1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán

79 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Văn học luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống. Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn, được nhà văn dồn hết tâm huyết của mình để tạo nên. Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người đọc về khả năng cảm nhận và tái hiện cuộc sống hiện thực, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước chuyển mình đáng ghi nhận. Các nhà văn đã tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc sắc vào trong tác phẩm của mình để đưa lại cho văn học Việt Nam đương đại có diện mạo mới, một bản sắc mới. Sự thay đổi này đã làm cho nền văn học Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng hơn. Lịch sử dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kì vô cùng ác liệt. Chính trong những năm tháng kháng chiến vẻ vang ấy đã xuất hiện lớp lớp con người anh hùng bất chấp mọi gian khổ, sẵn sàng hi sinh cho hòa bình của Tổ quốc. Điều đó đã đem lại nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều nhà văn, nhà thơ. Mỗi cây bút có một tiếng nói, một giọng điệu, một cách truyền đạt riêng nhưng đều đưa đề tài chiến tranh làm trung tâm cho sáng tác của mình để đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của lịch sử. Những sáng tạo đó đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của thời đại và có vị trí xứng đáng trong tiến trình văn học dân tộc. Phùng Quán là một trong những cái tên tiêu biểu ấy. Trong dòng chảy của văn học đương đại, Phùng Quán là một nhà văn xuất sắc. Ông trưởng thành trong những ngày đất nước phải hứng chịu bom đạn của kẻ thù, với tinh thần yêu nước ông đã tham gia cách mạng và trở thành chiến sĩ trong trung đoàn Trần Cao Vân. Ông được xem là một nhân chứng sống trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những câu chuyện về chiến sĩ cách mạng là một kí ức không thể quên của ông. Với ông, anh hùng không chỉ trên mặt trận mà anh hùng còn là những chiến sĩ vượt gian khổ, đọa đày và cả những cảnh đau thương, mất mát, hy sinh. Trong lúc nhiều “cây đa, cây đề” trong làng tiểu thuyết e ngại, dè dặt viết về đề tài mất mát, đau thương của cách mạng, thì nó lại được trái tim đồng cảm của Phùng Quán thể hiện. Văn học thiếu nhi là bộ phận không thể thiếu của văn học Việt Nam hiện đại với nhiều thành tựu to lớn. Trong số những cây bút quen thuộc của bạn đọc nhỏ tuổi, Phùng Quán cũng là gương mặt tiêu biểu. Sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh, Phùng Quán đã khẳng định được vai trò, vị trí đặc biệt không thể thiếu của ông trong mảng văn học viết về đề tài chiến tranh nói chung và đề tài thiếu nhi nói riêng. Nhắc đến Phùng Quán, chúng ta phải kể đến tiểu thuyết lớn nhất của ông là Tuổi thơ dữ dội. Tác phẩm được thai nghén và viết trong thời kì gian nan, cực nhọc nhất của Phùng Quán, viết về những năm tháng chiến đấu hào hùng, gian nan của ông, bởi thế, tác phẩm này như là lời bộc bạch chân thành của nhà văn. Tác phẩm là sự ca ngợi của tác giả trước sự chiến đấu, dũng cảm quên mình của đội Vệ quốc đoàn gồm những cậu bé chỉ mới 13, 14 tuổi, là chất chứa một sự xót xa ẩn sau đó. Xót xa cho những gian khổ, xót xa cho một tuổi thơ vô tư, hồn nhiên của cái tuổi non trẻ và xót xa cho sự hi sinh khi tuổi đang xuân xanh. Tuổi thơ dữ dội - một tác phẩm xuất sắc, có ý nghĩa to lớn với nền văn học Việt Nam, đặc biệt là khi tập trung khắc họa hình ảnh đội thiếu niên trinh sát Trần Cao Vân trong bức tranh toàn cảnh Huế - Thừa Thiên những ngày kháng chiến ác liệt. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội đã để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu đậm bởi tác phẩm chứa đựng trong đó những cái nhìn đa chiều về chiến tranh, về các cậu bé nhỏ tuổi có hoàn cảnh đáng thương, quên cả tính mạng khi tham gia chiến đấu. Tác phẩm thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa và lí giải mới về đề tài chiến tranh, thay vì những anh chiến sĩ trưởng thành quen thuộc thì đó lại là những cậu bé với các hoàn cảnh khác nhau lần lượt trở thành chiến sĩ nhỏ tuổi dũng cảm, bất khuất không thua các anh lớn là bao. Đồng thời trong tác phẩm cũng chứa đựng những cách tân về kĩ thuật tiểu thuyết. Tác phẩm không có những nhân vật xuyên suốt xuất hiện từ đầu đến cuối như truyền thống mà là những mảnh ghép, những số phận khác nhau hợp thành một câu chuyện lớn. Có thể nói toàn bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán đã phản ánh quá trình sáng tạo, nỗ lực cách tân tiểu thuyết của nhà văn. Bởi vậy, nghiên cứu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là cách để chúng ta khám phá, phát hiện và khẳng định tài năng cũng như đóng góp của Phùng Quán cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn nghệ của quần chúng. Vì vậy, việc đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật trong tác phẩm cụ thể, chúng ta phần nào giúp độc giả hiểu sâu hơn, lí giải cặn kẽ hơn về một hiện tượng văn học. Chính vì những lí do trên cùng với sự ngưỡng mộ tài năng của nhà văn Phùng Quán và tích lũy thêm kiến thức văn học mà chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Phùng Quán là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Ông là chiến sĩ, là nhà văn luôn trung thành với lí tưởng mình đã chọn. Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt 30 năm trời, từ sau vụ Nhân văn - giai phẩm. Tên không được in trên sách, phải "cá trộm, rượu chịu, văn chui" thế mà ông không hề oán trách ai, vẫn cặm cụi viết, và vẫn "viết ngay viết thẳng từ dòng đầu đến dòng cuối", luôn ca ngợi anh hùng chiến sĩ, luôn yêu nước, yêu dân tộc. Phùng Quán đã để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội và nhân dân sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình, với hàng chục tác phẩm thơ, trường ca, truyện thơ, tiểu thuyết được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ. Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là một tác phẩm đặc biệt trong văn xuôi thời kì đổi mới. Bức tranh hiện thực về những năm tháng chiến tranh được ông kể bằng giọng điệu lãng mạn, trữ tình về tình bạn, tình mẹ con, tình đồng đội,… đầy thi vị nhưng cũng không kém phần hào hùng của những em bé trưởng thành trong bom đạn. Tuổi thơ dữ dội ra đời mang diện mạo mới, một cái nhìn mới làm phong phú thêm đề tài chiến tranh trong văn học sau 1975, nhận được nhiều ý kiến, sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình và độc giả. Khi nhận định về phong cách sáng tác của Phùng Quán trong bài viết Tản mạn chuyện ba mươi năm, Hà Nhật viết: “Viết văn Quán thích viết về những người anh hùng, chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu sử thi là một điều bẩm sinh nơi Quán” [20, 142]. Trong bài viết Nhớ lời mẹ dặn trong sách Nhớ Phùng Quán, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra nhận định: “Dẫu sao Phùng Quán đã để lại cho tôi dấu ấn của một con người huyền thoại, cuộc đời ông đúng là nửa thực, nửa mơ, thoắt ẩn, thoắt hiện và luôn bổ sung những ý nghĩ mới trong hiện hữu mà những người khác đã sống hụt. Một người huyền thoại thì luôn sống gần gũi với mọi người nhưng thật ra, nó còn là một phần đầy tràn của cái hiện hữu mà người ta còn thiếu và những phẩm chất tốt đẹp của cuộc sống mà người ta mơ ước” [9, 61]. Đỗ Kim Cuông trong bài viết Nhà thơ tự hành xác trên những trang giấy có kẻ dòng, đã viết: “Các tác phẩm của Phùng Quán cứ nối dài theo năm tháng, giống như từng bước bàn chân trần của ông in hằn trên dấu cát lúc con nước ròng (...) Tôi vỡ ra một điều giản dị: Chỉ có một nhà văn thực sự yêu nghề, yêu người, tự tin mới đủ sức vượt qua giới hạn của nỗi cơ cực, khổ đau, vượt qua được chính mình để đêm đêm tự hành xác trên những trang giấy có kẻ dòng” [20, 164]. Nguyễn Quang Hà trong Tấm lòng Phùng Quán đã viết: “Phải nói rằng, nếu Phùng Quán không đau đời, anh không thể có những trang văn, vần thơ thấm thía đến vậy. Trời thật công bằng. Số mệnh Phùng Quán vất vả bao nhiêu thì trời trả lại cho anh những trang viết tuyệt diệu như thế” [9, 121]. Trong bài viết Khuynh hướng cao cả của hồn thơ Phùng Quán, Văn Tâm có nhận xét: “Mấy tác phẩm văn xuôi lừng danh khác của Phùng Quán cũng tràn ngập chất thơ. Hãy kể đến bộ tiểu thuyết gần nghìn trang Tuổi thơ dữ dội thì bộ tiểu thuyết văn xuôi này cũng dạt dào chất thơ, chất tráng ca, và còn giàu cả tính kịch”. Khuynh hướng cao cả của bộ tiểu thuyết văn xuôi kiệt xuất này đã khiến nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đáng kính (người rất quan tâm đến công cuộc giáo dục nhân cách cho các thế hệ thiếu niên và nhi đồng) mong ước: “Tôi chỉ mong làm sao cho tất cả các em thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này” [20, 20]. Cửu Thọ trong bài viết Nhà văn của những thiên anh hùng ca có viết: “Tuổi thơ dữ dội viết để tưởng nhớ một lớp trẻ con anh hùng tuyệt vời sinh ra từ Cách mạng tháng Tám (…). Phùng Quán xứng đáng được gọi là: Nhà văn của những thiên anh hùng ca Cách mạng. Không những vì nội dung trong tác phẩm của Phùng Quán ca ngợi những con người anh hùng xả thân vì Tổ quốc, mà còn vì nghệ thuật viết văn của anh đã có sức hấp dẫn làm rung động sâu sắc tận đáy lòng mỗi người đọc” [20, 180]. Hà Văn Lâu trong bài Một vài ý kiến về con người và tác phẩm Phùng Quán cũng đưa ra nhận xét: “Đọc hết dòng cuối cùng của bộ ba tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của nhà văn Phùng Quán, lòng tôi rất đỗi bồi hồi xúc động. Những nhân vật trong sáng thực sự là những con người bằng xương, bằng thịt đã từng là đồng đội của tôi, cùng tôi chia ngọt sẻ bùi, chịu đựng gian khổ trong những ngày chiến đấu của cuộc kháng chiến trên mảnh đất Thừa Thiên Huế anh hùng. Tôi rất tự hào về những chiến sĩ như trong Tuổi thơ dữ dội” [20, 134]. Điểm lại những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán: Phạm Thị Hạnh (2013), luận văn thạc sĩ với đề tài Xưng hô trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, trường Đại học Thái Nguyên. Luận văn đã làm rõ việc xưng hô đã khắc họa hoàn cảnh và hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết này. Kế thừa, tiếp thu những kết quả đạt được của những công trình đi trước với hướng nghiên cứu trọng tâm về nghệ thuật, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU -Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán. -Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán, NXB văn học, 2013. 4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx làm nền tảng, chúng tôi tiến hành khóa luận chủ yếu với phương pháp nghiên cứu: thi pháp học. Thi pháp học chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật cụ thể, là một khoa học ứng dụng trong nghiên cứu văn học. Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản mà chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm: hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn, ngôn ngữ,… từ đó để suy ra nội dung. Ngoài ra, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm khai thác tốt nhất và có hiệu quả nhất nội dung được đề cập. Có thể kể đến một số phương pháp chủ yếu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, tiến hành sắp xếp theo hệ thống từng nội dung cho phù hợp với đề tài để làm cơ sở nghiên cứu. Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Phùng Quán, cũng như hiểu rõ hơn về cảm hứng sáng tác của ông. Từ đâu mà Phùng Quán lại thấu hiểu và có cái nhìn sâu sắc như thế để khắc họa hình tượng những cậu bé 13, 14 tuổi tham gia chiến đấu, đổi tuổi thơ vô tư, hồn nhiên của mình để bảo vệ đất nước. Nhờ phương pháp nghiên cứu này người viết cũng biết thêm những công trình nghiên cứu nào đã nhận định về Phùng Quán và tác phẩm của ông. Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trong khi phân tích người viết cũng huy động tất cả các thao tác giải thích, chứng minh, bình luận,… Đồng thời, so sánh đối chiếu để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu. Sau cùng để trình bày kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu, người viết kết hợp cả hai phương pháp diễn dịch và quy nạp. 5.ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Về mặt lý luận: Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán. Chỉ ra những vấn đề lí luận chung liên quan đến đề tài, hệ thống và phương thức xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, không gian và thời gian nghệ thuật của Phùng Quán trong tác phẩm Tuổi thơ dữ dội, từ đó thấy được nghệ thuật tiểu thuyết và những đóng góp quan trọng của ông đối với văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung. Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán. Nó là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc học tập và giảng dạy văn học hiện đại Việt Nam trong các trường học. Ngoài ra công trình của chúng tôi có thể là một định hướng, gợi mở đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu thế giới nghệ trong tiểu thuyết đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. 6.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lí luận chung Chương 2: Hệ thống và phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán Chương 3: Nghệ thuật trần thuật, không gian, thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

LÊ THỊ LINH

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: 2015 - 2019

Q ả ăm 2019

Trang 2

Lời Cảm Ơ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Giảng viên ThS Lương Hồng Văn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường cùng các quý thầy cô giảng viên khoa Khoa học xã hội trường Đại học Quảng Bình, những người đã truyền đạt kiến thức trong suốt bốn năm học qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong thời gian học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu mà còn là hành trang quý giá để tôi vững vàng và tự tin bước vào đời

Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân

và bạn bè đã luôn sát cánh, ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đồng Hới, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Lê Thị Linh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan và khẳng định đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các tài liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Lê Thị Linh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 6

6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 7

1.1 Thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết 7

1.1.1 Thế giới nghệ thuật 7

1.1.2 Tiểu thuyết và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết 8

1.2 Nhà văn Phùng Quán 11

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Phùng Quán 11

1.2.2 Quan điểm sáng tác của Phùng Quán 13

1.3 Tiểu thuyết đương đại Việt Nam và tác phẩm Tuổi thơ dữ dội 14

1.3.1 Vài nét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam 14

1.3.2 Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của nhà văn Phùng Quán 17

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN 20

2.1 Các kiểu con người đặc trưng 20

2.1.1 Con người số phận cơ cực, đau thương 20

2.1.2 Con người yêu nước, hồn nhiên, dũng cảm 22

2.1.3 Con người chan chứa tình yêu thương, khát vọng 28

2.1.4 Con người bị cám dỗ, phản bội, hèn nhát 34

2.2 Phương thức xây dựng nhân vật 36

2.2.1 Miêu tả chân dung, ngoại hình 37

2.2.2 Khắc họa tính cách nhân vật qua hành động 39

2.2.3 Miêu tả tâm lý nhân vật 41

Trang 5

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT, KHÔNG GIAN, THỜI GIAN

NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG

QUÁN 44

3.1 Nghệ thuật trần thuật 44

3.1.1 Điểm nhìn trần thuật 44

3.1.1.1 Người kể chuyện với điểm nhìn bên trong 44

3.1.1.2 Người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài 47

3.1.2 Giọng điệu 48

3.1.2.1 Giọng điệu hào hùng, ngợi ca 49

3.1.2.2 Giọng điệu xót xa, thương cảm 50

3.1.2.3 Giọng điệu lên án, phê phán 52

3.1.3 Ngôn ngữ 53

3.1.3.1 Sử dụng ngôn ngữ đại chúng 54

3.1.3.2 Sử dụng ngôn ngữ chính trị 56

3.1.3.3 Sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ 57

3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 60

3.2.1 Không gian nghệ thuật 60

3.2.1.1 Không gian hiện thực 60

3.2.1.2 Không gian tâm lí 62

3.2.2 Thời gian nghệ thuật 64

3.2.2.1 Thời gian sự kiện 65

3.2.2.2 Thời gian tâm lý 66

3.2.3 Thủ pháp đồng hiện không – thời gian 67

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn học luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn, được nhà văn dồn hết tâm huyết của mình để tạo nên Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người đọc về khả năng cảm nhận và tái hiện cuộc sống hiện thực, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước chuyển mình đáng ghi nhận Các nhà văn đã tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc sắc vào trong tác phẩm của mình để đưa lại cho văn học Việt Nam đương đại có diện mạo mới, một bản sắc mới Sự thay đổi này đã làm cho nền văn học Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng hơn

Lịch sử dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kì vô cùng ác liệt Chính trong những năm tháng kháng chiến vẻ vang ấy đã xuất hiện lớp lớp con người anh hùng bất chấp mọi gian khổ, sẵn sàng hi sinh cho hòa bình của Tổ quốc Điều đó đã đem lại nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều nhà văn, nhà thơ Mỗi cây bút có một tiếng nói, một giọng điệu, một cách truyền đạt riêng nhưng đều đưa đề tài chiến tranh làm trung tâm cho sáng tác của mình để đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của lịch sử Những sáng tạo đó đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của thời đại và có vị trí xứng đáng trong tiến trình văn học dân tộc Phùng Quán là một trong những cái tên tiêu biểu ấy

Trong dòng chảy của văn học đương đại, Phùng Quán là một nhà văn xuất sắc Ông trưởng thành trong những ngày đất nước phải hứng chịu bom đạn của kẻ thù, với tinh thần yêu nước ông đã tham gia cách mạng và trở thành chiến sĩ trong trung đoàn Trần Cao Vân Ông được xem là một nhân chứng sống trong cuộc kháng chiến chống Pháp Những câu chuyện về chiến sĩ cách mạng là một kí ức không thể quên của ông Với ông, anh hùng không chỉ trên mặt trận mà anh hùng còn là những chiến sĩ vượt gian khổ, đọa đày và cả những cảnh đau thương, mất mát, hy sinh Trong lúc nhiều

“cây đa, cây đề” trong làng tiểu thuyết e ngại, dè dặt viết về đề tài mất mát, đau

thương của cách mạng, thì nó lại được trái tim đồng cảm của Phùng Quán thể hiện Văn học thiếu nhi là bộ phận không thể thiếu của văn học Việt Nam hiện đại với nhiều thành tựu to lớn Trong số những cây bút quen thuộc của bạn đọc nhỏ tuổi, Phùng Quán cũng là gương mặt tiêu biểu Sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh, Phùng Quán đã khẳng định được vai trò, vị trí đặc biệt không thể thiếu của ông trong mảng văn học viết về đề tài chiến tranh nói chung và đề tài thiếu nhi nói riêng Nhắc

Trang 7

đến Phùng Quán, chúng ta phải kể đến tiểu thuyết lớn nhất của ông là Tuổi thơ dữ dội

Tác phẩm được thai nghén và viết trong thời kì gian nan, cực nhọc nhất của Phùng Quán, viết về những năm tháng chiến đấu hào hùng, gian nan của ông, bởi thế, tác phẩm này như là lời bộc bạch chân thành của nhà văn Tác phẩm là sự ca ngợi của tác giả trước sự chiến đấu, dũng cảm quên mình của đội Vệ quốc đoàn gồm những cậu bé chỉ mới 13, 14 tuổi, là chất chứa một sự xót xa ẩn sau đó Xót xa cho những gian khổ, xót xa cho một tuổi thơ vô tư, hồn nhiên của cái tuổi non trẻ và xót xa cho sự hi sinh

khi tuổi đang xuân xanh Tuổi thơ dữ dội - một tác phẩm xuất sắc, có ý nghĩa to lớn

với nền văn học Việt Nam, đặc biệt là khi tập trung khắc họa hình ảnh đội thiếu niên trinh sát Trần Cao Vân trong bức tranh toàn cảnh Huế - Thừa Thiên những ngày kháng chiến ác liệt

Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội đã để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu đậm

bởi tác phẩm chứa đựng trong đó những cái nhìn đa chiều về chiến tranh, về các cậu bé nhỏ tuổi có hoàn cảnh đáng thương, quên cả tính mạng khi tham gia chiến đấu Tác phẩm thể hiện một cách cảm thụ, cắt nghĩa và lí giải mới về đề tài chiến tranh, thay vì những anh chiến sĩ trưởng thành quen thuộc thì đó lại là những cậu bé với các hoàn cảnh khác nhau lần lượt trở thành chiến sĩ nhỏ tuổi dũng cảm, bất khuất không thua các anh lớn là bao Đồng thời trong tác phẩm cũng chứa đựng những cách tân về kĩ thuật tiểu thuyết Tác phẩm không có những nhân vật xuyên suốt xuất hiện từ đầu đến cuối như truyền thống mà là những mảnh ghép, những số phận khác nhau hợp thành

một câu chuyện lớn Có thể nói toàn bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán đã

phản ánh quá trình sáng tạo, nỗ lực cách tân tiểu thuyết của nhà văn Bởi vậy, nghiên

cứu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là cách để

chúng ta khám phá, phát hiện và khẳng định tài năng cũng như đóng góp của Phùng Quán cho nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn nghệ của quần chúng Vì vậy, việc đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật trong tác phẩm cụ thể, chúng

ta phần nào giúp độc giả hiểu sâu hơn, lí giải cặn kẽ hơn về một hiện tượng văn học Chính vì những lí do trên cùng với sự ngưỡng mộ tài năng của nhà văn Phùng Quán và

tích lũy thêm kiến thức văn học mà chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật

trong tiểu thuyết tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán làm đề tài nghiên cứu cho khóa

luận tốt nghiệp của mình

Trang 8

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Phùng Quán là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX Ông là chiến sĩ, là nhà văn luôn trung thành với

lí tưởng mình đã chọn Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt 30 năm trời, từ

sau vụ Nhân văn - giai phẩm Tên không được in trên sách, phải "cá trộm, rượu chịu,

văn chui" thế mà ông không hề oán trách ai, vẫn cặm cụi viết, và vẫn "viết ngay viết thẳng từ dòng đầu đến dòng cuối", luôn ca ngợi anh hùng chiến sĩ, luôn yêu nước, yêu

dân tộc Phùng Quán đã để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội và nhân dân sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình, với hàng chục tác phẩm thơ, trường ca, truyện thơ, tiểu thuyết được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ

Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán là một tác phẩm đặc biệt trong văn xuôi thời kì

đổi mới Bức tranh hiện thực về những năm tháng chiến tranh được ông kể bằng giọng điệu lãng mạn, trữ tình về tình bạn, tình mẹ con, tình đồng đội,… đầy thi vị nhưng

cũng không kém phần hào hùng của những em bé trưởng thành trong bom đạn Tuổi

thơ dữ dội ra đời mang diện mạo mới, một cái nhìn mới làm phong phú thêm đề tài

chiến tranh trong văn học sau 1975, nhận được nhiều ý kiến, sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình và độc giả

Khi nhận định về phong cách sáng tác của Phùng Quán trong bài viết Tản mạn

chuyện ba mươi năm, Hà Nhật viết: “Viết văn Quán thích viết về những người anh hùng, chủ nghĩa lãng mạn theo kiểu sử thi là một điều bẩm sinh nơi Quán” [20, 142]

Trong bài viết Nhớ lời mẹ dặn trong sách Nhớ Phùng Quán, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đưa ra nhận định: “Dẫu sao Phùng Quán đã để lại cho tôi dấu ấn của một

con người huyền thoại, cuộc đời ông đúng là nửa thực, nửa mơ, thoắt ẩn, thoắt hiện và luôn bổ sung những ý nghĩ mới trong hiện hữu mà những người khác đã sống hụt Một người huyền thoại thì luôn sống gần gũi với mọi người nhưng thật ra, nó còn là một phần đầy tràn của cái hiện hữu mà người ta còn thiếu và những phẩm chất tốt đẹp của cuộc sống mà người ta mơ ước” [9, 61]

Đỗ Kim Cuông trong bài viết Nhà thơ tự hành xác trên những trang giấy có kẻ

dòng, đã viết: “Các tác phẩm của Phùng Quán cứ nối dài theo năm tháng, giống như từng bước bàn chân trần của ông in hằn trên dấu cát lúc con nước ròng ( ) Tôi vỡ ra một điều giản dị: Chỉ có một nhà văn thực sự yêu nghề, yêu người, tự tin mới đủ sức

Trang 9

vượt qua giới hạn của nỗi cơ cực, khổ đau, vượt qua được chính mình để đêm đêm tự hành xác trên những trang giấy có kẻ dòng” [20, 164]

Nguyễn Quang Hà trong Tấm lòng Phùng Quán đã viết: “Phải nói rằng, nếu

Phùng Quán không đau đời, anh không thể có những trang văn, vần thơ thấm thía đến vậy Trời thật công bằng Số mệnh Phùng Quán vất vả bao nhiêu thì trời trả lại cho anh những trang viết tuyệt diệu như thế” [9, 121]

Trong bài viết Khuynh hướng cao cả của hồn thơ Phùng Quán, Văn Tâm có nhận xét: “Mấy tác phẩm văn xuôi lừng danh khác của Phùng Quán cũng tràn ngập

chất thơ Hãy kể đến bộ tiểu thuyết gần nghìn trang Tuổi thơ dữ dội thì bộ tiểu thuyết

văn xuôi này cũng dạt dào chất thơ, chất tráng ca, và còn giàu cả tính kịch” Khuynh

hướng cao cả của bộ tiểu thuyết văn xuôi kiệt xuất này đã khiến nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đáng kính (người rất quan tâm đến công cuộc giáo dục nhân cách cho các

thế hệ thiếu niên và nhi đồng) mong ước: “Tôi chỉ mong làm sao cho tất cả các em

thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này” [20, 20]

Cửu Thọ trong bài viết Nhà văn của những thiên anh hùng ca có viết: “Tuổi thơ

dữ dội viết để tưởng nhớ một lớp trẻ con anh hùng tuyệt vời sinh ra từ Cách mạng tháng Tám (…) Phùng Quán xứng đáng được gọi là: Nhà văn của những thiên anh hùng ca Cách mạng Không những vì nội dung trong tác phẩm của Phùng Quán ca ngợi những con người anh hùng xả thân vì Tổ quốc, mà còn vì nghệ thuật viết văn của anh đã có sức hấp dẫn làm rung động sâu sắc tận đáy lòng mỗi người đọc” [20, 180]

Hà Văn Lâu trong bài Một vài ý kiến về con người và tác phẩm Phùng Quán cũng đưa ra nhận xét: “Đọc hết dòng cuối cùng của bộ ba tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội

của nhà văn Phùng Quán, lòng tôi rất đỗi bồi hồi xúc động Những nhân vật trong sáng thực sự là những con người bằng xương, bằng thịt đã từng là đồng đội của tôi, cùng tôi chia ngọt sẻ bùi, chịu đựng gian khổ trong những ngày chiến đấu của cuộc kháng chiến trên mảnh đất Thừa Thiên Huế anh hùng Tôi rất tự hào về những chiến sĩ như trong Tuổi thơ dữ dội” [20, 134]

Điểm lại những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng

Quán:

Phạm Thị Hạnh (2013), luận văn thạc sĩ với đề tài Xưng hô trong tiểu thuyết Tuổi

thơ dữ dội của Phùng Quán, trường Đại học Thái Nguyên Luận văn đã làm rõ việc

xưng hô đã khắc họa hoàn cảnh và hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết này

Trang 10

Kế thừa, tiếp thu những kết quả đạt được của những công trình đi trước với

hướng nghiên cứu trọng tâm về nghệ thuật, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới nghệ

thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán để làm đề tài nghiên cứu cho

khóa luận tốt nghiệp của mình

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của

Phùng Quán

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán, NXB văn học,

2013

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Marx làm nền tảng, chúng tôi tiến hành khóa luận chủ yếu với phương pháp nghiên cứu: thi pháp học Thi pháp học chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật cụ thể, là một khoa học ứng dụng trong nghiên cứu văn học Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản mà chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm: hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện, điểm nhìn, ngôn ngữ,… từ đó để suy ra nội dung

Ngoài ra, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm khai thác tốt nhất và có hiệu quả nhất nội dung được đề cập Có thể kể đến một

số phương pháp chủ yếu như:

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, tiến hành sắp xếp theo hệ thống từng nội dung cho phù hợp với đề tài để làm cơ sở nghiên cứu

 Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Phùng Quán, cũng như hiểu rõ hơn về cảm hứng sáng tác của ông Từ đâu mà Phùng Quán lại thấu hiểu và có cái nhìn sâu sắc như thế để khắc họa hình tượng những cậu bé 13, 14 tuổi tham gia chiến đấu, đổi tuổi thơ vô tư, hồn nhiên của mình để bảo vệ đất nước Nhờ phương pháp nghiên cứu này người viết cũng biết thêm những công trình nghiên cứu nào đã nhận định về Phùng Quán và tác phẩm của ông

 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trong khi phân tích người viết cũng huy động tất cả các thao tác giải thích, chứng minh, bình luận,… Đồng thời, so sánh đối

Trang 11

chiếu để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu Sau cùng để trình bày kết quả thu được qua quá trình nghiên cứu, người viết kết hợp cả hai phương pháp diễn dịch và quy nạp

5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Về mặt lý luận: Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống Thế giới nghệ thuật

trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán Chỉ ra những vấn đề lí luận chung

liên quan đến đề tài, hệ thống và phương thức xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần

thuật, không gian và thời gian nghệ thuật của Phùng Quán trong tác phẩm Tuổi thơ dữ

dội, từ đó thấy được nghệ thuật tiểu thuyết và những đóng góp quan trọng của ông đối

với văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung

Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn tiểu

thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán Nó là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho

việc học tập và giảng dạy văn học hiện đại Việt Nam trong các trường học Ngoài ra công trình của chúng tôi có thể là một định hướng, gợi mở đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu thế giới nghệ trong tiểu thuyết đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung

Chương 2: Hệ thống và phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tuổi

thơ dữ dội của Phùng Quán

Chương 3: Nghệ thuật trần thuật, không gian, thời gian nghệ thuật trong tiểu

thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết

1.1.1 Thế giới nghệ thuật

Khi đọc văn bản ngôn từ hay xem phim trên màn ảnh, xem biểu diễn trên sân khấu, chúng ta bước vào thế giới nghệ thuật của tác giả, một thế giới sống động, đầy

ắp xung đột, buồn vui, hạnh phúc, đau đớn Thế giới nghệ thuật là khái niệm được sử

dụng khá phổ biến trong đời sống và trong học thuật Thế giới nghệ thuật theo Từ điển

thuật ngữ văn học là “Khái niệm mang tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm

lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng,… Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ” [2,

nghệ thuật chỉ có trong tác phẩm và trong tưởng tượng nghệ thuật Trong Lí luận văn

học của Trần Đình Sử cho rằng: “Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn” [14, 81]

Cũng theo Lí luận văn học của Trần Đình Sử (chủ biên) thì “Thế giới nghệ thuật của

tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh và bao gồm những giới hạn nhất định Bởi vì

hệ thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn có của nó, có không gian, thời gian, tâm lí, đạo đức, xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng, tất cả đều là phạm trù có ý nghĩa khi phân tích tác phẩm” [14, 83] Và “Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là hệ thống không chỉ là đặc trưng cho tác phẩm đó, mà còn là đặc trưng cho cả

Trang 13

nhà văn nói chung… Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật” [14; 83]

Tham khảo những định nghĩa trên, chúng tôi đi đến cách hiểu về khái niệm Thế

giới nghệ thuật như sau:

Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng nên trong tác phẩm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng – thẩm mĩ nhất định của người nghệ

sĩ Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm tính, được xây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phương tiện nghệ thuật đặc thù Là đứa con tinh thần của người nghệ sỹ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thể hiện quan niệm riêng của người nghệ sỹ về thế giới, con người và bản thân sự sáng tạo Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánh những biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng của người nghệ sỹ

1.1.2 Tiểu thuyết và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết

1.1.2.1 Trong Lí luận văn học, “người ta dùng thuật ngữ tiểu thuyết để chỉ tác

phẩm truyện có quy mô lớn” [14, 292] Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn khác với

truyện ngắn, nó có một tốc độ phát triển mạnh nhất là vào thời kì cận đại và hiện đại, được nhiều nhà văn khai thác và tiếp nhận Truyện ngắn bị giới hạn về số lượng trang, riêng tiểu thuyết thì nó không bó buộc số trang viết Chính vì vậy, các nhà văn đã vận dụng điều này để bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ của mình Tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức, xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng trong một không gian, thời gian rộng lớn Bên cạnh đó, tiểu thuyết giúp người đọc hiểu được lịch sử, địa điểm, tình huống xảy ra, miêu tả cuộc sống trong tính chất văn xuôi và giàu sức tưởng tượng Tiểu thuyết mà thiếu sự tưởng tượng không phải là tiểu thuyết Tuy tưởng tượng nhưng nó vẫn tôn trọng sự thật của đời sống, vì thế đã tạo nên sự gần gũi, quen thuộc với bạn đọc Tiểu thuyết chính là mảnh đất để nhà văn nuôi dưỡng tâm hồn bao suy tư, trăn trở đều có thể bộc lộ qua từng trang văn Đồng thời, tiểu thuyết lớn là một thế giới rộng lớn được nhà văn tạo nên, qua đó, giúp nhà văn thể hiện được nhân vật muốn miêu tả, hoàn cảnh diễn ra sự việc một cách đầy đủ, chi tiết cặn kẽ hơn Tiểu thuyết cũng là một thể loại rất đa dạng về mọi mặt từ thẩm mĩ đến khả năng tổng hợp

Trang 14

nhiều khía cạnh cũng như các thể loại khác Nhà văn đã dùng khối óc và tư duy để xây dựng nên tiểu thuyết với nhiều gam màu trong cuộc sống, nguyên liệu của nó chính là hiện thực cuộc đời Như vậy, tiểu thuyết là thể loại có khả năng khái quát hiện thực một cách rộng lớn và đầy đủ nó bao gồm chiều dài lịch sử dân tộc, bức tranh sinh hoạt giai cấp và sự vận động, thay đổi của con người trong xã hội Dù có viết về nhân vật lịch sử, nhân vật trong quá khứ nhưng cách đặt vấn đề, lí giải là theo quan điểm của thời hiện tại

1.1.2.2 Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết bao gồm một số yếu tố như nghệ thuật xây dựng nhân vật; nghệ thuật trần thuật; không gian, thời gian nghệ thuật

Thế giới nhân vật là sự sáng tạo nghệ thuật, là sản phẩm hoạt động có ý thức của nhà văn Thế giới đó không chỉ tồn tại trong tác phẩm văn học mà còn tồn tại trong trí

tưởng tượng của độc giả Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân

vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong truyện Kiều” [2, 162] Còn theo cuốn

Lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên thì “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [14, 114]

Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống và của con người, thể hiện những hiểu biết, những ước mơ, kì vọng về đời sống Nhân vật văn học được tạo nên bởi nhiều thành tố gồm hạt nhân tinh thần của cá nhân như: ý chí, khát vọng, lí tưởng, các biểu hiện của thế giới cảm xúc, các lợi ích đời sống, các hình thái ý thức, các hành động trong quá trình sống Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có những dấu hiệu để nhận biết như tên gọi, tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng, …

Đối với nghệ thuật trần thật thì theo Từ điển thuật ngữ văn học trần thuật là

“Phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh,

miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định” [2, 246] Theo Lí luận văn học thì “Trần thuật là biện pháp nghệ

Trang 15

thuật cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện nhân vật, theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa” [14, 100] Trần thuật có

nhiệm vụ làm cho người đọc biết ai, xuất hiện khi nào, làm việc gì, trong tình huống nào… Trần thuật phải xử lí mối quan hệ giữa chuỗi lời kể với chuỗi sự kiện và nhân vật Như vậy có hai nhân tố quy định trần thuật: người kể và chuỗi ngôn từ Từ người

kể chuyện ta có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu

Theo cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Không

gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [2, 109] Và Trần Đình Sử lí giải thêm: “Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế giới nghệ thuật” [14, 88]

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình thức nghệ thuật Vì vậy không thể tách rời hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại

Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật tồn tại trong thời gian

nghệ thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thời gian nghệ thuật là “hình thức nội

tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [2, 219] Theo Lí luận văn học của Trần Đình Sử chủ biên thì: “Thời gian trong thế giới nghệ thuật có độ dài, nhịp độ, tốc độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại, tương lai khác với thời gian thực tại Nhà văn có thể tự do chọn độ dài” [14, 86]

Ở trong thể loại nào cũng tồn tại một thế giới nghệ thuật Nhưng thế giới nghệ thuật tiểu thuyết có những đặc trưng của riêng nó Nếu như truyện ngắn đề cập tới một lát cắt trong cuộc đời con người, phạm vi cuộc sống đề cập mang tính nhất thời, hạn hẹp, thường chỉ là một quãng đời của nhân vật thì tiểu thuyết là tưởng tượng ra một

Trang 16

con người, là tập hợp những lát cắt của cuộc đời nhỏ tạo nên cuộc đời lớn, hình ảnh phản chiếu trong đó phải trung thực, sống động, dù nhà văn có hư cấu tới đâu thì cuối cùng cũng phải đại diện cho một số phận, một cuộc đời hay một thế hệ nào đó Vì vậy,

có thế giới nghệ thuật rộng, bao quát, đa dạng giúp cho tác giả tiếp cận, bám sát đời sống hiện thực một cách toàn diện, và truyền đạt nội dung của mình trong một chỉnh thể hoàn thiện, đầy đủ Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nghệ thuật của các thể loại khác Việc tiểu thuyết bao gồm khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác làm cho tiểu thuyết vận động

và không đứng yên

Đời sống con người đang biến đổi nhanh chóng, tiểu thuyết thời kì đổi mới càng mang xu hướng đời tư thế sự, góc độ tiếp cận bám sát hiện thực hơn, chính vì vậy nghệ thuật tiểu thuyết cũng có nhiều cách tân đổi mới hơn cho phù hợp với xu thế và cảm quan của thời đại

1.2 N à vă P ù Q á

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Phùng Quán

Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế Phùng Quán sinh ra trong một gia đình nghèo Cha là Phùng Văn Nguyên khi học trường Quốc học Huế đã tham gia các phong trào truy điệu Phan Châu trinh, ân xá Phan Bội Châu nên bị đuổi học, bắt giam, bị tra tấn và chết trong tù

Mẹ là Tôn Nữ Thị Tứ, một người phụ nữ tài sắc, thuộc nhiều truyện và các sự tích anh hùng, nghĩa hiệp trong các tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và thường kể cho Phùng Quán nghe Cũng chính vì quá nghèo nên Phùng Quán bỏ học từ rất sớm Truyền thống gia đình và hiện thực cuộc sống đã giúp nhà văn có thêm những chiêm nghiệm

về sự đắng cay, khổ cực của cuộc đời và sớm trưởng thành hơn so với những đứa trẻ cùng tuổi khác

Cách mạng tháng Tám nổ ra rồi cuộc kháng chiến trường kì lại tiếp tục khi ông mới 13 tuổi Phùng Quán đã hòa cùng không khí dân tộc, giấu gia đình nhảy lên tàu đi kháng chiến chính thức trở thành một chiến sĩ của Trung đoàn Trần Cao Vân Phùng

Quán thường tâm sự với bạn bè rằng “Tôi tưởng như mình không có tuổi thơ và không

có tuổi thanh niên Tôi đã già từ khi mới sinh Tuổi thơ tôi là một tuổi thơ nghiệt ngã

và tuổi thanh niên càng nghiệt ngã hơn Bảy, tám tuổi đã phải chăn trâu cắt cỏ kiếm cơm, 13 tuổi đã cầm súng ra trận Ở cái tuổi ngây thơ hồn nhiên nhất, đáng lẽ chỉ biết

Trang 17

chơi bi, đánh đáo, hái trộm quả nhà chùa… thì tôi phải chứng kiến cảnh đầu rơi máu chảy, phải cướp súng giặc, vượt ngục,…” [9; 34]

Sau đó, Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn văn công Liên khu IV Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn

nghệ Quân đội) Không lâu sau đó, Phùng Quán bị dính vào phong trào Nhân Văn -

Giai Phẩm với hai bài thơ "Lời mẹ dặn" và "Chống tham ô lãng phí" Khi phong trào

này chấm dứt dưới tác động của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phùng Quán

bị kỷ luật, ra khỏi quân đội, sau đó mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống Vì thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ông thời kỳ này bằng sáu

chữ: "cá trộm, rượu chịu, văn chui" Năm 1990, ông mới được minh oan Vợ ông là nhà giáo Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An (Hà Nội) Ông mất ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội Năm 2007, Phùng Quán được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng cùng với Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm

Phùng Quán đến với nghề cầm bút không phải từ sách vở, từ lí luận, từ vốn kiến thức thu thập được qua trường lớp mà từ chính thực tế cuộc sống của nhân dân lao động và từ chính bản thân mình Ông đã để lại dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX

Thời kì đầu, các sáng tác của Phùng Quán thể hiện sự ca ngợi cuộc sống, quê hương

đất nước Ở thời kì này ông còn có một số tác phẩm tiêu biểu như: Tôi tự hào chế độ

nước tôi (1955), Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi (1955) Hai bài thơ Chống tham ô lãng phí (1956), Lời mẹ dặn (1957) bộc lộ rõ nét nhân cách của tác giả Bởi vì hai tác phẩm

này không chỉ được viết bằng mực mà còn được ông viết bằng máu thịt của mình Nhưng bi kịch thay chính nó đã đẩy ông tới bước ngoặt đau thương của cuộc đời, bị

kết là Nhân văn – Giai phẩm, là làm phản, bị tước quyền xuất bản tác phẩm Tuy suốt

ba mươi năm bị treo bút nhưng Phùng Quán vẫn không ngừng sáng tác Trong thời gian này ông viết cả truyện tranh Nhà văn viết khoảng 60 truyện tranh cho thiếu nhi ở

tất cả các đề tài Với đề tài chiến đấu nơi biên giới xa xôi có tác phẩm Vàng A Sìn kể

Trang 18

chuyện đáng giặc, Tên thám báo và hai em bé,… Đề tài chống Pháp có: Thiên tình sử Điện Biên, Dòng sông mất tích,… Đề tài lịch sử có thể kể đến: Tiếng chuông Thiên

Mụ, Người cầm cờ lệnh vua Quang Trung,… Truyện cổ tích bằng thơ: Chàng Ná, Bốn anh em tài giỏi,… Nhiều tác phẩm được ông dịch ra tiếng Nga, Trung Quốc,…

Nhiều truyện ngắn của ông nhận được giải thưởng trong và ngoài nước dưới nhiều bút

danh như: Con cò vàng trong cổ tích, Cuộc đời của một đôi dép cao su, Thạch Sanh

cháu Bác Hồ, Dũng sỹ chép còm, Người du kích hói đầu,…

Nói đến quá trình sáng tác văn xuôi của ông không thể không nhắc tới tên các tác

phẩm như tiểu thuyết Vượt Côn Đảo được viết khi nhà văn 22 tuổi Cả một hế hệ thanh

niên lúc đó đã từng coi đây là quyển sách gối đầu giường Đặc biệt, nhắc đến sự

nghiệp sáng tác của Phùng Quán, ta phải nhắc đến tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội được nhà văn thai nghén suốt mười tám năm và là “Bản di chúc chiến sĩ Cộng sản”, viết như một lời khẳng định “Tôi là Vệ quốc đoàn! Tôi chưa bao giờ là tên phản động”

Phùng Quán xếp hạng nổi tiếng thứ 64994 trên thế giới và 76 trong danh sách Nhà văn nổi tiếng Có thể nói, Phùng Quán là một nhà văn đa tài, các sáng tác mà ông

để lại là những đóng góp vô cùng to lớn cho kho tàng văn học Việt Nam

1.2.2 Quan điểm sáng tác của Phùng Quán

Phùng Quán là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX Dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ, ông vẫn viết, vẫn sống Ông đã để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao

cả, một tấm lòng tin yêu đồng đội sâu sắc, một tấm gương lao động sáng tạo hết mình Nhà văn Phùng Quán trong suốt hành trình sáng tác của mình, từ tác phẩm đầu tiên đến những dòng chữ cuối cùng ông viết trên giường bệnh, đều được xây dựng từ những nguyên mẫu ngoài đời, đều đầy ắp những sự thật anh hùng, bi tráng và cả đau đớn của thời đại, của kiếp nhân sinh Phùng Quán thể hiện nội dung chân thật, như bê nguyên đời sống hiện thực vào ngay trong tác phẩm của mình, từng bài thơ, từng câu chuyện, từng hình ảnh đều xuất phát từ quá trình trải nghiệm, từ ngày tháng gian nan

đã qua để cho người đọc thấy được những cảm xúc thật nhất, chân thành nhất

Tác phẩm của ông bày tỏ sự tự hào, ngợi ca đối với các anh hùng chiến sĩ, dũng cảm, kiên cường vượt qua mọi gian nan, thử thách để đổi lấy tự do cho đất nước Bên cạnh đó ông cũng tố cáo lên án những con người bán nước, vì lợi ích vật chất mà bị

Trang 19

cám dỗ, bán rẻ nhân cách, danh dự người lính của mình Qua đó ta cũng thấy được sự ngay thẳng, chân chất của Phùng Quán:

“Tôi muốn làm nhà văn chân thật

Chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã”

(Trích Lời mẹ dặn)

Bị nghi oan suốt mấy chục năm trời, phải chịu hành hạ về tinh thần, hàng ngày chật vật vì miếng cơm manh áo nhưng Phùng Quán không oán trách ai, vẫn âm thầm sáng tác Luôn là khẩu khí yêu ghét ra mặt, có gì nói đó, ông đem luôn cả máu của mình ra để viết văn vì một trái tim đầy nhiệt huyết với đất nước, vì sự thương xót đến cảnh cùng cực của nhân dân

Từng câu chuyện dù rất ngắn của Phùng Quán bao giờ cũng toát lên được triết lí nhân văn sâu sắc Lúc nào ông cũng khao khát được viết, được sáng tạo Bởi với

Phùng Quán “tôi viết là tôi tồn tại” Dù phải vượt qua nhiều hiểm nguy, đau khổ sau

ba mươi năm vụ Nhân văn – Giai phẩm nhưng nhà văn vẫn cặm cụi viết “viết ngay

viết thẳng từ dòng đầu đến dòng cuối”, ca tụng đất nước, cách mạng, tình yêu bằng những tác phẩm văn chương cuốn hút, thiết tha và nhân bản Phùng Quán luôn tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần độc đáo cả về nội dung lẫn cách biểu hiện Ông đã tìm được những vấn đề mới mẻ ở ngay trong đề tài vốn quen thuộc Tác phẩm của Phùng Quán là những sản phẩm mẫu mực của một quá trình lao

động rất nghiêm túc và công phu Cụ thể như Tuổi thơ dữ dội được ông thai nghén

suốt mười tám năm trời, dài 722 trang nhưng từng dòng từng trang vẫn hấp dẫn người

đọc từ đầu tới cuối Các tác phẩm của ông như Vượt Côn Đảo, Tiếng hát trên địa ngục

Côn Đảo, Ba phút sự thật, Tuổi thơ dữ dội, mãi là những viên ngọc quý trong văn

học nước nhà

1.3 Tiểu thuyết đương đại Việt Nam và tác phẩm Tuổi thơ dữ dội

1.3.1 Vài nét về tiểu thuyết đương đại Việt Nam

Văn học Việt Nam từ sau 1975 chứng kiến sự đổi mới của hàng loạt thể loại

trong đó có tiểu thuyết Trong bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ góc độ

thể loại, trích Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, tác

giả Bùi Việt Thắng đã đưa ra một số ý kiến về việc nhận diện tiểu thuyết trong nền văn

Trang 20

học đương đại như sau: “Trong những khúc ngoặt đời sống, thường thì truyện ngắn

đáp trả nhạy bén hơn trong các thể loại văn xuôi (…) nhưng tạo nên những chấn động cao trào văn học thì phải là tiểu thuyết” [16, 182] Tác giả cũng đưa ra một loạt các số

liệu thể hiện cụ thể như: “Theo tư liệu của Ma Văn Kháng trong Đổi mới tư duy tiểu

thuyết, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội 2002 thì năm 2001 có 50 cuốn tiểu thuyết được in ở các nhà xuất bản lớn; cuộc thi viết tiểu thuyết do Hội Nhà văn tổ chức năm 1998 -

2000 có hơn 200 bản thảo tham dự; cuộc thi viết tiểu thuyết và kí do Bộ công an và Hội Nhà văn tổ chức trong năm 1999 - 2001 có hơn 100 bản thảo tham dự” [16, 182]

Đây chỉ là thống kê số lượng tiểu thuyết nhưng điều này cũng cho thấy người đọc đang ngày càng quan tâm đến thể loại này Bước vào thời kì văn học đổi mới, tiểu thuyết đã

có một vị trí vững vàng và gặt hái được nhiều thành công, lôi cuốn được nhiều bạn đọc Đây là thể loại hứa hẹn cho nhiều cây bút tỏa sáng Tiểu thuyết Việt Nam vẫn đang trăn trở tìm tòi nhằm đổi mới tư duy thể loại để có một hướng đi mới Người viết

bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải

sáng tạo ra một hình thức riêng Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật vận động đồng thời sản sinh ra sự

diệt vong của chúng” (Dẫn theo Lê Phương Tuyết – Alain Robbe Grillet và sự đổi mới

tiểu thuyết, Tạp chí Văn học số 3 – 1999) Động lực để tiểu thuyết thời kì đổi mới có

những bước tiến đáng kể là do ta đã có những đổi mới về tư duy nghệ thuật Tiểu thuyết truyền thống nghiêng về sự khám phá đời sống đơn giản và xuôi chiều Họ nhìn nhận hiện thực trên phương diện bao quát Đa số các cây bút viết tiểu thuyết vẫn loay hoay chưa thoát khỏi lối viết giảng giải, cắt nghĩa, lắp ghép sự kiện một cách đơn giản,

dễ dãi Cần phải thừa nhận một thực tế đang tồn tại trong đời sống tiểu thuyết của ta, rằng nhiều nhà văn trong thời kì đổi mới vẫn chưa có sự “lột xác” vượt thoát ra khỏi lối viết truyền thống Có thể khẳng định rằng có nhiều cây bút trong thời kì đổi mới đang nỗ lực phá tan rào cản truyền thống xuôi chiều của tiểu thuyết xưa để đến với cách nhìn mới mẻ, sáng tạo Sau đổi mới và nhất là càng những năm gần đây, tiểu thuyết hiện đại đã nỗ lực để tái hiện bức tranh hiện thực cuộc sống từ những mảnh vụn rơi vãi

Từ thời điểm cao trào đổi mới (1986) đến cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết nở rộ, đội ngũ người viết ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, nhiều cuốn nhận được giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội Nhà văn, có cuốn không

Trang 21

được giải nhưng làm xôn xao dư luận như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bên kia bờ ảo

vọng (Dương Thu Hương), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Côi cút giữa cảnh đời (Ma Văn Kháng), Nước mắt đỏ (Trần

Huy Quang), Người và xe chạy dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái), Ngày thường (Phùng Khắc Bắc), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán),… Có thể nói

tiểu thuyết chặng này viết về mọi đề tài nhưng hệ quy chiếu phổ biến là các giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý Chính những câu hỏi về con người (trạng thái tồn tại của nó, ý nghĩa cuộc sống của nó)

là nơi giao hội nhiều cảm hứng, nhiều chủ đề, làm nảy sinh nhiều loại nhân vật, nhiều sắc thái ngôn ngữ, nhiều cảm thức văn học Nỗ lực đổi mới chặng đường này chủ yếu dồn vào cách xử lý chất liệu hiện thực: Một hiện thực đa chiều, hiện thực vừa có tính hữu lý vừa phi lý, vừa trật tự vừa hỗn loạn, vừa thuộc về cái rành rõ lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn huyền hồ,… đó là sự nới rộng đáng kể biên độ hiện thực so với tiểu thuyết trước 1975 Soi qua “tấm gương” tiểu thuyết, có thể thấy các mối quan

hệ giữa văn chương với hiện thực, nhà văn với bạn đọc đều được dân chủ hoá mạnh

mẽ Nhà văn có quyền xem hiện thực là mục đích phản ánh hay cho là phương tiện để công bố tư tưởng riêng, do vậy anh ta không còn bị lệ thuộc vào hiện thực Người đọc

từ bỏ dần thói quen đối chiếu những điều tác phẩm kể lại với cuộc sống có thực ngoài tác phẩm để suy tư về những gì được nhà văn gửi gắm qua cái hiện thực được lựa chọn

có khi đầy tính chủ quan, cá biệt Người đọc có quyền tin hay không tin câu chuyện được kể bằng kinh nghiệm cá nhân như thế

Nay vào đổi mới, cuộc sống mà con người cần phải đối diện lúc này là cuộc sống cơm áo gạo tiền, mưu sinh chật vật Hiện thực không còn oanh liệt nữa mà khi đối diện với cái đói, với cuộc sống vật chất thì hiện thực là sự đố kị, sự ganh gét, sự xấu xa và đôi khi là tàn ác Tiểu thuyết hiện đại đã đáp ứng được nhu cầu ấy Nó đi sâu len lỏi vào từng ngóc ngách trong tâm hồn con người, nhận ra cả những suy nghĩ tàn ác, đểu cáng thậm chí tàn sát nhau giữa người và người trong công cuộc mưu sinh Vẫn trong

bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ góc độ thể loại tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng : “Nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại khi đi tìm sự thật đời sống thường cô

đơn với chính mình, nghĩa là thế giới của một người được thay thế thế giới của nhiều người” [16, 170] Tiểu thuyết hiện đại không ngần ngại phơi bày hiện thực cuộc sống

Và hiện thực ấy được lột tả, bóc trần không giấu giếm thậm chí là thô nhám, trần trụi

Trang 22

và tàn nhẫn Đó cũng là một trong những biểu hiện mạnh mẽ cho xu hướng đổi mới của thể loại tiểu thuyết hiện đại mà ta có thể nhận thấy ở một loạt các tên tuổi như: Bảo Ninh, Lê Lựu, và Phùng Quán

Tóm lại, tiểu thuyết là một trong số những thể loại có vị trí quan trọng, ngày càng

có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn học đương đại Vệt Nam bởi lẽ bản thân nó đáp ứng được nhu cầu thị hiếu thẩm mĩ của người đọc Điều đáng nói là ngày một nhiều cây bút đang nỗ lực có sự cách tân cho thể loại này Đó là một đóng góp không nhỏ cho tiểu thuyết hiện đại nói riêng và văn học hiện đại nói chung

1.3.2 Tiểu thuyết tuổi thơ dữ dội của nhà văn Phùng Quán

Xuất hiện 32 năm sau vụ Nhân văn – Giai phẩm, Tuổi thơ dữ dội đã khẳng định

tài năng và nhân cách của Phùng Quán Như Phùng Quán đã nói, cuốn sách ấy là một

phần của đời ông, ông gọi nó là Bản di chúc chiến sĩ của cuộc đời tôi, và luôn nâng niu

trân trọng nó như nâng niu tuổi thơ của chính mình Đây là một tác phẩm tiểu biểu viết

về đề tài kháng chiến, được chắt ra từ mồ hôi, công sức, nước mắt, từ xương thịt, từ

tâm hồn cao đẹp và từ tất cả sự say mê, tâm huyết của nhà văn Tuổi thơ dữ dội được

khởi thảo bên hồ Tây năm 1968, được hoàn thành trong lều cỏ giữa hồ Tịnh Tâm năm

1986 và ấn hành năm 1988, được tái bản chín lần với số lượng khá lớn, minh chứng cho một điều: Tác phẩm được độc giả nhiều thế hệ đón nhận nồng nhiệt, nó không đơn thuần là cuốn sách dành cho trẻ thơ mà nó phù hợp với tất cả mọi người Đây là tác phẩm được viết bằng toàn bộ kí ức tuổi thơ của tác giả với một văn phong độc đáo tạo

ra dấu ấn riêng cho tác phẩm Đây cũng là tác phẩm văn xuôi của Phùng Quán được in

bằng chính tên thật sau ba mươi năm sống trong khổ cực Tuổi thơ dữ dội nhanh chóng

đạt được nhiều thành công Năm 1988 được nhận giải thưởng Văn học thiếu nhi của

Hội nhà văn Việt Nam và hai năm sau đó, cuốn sách được chuyển thể thành phim

Tác phẩm xây dựng thành công bức tranh hoành tráng về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, là một hồi ký tự truyện kể lại quá trình tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập của những người lính trinh sát 13, 14 tuổi Đó cũng chính là

kỉ niệm một phần đời của tác giả Tuổi thơ dữ dội ra đời là một trong ba dự định lớn nhất trong suốt cuộc đời khó nhọc của tác giả Tuổi thơ dữ dội là tác phẩm tiêu biểu về

đề tài kháng chiến trong thời kì đổi mới Tác giả đã khẳng định một cách chính xác, vững vàng tên tuổi của mình trên văn đàn văn học Việt nam đương thời

Trang 23

Đề tài chiến tranh là nguồn cảm hứng của nhiều nhà văn Việt Nam nhưng đến Phùng Quán, ông đã xác lập một cái nhìn hoàn toàn mới về hiện thực lịch sử, thể hiện niềm tự hào dân tộc, tinh thần đấu tranh, kiên cường bất khuất không chỉ thường thấy

ở những người lính trưởng thành mà đây là ở những cậu bé thiếu niên Chiến tranh trong tác phẩm của ông không chỉ đơn thuần là ca ngợi những anh hùng cách mạng mà lồng ghép vào đó còn là hoàn cảnh sống cơ cực, nghiệt ngã, mất mát, đau thương, là tình yêu gia đình, yêu quê hương, là tình yêu đối với những giai điệu, câu hát hào hùng của cách mạng,… các em chấp nhận tất cả, vượt lên hoàn cảnh không hề tránh né, sợ sệt

Tác giả đã bày tỏ sự cảm phục của mình đối với đội Vệ quốc đoàn con nít trước

sự dũng cảm, kiên cường, chiến đấu quên mình, nhưng sâu thẳm cái nhìn ấy còn có cả

sự xót xa trước sự hy sinh của tuổi thơ hồn nhiên, vô tư trong kháng chiến Chính từ hiện thực chiến tranh, bằng cảm xúc của một người từng được trải qua, Phùng Quán đã mang vào nhân vật của mình những tính cách, những số phận, những tâm hồn khác nhau, nhưng trên hết đó là những ý nghĩa nhân văn cao cả

Tuổi thơ dữ dội là tác phẩm thể hiện rõ tinh thần yêu nước, trọn một lòng vì Tổ

quốc của Phùng Quán Ông đã đặt vị trí của mình vào số phận của nhân vật cùng với vốn sống và tài năng của mình để cho ra đời cuốn tiểu thuyết dày hơn bảy trăm trang

mang tên Tuổi thơ dữ dội Mỗi trang văn là một trang đời, là một mảng kí ức về lịch sử

dân tộc, tác động rất lớn đến cảm nhận và tâm hồn độc giả Tiết thuyết được viết lên

bằng tất cả sự chân thành, nhiệt huyết và từng trải Đúng như lời nhà văn chia sẻ: “Thì

ra những gì thật sự chân thành, lương thiện, trong sạch và cao thượng đều có khả năng kì diệu tự mở lấy đường đến thẳng trái tim các thế hệ mà chẳng cần giảng giải, biện minh”[9, 90]

Tiể kết

Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của

con người Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là hệ thống không chỉ là đặc trưng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trưng cho nhà văn nói chung Qua việc tìm hiểu khái niệm về thế giới nghệ thuật, tiểu thuyết, thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết ta có thể lấy đó làm cơ sở, nền tảng để nghiên cứu về hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về thế giới từ đó có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật

Trang 24

Qua Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán đã khẳng định đƣợc vị trí của mình trên văn đàn Từ

Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán đã chứng minh đƣợc tài năng và sức sáng tạo vƣợt bậc

của ông Tuổi thơ dữ dội đã đƣợc tác giả nhìn nhận và khai thác mọi vấn đề trong

chiều sâu mới, thực hơn, toàn diện hơn

Trang 25

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT TUỔI THƠ DỮ DỘI CỦA PHÙNG QUÁN

2.1 Các kiể co ười đặc trư

2.1.1 Con người số phận cơ cực, đau thương

Có một thuở khi đất nước còn chìm trong những đêm mù mịt của khói đạn và những tiếng than khóc Có một thời người dân Việt Nam sinh ra và lớn lên trong cảnh nhà có mà không thể về, hàng ngày phải đối diện với bọn giặc cướp nước, cơm ăn, áo mặc không đủ, cuộc sống lay lắt từng ngày với bữa no bữa đói, không được học hành

Những con người trong Tuổi thơ dữ dội cũng như vậy, con người trong đây đa số là

những cậu bé 13, 14 tuổi, mỗi người ai cũng có hoàn cảnh riêng của mình Các nhân vật thiếu nhi trong tuổi thơ dữ dội cũng không ngoại lệ Từ khắp mọi vùng trên đất Huế mộng mơ, các em tụ về trong đội trinh sát Trần Cao Vân Mỗi em một hoàn cảnh, nhưng đa số đều có cuộc đời éo le, vất vả như nhau

Ngòi bút của Phùng Quán đã đạt được nhiều thành công khi dành nhiều trang viết cảm động kể lại cụ thể hoàn cảnh gia đình của từng chiến sĩ nhỏ: Mừng, Lượm, Vệ đầu to, Hiền, Vịnh sưa,… Độc giả càng thấm thía nỗi đau chiến tranh khi chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, mồ côi từ nhỏ, không được học hành đến nơi đến chốn, phải vật lộn với nhiều bão giông cuộc đời để đắp đổi qua ngày của các em

Đó là cuộc đời của Vịnh-sưa một cậu bé trạc 14 tuổi Tuổi còn nhỏ nhưng đã

quen với công việc nặng nhọc nên “hai bàn tay em chẳng có chút gì là bàn tay trẻ con,

chúng to, thô, lòng bàn tay đầy chai, và nhiều vết rạn đen trên các móng tay” [10, 27]

Mồ côi cha từ nhỏ, mẹ bỏ đi lấy chồng Người bác ruột đưa em về nuôi Bác Vịnh – sưa làm thợ nguội ở nhà máy đèn Huế với đồng lương hạn hẹp Vì quá khó khăn nên khi còn học lớp tư, Vịnh – sưa phải thôi học để ở nhà bồng em cho bác Chín, mười tuổi đầu đáng ra em còn đang nhận được sự chăm sóc ân cần của cha mẹ, được cắp

sách đến trường vậy mà “nó phải làm việc quần quật từ sáng đến tối Người bác gái ác

nghiệt thường xuyên đánh đập nó chẳng khác gì đứa ở” [10, 28] Em vì thương, vì biết

ơn sự cưu mang mà cứ mãi im lặng, chịu đựng sự hành hạ của bác gái Mười một tuổi

em nối nghiệp bác của mình vào xưởng học nghề nguội Bàn tay nhỏ bé đáng ra còn đang đánh bi, thả diều, bắt dế,… nay lại thành thạo cái kìm, cái búa, cái giũa,…

Hay Vệ đầu to cậu bé trạc tuổi Vịnh – sưa lại xuất thân từ một diễn viên nhào lộn của gánh xiếc rong Nhắc đến xiếc chắc ai cũng liên tưởng đến sự vui nhộn, thú vị

Trang 26

nhưng với Vệ thì lại trái ngược với điều đó Chuỗi ngày theo gánh xiếc là khoảng thời

gian vất vả, cực nhục đến ghê người “Cuộc sống ấy đã để lại trong trí nhớ chú bé có

cặp mắt dịu dàng như mắt nai này biết bao kỷ niệm hãi hùng” [10, 42] Đi theo gánh

xiếc đồng nghĩa với việc hằng ngày em phải sống chung với cây roi da của ông Khách

chủ gánh Vừa phải tập diễn xiếc vừa phải sợ hãi “Con khỉ, con gấu, anh lùn và Vệ,

mỗi lần làm sai, làm hỏng, ông ta quất không tiếc tay, lại còn phạt nhịn đói” [10, 43]

Đến con khỉ, con gấu chịu chiếc roi da của ông mà cũng phải ôm mặt kêu rú lên, lăn lộn dưới đất, chắp tay lạy ông rối rít Từ đó mới thấy được sự tàn nhẫn, không có tình thương của người mang danh chủ gánh Hơn thế nữa, chỉ vì cạnh tranh với những gánh xiếc khác mà ông bắt anh lùn, bắt Vệ diễn những trò nguy hiểm đến cả tính mạng Nào

là phi thân bay qua vòng lửa đang cháy có cắm mười hai lưỡi dao nhọn hoắt, nào là đi trên dây thép căng cao hai thước bên dưới là bàn gỗ cắm ngược mười hai lưỡi dao và khủng khiếp hơn là làm bia sống cho anh lùn ném dao Đi theo gánh xiếc từ khi con

nhỏ, kí ức về gia đình của em rất ít Em chỉ nhớ “Cả nhà em sống chui dưới một cái

gầm cầu sắt to lắm Người gồng gánh, ô tô tàu hỏa… đi lại rần rần trên cầu suốt ngày, suốt đêm” [10, 44] Đến mặt cha mình em còn không thể nhớ rõ chỉ biết cha thường

mặc bộ áo quần xanh, rách rưới nồng nặc mùi vôi Chiều chiều em hay ra đón cha đi làm và ngày hôm đó em chờ mãi, chờ đến tối mịt cũng không thấy bóng cha đâu Má

ôm em khóc, khóc gào như sắp hóa điên, đầu tóc rũ rượi Sự hụt hẫng, sợ hãi khi không nhìn thấy cha chưa bao lâu thì em tuyệt vọng và hoàn toàn suy sụp khi buổi sáng hôm ấy người chèo đò vớt má em từ dưới sông lên Sự nương tựa, tia hi vọng cuối cùng của em theo đó mà vụt tắt, biến mất mãi mãi Em thành cậu bé mồ côi khi bản thân còn chưa kịp nhận thức hết Em lang thang đi khắp nơi xin ăn rồi gặp ông chủ gánh, ông ta đem em đi theo, từ đó em thành người gánh xiếc Cậu bé Vệ chỉ trong khoảng thời gian ngắn đã mất cả cha lẫn mẹ, đau đớn là thế nhưng mọi thứ lại không dừng lại ở đó, em tiếp tục phải đối mặt với đòn roi của ông chủ gánh tàn ác Tất cả những nỗi đau tưởng như quá sức với một đứa trẻ đó lại được em vượt qua tất cả, điều

đó thể hiện một nghị lực phi thường không phải ai cũng có được

Chắc chúng ta cũng không thể quên được cậu bé Mừng xuất hiện ngay đầu câu chuyện Mừng sinh trong trong một ngôi nhà nằm cuối con đường kiệt nhớp nháp nhất

xóm Bao Vinh Căn nhà thì tạm bợ, xơ xác “Mỗi lần mưa to, nước chảy tứ tung trong

nhà, mạ em phải lấy mo nang mà dọi, dọi được chỗ ni lại dột qua chỗ khác Nhiều bữa

Trang 27

ngồi trong nhà mà hai mạ con phải đội nón” [10, 62] Trong nhà cũng không có nổi

một vật giá trị: một bức phản mọt gãy mất một chân, phải kê gạch, cái chõng tre nhỏ, cái sân rêu phủ xanh Mẹ em tên Niệm bán bún bò gánh, cha em tên Năm, mặt dữ tợn, trên ngực xăm đầy rồng rắn Cha bỏ mạ em đi lấy vợ khác những như vậy cũng chưa dứt cứ năm bữa nửa tháng ông ta lại về hạch sách hai mẹ con Khi không vừa ý lại lôi

mạ ra mà đánh, mà chửi “Nhiều lần cha còn lột hết áo quần của mạ, cột tóc mạ vô

chân cột nhà, rồi cầm thanh của mà phang” [10, 63] Người đàn ông tàn nhẫn đó đã

trở thành nỗi ám ảnh của Mừng Mỗi lần thấy bóng dáng ông ta xuất hiện em lại lủi xuống bếp hoặc ra ngoài đường và chỉ biết đứng nghe tiếng chửi, tiếng đánh đập mạ trong nhà Em xót lắm, thương lắm nhưng chẳng thể làm gì được Em chỉ chực chờ ông ta đi để ôm chầm lấy mẹ mà khóc Mừng ấm ức không hiểu tại sao cha đối xử với

mạ cay nghiệt đến như vậy nhưng mạ thì luôn âm thầm chịu đựng, phục tùng theo ông

ta Chỉ đến một hôm em vô tình biết được nguyên nhân, cha em cho rằng cuộc đời mạ

nhơ nhớp, mang tiếng là một “con đĩ” Đau xót làm sao, cùng đường kiệt lối mà người

đàn bà này bị cuộc sống xô đẩy vào tủi nhục nhưng với Mừng thì mạ vẫn luôn là người

em yêu thương nhất Mừng – một số phận, một tâm hồn tổn thương quá sâu sắc nhưng trong em vẫn có tình yêu thương mãnh liệt với mẹ của mình

Trong Vệ quốc đoàn còn có rất nhiều cảnh đời thương xót, nào là Hòa – đen trước khi là chú lính nhỏ thì em làm nghề bán đậu phụng rang nóng giòn Em Bồng thì lại chuyên bánh mì Buổi sáng lạnh thấu da thấu thịt, những đứa trẻ khác đang trong chăn ấm áp thì em đang phong phanh áo cộc, quần đùi, gắng cất cao tiếng rao để bán

Tuổi thơ dữ dội là tập hợp những câu chuyện về cuộc đời của những chiến sĩ nhỏ

tuổi trong trung đoàn Mỗi em mang trong mình một phần kí ức đau thương trước hoàn cảnh sống cơ cực, đau thương Độ tuổi còn quá nhỏ đáng ra phải vui đùa, hạnh phúc trong gia đình êm ấm vậy mà đến với các em chỉ toàn là mất mát, là cảnh nghiệt ngã, hành hạ Các em đã kiên cường, đã vượt qua tất cả để tiếp tục sống, để đến với lí tưởng cách mạng, góp sức mình để bảo vệ quê hương đất nước

2.1.2 Con người yêu nước, hồn nhiên, dũng cảm

Quê hương đất nước có một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người Quê hương là cái nôi đón tiếng khóc chào đời, kí ức tuổi thơ với những bước đi chập chững, rồi cuộc sống gia đình đều gắn chặt với làng quê Từ xưa đến nay, tình yêu quê hương, đất nước luôn được nhắc đên là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Chính tình cảm này đã

Trang 28

làm nên bản sắc trong đời sống tình cảm của cá nhân, giúp ta không ích kỉ vì biết gắn

bó với cộng đồng, biết hòa nhập và đắm mình với những đạo lí truyền thống ngàn đời của dân tộc

Tình yêu quê hương đất nước nói cách khác chính là lòng căm thù giặc khi đất nước bị xâm lăng, khi tổ quốc gặp gian nguy Mừng hồn nhiên, trong sáng trả lời với

chỉ huy rằng em thích đánh Tây “vì tụi Tây hay đá đít người mình” [10, 21] Câu trả

lời thật thà còn mang tính trẻ con nhưng lại thể hiện sự bất bình của em trước hành động của bọn Tây đối với dân ta Còn Vịnh thì em phải chứng kiến cảnh Bác mình bị

bọn Tây đánh chảy cả máu nhưng lại không thể làm gì được Đối với Lượm là “cách

mạng nòi”, khi còn nhỏ em đã phải chịu mất mát do giặc gây ra, cha em là cộng sản bị

Tây bắn chết từ khi em mới lên 2 tuổi Vì vậy, lòng yêu nước căm thù giặc trong em hình thành từ sớm và rất mãnh liệt

Sự vui mừng, quyết tâm tham gia Vệ Quốc Đoàn của các em cũng thể hiện rõ tinh thần yêu quê hương đất nước Là sự bất ngờ, không kịp thở của Vịnh-sưa khi nghe chính trị viên ngỏ ý tuyển em làm liên lạc cho đơn vị Chỉ vì sợ anh chính trị viên đổi ý

mà em tính ở lại luôn không về nhà Một khao khát mãnh liệt được theo cách mạng, được góp mình để đánh Tây Rồi còn Bồng da rắn thì khi còn lang thang bán bánh lại thừa cơ nẫng luôn khẩu súng của tên lính Tàu say rượu Em hớn hở, đi một mạch đến

thẳng đơn vị Vệ Quốc Đoàn mà khoe chiến tích “Bị bánh là của nhà chủ (… ) còn

khẩu súng là của em Các anh phải thưởng công cho em, cho em được vô Vệ Quốc Đoàn” [10, 57]

Tinh thần yêu nước trong Tuổi thơ dữ dội còn được thể hiện thông qua sự vui

mừng, phấn khởi khi được giao nhiệm vụ Đó là tình cảm đã được cụ thể hóa bằng hành động Yêu quê hương, đất nước là nghĩa vụ và còn là trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ

và xây dựng đất nước Các em tuổi còn rất nhỏ mà đã làm được những điểu mà ngay

cả người lớn chưa chắc đã làm được

Các nhân vật trẻ thơ trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán dù bị vùi dập, ngược

đãi, dù cực khổ, gian nan vẫn giữ được sự trong sáng, thanh khiết vốn có đúng với độ tuổi vốn có của mình Chỉ có trẻ thơ mới biết làm thế nào để có khoảng thời gian đẹp nhất, làm thế nào để biến môi trường nhạt nhẽo trở thành một nơi đầy niềm vui vì các

em có sự hồn nhiên, vô tư Nét tính cách trẻ thơ của nhân vật được thể hiện trên nhiều

Trang 29

đặc điểm: thơ ngây, hồn nhiên, cả tin, hiếu kì, thích phiêu lưu mạo hiểm, muốn tỏ ra mình là người lớn, trêu ghẹo, chọc phá nhau

Không như đa số người lớn, nụ cười đến với trẻ thơ là điều đơn giản và rất tự nhiên Không cần đến những điều lớn lao, phức tạp, các em tìm thấy niềm vui từ mọi nơi Đó là tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên của các em khi nghe mừng trả lời với chỉ huy rằng biết bồng em, biết chọi dế để đánh Tây Mừng chỉ suy nghĩ ngây thơ cho là

kể càng nhiều việc thì chỉ huy càng dễ cho nhập đội, nhưng kết quả “Cả đội lần này

phải bò lắn ra ván cầu mà cười Tư-dát gò lưng ôm bụng cười ngắt ngắt không thành tiếng, chảy cả nước mắt nước mũi.” [10, 23] Trong đời, ai cũng có đôi lần mong cho

thời gian quay lại chẳng phải vì niềm tiếc nuối mà đôi khi chỉ vì thương nhớ chính mình với nụ cười còn vô tư và ánh nhìn còn trong trẻo đó Còn nhỏ câu trả lời của em luôn chân thật như những gì em cảm nhận được Phải nói Tư-dát là chúa bày trò, chúa hài hước, em luôn mang lại tiếng cười cho đội Chọn đồ cho mừng thôi mà cũng khiến

cả đội cười sặc sụa Giở ra cái giọng anh nạt yêu em mà nói với Mừng “Mặc ngay bộ

“com-lê” ni vô không thì lạnh sưng phổi chết bây giờ Ai bảo nghịch cho lắm” [10,

20] Lại còn vừa giúp Mừng mặc đồ vừa méo mồm trợn mắt làm trò hề chọc cười các bạn

Toán “Vệ Quốc Đoàn con nít” vẫn luôn nghịch ngợm và trêu chọc nhau Các em

chạy thành hàng để tập luyện nhưng vẫn không quên láu cá, khi thì giả vờ mất đà đâm chúi vào lưng đứa chạy trước Cũng có lúc sự tự ái của trẻ con lại nổi lên Nghe bạn

nói mình đen thì Hòa liền cau mặt phân trần “Tớ đen nhưng chỉ đen vừa vừa, có mô

đen thui như hắn” [10, 12] Khi thì lại cố tình giậm chân thật mạnh, làm cho ván cầu

kêu rầm rầm Có lúc lại bắt chước, giả bộ vẻ nghiêm túc Để chứng minh rằng mình

không phải là một chiến sĩ hèn nhát “Có đứa làm bộ hiên ngang, ngực ưởn ra, bụng

thót lại, tay khuỳnh khuỳnh chống nạnh” [10, 14] Anh chỉ huy nghiêm nghị cũng phải

bật cười vì sự nghịch ngợm đáng yêu của các em Là những chiến sĩ Vệ quốc đoàn hàng ngày phải trải qua các bài tập luyện khó khăn nguy hiểm nhưng vì còn nhỏ tuổi nên vẫn vô tư bày ra những trò nghịch ngợm, láu cá Tư- dát làm điệu bộ hăng hái trèo lên thành cầu để xung phong nhảy xuống nước Em tỉnh bơ, oai phong đứng trên thành

cầu, dõng dạc thách thức các bạn “Anh em mở to mắt ra mà coi tài lão gia nhảy!” [10,

16] Tư-dát vốn thông minh lại hài hước, lém lĩnh, em lại điệu bộ in hệt đội trưởng hướng dẫn Em còn cố tình làm quá lên, nhún tù tì hàng chục cái, làm cả đội nhìn hoa

Trang 30

cả mắt Ai cũng ngóng, theo dõi xem Tư-dát tính làm gì tiếp Bất thình lình em dõng dạc hô to đầy khí thế, ai cũng nghĩ em đã lao xuống sông Nhưng cuối cùng cả đội

ngao ngán nhận ra “bất ngờ nó ngồi thụp xuống cột cầu, ngoẹo đầu, méo mồm, trợn

mắt làm trò hề Cả đội bị mắc lỡm ôm bụng cười bò Hình như cả đội đã quá quen vói những trò đùa của Tư-dát” [10, 16] Những chi tiết nhỏ được Phùng Quán thể hiện

thật chân thực, đời thường nhưng sinh động, hấp dẫn Các em sống đúng với suy nghĩ, cảm xúc thật của mình

Tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng của những đứa trẻ còn được Phùng quán miêu tả ngay trong sinh hoạt của các em Mặt trận vẫn còn vài tràng nổ rời rạc nhưng trong

ngôi lầu “Doanh trại” thì các chiến sĩ nhỏ tuổi đã di vào một giấc ngủ say Giấc ngủ ngon lành và thật bình thản “Từng tổ một nằm úp thìa lên những tấm phản, những mặt

bàn kê liền nhau, ôm nhau ngủ ngon lành Nhiều chiếc chăn bị đạp tung, mấp mé tụt xuống đất Có em nằm xoay ngang đầu lộn xuống chân, chân gác lên bụng bạn nằm bên cạnh Có em bật cười lên khúc khích, ú ớ nói mê…” [10, 55]

Chiến tranh với bao mưa bom, bão đạn cũng không làm các em ngưng đi tiếng cười giòn tan, vô ưu vô lo của trẻ nhỏ Sắp được làm nhiệm vụ, cả ngày các em hồi hộp trong chờ Nhưng nghiêm túc chưa hết một ngày các em lại hồn nhiên tụ họp say sưa chọi dế Khi thì đang mãi mê nói chuyện Đảng Cộng sản bỗng nhiên thấy hai con

gà trống nhà ai đá nhau ngoài ngõ, thế là cả nhóm chạy ùa ra xem ngay Rồi còn cảm

giác sung sướng khi được chạm tay và sở hữu một quả lựu đạn, một khẩu “côn mười

hai”, mê tít “ông già bảy lăm” – niềm tự hào của toàn mặt trận Huế

Ham muốn được lập công vì phần thưởng cũng là một nét hồn nhiên của trẻ thơ, đứa trẻ nào là lại không muốn được người lớn khen, được cho quà Khi đại đội trưởng giao hẹn em nào lập công trong nhiệm vụ trinh sát địch sẽ được thưởng, ai nấy cũng đều mừng rỡ suýt nửa nhảy hết cả lên, lại còn cho rằng trên đời này không có ai tốt bằng đại đội trưởng Thới Mong muốn lập công, được khen thưởng là mong muốn của tất cả trẻ con Ai cũng muốn thể hiện mình, những lúc đội trưởng giao nhiệm vụ, em nào cũng muốn giành phần nặng, phần khổ về mình, không thích làm những việc đơn

giản, nhẹ nhàng để chứng tỏ ta đây là “Vê- Cu- Đê chính cống”

Rõ ràng là truyện viết cho thiếu nhi nhưng Phùng Quán khiến cho mọi người đọc phải xúc động bởi những hình ảnh chân thật, cảm động nhất của thời thơ ấu dược phản ánh rõ nét trong tác phẩm Cho dù những chiến sĩ nhỏ ấy sinh ra và lớn lên cùng bom

Trang 31

đạn nhưng điều đó không thể giết chết được tâm hồn trẻ thơ, khói lửa chiến tranh không đủ sức mạnh để dập tắt hẳn nụ cười của các em Bằng ngôn ngữ mang đậm sắc thái địa phương hòa với giọng văn biến đổi linh hoạt, khi thì rất “con nít”, khi thì rất nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của một người từng trải, Phùng Quán đã thể hiện sinh động tính cách trẻ thơ hồn nhiên, vô tư, trong sáng của những thiếu niên tuổi mười ba, mười bốn ấy

Phùng Quán miêu tả chủ yếu chân dung những thiếu niên dũng cảm trong những ngày Huế nổ súng kháng chiến chống Pháp Sớm giác ngộ lí tưởng, nuôi dưỡng tình yêu cách mạng, tình yêu kháng chiến mãnh liệt và lòng căm thù giặc tận cùng, không

ai trong các em không tự nguyện và tìm đủ mọi cách để được tham gia, được chính thức đứng vào hàng ngũ cách mạng Có em thì vì tìm hái lá thuốc cho mẹ mà đến, có

em vứt luôn cặp sách xuống sông, bất chấp nhảy xuống thuyền đi theo các anh chiến

sĩ Có không ít không ít chiến sĩ nhỏ tuổi nhưng chí lớn, tự nguyên dâng cả tuổi thơ, cả cuộc đời mình để đuổi lấy tự do cho dân tộc là con nhà khá giả, được học hành tử tế Thế nhưng chỉ vì những bài hát cách mạng, những hành động cao đẹp, hiên ngang của

Vệ quốc đoàn, đoàn quân Nam tiến,… họ sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả, không luyến tiếc để đi theo tiếng gọi của hồn thiêng dân tộc Nhiều em hàng ngày phải bán đậu

phụng, bánh mì nóng giòn, làm xiếc vẫn luôn mang trong mình ước mơ thành “Vê –

Cu – Đê” Kháng chiến làm sao có thể bỏ qua, làm ngơ trước những lí tưởng đẹp đẽ,

những giọt nước mắt chân thành, những câu nói khảng khái của các cậu bé tuổi nhỏ nhưng ý chí không nhỏ này Các em đã được cách mạng đón nhận, trở thành ba mươi hai thành viên của đội thiếu niên trinh sát trung đoàn Trần Cao Vân

Tuổi còn nhỏ nhưng tính kỉ luật, tinh thần dũng cảm, bất khuất của các em đến người lớn cũng phải trầm trồ, nể phục Trong bài tập luyện đầu tiên, trong khi mọi người đều run sợ, chưa đủ can đảm nhảy từ trên cầu xuống mặt nước thì Mừng lại xung phong nhảy minh chứng lòng dũng cảm của mình Bất chấp cái lạnh, độ cao hơn

ba mét, em hiên ngang, dứt khoát trèo lên thành cầu, phóng tấm thân mình xuống sông nhẹ như đang tắm ao bình thường không run sợ với mong muốn mãnh liệt được vào đội trinh sát Hành động của em tiếp thêm sức mạnh cho các bạn còn lại, những tấm thân nhỏ bé đồng loạt đồng loạt vượt qua nỗi sợ hãi nhất thời để hoàn thành nhiệm vụ Đến cả Tư - dát nổi tiếng nhát gan cũng quyết tâm làm cho bằng được để đổi tên thành

Tư - gan cóc tía Việc bơi lội, nghịch nước đối với những đứa trẻ vùng sông nước chỉ

Trang 32

được coi là chuyện thường nhưng phải nhảy xuống từ một độ cao như vậy là một thử thách lớn đòi hỏi các em phải dũng cảm để đối mặt thực hiện

Vịnh là một chiến sĩ trinh sát thuộc trung đoàn Trần Cao Vân, em mới 14 tuổi đời nhưng trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong công việc em luôn tỏ ra là một người gương mẫu và có tinh thần trách nhiệm cao Một lần được giao nhiệm vụ trinh sát lấy thông tin từ tòa nhà mà địch đang đóng quân, em đã phát hiện ra kho xăng đạn

của địch được giấu kín dưới chân ngôi lầu “Một cái kho xăng to ra ri, đánh trúng thì

tha hồ mà cháy, mà nổ” [10, 114], ý nghĩ đó làm cho tim cậu bé đập rộn lên vì vui

thích, hả hê Bản năng và tinh thần trách nhiệm của cậu lính trinh sát đã thôi thúc em phải báo bằng được bí mật này cho chỉ huy nên em đã trèo lên nóc lầu, dùng cờ tín hiệu báo cho đài quan sát bí mật biết về kho xăng đạn núp kín dưới chân ngôi lầu Mái ngói của ngôi lầu dốc đứng đáng sợ, và rất nhiều rêu nên trơn và dễ trượt chân, cho nên gan bàn chân Vịnh rợn lên nhưng lòng khao khát được tiêu diệt kẻ thù như các bạn cùng lứa tuổi còn mãnh liệt hơn Em quài tay ra sau lưng, rút hai cây cờ tín hiệu, cầm sẵn hai tay đưa lên, hướng về đài quan sát bí mật, đánh đi bức điện mà em đã tính

toán, suy nghĩ làm sao cho thật rõ, thật ngắn, thật chính xác “Một kho xăng, đạn lớn

ngay phía sau ngôi lầu tôi đứng Yêu cầu bắn!” [10, 116] Mười giờ tối, cả mặt trận

thành Huế phút chốc rung lên trong tiếng gầm nổ dữ dội của các loại súng đạn cầu vồng Thân hình trần trụi, nhỏ bé mà lẫm liệt của người chiến sĩ thiếu niên đứng chon von trên đầu bọn giặc mỗi lúc càng thêm lộ rực rỡ trên cái nền đỏ chói chang dữ dội

ấy, tưởng chính lửa đã tạc khắc nên

Lượm là một cậu bé gan dạ, thông minh, nhanh trí, là một thành viên trong tổ tình báo được phân công nhiệm vụ mang báo cáo từ thành phố Huế về chiến khu Qua mấy lần đi liên lạc, lần nào Lượm cũng bị các trạm kiểm soát chặn lại khám xét rất kĩ Mỗi lần đi, em đều thay đổi cách giấu tài liệu và cách hóa trang Lần em đóng vai em nhỏ đi chợ, tay xách rổ rau, tay xách mấy con cá tràu, cá trê; dây lạt xâu mang Báo cáo, tài liệu em cuộn tròn bọc giấy bóng, nhét sâu vào bụng cá Lần khác, em lại đóng vai cháu về quê thăm bà ngoại, tay xách một xâu bánh ít Ruột bánh được nhét khéo léo đầy tài liệu Có lần em lại đóng giả cậu bé chạy chơi lêu lổng ngoài đường Chân đất, đầu không nón, không mũ, mặc phong phanh cái áo sơ mi cộc tay với quần đùi Tay em cầm đẵn mía, vừa đi vừa cắn, nhai, hít nước ngọt, nhả bã Ngang trạm kiểm soát, bọn giặc chặn em lại, bắt giơ cao hai tay lục tìm khắp người Soát không thấy gì,

Trang 33

bọn giặc cho em đi Tài liệu em gấp nhỏ đặt giữa lòng bàn tay cầm đẵn mía Cách giấu này như có vẻ rất hớ hênh nhưng lại rất kín đáo

Quỳnh sơn ca – em là nhân vật thật đặc biệt, sự xuất hiện của em trên chiến trường sục sôi đạn lửa là đã là một việc đáng ngạc nhiên Cậu bé dù chân đau, nhiễm trùng đến phát sốt nhưng kiên quyết không từ bỏ Vệ quốc đoàn để về nhà làm cậu ấm Quỳnh chưa ra mặt trận bao giờ, chưa từng vác súng đánh giặc, lầm lũi mãi quanh bệnh viện Thể chất của em tàn nhưng tâm trí không tàn Đến lúc mổ, không một giọt thuốc tê, dao sắc khoét sâu hết những chỗ thịt thối ở chân nhưng em không rên rỉ, không khóc cũng không hề vùng vẩy Thật phi thường, một cậu bé từ nhỏ được chăm sóc cẩn thận đến một vết sứt nhẹ chắc còn chưa có vậy mà có thể kiên cường chịu đựng nỗi đau to lớn đến như vậy Em dành trọn trái tim mình cho cách mạng, không trực tiếp đánh giặc, em dùng tấm lòng, dùng lời ca của mình để xoa dịu nỗi đau cho đồng đội Một cậu bé nhạy cảm, em phải chịu một sự tổn thương tinh thần quá lớn Cha em làm việc cho giặc, là một đại Việt gian, em rất xấu hổ và muốn chuộc tội cho cha nhưng lại không đủ sức Cảm giác buồn bã, uất ức đã làm em vỡ tim mà chết Một cái chết lạ lùng, đột ngột và dữ dội làm cho tất thảy những ai chứng kiến cũng phải bang hoàng, sững sốt Cái chết của em gây ra chấn động sâu sắc trong lòng các đội viên thiếu niên trinh sát Các em đau xót thương tiếc cho một ý chí kiên định, cho tấm lòng yêu nước bất diệt của Quỳnh Em mãi là chú chim sơn ca ngân vang mãi trong trí nhớ, tiềm thức của dân quân kháng chiến

Suốt quá trình lịch sử chưa có một dân tộc nào chiến đấu gian nan như thế, bền bỉ

dẻo dai đến như thế Các chiến sĩ nhỏ tuổi trong Tuổi thơ dữ dội – những con người

trung hiếu, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc Các em kiên cường, hiên ngang, bất khuất, vượt qua khó khăn gian khổ để xứng đáng đứng trong hàng ngũ cách mạng, xứng đáng là chiến sĩ của Vệ quốc đoàn

2.1.3 Con người chan chứa tình yêu thương, khát vọng

Con người trong Tuổi thơ dữ dội sống tình cảm và rất yêu thương nhau Điều này

được thể hiện ở tình cảm đối với gia đình và tình đồng đội khi chiến đấu

Chúng ta thường nói: có một nơi để về đó là nhà, có những người để yêu thương

đó là gia đình Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc

Đó là món quà tuyệt vời nhất, là điểm tựa vững chắc nhất, là bến đỗ bình yên nhất đối

với mỗi con người Đối với các em trong Tuổi thơ dữ dội, tiếng gia đình đối với các

Trang 34

em không hẳn được trọn vẹn nhưng tình thương của các em đối với người thân của mình thì làm cho chúng ta phải gật đầu mà ngưỡng mộ

Đọc tác phẩm, chúng ta phải thán phục trước tình yêu thương của Mừng dành cho mẹ của mình Để thể hiện tình cảm, mỗi con người lại có một cách quan tâm khác nhau, không ai giống ai cả Với Mừng thì em thương và cảm thấy đau đớn khi mẹ bị

cha khinh thường đánh đập Có lúc tức quá mà em phải thốt lên với mẹ mình “Cha đã

đánh đập mạ hoài rứa, lại bỏ mạ mà đi, răng mạ còn cứ mua rượu, lòng heo với nước mắm ngon cho cha ăn làm chi cho uổng?” [10, 63] Tình cảm của Mừng còn thể hiện

qua sự quan tâm, lo lắng của em đối với mẹ mình Mẹ em bị mắc bệnh hen suyễn nặng, lại bị cha đánh đập hành hạ nên bệnh tình càng trở nặng thêm Cứ động trời là

em lại chứng kiến mạ bị căn bệnh dày vò, hai ba ngày liền mạ cứ ôm ngực ho khan, khò khè kéo suyễn Những lần như thế này lòng em cũng thắt lại, ngực cũng tức ran theo như bị ai dìm lâu xuống nước Hành động của em lại càng cho thấy tình thương

em dành cho mạ vượt lên trên sự ích kỉ chỉ biết riêng mình “Thương mạ, em khóc hết

nước mắt Em rang muối, bọc vào cái vạt áo rách chườm ngực cho mạ Em chườm cho đến tận khuya Hai tay mỏi rời, các nhà hàng xóm đã tắt đèn đi ngủ hết, vẫn còn chườm…” [10, 67] Tuổi còn nhỏ, còn vô tư nhưng dù mệt, dù mỏi em vẫn cố gắng để

chăm sóc mẹ Không những thế khi nghe cụ Ba Trà mách về thứ thuốc tiên chữa được bệnh của mẹ em liền quyết định đi tìm ngay lá thuốc cho mẹ Tình cảm đối với mẹ đã tiếp thêm cho em lòng gan dạ để hàng đêm leo lên ngọn cây bút bút cao chót vót hái lá

tầm gửi về làm thuốc cho mẹ Vì mẹ được lành bệnh em chịu đựng tất cả “Đã biết bao

lần, em ngồi khóc một mình dưới gốc cây bút bút, sau khi đã trèo lên tụt xuống, sầy hết

cả da bụng…” [10, 67] Cũng chính vì để hái lá tầm gửi cho mẹ mà em tham gia Vệ

quốc đoàn và khi nhắc đến đất nước tự do, tổ quốc đã hoàn toàn độc lập thì điều đầu

tiên em nghĩ ngay đến đó là “đến lúc đó thì người bị mắc bệnh hen suyễn kinh niên có

chữa lành được không ạ?” [10, 53] Sự quan tâm, người mà em luôn hướng về chính là

mẹ Ở đội, ngày thì làm nhiệm vụ chiến đấu, đêm về em nhớ mạ mà khóc nức nở Đến dịp trung đoàn đóng quân nghỉ gần nhà, dù thời gian rất ngắn nhưng em vẫn gắng để

về thăm mẹ hoặc gửi lời nhắn bình an cho mẹ yên tâm Tình mẫu tử của mẹ con Mừng

đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc vừa khâm phục, vừa thương xót Một tình cảm đáng được trân trọng và là điển hình cho tình thương yêu trong gia đình nơi

mà ta có thể tìm thấy sự an ủi, niềm tin, sự hi vọng để vượt qua khó khăn một cách dễ

Trang 35

dàng Tâm lí, hành động như xoáy sâu vào tim độc giả, gắn kết người đọc với tác phẩm để cảm nhận tâm tư mà tác giả muốn gửi gắm

Tình đồng đội gắn bó keo sơn được Chính Hữu thật chân thực qua những câu thơ

trong bài “Giá từng thước đất”:

“Đồng đội ta hớp nước uống chung

Nắm cơm bẻ nửa

Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa

Chia khắp anh em một mẫu tin nhà

Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết…”

Đây là một phẩm chất đáng quý của quân đội ta Đất nước lâm nguy những người cùng chung mục tiêu, lí tưởng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân lại tụ họp, cùng sinh hoạt, cùng chiến đấu Các nhân vật trong tác phẩm cũng như vậy, sống chung, chơi đùa, luyện tập và chiến đấu cùng nhau đã gắn kết, coi nhau như anh em ruột thịt một nhà Các em giúp

đỡ nhau, san sẽ, an ủi cho nhau về sự thiếu hụt tinh thần, sự gian khổ hàng ngày phải đối mặt Trong hoàn cảnh khó khăn, những chú chiến sĩ nhỏ từ các nơi khác nhau cùng sát cánh bên nhau để chia sẻ cho nhau những thiếu thốn Khi nghe anh chỉ huy nói có

mang theo áo quần không để cho Mừng mượn thì “Lập tức có hơn chục em cởi áo,

quần chạy lại dúi vào tay nó” [10, 19] Không ích kỉ, cũng chẳng thành kiến, bấy giờ

các em chỉ mới gặp Mừng, biết Mừng chưa được bao lâu nhưng đã sẵn sàng đem quần

áo cho Mừng không một chút do dự Đó là sự đồng cảm, chia sẻ đúng như truyền

thống của dân tộc ta “Thương người như thể thương thân” Đến cả Mừng, em còn phải

ngẩn tò te khi thấy hành động của các bạn Không chỉ dừng lại ở đó, khi Mừng được nhận vào Vệ quốc đoàn vì ban Quân nhu chưa cấp phát đồ dùng, trang phục kịp nên Kim thì lục ba lô đưa cái sơ mi cộc tay vải ca rô và cái quần ka ki xanh còn mới, Bồng lôi tấm nhung màu huyết dụ làm mền,… đem hết cho Mừng Cảm động, trân trọng những tình cảm của chỉ huy và các bạn là một trong những lí do để em quyết định gắn

bó với Vệ quốc đoàn

Tình đồng đội, đồng chí giữa những chiến sĩ nhỏ tuổi biểu hiện bằng những hành động tưởng chừng như nhỏ bé nhưng cao đẹp vô cùng Khi Quỳnh bị lạc, Vịnh bất

chấp không nhớ rõ đường vẫn băng đi tìm Quỳnh Rồi đến Mừng “Mừng thèm được ở

Trang 36

lại tham dự trận đánh lắm Nhưng nghĩ đến bạn, em lao nhanh về phía sau rẽ bóng tối dày đặc như người bơi rẽ nước…” [10, 99] Em vì bạn mà không hề ngại nguy hiểm

“Chết thì chết, sợ cóc chi! Mình chân lành tụi hắn có bắn, mình còn chạy còn núp

được Quỳnh chân đau, chạy núp làm răng được, phải chịu ngồi mà hứng đạn Nghĩ rứa là mình không còn thấy sợ chi hết” [10, 105] Vậy đó, tình đồng đội thiêng liêng,

cao cả ngay mạng sống của bản thân cũng chẳng màng Từ những người xa lạ chẳng quen biết mà lo lắng cho nhau còn hơn cả anh em một nhà Tình cảm ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho Mừng – cậu bé gầy gò, ốm yếu cõng Quỳnh về đơn vị Bước đi xiêu vẹo, miệng thở dốc, hai đầu gối run lẩy bẩy chỉ chực khuỵa xuống nhưng Mừng vẫn cố gắng, vẫn không bỏ mặc Quỳnh Tình yêu thương đồng đội của em mới đáng quý, đáng khâm phục làm sao Mừng và Vệ đầu to đi làm nhiệm vụ suốt ngày khi liên lạc, tuyền tin, khi đưa công văn, giấy tờ trinh sát,… nhưng hai em ngày nào cũng thay nhau chạy lên trạm Quân y thăm Quỳnh Bốn phương trời cùng về sum họp, các em lúc đầu còn khép mình nhưng rồi cũng hòa đồng, gắn bó với nhau

Tình cảm lúc sống đã đẹp mà khi bạn hi sinh lại đẹp hơn Chứng kiến cảnh Vịnh

hi sinh “Hoàn toàn kiệt sức, Hiền ngồi phệt xuống thềm công sự, một tay cầm ép cái

ống nhòm vào ngực Cả người em run lên bần bật như vừa nhấc lên một vật gì nặng quá sức Em há hốc miệng thở dốc, mặt trắng bạch như tờ giấy” [10, 124] Hiền bàng

hoàng không tin vào mắt mình, người bạn cùng sống, cùng chiến đấu với em đã ra đi mãi mãi Mắt rưng rưng nhưng các em cũng cảm phục, tự hào về Vịnh, say sưa kể chuyện và gán hết những đức tính tốt cho người bạn anh dũng

Không em nào không nhớ đến Quỳnh – sơn ca, đi qua nơi em ngã xuống, em nào cũng đi vòng tránh xa, như sợ giẫm lên người bạn Mỗi lần đi liên lạc Lượm đều nhặt

đầy hai túi quả ươi bay “cứ chiều chiều Mừng lại chạy một mạch lên chỗ mộ Quỳnh,

đặt những quả ươi bay lên nấm mộ đất còn mới, rồi ngồi đó mà khóc” [10, 613] Tư

dát biết chuyện còn phải thốt lên “Chưa chắc cha mạ hắn đã thương hắn như thằng

Mừng” [10, 613]

Những hành động, lời nói của các em đã thể hiện sâu sắc, chân thực tình cảm đồng chí, đồng đội trong thời kì kháng chiến Tình cảm ấy hiện lên rất thiêng liêng, cao đẹp, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ và đáng trân trọng của người chiến sĩ nhỏ tuổi trong cuộc sống và chiến đấu hiểm nguy

Trang 37

Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng thường trực của mỗi người, ai

cũng yêu tự do, cũng khao khát tự do Mahatma Gandhi từng nói: “Sự tự do về chính

trị, sự hòa bình của mỗi quốc gia và chính cả khoa học là những món quà mà định mệnh đánh thuế nặng bằng máu” Sinh ra trong thời kì lịch sử đặc biệt, đất nước đang

phải đối mặt với giặc ngoại xâm, những cậu bé trong Tuổi thơ dữ dội lại có khát vọng

tự do mãnh liệt hơn bao giờ hết

Khát vọng tự do trước hết thể hiện trong mỗi cá nhân Chiếm một phần lớn trong tác phẩm, nhân vật Lượm được thể hiện rõ nét mong muốn mãnh liệt là được tự do qua

ba lần vượt ngục Ba lần tìm cách để tự giải thoát chính mình là ba lần em phải đối mặt với sự truy đuổi ráo riết, với họng súng vô tình của kẻ thù Lượm sứt – Một Việt Minh

hạng nặng, một “cách mạng nòi” đã thể hiện được được sự dũng cảm, gan dạ để có thể

nắm lấy và tự quyết định tự do của chính mình Trong một lần làm nhiệm vụ truyền đơn, Lượm bị Nguyễn Trì bắt đem về phòng giam của ty Mật thám an ninh Tự do mạnh mẽ và vĩ đại ở chỗ tìm kiếm nó trở thành bản năng sống của con người Càng thiếu tự do, con người càng khao khát tự do, nó như một nhu cầu khẩn thiết không thể thiếu như đói cần phải ăn, khát cần phải uống Lượm cũng như vậy, ý nghĩ vượt ngục

bất ngờ vụt lóe lên trong đầu óc em Tâm trí em bị ý nghĩ này chóng lấy “Trốn! Cái

âm thanh của từ ngữ gai góc dễ sợ này dồn dập vang dội khắp cơ thể nó, và có một sức hấp dẫn ghê gớm không sao cưỡng lại được” [10, 310] Em muốn ra ngoài, em

muốn thoát khỏi sự giam cầm của giặc để tiếp tục làm cách mạng Với sự liều lĩnh, nhanh trí cộng thêm khao khát cháy bỏng muốn đến gần với tự do mà chỉ trong khoảnh khắc em đã phác xong kế hoạch đào tẩu Lượm bíu lấy mép cửa đu người lên để dở ngói chui qua mái nhằm trốn thoát Vì mục đích ra ngoài của mình, em đã gắng sức khủng khiếp dồn hết cả sức lực còn lại của mình Em chịu đựng cạnh thành cửa như dao cắt vào gót chân phồng rộp, cắn chặt răng để không bật ra tiếng, cố gắng để mình không bị rơi xuống vì chỉ cần sơ suất một chút thôi ước muốn tự do của em sẽ bị dập tắt Ra khỏi nhà giam, ý nghĩ sẽ thoát được làm con tim em như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực Nhưng sức của một đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi thêm vào đó còn chưa

có kinh nghiệm lẫn kế hoạch kĩ càng thì làm sao có thể thắng được bọn Tây to khỏe, hung hăng được Lượm bị bắt lại và bị bọn chúng đánh bầm dập không chừa chỗ nào

Ấy vậy mà vẫn ung dung khoe “Còn lâu em mới thất kinh! Cha em trước làm Cộng

sản, vượt tù đến 5 lần tê anh ạ” [10, 318] Khi anh thợ máy hỏi nếu có dịp khác thì em

Trang 38

có còn dám trốn tiếp em liền khẳng khái, thẳng thắn mà nói “Sợ chi mà không chơi

anh!” [10, 318] Đúng như thế, với Lượm bây giờ thì còn có gì để đáng phải sợ nữa Bị

mắng chửi, bị đánh đến mức kề cận đến lưỡi hái tử thần, còn gì để em phải để tâm Cứ lấy gương cha mà học, cha phục vụ Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng, vượt ngục năm lần vẫn chưa chịu nản thì mình như vậy đâu đã thấm gì Lượm tự trách mình không tính

toán kĩ lưỡng hơn, nếu lúc đó trèo lên cây cao trốn thì chắc đã thoát được

Mấy ngày sau, Lượm bị chuyển đến sở Mật thám Phòng nhì Pháp gặp Sô – lê, một tên Tây hung thần, nham hiểm, tinh ranh Sô – lê cáo già đưa ra các đồ ăn ngon, ngọt ngào, ân cần, hỏi han, là một cậu bé mười bốn tuổi em còn chưa hiểu hết dụng ý của hắn nên hết sức hoang mang Nhưng cuối cùng em đã biết được hắn ta muốn gì ở

em Dư âm các trận đòn của lần vượt ngục thứ nhất còn làm em đau buốt thì ý nghĩ trốn thoát tiếp lại xuất hiện Bằng sự thông minh của mình em đã tháo được vòng xích sắt ở chân và trèo rào thoát ra ngoài Trong em lúc này chỉ mong muốn làm sao để ra khỏi đó càng nhanh càng tốt, làm sao để không bị giặc phát hiện ra Có lẽ khao khát tự

do trong em đang dần trở thành hiện thực Rút kinh nghiệm sai sót từ lần trước, lần này em tìm một cây bút bút cao để trốn trước Ngỡ rằng sẽ thành công trót lọt nhưng cuối cùng em lại bị bắt vì mấy con chó béc – giê trinh sát Kế hoạch của em thất bại cay đắng vì không tính đến mấy con chó săn nên em uất ức lắm Chính sự uất ức này lại thôi thú em vượt ngục lần thứ ba khi đang bị giam ở nhà giam Thừa Phủ Lần này

em tính toán rất kĩ lưỡng, chờ đợi thời cơ thích hợp nhất để trốn thoát Lượm quan sát

kĩ địa hình và cách bố trí trong sở Pốt, cộng thêm đó là sự hợp lực của Thúi và Lép – sẹo Trước hết, Lượm tỏ ra ngoan ngoãn, chăm chỉ làm việc, trong hai tuần em đã tạo được lòng tin với viên trung úy cũng như những tên lính canh gác ở đây Thái độ thành khẩn cùng với sự thông minh, lanh lợi lúc nào cũng vâng lời đã làm cho chúng mất cảnh giác Cuối cùng, cơ hội cũng đã đến với em, buổi trưa tháng sáu năm đó một cuộc vượt ngục táo bạo đã được thực hiện

Lừa được tên lính Tây uống thuốc ngủ em đã có thể trốn thoát khỏi khu công sở Poste Militaire Nhưng không, trước khi ra ngoài trong lòng em đã có tính toán phải vào phòng quan hai để lấy khẩu sáng và bốn băng đạn Bất chấp nguy hiểm, em leo vào cửa sổ lấy súng, bật chốt an toàn, kéo quy lát một cách thành thạo và nhanh chóng Tất cả mọi thứ đã được em dự tính trước, mọi thứ đã chuẩn bị sẵn đâu vào đấy để phục

vụ cho lần vượt ngục này Sau khi lấy được súng, em lấy bộ quần áo đã giấu sẵn từ

Trang 39

mười ngày trước hóa trang thành một cậu bé đi chợ về Lượm ra khỏi nhà tù cứ theo

hướng về quê mà đi một mạch Em vui mừng, thỏa mãn “Sinh ra và lớn lên ở làng

quê, nhưng chưa bao giờ nhìn một cánh đồng lúa sắp chín, Lượm lại có cảm giác vui mừng đến ngột thở như trưa nay” [10, 511] Vì lúa đẹp mà vui mừng hay chính việc

được trở về với tự do, về với cái nơi mình phải thuộc về nên vui mừng? Điều này thì chắc ai cũng có thể hiểu Chỉ vài trăm bước chân nữa em sẽ được hòa mình vào rừng lúa bạt ngàn kia, lúa khỏa lấp kín người, không ai có thể nhìn thấy được Lượm đã

nhận được thành quả xứng đáng, em có thể tự tin mà hô to “Vĩnh biệt đời tù”

Đất nước bị xâm lược, nhân dân ta phải chịu sự đàn áp của đế quốc Không một người con của đất nước nào lại chịu yên phận sống trong sự nô dịch của người khác và không một dân tộc nào cam chịu sống trong sự kìm kẹp của dân tộc khác Các cuộc kháng chiến chính là để giải phóng con người ra khỏi sự nô dịch và giành lại độc lập cho dân tộc Sự mãnh liệt của khát vọng đi tìm kiếm tự do là một trong những tiêu chuẩn để biết ý chí của một dân tộc Ngoài mong muốn tự do, sự giải thoát khỏi nơi tù đày của các cá nhân thì lớn hơn, bao quát hơn và cũng mãnh liệt hơn đó là khát vọng

tự do của toàn dân tộc Các chiến sĩ nhỏ tuổi dốc hết mình để chiến đấu, các em liều lĩnh xếp bút nghiêng, vứt cặp nhảy lên thuyền theo Vệ quốc đoàn cũng vì muốn góp sức mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Những hình ảnh hàng ngày các em phải chứng kiến, sự đàn áp mà ngày ngày dân ta phải chịu đựng được các em ghi nhớ và rất căm phẫn Với Vịnh đó là lúc tên Tây tát người bác mà em yêu thương đến hộc cả máu Còn Mừng thì thấy tụi Tây hay đá đít người mình, đi xe thì không chịu trả tiền

“Đã rứa hắn lại còn đá giày vô đít bác ấy, chửi “cô – soong, cô – soong” Bác ấy ngã

dúi, va đầu vô cột điện, lõa máu Bác ấy phải nằm liệt giường, không đi kéo xe được Rứa là cả nha cậu Ngò bị đói…” [10, 21]

Chính mắt nhìn thấy dân mình bị áp bức, hành hạ khao khát lấy lại tự do, tự chủ cho dân tộc lại càng lớn hơn bao giờ hết Vì vậy, các em xông xáo, phấn khởi khi được tham gia Vệ quốc đoàn, được cấp trên giao nhiệm vụ vì chỉ như vậy các em mới có thể góp sức mình vào sự nghiệp chung đó là đưa đất nước thoát khỏi ách nô lệ

2.1.4 Con người bị cám dỗ, phản bội, hèn nhát

Bên cạnh những tấm gương anh hùng bất khuất được Phùng Quán dành cả tâm huyết, tình cảm của mình viết nên như một niềm tự hào về một thời oanh liệt thì đồng

Ngày đăng: 12/06/2019, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w