răng
Lò xo của khí cụ tháo lắp có thể tạo ra lực nhẹ và liên tục Tuy nhiên, giống như bờ của nền nhựa, các lò xo chỉ chạm mặt răng ở một điểm, nên chúng chỉ được dùng trong chuyển động nghiêng răng Nếu thân răng cần được di chuyển hơn 3-4 mm, thì chân răng phải được kiểm soát
Khí cụ tháo lắp còn được dùng ép các răng cửa chìa ra trước bằng cung môi như khí cụ Hawley, được mô tả bởi Charles Hawle vào thập niên 1920 Khí cụ Hawley còn được dùng làm khí cụ duy trì sau điều trị CHRM toàn diện
Hình 8: khí cụ Hawley
Lò xo di chuyển một răng
Khi dùng lò xo đẩy răng về phía ngoài trong, hay gần-xa trên cung răng, cần chú ý hai nguyên tắc sau:
1) Hình dạng lò xo phải đảm bảo độ đàn hồi cần thiết làm răng di chuyển trong khi vẫn duy trì tính rắn chắc của vật liệu Do đó,
Trang 6thường vẫn phải uốn cong dây hoặc bẻ thêm những vòng để tăng chiều dài lò xo
2) Lò xo cần có phần hướng dẫn để chỉ tạo lực ở hướng thích hợp
Hình 9: lò xo dùng trong khí cụ tháo lắp 3.2.3 Móc
Móc là thành phần có tính quyết định nhất cho hiệu quả điều trị của khí cụ tháo lắp, vì lò xo dù cho có hình dạng lý tưởng vẫn không thể hoạt động được nếu khí cụ không được giữ chắc trong miệng
3.2.3.1 Móc Adams
Đây là móc thông dụng nhất cho khí cụ tháo lắp hiện nay (hình 11.10) Móc này được cải tiến từ móc hình mũi tên của Schwartz, bám vào vùng lẹm ở góc ngoài gần và ngoài xa của răng sau Ưu điểm nổi bật so với móc Schwartz là móc Adams không có khuynh hướng làm răng thưa ra, và có tính bám giữ tốt Móc Adams cần được điều chỉnh trên lâm sàng trong lần đầu gắn khí cụ và trong những lần tái khám sau để làm tăng sức bám giữ Móc được làm bằng dây 0.7 mm
Hình 10: Móc Adams
Trang 73.2.3.2 Móc vòng
Móc kéo dài đến vùng lẹm ngoài gần của răng mang móc Móc thường dùng cho răng cối lớn thức hai hoặc răng nanh Móc vòng ít làm cộm khớp cắn so với móc Adams, nhưng bám giữ yếu Móc này thường được chỉ định làm móc hỗ trợ cho móc Adams hoặc dùng cho khí cụ duy trì
Hình 11: Móc vòng 3.2.3.3 Móc có đầu hình cầu
Giống như móc Adams, móc này đi qua điểm tiếp xúc giữa hai răng và bám vào vùng lẹm ở mặt ngoài Móc này dễ làm, nhưng tương đối cứng và không thể bám
sâu vào vùng lẹm như móc Adams Móc này có chỉ định hạn chế
Hình 12: móc có đầu hình cầu 3.2.3.3 Móc ở mặt trong kẽ răng
Trên lý thuyết, nếu nằm len vào vùng kẽ răng ở mặt trong, móc sẽ có tính bám giữ nhưng trên thực tế loại móc này khó sử dụng Móc có ưu điểm là không gây cộm mặt nhai nhưng lại có nhiều nhược điểm: rất có hoặc không thể điều chỉnh, dễ gãy, có thể gây tổn thương nướu, và có thể làm hai răng thưa ra Do đó, móc này chỉ có thể dùng trong khí cụ duy trì, được làm bằng dây nhỏ (0.4mm) và đặt ở kẽ răng cối nhỏ thứ hai và răng cối lớn thức nhất
5 KẾT LUẬN
Trong ngành chỉnh hình răng mặt hiện nay trên thế giới, khí cụ tháo lắp rất
ít được chỉ định cho một điều trị toàn diện Đối với những bệnh nhân có nhu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt, bác sĩ đa khoa răng hàm mặt cần lưu ý những điểm sau:
- Phải có một chẩn đoán đúng đắn về những lệch lạc của khớp cắn
Trang 8- Biết yêu cầu của bệnh nhân (bệnh nhân muốn sửa đổi hàm răng như thế nào)Tham khảo ý kiến bác sĩ chỉnh hình răng mặt
- Giải thích cho bệnh nhân về các khả năng điều trị khác nhau
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
• Bộ môn CHRM, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh: Chỉnh hình răng mặt, sách giáo khoa Nhà xuất bản Y học, 2004
• Muller Louis: Cephalometrie et orthodontie SNPMD editeur Paris 1983
• Jacobson Alexander : Radiographic cephalometry From basics to videomaging Quintessence Publishing Co Inc IL 1995
• Contemporary orthodontics, third edition St Louis, Mosby, Inc 2000