1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khoá luận tốt nghiệp không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết tường thành của võ thị xuân hà

56 93 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 446,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, nghiên cứu không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học không chỉ giúp người đọc thấy được cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn cho thấy chủ đề tư tưởng của tác phẩm, phong cách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐINH PHƯƠNG THẢO

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT TƯỜNG THÀNH

CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐINH PHƯƠNG THẢO

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT TƯỜNG THÀNH

CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn:

TS Nguyễn Thị Kiều Anh

Trang 3

Lời cảm ơn

Sau thời gian nghiên cứu và làm việc nghiêm túc, khóa luận của em đã hoàn thành.

Với tất cả tình cảm chân thành của mình, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy giáo, cô giáo trong khoa và trong tổ Lí luận văn học.

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo, TS Nguyễn Thị Kiều Anh - người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Em xin chân thành cảm ơn cô!

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em còn nhận được sự giúp đỡ của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tạo điều kiện cung cấp cho em những tài liệu hết sức cần thiết Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó!

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới người thân và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận này.

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Không gian nghệ thuật

trong tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà” là công trình nghiên

cứu của riêng em Các tài liệu và nhận định, kết luận trong khóa luận này trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019

Người thực hiện

Đinh Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Bố cục của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ 8

1.1 Quan niệm chung về không gian nghệ thuật 8

1.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 8

1.1.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật 9

1.1.3 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 10

1.2 Hành trình sáng tác của Võ Thị Xuân Hà 12

1.2.1 Đôi nét về tiểu sử và sự nghiệp của nhà văn 12

1.2.2 Tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà 16

CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT TƯỜNG THÀNH CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ 20

2.1 Không gian bối cảnh 20

2.1.1 Bối cảnh xã hội 20

2.1.1.1 Không gian xóm liều - nơi trú ngụ của những mảnh đời cơ cực 20

2.1.1.2 Thế giới phố phường phồn hoa, lung linh - không gian của giới tri thức 27

2.1.2 Bối cảnh tâm trạng 32

2.2 Không gian tâm lí qua những dòng hồi tưởng của nhân vật 38

2.3 Không gian huyền thoại gắn với chiếc thềm đá xóm liều 40

2.4 Không gian sự kiện 42

KẾT LUẬN 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Không gian là phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của vật chất Cũng như tất cả các sự vật hiện tượng khác, mọi hành vi, hoạt động, sự kiện của con người đều được thực hiện trong không gian Mặt khác, văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh hiện thực cuộc sống của con người Vì vậy, bất

kì tác phẩm văn học nào cũng đều không tách rời khỏi yếu tố không gian Cùng với thời gian, không gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là phương diện quan trọng của thi pháp văn học Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp không gian nghệ thuật luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều người trong quá trình nghiên cứu

Nếu hiểu văn chương là cảm nhận về thế giới và con người thì không gian nghệ thuật là hình thức để con người cảm thụ về thế giới và bản thân

“Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan… Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí.” [6; 160] Trong tác phẩm văn học, không gian nghệ thuật mang tính địa điểm để mô hình hóa các phạm trù thời gian Đồng thời, không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở để mô hình hóa tính cách của nhân vật cụ thể hoặc không mang tính cản trở để thể hiện ước mơ, nguyện vọng của con người như trong cổ tích Đặc điểm của không gian nghệ thuật được biểu hiện qua hệ thống ngôn ngữ phong phú, đa dạng Cho nên, nghiên cứu không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học không chỉ giúp người đọc thấy được cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn cho thấy chủ đề tư tưởng của tác phẩm, phong cách nghệ thuật và chiều sâu cảm thụ cũng như quan niệm nhân sinh

của nhà văn hay cả cả một giai đoạn văn học Khrapchenco trong cuốn Cá

tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học cho rằng: Một trong

các dấu hiệu biểu hiện phong cách nghệ thuật nhà văn là cách tổ chức, xây dựng không gian nghệ thuật trong tác phẩm

Trong dòng chảy không ngừng của văn học từ cổ chí kim, không gian

Trang 7

nghệ thuật mang những đặc trưng riêng làm nên dấu ấn thời đại trong không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật trong văn học đương đại có sự thay đổi so với không gian nghệ thuật trong văn học truyền thống, thể hiện qua phương thức được biểu đạt Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo huyền bí với mô hình không gian ba giới, ba tầng, ba cõi Đến văn học Trung đại, không gian nghệ thuật mang tính rộng lớn bất biến của kiểu không gian vũ trụ, sau đó không gian được trở về gần hơn với cuộc sống của con người, đó là kiểu không gian trần tục hóa, không gian thế tục hóa Chỉ đến văn học đương đại, không gian nghệ thuật mới thực

sự gần gũi với cuộc sống của cá nhân con người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống đầy nhọc nhằn vất vả, không gian nghệ thuật được cá thể hóa

Trong các thể loại văn học, tiểu thuyết được xem là thể loại có vị trí hàng đầu trong mỗi nền văn học và luôn có sự biến chuyển không ngừng theo vận động của hiện thực khách quan Chính vì thế từng thành tố của nó, trong

đó có không gian nghệ thuật, cũng luôn tiềm tàng khả năng cách tân Với khát khao mãnh liệt cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, nhiều nhà văn trên thế giới đã

có những sáng tạo mới về cách xử lí không gian Tuy muộn hơn so với sự phát triển cùa văn học thế giới song văn học Việt Nam cũng đã khẳng định sự cách tân trong thể loại tiểu thuyết qua các sáng tác của một số cây bút giai đoạn văn học cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI

Võ Thị Xuân Hà là một trong những cây bút nữ được chú ý hiện nay với sức viết dồi dào và không ngửng đổi mới Chị là nhà văn sông nước, thuộc thế hệ sinh ra trong thời bao cấp nhưng đã trưởng thành ở thời mở cửa

Võ Thị Xuân Hà đã thành danh từ những năm 90, với những truyện ngắn mang một phong cách riêng với những mô tả hiện thực tinh tế, với những biến

cố tưởng như đột ngột xảy đến nhưng thực ra đã được gián tiếp gợi từ trước Với tác giả, viết là một ám ảnh khôn nguôi, đưa đẩy đến một số phận, chỉ

muốn tỉnh thức để nhận diện chính mình Tường thành - cuốn tiểu thuyết của

Xuân Hà viết về Hà Nội trong giai đoạn thành phố này sau khi thoát khỏi chế

độ bao cấp, hối hả lao mình vào thời kì đổi mới chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật rõ nét, đồng

Trang 8

thời mang những giá trị hiện thực sâu sắc Với mong muốn làm giàu thêm tri thức lí luận văn học cho bản thân và đóng góp một hướng tiếp cận về tác

phẩm, người viết lựa chọn đề tài “Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết

Tường thành của Võ Thị Xuân Hà”.

Trong thời cổ đại và trung đại, triết học Hi Lạp chưa có khái niệm không gian Đến thời hiện đại, nhà sử học và triết gia lịch sử người Đức Oswald Arnold Gottfried Spengler (1880-1936), là người đầu tiên nêu ra

phạm trù không gian trong cuốn Sự suy tàn của phương Tây (Der Untergang

des Andlandes) xuất bản năm 1918 Trong tác phẩm, ông khẳng định không gian thay đổi theo văn hóa Nhà triết học người Nga Pavel Alexandrovich Florensky (1882-1937) đã phân tích không gian trong nghệ thuật Phục hưng chỉ ra sự đối lập giữa không gian nghệ thuật với không gian địa lí và không gian vật lí Trong khi đó, triết gia người Đức Martin Heidegger (1889-1976) cho rằng không gian vật lí là nền tảng của không gian nghệ thuật

Những năm 40 của thế kỉ XX, nhà triết học Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) đã đề ra khái niệm “thời - không gian” (Khronotov) bắt nguồn từ khái niệm “thời - không gian” tương đối trong sinh học của Ukhtomski Khái niệm của M Bakhtin mở đầu cho nghiên cứu không gian trong văn học

Ở thế kỉ XX, vấn đề không gian nghệ thuật trong văn học nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu Song, đến nay, đề tài không gian nghệ thuật vẫn chưa đồng nhất về mặt lí luận chuyên sâu

Trang 9

Qua việc khảo sát sơ lược về tình hình nghiên cứu không gian nghệ thuật ở Việt Nam, tôi nhận thấy đây là vấn đề đang ngày càng được đào sâu, ngày càng phát huy được hiệu quả trong vai trò một hướng tiếp cận mới về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Trước tiên phải kể đến những đóng góp lớn của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử về thi pháp học và lí luận, ông đi sâu vào yếu tố không gian nghệ

thuật trên cơ sở tiếp thu lí thuyết tự sự học Trong cuốn Dẫn luận thi pháp

học văn học, Trần Đình Sử khẳng định: “Không gian trong văn học là một

hiện tượng nghệ thuật” và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thể hiện sự cảm nhận không gian của con người, có chức năng biểu nghĩa và có giá trị thẩm mĩ.” [11; tr 127] Bên cạnh đó Trần Đình Sử có thêm những công trình nghiên cứu khác về không gian nghệ thuật: “Từ điển thuật ngữ văn học”, “Một số vấn đề thi pháp học hiện đại”, “Thi pháp văn học Trung đại”, “Thi pháp truyện Kiều”, “Thi pháp thơ Tố Hữu”… Phương Lựu

trong cuốn Lí luận văn học đưa ra những đặc điểm và biểu hiện riêng của

từng loại không gian nghệ thuật, nhưng do không gian nghệ thuật chỉ là một mảng nhỏ trong đặc trưng nghệ thuật ngôn từ nên nhà nghiên cứu không đi

sâu trình bày chi tiết Trong Lí luận văn học - vấn đề và suy ngẫm của

Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương, hai nhà nghiên cứu đã đi vào làm

rõ một số đặc điểm của không gian nghệ thuật, trong đó có không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, có thể là không gian mở hay không gian khép, là không gian tĩnh hay không gian động Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác, các luận án, luận văn, các bài nghiên cứu trên các tạp chí nghiên cứu vấn đề không gian nghệ thuật trên bình diện lí luận chung hoặc gắn với các tác phẩm cụ thể

Võ Thị Xuân Hà được người đọc biết đến với tư cách là một nhà văn

mới nổi trong lĩnh vực tiểu thuyết Cuốn tiểu thuyết Tường thành (Nhà xuất

bản Hội Nhà văn ấn hành 2004) của Võ Thị Xuân Hà đã gây được sự chú ý và tạo ấn tượng mạnh trong lòng độc giả Đây cũng là tác phẩm tham dự cuộc thi tiểu thuyết và được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2002 - 2004

Trang 10

Bàn luận và đánh giá về cuốn tiểu thuyết này, có khá nhiều ý kiến khác nhau của bạn đọc cũng như giới nghiên cứu, trong đó có thể kể đến như: bài viết “Tường thành” - Thế giới đa diện của những người làm báo” trên trang web vnexpress.net, 20/09/2005, nhận xét về các tuyến nhân vật trong tác phẩm qua góc nhìn của nghề báo; “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 - Dấu ấn đổi mới qua đề tài, chủ đề và phương thức thể hiện” trên trang web

khoavanhue.husc.edu.vn, 2017, Nguyễn Thành có nhắc đến tác phẩm Tường

thành của Võ Thị Xuân Hà là một trong những cuốn tiểu thuyết viết về cuộc

sống con người với sự ảnh hưởng của công cuộc đô thị hóa của nước Việt lần thứ nhất diễn ra cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20; Luận văn thạc sĩ “Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà” của Dương Mai Liên, 2014, Đại học

Đà Nẵng nghiên cứu về vị trí, vai trò của giới nữ trong xã hội nhìn từ phương diện đề tài, nhân vật và phương thức biểu hiện, trong đó có sử dụng tiểu

thuyết Tường thành như là một trong các dẫn chứng

Tuy nhiên, những công trình trên hầu như chỉ mang tính chất điểm sách hoặc đề cập đến một phương diện nào đó của văn xuôi đương đại nước ta mà nhắc tới tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà Vấn đề không gian nghệ thuật trong

tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà hầu như chưa được đề cập trực tiếp và đi sâu nghiên cứu Ở đề tài này, tác giả đã khảo sát tiểu thuyết Tường

thành trên góc độ không gian nghệ thuật để đánh giá sự đổi mới trong tư duy

và quan niệm nghệ thuật của nhà văn

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là không gian nghệ thuật trong

tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà (Nhà xuất bản Hội nhà văn -

tái bản 2006)

- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung khảo sát, nghiên cứu cuốn

tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà (Nhà xuất bản Hội nhà văn -

tái bản 2006)

Trang 11

4 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận làm rõ những đặc điểm, các tổ chức không gian nghệ thuật

trong tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà để từ đó thấy được nét

đặc sắc, sự cách tân độc đáo và những đóng góp của tác giả với nền văn học Việt Nam đương đại, đồng thời chỉ ra hiệu quả nghệ thuật của các kiểu loại không gian trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài khóa luận, người viết hướng đến những nhiệm vụ cơ bản như sau:

- Tìm hiểu khái niệm không gian nghệ thuật

- Phân tích không gian nghệ thuật, các kiểu không gian nghệ thuật

trong tác phẩm Tường thành của Võ Thị Xuân Hà.

- So sánh với một số tác phẩm khác dựa trên những nét tương đồng để thấy được sự độc đáo, mới lạ của Võ Thị Xuân Hà trong việc xây dựng không gian nghệ thuật

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, tác giả khóa luận

sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành văn học khác nhau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp khảo sát - thống kê

Trang 12

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận được triển khai gồm có hai chương:

- Chương 1: Quan niệm chung về không gian nghệ thuật và hành trình sáng tác của Võ Thị Xuân Hà

- Chương 2: Các kiểu không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Tường

thành của Võ Thị Xuân Hà.

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ

1.1 Quan niệm chung về không gian nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Không gian là môi trường tồn tại của con người, đó là dòng sông, ngọn núi, con đèo, là cánh đồng, bầu trời, biển cả,… Từ những không gian đó, nhà văn xây dựng, tạo hình các nhân vật, triển khai các hoạt động, sự kiện, biến cố của nhân vật… Không gian trong văn học là không gian nghệ thuật Đó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Do đó, không thể đồng nhất không gian nghệ thuật với không gian địa lí hay không gian vật chất giản đơn

Không gian nghệ thuật (tiếng Nga: khudojestvennoe prostranstvo) theo

cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, là “hình

thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [6;

tr 160] Trần Đình Sử cũng lí giải: Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng với thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật ấy là mô hình nghệ thuật

về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận của mình trong đó Trong tác phẩm văn học, các sự vật được miêu tả như con đường, dòng sông, ngôi nhà… chỉ được xem là không gian nghệ thuật trong chừng mực chúng biểu hiện mô hình thế giới của tác giả Chẳng hạn “đèo Ngang” trong không gian địa lí là địa danh nằm trên dãy núi Hoành Sơn, được coi là phân giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình Dưới góc nhìn của

bà Huyện Thanh Quan trong bài thơ “Qua đèo Ngang”, nó trở thành phân giới của triều đại cũ và mới, mà việc bước qua xứ đó có một ý nghĩa đạo đức, chính trị quan trọng với con người Nếu mọi vật trong thế giới tự nhiên đều tồn tại trong không gian ba chiều: chiều cao, chiều rộng, chiều xa và chiều thời gian thì trong văn học, bất cứ hình tượng nghệ thuật nào cũng được xây dựng trong không gian, bất cứ nhân vật nào cũng được khắc họa trên một nền

Trang 14

cảnh nhất định Không gian nghệ thuật vừa là sản phẩm sáng tạo, vừa là nơi

để người nghệ sĩ thể hiện tài năng xây dựng nhân vật, qua đó trở thành phương thức biểu hiện quan điểm nhân sinh quan và thế giới quan của nhà văn

1.1.2 Đặc điểm của không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật không phải ngẫu nhiên như đời sống mà do nghệ sĩ chọn để thể hiện ý đồ nghệ thuật Nói cách khác, không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể Sự tồn tại khách quan của không gian vật chất không phụ thuộc vào ý thức của con người, không gian vật chất chỉ trở thành không gian nghệ thuật khi được nghệ

sĩ cảm nhận về nó và qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh, một thái độ sống của nhà văn trước cuộc đời Đó có thể là những không gian rộng lớn để

thể hiện ý chí, khát vọng lớn lao của con người như trong tác phẩm Ông già

và biển cả hay các bài thơ về lãnh tụ Hồ Chí Minh của Tố Hữu…, cũng có thể

là những không gian nhỏ hẹp khi diễn tả sự tù túng ngột ngạt hoặc những tâm hồn nghèo nàn, sống mòn, không ước mơ… Nói cách khác, tùy theo cái nhìn nghệ thuật của tác giả mà không gian nghệ thuật có thể mở rộng bao la hay thu hẹp chật chội Đồng thời, không gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật sinh động chứ không khô cứng Nó không đơn giản chỉ là nhận thức bằng tư duy tỉnh táo mà nó còn được cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc tâm trạng của nhà văn

Nếu như trong điêu khắc cũng như hội họa, không gian được người nghệ sĩ miêu tả là không gian tĩnh, thì không gian nghệ thuật là không gian động Nhà họa sĩ chỉ có thể chọn cho mình những không gian nhất định để hoàn thành bức tranh của mình, không thể cùng lúc di chuyển nhiều không gian còn không gian trong văn học là không gian có sự vận động, biến đổi Con mắt của nhà văn có thể dễ dàng đưa người đọc di chuyển từ không gian này sang không gian khác Mặt khác, không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học cũng có ranh giới, song ranh giới đó không dễ nhận thấy như khung

Trang 15

của một bức tranh hay sân khấu của một vở diễn Ranh giới của không gian nghệ thuật chỉ mờ nhạt mong manh như “sợi tóc” (chữ của Thạch Lam).

Không gian nghệ thuật trong văn học mang tính ước lệ tượng trưng và quan niệm rõ nét Tính quan niệm này xuất phát từ nguyên tắc mô phỏng thiên nhiên trong hội họa Hội họa truyền thống phương Tây thực hiện luật

“thấu thị”, nghĩa là nhìn sự vật theo tỉ lệ xa - gần, sáng - tối, đậm - nhạt, vì thế

mà giống thật Còn hội họa truyền thống phương Đông lại sử dụng luật “thấu cảm”, tức là dựa vào hình dung, suy nghĩ để tạo ra các không gian trừu tượng,

âm dương hư thực xen nhau Vì vậy, trong văn học cổ, con người nhìn không gian theo cách hiểu chứ không theo cái nhìn thấy Tất cả các cặp đối lập không gian trong thế giới: cao - thấp, lớn - bé, rộng - hẹp, trước - sau, thẳng - cong, trái - phải, khép kín - mở ra,… được sử dụng trong văn học đều có nội hàm tư tưởng - đạo đức nhất định, góp phần thể hiện quan niệm, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Có rất nhiều hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng được

sử dụng trong văn học, tuy nhiên tùy theo cái nhìn, điểm quan sát của tác giả

mà không gian nghệ thuật cũng rất phong phú Chẳng hạn trong ca dao, dưới cái nhìn bình dị của người dân, những không gian thường trở đi trở lại cũng là những khung cảnh gần gũi, thân thuộc, đời thường như cây đa, giếng nước, sân đình… Không gian nghệ thuật trong văn chương trung đại lại thường gắn với quan niệm bác học, mang ý nghĩa biểu trưng cho môi trường thanh sạch, nhàn nhã, xa lánh bụi trần như mây hà hạc nội, vũ trụ xa vời… Dưới góc nhìn

bế tắc và khát khao tìm tòi vượt thoát đời sống thường tục của thi nhân, không gian trong Thơ mới thường xuyên bắt gặp là những cảnh thiên thai, chốn bồng lai tiên cảnh… Trong văn học hiện thực, để lột tả những kiếp người nghèo khổ, cuộc sống quẩn quanh, tù túng, bế tắc và buồn tẻ, không gian nghệ thuật thường nhỏ hẹp, tiêu điều, xơ xác Đến với văn học cách mạng, các tác giả lại thường lựa chọn những không gian nghệ thuật rộng lớn, tươi sáng để thể hiện cho những niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tốt đẹp, trong đó, không gian con đường có một vị trí quan trọng Có thể nói, chính sự lặp lại của hình thức không gian đã tạo thành tính loại hình của không gian nghệ thuật Tìm hiểu không gian nghệ thuật trong một tác phẩm văn học, ta không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nhà văn miêu tả không gian gì, như thế nào mà còn phải tìm

Trang 16

hiểu qua không gian ấy nhà văn muốn thể hiện quan niệm gì về cuộc đời và con người.

1.1.3 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết

Không gian nghệ thuật có sự vận động, đổi thay, có những chuyển biến rất rõ rệt theo sự thay đổi trong quan niệm, cái nhìn về xã hội, về cá nhân hay hoạt động của con người Trong phạm vi của khóa luận, tác giả tập trung làm

rõ trên phương diện lí luận văn học một số loại không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết như sau:

1.1.3.1 Không gian bối cảnh

Không gian bối cảnh là môi trường hoạt động của nhân vật, có thể là một địa điểm có tên hoặc không có tên, ở đó có các đặc điểm: thiên nhiên, xã hội, con người Đó là điều kiện để mọi sự kiện và mọi hoạt động của nhân vật được diễn ra

Bối cảnh thiên nhiên gồm các hiện tượng thiên nhiên: đất, trời, mây, gió, núi, sông, cây cỏ… tạo nên những khung cảnh phong phú, đổi thay theo các mùa ở các nơi khác nhau Thiên nhiên một mặt gắn với những hoạt động của nhân vật, và mặt khác lại gắn với tâm trạng người kể, tạo cảm hứng cho người kể và người đọc Bối cảnh thiên nhiên phù hợp với những nhân vật lãng mạn, tâm hồn lãng mạn Bối cảnh thiên nhiên có “ngôn ngữ riêng”, dự báo một nhân vật xuất hiện, hoặc sự kiện sắp xuất hiện

Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống của những tầng lớp người và cá nhân này với cá nhân khác, thế hệ này với thế hệ khác

Bối cảnh tâm trạng là trạng thái tâm trạng của nhân vật Bối cảnh tâm trạng là cơ sở để nhà văn sáng tạo ra những bối cảnh thiên nhiên hoặc bối cảnh xã hội phù hợp Vì vậy, không gian nghệ thuật khúc xạ qua tâm trạng sẽ mang đậm tính chủ quan

1.1.3.2 Không gian sự kiện

Trang 17

Không gian sự kiện là những sự kiện xảy ra tác động đến các nhân vật, tạo ra các sự kiện khác theo quan hệ nhân quả và tạo thành chuỗi sự kiện Trong tác phẩm văn học, các tác giả sáng tạo ra sự kiện để nhân vật bộc lộ tính cách và tâm trạng Không gian sự kiện được tính bằng mốc sự kiện, đồng thời là mốc thời gian kể, nên cũng rất quan trọng với người đọc truyện Nó làm nên sự mạch lạc của truyện và môi trường sống của nhân vật.

1.1.3.3 Không gian tâm lí

Không gian tâm lí xuất hiện bên trong nhân vật, trong thế giới nội tâm của người kể chuyện Nó thường là những dòng hồi ức, những giấc mơ, mơ ước, những ẩn ức… thậm chí nhân vật không nói ra được

Giữa không gian bối cảnh và không gian tâm lí thường có mối quan hệ gắn bó với nhau Chính vì mối quan hệ mật thiết đó, nên nhiều người đã ghép không gian tâm lí với không gian bối cảnh, và gọi đó là không gian tâm cảnh

1.2 Hành trình sáng tác của Võ Thị Xuân Hà

1.2.1 Đôi nét về tiểu sử và sự nghiệp của nhà văn

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà tên thật là Võ Xuân Hà, sinh ngày 20/04/1959 tại Vĩ Dạ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Bà lớn lên, sống

và làm việc chủ yếu ở thành phố Hà Nội Bà tốt nghiệp khoa Toán - Lí trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, sau đó bà lại xuôi vào Huế, trở thành giáo viên dạy Toán cấp hai từ năm 1978 đến 1988 Khi đang là cô giáo dạy Toán với nhiều thành tích rực rỡ, cô giáo trẻ Võ Thị Xuân Hà lại một mực xin đi học đại học, mà “ngược đời” lại là đi học ngành Ngữ văn, một quyết định đầy táo bạo, khiến nhiều người thân và bạn bè của bà không khỏi bất ngờ Ngay sau khi tốt nghiệp khoa Văn của trường Đại học Tổng hợp, bà tiếp tục đưa ra một quyết định táo bạo khác, đó là thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du Từ năm

1989 - 1992, bà theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và sớm được làng văn chú ý khi tốt nghiệp thủ khoa khóa IV

Trang 18

Sau đó, bà đến với nghề báo, lăn lộn qua đủ các cơ quan báo chí, các nhà xuất bản, các toà soạn, trải nghiệm đủ các vị trí từ phóng viên đến tổng biên tập báo Bà từng công tác tại Tạp chí Vì Trẻ Thơ (1993 - 1994), Báo Thiếu Niên Tiền Phong (1994 - 1995), Báo Điện Ảnh Kịch Trường (1995 - 2000), Nhà xuất bản Văn học (2000 - 2001) Bà là Ủy viên Ban chấp hành - Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII (2010 - 2015), nguyên Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam Bà được coi là một trong những thủ lĩnh của những người viết trẻ Việt Nam với nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực, như tổ chức sân thơ trẻ, tổ chức đi thực tế cho các tác giả trẻ, tổ chức giới thiệu tác giả - tác phẩm, các buổi giao lưu, kết nối với các nhà văn trẻ nhân các chuyến công tác về địa phương… Cũng có thời gian, bà buông bỏ tất

cả để mở quán cà phê và viết sách Qua tiểu sử của Võ Thị Xuân Hà, có thể thấy, con đường đến với nghiệp văn chương của bà không phải là một đường thẳng, nó trải qua nhiều khúc cua, nhiều bước ngoặt “Xa lộ chữ” đón chào

Võ Thị Xuân Hà như một con người quả cảm, kiên định, mãnh liệt và đầy màu sắc

Võ Thị Xuân Hà bước vào nghề viết văn với tập truyện ngắn đầu tay

Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào (Nhà xuất bản Văn học 1992) và đã khẳng định

được mình là một cây bút nữ tài năng của văn xuôi Việt Nam đương đại, bước chân vào hàng ngũ thế hệ nhà văn nữ sau 1975 hùng hậu với nhiều màu sắc và thành tựu cho văn học Việt cùng với những cái tên như Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Lý Lan, Quế Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh… Với ý thức cao về vai trò, trách nhiệm của người cầm bút cùng bản lĩnh, nghị lực, vốn kiến thức sâu rộng cộng với tài năng thiên phú, Võ Thị Xuân Hà đã có thêm nhiều tác phẩm xuất sắc Đến nay, bà đã có hơn 20 đầu sách của riêng mình, ở đủ các thể loại khác nhau, từ truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút ký - ghi chép, khảo cứu, rồi sáng tác cho thiếu nhi, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, kịch bản phim truyền hình Tài năng thiên bẩm và sự nỗ lực cống hiến không ngừng nghỉ trong hành trình sáng tác văn chương của bà đã được ghi nhận với nhiều

giải thưởng: Tặng thưởng Cuộc thi Truyện viết cho thiếu nhi với tập Chiếc

Trang 19

hộp gia bảo do Nhà xuất bản Kim Đồng trao tặng năm 1996, giải thưởng sách

hay của Nhà xuất bản Hội nhà văn cho tập Kẻ đối đầu năm 1998, giải nhất truyện ngắn Bạn rừng do báo Thiếu niên Tiền phong trao tặng năm 2001, giải

B Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập Truyện ngắn Võ

Thị Xuân Hà năm 2003, giải Khuyến khích cho tiểu thuyết Tường thành do

Hội Nhà văn trao tặng năm 2005, giải Nhất truyện ngắn Mặt trời ở lại cuộc

thi Viết về Người chiến sĩ công an Thủ đô, vì Tổ quốc bình yên, vì nhân dân phục vụ năm 2010 Ngoài ra, bà còn có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu khác đã

xuất bản như: Bầy hươu nhảy múa (Nhà xuất bản Văn học, năm 1994), Cổ

tích tuổi học trò (Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1994), Chuyện ở rừng Sồi

(Nhà xuất bản Trẻ, năm 1998 - Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 1999 - Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2005 - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2010),

Giá nhang đèn và những truyện khác (Nhà xuất bản Hà Nội, năm 1999), Màu vàng thần tiên (Nhà xuất bản Kim Đồng, năm 2001), Chuyện của con gái người hát rong (Nhà xuất bản Hà Nội, năm 2004 - Nhà xuất bản Hội Nhà

văn năm 2006), Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2007 - tái bản năm 2009), Tiếng gà gáy trong rừng hoa Arui (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2010), Vàng Son Thạch Thủy Khí (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2002) Truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang

rừng (Nhà xuất bản Quân đội, năm 2005) được dịch sang tiếng nước ngoài để

tham gia chương trình giao lưu văn hóa Mùa xuân nước Pháp năm 2009 tại Pháp Bằng lối viết nhẹ nhàng, tinh tế, giàu cách tân nghệ thuật, nhà văn đã thể hiện những chiêm nghiệm, suy tư, dự cảm về cuộc đời, kiếp người, đặc biệt quan tâm đến thân phận người phụ nữ

Võ Thị Xuân Hà đã dùng ngòi bút của mình để “viết về con người và vì con người” Bởi theo bà, “nhà văn là người đấu tranh cho quyền con người, là lương tâm nhân loại…” Mỗi tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà là thông điệp về tình yêu thương, cảm thông, sẻ chia sâu sắc, là minh chứng cho sự tận tâm, cố gắng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của bà Với quan niệm văn chương chính là thông điệp nhân văn, ý nghĩa về cuộc sống, Võ Thị Xuân Hà “luôn muốn và cố gắng nói được một điều gì đó, dù rất nhỏ, nhưng cũng phải

Trang 20

chuyển tải một thông điệp nhân văn” trong tác phẩm của mình.Với bà, cái cuối cùng mà bà đem tới cho người đọc chính là niềm tin “tìm đến cái thiện”.

Võ Thị Xuân Hà thực sự là một “người viết truyện” không ngừng học hỏi và sáng tạo với một phong cách nghệ thuật riêng biệt Các sáng tác của bà

đã chú trọng khám phá những sâu kín của tâm hồn con người, đặc biệt là đời sống nội tâm của người phụ nữ Võ Thị Xuân Hà chú trọng miêu tả những nhân vật tự ý thức về bản thân mình, dám sống thật với những cảm xúc, suy nghĩ, bộc lộ bản chất một cách rõ ràng nhất Bằng tâm hồn nhạy cảm, sự quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, con người trong tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà được soi chiếu từ nhiều góc độ với thế giới tâm hồn phức hợp rất nhiều sắc màu cung bậc khác nhau Đó là những con người đa chiều, lương thiện, được phơi bày chân thực, rõ nét trong tận cùng ngõ ngách nội tâm

Ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà thường nhẹ nhàng, êm ái, giàu cảm xúc, có khả năng dẫn người đọc đi vào thế giới đầy nhạy cảm của con người Trong ngôn ngữ người kể chuyện thường có sự xen

kẽ giữa lời văn miêu tả, lời văn kể chuyện kết hợp lời bình để thể hiện và luận giải những phức hợp trong tâm lí nhân vật Việc linh hoạt ngôi kể là một sáng tạo của Võ Thị Xuân Hà trong các sáng tác của mình Bà thường không chỉ sử dụng ngôn ngữ của một người trần thuật cụ thể mà có sự chuyển đổi linh hoạt,

có khi là ngôn ngữ tác giả, khi lại là người kể chuyện hoặc của một nhân vật

có vai trò dẫn chuyện Chính điều này giúp nhà văn cũng như bạn đọc xâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm của nhân vật, góp phần làm cho hình tượng nhân vật trong các tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà hiện lên sinh động, hấp dẫn hơn Nhà văn đặt người kể chuyện vào những vị trí khác nhau để có cái nhìn toàn vẹn, nhiều chiều khi đánh giá, nhìn nhận vấn đề, con người, cuộc đời

Bao trùm các tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà là giọng điệu thương cảm, xót xa, thể hiện rõ thái độ của nhà văn trước thực tại ngổn ngang của xã hội, hoàn cảnh đáng thương của các nhân vật, đồng thời thể hiện một tình cảm yêu người thiết tha, tấm lòng đôn hậu, yêu thương và cảm thông sâu sắc của nhà

Trang 21

văn đối với con người Bên cạnh đó, Võ Thị Xuân Hà viết về những cái phản cảm, kệch cỡm trong xã hội hiện đại, với giọng mỉa mai, giễu nhại nhưng không chua chát, sâu cay mà thiên về châm biếm nhẹ nhàng, góp phần làm cho sáng tác của bà thêm cá tính Cùng với giọng thương cảm xót xa, giọng mỉa mai, giễu nhại, giọng chiêm nghiệm, triết lí cũng là một trong những sắc điệu cơ bản trong giọng điệu sáng tác của Võ Thị Xuân Hà Giọng triết lí chiêm nghiệm trong tác phẩm của bà được xây dựng trên cơ sở những triết lí giản dị, không gân guốc, sáo mòn mà là những suy tư, chiêm nghiệm, đúc kết qua những thăng trầm của cuộc sống, những trải nghiệm của nhân vật mà chính tác giả muốn phân bua với cuộc đời Tất cả tạo nên giọng điệu đa thanh, góp phần đắc lực cho Võ Thị Xuân Hà trong việc khám phá thế giới bên trong phức tạp, bí ẩn của con người.

Võ Thị Xuân Hà từng tự bạch: “Tôi có thể sẽ viết mãi cho đến khi chết

Có thể ngày mai “xếp bút nghiên”, nhưng cho dù thế nào, tôi mãi là một người biết tin vào cái đẹp Vậy nên tôi rất tự tin, cho dù quả là chặng đường

đi của một người viết như tôi không suôn sẻ chút nào…”

Bằng những nỗ lực sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc, Võ Thị Xuân Hà đã tạo được vị trí xứng đáng trên văn đàn Việt Nam đương đại, góp phần không nhỏ vào việc phát triển văn xuôi đương đại Việt Nam nói chung

1.2.2 Tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà

Tường thành là một trong những tác phẩm đặc sắc của Võ Thị Xuân

Hà thuộc thể loại tiểu thuyết.Với những giá trị về nghệ thuật và nội dung, cuốn tiểu thuyết đã vinh dự nhận giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 2 của Hội Nhà văn, 2002 - 2004 Qua 339 trang với 5 chương, tác phẩm đã xây dựng nên hệ thống các tuyến nhân vật rất đa dạng, chân thực, gần gũi với hiện thực đời sống người Hà Nội những năm đầu thế kỉ XXI Truyện được kết cấu với lối cấu trúc rất độc đáo, không theo trật tự không gian và thời gian quán

tính, liền mạch Nhiều người đọc nhận xét rằng, Tường thành được viết theo

một phong cách rất “bạo liệt” với tiết tấu khá nhanh, không gian và thời gian thường xuyên liên tục có sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại, giữa hồi tưởng

Trang 22

và thực tế với hàng loạt các sự kiện, các câu chuyện… Có người ví kết cấu truyện giống như một khối ru-bích với rất nhiều mảnh ghép là những bối cảnh, những nhân vật, những tình tiết gích giắc, rời rạc, tưởng chừng như không có móc nối, nhưng cuối cùng tất cả lại đều có mối liên hệ với nhau Cũng có người cho rằng kết cấu tiểu thuyết giống như một mê cung hình xoáy trôn ốc Ở đó, các sự kiện, các nhân vật tưởng như hỗn độn, rời rạc, nhiều nhánh ngang nhánh dọc nối chằng chịt với nhau như một mê lộ rắc rối, phức tạp, khiến độc giả càng đọc lại càng muốn kiên trì đi vào tận cùng bên trong những câu chuyện bí ẩn để tìm hiểu cho bằng rõ Và càng đọc, người ta càng thấy ở đó sự chặt chẽ, hợp lí, rất đúng với tâm lí nhân vật và hiện thực cuộc sống, để rồi cuối cùng tác phẩm được kết lại bằng một kết thúc mở, bỏ ngỏ nhiều ý nghĩa sâu xa Lại có nhà phê bình văn học nhận định, tác phẩm chính

là hiện thân của cấu trúc theo kiểu thức “phân mảnh” của lối viết hậu hiện đại Trong tác phẩm, tác giả xây dựng rất nhiều mảnh ghép đối lập, cá biệt, ngẫu hợp, tuy nhiên không riêng rẽ mà có sự thống nhất với nhau Từ không gian,

thời gian, đều không theo trật tự thông thường, “vòng cuối của câu chuyện đôi khi nằm ở vị trí vòng đầu và vòng đầu lại nằm ở vị trí vòng cuối” Điều này

khiến độc giả khi đọc và cảm nhận tác phẩm phải không ngừng suy tư, ngẫm nghĩ, móc nối các nhân vật, các bối cảnh, các tình tiết trong tác phẩm với nhau, đồng thời móc nối những vấn đề được đề cập trong tác phẩm với những vấn đề nhức nhối của hiện thực đời sống Nhờ đó, mỗi người đọc khi gấp lại trang truyện, lại có những dự cảm, những khám phá khác nhau trên nền tảng những giá trị nhân văn mà tác giả âm thầm gửi gắm

Với nghệ thuật độc đáo, tác phẩm đã đem lại cho người đọc cái nhìn sống động và chân thực về nghề báo và nghiệp làm báo - cái nghề mà chính tác giả Võ Thị Xuân Hà cũng từng là người trong cuộc Những mảnh đời với

số phận khác nhau, những góc khuất, những bí mật… được đưa vào trong các trang truyện, đưa người đọc đến với thế giới nhiều góc cạnh với đầy những cung bậc cảm xúc, những trăn trở nỗi niềm Gia tài trong sự nghiệp văn

chương của Võ Thị Xuân Hà thường là truyện ngắn Tường thành là một

trong hai cuốn tiểu thuyết ít ỏi của bà Mặc dù được viết và hoàn thành chỉ trong một thời gian ngắn, song cuốn tiểu thuyết đã nhanh chóng gây được sự

Trang 23

chú ý, quan tâm trong dư luận và giới văn chương Nếu như những truyện ngắn được sáng tác trước đây của Võ Thị Xuân Hà thường mang màu sắc trong trẻo, thánh thiện với lối viết trữ tình, nhẹ nhàng, tinh tế, lắng đọng, thì

Tường thành xuất hiện giống như một sự “đột phá” về phong cách của nữ

nhà văn với cái nhìn trực diện vào hiện thực cuộc sống chốn Hà thành xô bồ,

ồn ã với rất nhiều mảng màu sáng tối đối lập đan xen Bà thẳng tay vạch trần những bộn bề hiện thực, những gai góc của cuộc sống một cách rất mạnh bạo Giữa bức tranh cuộc sống ấy, nổi lên là đầy đủ chân dung những hạng người, những tầng lớp trong xã hội, từ những người có vai vế, địa vị đến dân thường,

từ trí thức đến những kẻ ở dưới đáy của xã hội nơi đất Hà Nội Mỗi nhân vật đều có một số phận riêng, một tính cách riêng, một quan niệm sống riêng, được bà phục dựng bằng ngôn từ một cách chân xác, rõ nét Do đó mà khi những trang sách cuối cùng gấp lại, thì những hình ảnh của các nhân vật vẫn còn dai dẳng ngấm sâu vào kí ức của người đọc

Nội dung cuốn Tường thành xoay quanh ba nhân vật chính là ba nhà

báo trẻ: Cầm Kỳ, Thế Dương và Phương Nam Cầm Kỳ là cô nhà báo ở tỉnh

lẻ mới được chuyển về làm việc trong một tòa soạn báo lớn ở thành phố Cô sống thánh thiện, lí tưởng tốt đẹp, song lại có phần thụ động Phương Nam cũng cùng quê với cô, nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, cô ở lại thành phố và được nhận ngay vào công tác trong một tòa soạn báo trung ương Phương Nam là người có quá khứ bất hạnh, cô đến với nghề báo như là một cách để trả thù đời, bất chấp phải hi sinh cả hạnh phúc của bản thân Thế Dương là một chàng trai có nhiều tham vọng trong nghề, ở anh “có sự phức hợp của một trí thức tự ý thức về hành động và động cơ của việc mình làm, đủ tư duy

để nhận biết là mình đang xấu, vẫn còn lương tri để coi khinh việc mình xấu nhưng vẫn không ngớt biện minh về việc mình làm” [17] Dù xuất phát điểm của họ rất khác nhau, nhưng họ đều gặp nhau ở điểm chung là sự tâm huyết với nghề và đều trải qua những thăng trầm, biến cố trong công việc Song song với bộ ba nhân vật chính - bộ ba nhà báo là bộ ba nhân vật ở khu xóm liều Đó là ông Đông - người cha bất hạnh có đứa con gái bị thất lạc và đã tự thiêu sống mình, cô Cần - cô gái điếm mưu sinh bằng nghề “ăn sương” và

Trang 24

người đàn ông mới ra tù tên Họa Ẩn sau trong mỗi con người cùng cực của nỗi khổ ấy lại chất chứa những giá trị nhân văn đẹp đẽ.

Có thể nói, Tường thành là cuốn tiểu thuyết đầu tiên chạm đến những

vấn đề ngổn ngang của nghề làm báo, khía vào những khúc tối nhạy cảm trong xã hội, “gây hấn với nhiều mặt trái tiêu cực đang có nguy cơ sinh trưởng, lớn mạnh” Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến độc giả là “Tình yêu thương rồi sẽ lên ngôi Tình yêu thương sẽ dựng bức tường thành che chở cho con người khỏi sự tang thương bệnh hoạn nghèo đói bội bạc hèn đớn” Với những giá trị của tác phẩm, nhà văn Tạ Duy Anh - đồng môn cùng tốt nghiệp thủ khoa khóa 4 Trường Viết văn Nguyễn Du với Võ Thị Xuân Hà, đã nhận xét: “Có thể với nhiều người, Võ Thị Xuân Hà không phải là nhà văn nữ gây ấn tượng nhất Nhưng chắc chắn có nhiều người ngày càng quan tâm đến chị, cả về văn nghiệp lẫn những trắc trở của đời riêng… và thêm một lần nữa người ta lại phải bất ngờ về chị”

Trang 25

CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG

TIỂU THUYẾT TƯỜNG THÀNH CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ

2.1 Không gian bối cảnh

2.1.1 Bối cảnh xã hội

Bối cảnh xã hội là bối cảnh chính được tác giả Võ Thị Xuân Hà sử

dụng để làm nổi bật nội dung và những giá trị tư tưởng của tiểu thuyết Tường

thành Trong tác phẩm, bối cảnh xã hội bao trùm, trở đi trở lại nhiều lần là

không gian xóm liều tối tăm - nơi trú ngụ của những con người “mạt hạng” từ mọi nơi đến tha phương cầu thực và không gian phố xá thành thị hiện đại, văn minh của giới tri thức

2.1.1.1 Không gian xóm liều - nơi trú ngụ của những mảnh đời cơ cực

Mở đầu cuốn tiểu thuyết là những trang viết tả thực về xóm liều, nơi chất chứa những số phận bần hèn của những mảnh đời dưới đáy tận cùng của

xã hội Họ quanh quẩn trong không gian cuộc đời tù túng, tạm bợ, nhếch nhác đến ớn lạnh, đối lập với không gian phố xá lung linh, phồn hoa, sang trọng phía bên kia cầu

Trước hết, xóm liều hiện ra là một không gian cư trú vô cùng chật hẹp, hỗn tạp và bẩn thỉu Khu xóm liều nằm ở ven hồ Hỏa Tước, với hơn dăm chục nóc nhà nhếch nhác, là nơi dân tứ chiếng đổ về, co cụm lại mà thành một khu dân cư tạm bợ Không gian sống chật chội ấy có “tạp phí lù” với đủ các thành phần dưới đáy của xã hội, nào là những thanh niên tù tội, “những cô gái ăn sương”, những kẻ sa cơ lỡ vận, cướp bóc, cờ bạc, đề đóm, mấy cụ già, lũ trẻ nhỏ, mấy đám thợ… Mỗi người một “quê hương bản quán, thân thế cuộc đời, mỗi người mỗi phách” [4; tr 14,15] Cái chung của họ là đều “không còn một tấc đất cắm dùi, những người bị xã hội bỏ quên” [4; tr 14] Tận cùng của sự nhếch nhác ở khu nhà tạm là sự “chung sống” của người với chuột bọ, cóc nhái…: lũ chuột “nhan nhản khắp mọi ngóc ngách…, chạy ngang qua mặt lúc đang say ngủ hoặc cắn chảy máu ngón tay ngón chân lũ trẻ” [4; tr 11], cóc

Trang 26

nhái “kêu oàm oạp, cùng cục, lóc cóc suốt những đêm vừa mưa xong” [4; tr 12], thậm chí có người còn nhìn thấy cả cầy hương, rồi “có hai con khỉ” chạy vào “nương thân ở bãi rác” Khu nhà tạm cũng chính là khu bãi rác - là “cái ung nhọt của thành phố” Nó chẳng khác nào một khu ổ chuột, ngập ngụa trong nước thải, rác bẩn “Mùi thum thủm bao trùm, thống lĩnh, ngự trị, làm vương làm tướng, đến nỗi không còn phân biệt được đâu là mùi rác rưởi, mùi chuột bọ, mùi kim tiêm, mùi gái điếm” [4; tr 14], “những ổ mối to hơn cái đấu

ẩn sâu dưới lớp rác đã mục nát, thấm đẫm nước hồ và ẩm mốc, lúc nhúc những con mối béo nùng nục” [4; 11] Cả khu nhà “chìm trong u tối và mùi cống nồng nặc” [4; 14]

Sự tối tăm, bẩn thỉu, nhếch nhác của khu nhà tạm càng được khắc họa chân thực qua cái nhìn đối lập với không gian “phía ngoài cầu, bên kia bờ mương” Ngay phía bên kia chính là “đường phố sáng rực của cuộc sống đời thường” [4; tr 15], là phố thị phồn hoa, văn minh Không gian rực rỡ ánh sáng

đó liệu có phải là mơ tưởng, ao ước của những kẻ khốn khổ đang ngày ngày lủi thủi, trốn tránh trong xó xỉnh tối tăm, u ám ở xóm liều bên này? Sự đối lập còn được tái hiện ngay chính trong không gian khu nhà tạm, giữa những thứ bẩn thỉu với chính những gì dễ chịu trong không gian sống tù túng, hôi hám đó: “mùi khói bếp, mùi nước hồ, thảng khi có hoa súng nở hay mùi da thịt nồng nàn ” [4; tr 14] Chỉ có điều, cái hôi hám đã lấn át, bao trùm tất cả, không còn chỗ để con người ta có thể cảm nhận được đôi chút dư vị trong lành vô cùng ít ỏi kia

Hiện lên trên không gian tù túng, chật hẹp ven hồ là những con người sinh sống trong khu xóm liều Họ đại diện cho thế giới của tầng lớp dưới đáy

xã hội Họ là những gái điếm, tù tội, những cảnh đời tàn tạ, héo mòn, thống khổ Xóm liều chật hẹp nhưng là không gian sống của của bao nhiêu số phận

từ khắp nơi dạt về Trong không gian xóm liều, họ không được tác giả tập trung miêu tả nhiều về ngoại hình, trang phục, mà chủ yếu được khắc họa về thái độ sống rất tiêu cực, đó là lối sống bất cần, dửng dưng trước mọi tội ác, tệ nạn, không một chút mảy may có sự “tính toán cho mai sau” Họ “mặc kệ” những tay câu chó thường xuyên rình mò, bắt trộm những con chó mà họ đã

Trang 27

cất công nhân giống, mà nếu “bán mỗi con chừng hai tuần tuổi” cũng “cỡ năm mươi ngàn” Cuộc sống nghèo khổ, túng thiếu trăm bề, vậy mà tại sao ngay cả đến “miếng cơm manh áo”, nguồn thu nhập, nguồn sống của chính mình và gia đình mình mà họ cũng bất cần như vậy? Thậm chí, ngay cả với những đứa con tưởng như là tài sản quý giá nhất trong cuộc đời mỗi con người, thì họ cũng dửng dưng, không quan tâm, họ “mặc kệ” khi thấy “con nhà người lẫn con nhà mình nghiện hút… Khi nào chết khắc chết” [4; tr 13]

Sự thiếu hiểu biết của những kẻ làm cha làm mẹ cộng với sự vô tâm, bất cần đời càng làm cho những đứa trẻ thêm tội nghiệp, khổ sở “Người trong xóm không biết đường giữ cóc để tăng thêm dinh dưỡng cho lũ trẻ xanh xao, cứ để

kệ cho dân buôn thịt cóc câu hết” [4; tr 12] Cuộc sống vốn đã khốn khổ, nhưng họ lại không nương tựa vào nhau, không biết “đoàn kết” Trái lại, họ chọn cho mình cách sống ích kỉ Lí do mà dân xóm liều “không buồn chặn mấy tay câu chó lại” là “vì không phải chó của mình” “Đến lúc chó của chính

họ bị câu cũng bị người khác làm lơ” [4; tr 13] Cuộc sống ở khu xóm liều dường như không có một trật tự nào Người ta sống vô tổ chức, ném rác bừa bãi, cãi nhau chửi bới vô tội vạ “Ai cũng có thể ném rác bừa trước mặt nhà người khác Bắt được thì chửi nhau một trận Đến tối lại thấy ngồi đánh phỏm với nhau thâu đêm suốt sáng” [4; tr 13] Họ sống thô thiển, ăn nói tục tĩu:

“cười như đười ươi cười Thấy gái trẻ đi qua gọi ngay là con ca-ve, chòng chọc nhìn sâu vào da thịt họ” [4; tr 13] Phải chăng, chính những thái độ sống tiêu cực đó càng đẩy cuộc sống của họ vào bế tắc, chán chường? Hay là ngược lại, chính do sự chán chường, vô vọng với mọi việc, do quá mệt mỏi với cuộc sống đã khiến họ có thái độ sống tiêu cực, bất chấp hậu quả như vậy? Chỉ biết rằng, họ là hiện thân của những kẻ đang ở trong “bước đường cùng” “Tiền hết, chỉ biết ngồi hàng giờ ở cửa nhìn cây cỏ, mặt trời, nhìn mưa, nét mặt ngây ngô, đến cả than thở cũng không thèm mấy khi” [4; tr 13]

Tưởng như những con người sống ở trong cái “ung nhọt của thành phố” đều là những kẻ đáng trách Thế nhưng, nghiền ngẫm từng chương, từng chương của cuốn tiểu thuyết, ta dần dần nhận ra rằng, đằng sau “những cái quê mùa, hạ lưu”, bê tha, nhem nhuốc của những kẻ bần hàn, cùng cực ấy là những phần người, phần nhân phẩm còn sót lại Đó là tình thương yêu máu

Trang 28

mủ ruột già, là tình người nhân hậu bao dung, là tình yêu chân thành, không mưu cầu tính toan vụ lợi… Những nhân phẩm tốt đẹp ấy giống như là những thứ ánh sáng ấm áp soi chiếu giữa không gian “xã hội thu nhỏ” lạnh lẽo, quạnh quẽ, tối tăm, như là những thanh âm tươi sáng, trong trẻo hắt lên giữa một bản nhạc trầm buồn u uất dai dẳng.

Nhân vật ít xuất hiện nhưng giữ vai trò quan trọng trong mạch truyện là ông Đông - một người có “thành tích đi tù” Số phận của ông rất bất hạnh Sau khi vào tù một năm thì vợ bỏ đi, con gái của ông bị bắt cóc đem bán qua biên giới khi mới chỉ là một đứa trẻ lên bảy Ẩn náu đằng sau chân dung một

kẻ tù tội là hình ảnh một người cha rất mực yêu thương con Trong suốt những năm tháng còn sống, ông luôn đau đáu nỗi đau mất con, luôn trăn trở

và tìm mọi cách để tìm đứa con thất lạc bấy lâu, thậm chí là lấy cả sinh mạng của mình để đánh đổi Ta cảm nhận được ở người cha khắc khổ ấy một tình cảm phụ tử thiêng liêng, bất diệt

Không chỉ là một người cha thương con hết mực, ông Đông còn là một con người nhân hậu, nghĩa hiệp Ông luôn cảm thông và sẵn sàng bảo vệ những mảnh đời bất hạnh, éo le, yếu thế Khi Cần mới dạt vào xóm liều cạnh

hồ Hỏa Tước, cô bị lũ người ở đây bắt nạt, ức hiếp Trong khu xóm liều tưởng chừng toàn những kẻ muốn lột trần cô Cần ra thì vẫn có ông Đông, cũng từng

“vào tù ra khám” chìa tay ra giúp đỡ cô “Nhờ có ông Đông là người ở thuê trong xóm đã lâu, lại có “thành tích” đi tù về” [4; tr 54] nên không ai dám

hoạnh họe cô nữa, “kể cả lão Lân lùn khét tiếng tài mà, khét tiếng anh chị

giang hồ dạt từ Bắc Kạn về” [4; tr 54] Chẳng những thế, khi Cần thuê được căn phòng “giá bảy mươi ngàn đồng một tháng, kể cả tiền điện nước coi như hết một trăm ngàn” [4; tr 54] ngay cạnh nhà ông Đông, ông còn “giúp cô dọn dẹp, chăng dây, đóng đinh, sửa sang tí chút nền nhà, tường, cửa sổ…” “Ông đối xử với cô như con gái mình” [4; tr 54] Những việc làm ấy tưởng chừng như rất nhỏ bé, nhưng đối với một con người đang bị cả xã hội xa lánh, khinh

rẻ như Cần, thì đó là một liều thuốc tinh thần vô cùng quý báu, đáng trân trọng Dù trong cuộc sống nhớp nhúa của gái làm tiền, nhưng trong những câu

Ngày đăng: 23/08/2019, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w