Con người tồn tại và phát triển trong điều kiện ngoại cảnh, bao trùm lên nó chính là môi trường. Tài nguyên khoáng sản, năng lượng từ trường cũng là một phần của môi trường.Khi dân số phát triển mạnh nhưng điểu kiện ngoại cảnh bị giới hạn trong chừng mực nhất định thì tài nguyên khoáng sản, năng lượng từ trường sẽ bị ô nhiễm, cạn kiệt. Sự xuống cấp của nó đã ảnh hương đến đời sống, sản xuất, sự phát triển và tồn tại của con người.Dân số và tài nguyên khoảng sản, năng lượng từ trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta cần có những biện pháp áp dụng cụ thể và thiết thực hơn để ngăn ô nhiễm và cũng để bảo vệ sức khoẻ và đời sống cho người dân.
Trang 1• PHẦN 1: DÂN SỐ.
1. Dân số:
- Dân số theo nghĩa thông thường là số lượng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phươngnhất định(của thế giới hay một quốc gia, một địa phương nào đó) trong một khoảng thờigian nhất định
- Dân số theo nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người không chỉ là số lượng mà có cả
cơ cấu và chất lượng Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định màthường xuyên biến động Ngay bản thân cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra,lớn lên, trưởng thành, già hoá và tử vong
2. Quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số:
a. Quy mô và phân bố dân số:
• Quy mô dân số: là chỉ tiêu phản ánh đặc tính dân số đầu tiên được quan tâm trong nghiêncứu dân số và phát triển
- Quy mô dân số thời điểm: là tổng số dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định vàonhững thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm tổngđiều tra dân số…)
Thông tin này được sử dụng để tính tốc độ tăng hoặc giảm dân số theo thời gian
Trang 2Ví dụ:
Ở Việt Nam,
tăng thêm0h ngày 1/4/1999 85.837.454 9.523
người
952người0h ngày 1/4/2009 85.846.977 người
Trích: Sách Dân số và phát triển
- Quy mô dân số trung bình thời kì: là số lượng dân cư được tính bình quân trong một thời
kì nào đó (thời kì ở đây được hiểu là dân số trung bình của tháng, quý, năm, nhiều năm) Thông tin này được sử dụng trong việc tính toán các chỉ tiêu nhân khẩu học, dự báo dân
số, tính toán, phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội, là biến đầu vào của cácchiến lược phát triển quốc gia và từng vùng
Thông thường, quy mô dân số trung bình được ước lượng là dân số vào thời điểm giữanăm (30/6 hoặc 1/7) hay giữa thời kì
Ta có phương trình cân bằng dân số:
Biến động chung dân số = Biến động tự nhiên + Biến động cơ học
Pt – Po = (Sinh – Chết) + (Nhập cư – Xuất cư) = (B – D) + (I – O)
Trong đó: Po là dân số tại thời điểm gốc
Pt là dân số tại thời điểm t
- Mật độ dân số: là chỉ số xác định mức độ tập trung của dân số sinh sống trên một lãnh thổ
và được tính bằng tương quan giữa số dân trên một đơn vị diện tích ứng với số dân đó.Công thức tính:
và có sự khác biệt lớn theo vùng kinh tế xã hội
Vùng đông dân nhất là Đồng bằng sông Hồng (19.577.944 người)
Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên (5.107.437 người)
b. Cơ cấu dân số:
Trang 3- Là đặc tính dân số thứ ba được hình thành dưới tác động của sự thay đổi mức sinh, mứcchết và di dân.
- Là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo một tiêu thức nhất định
- Cơ cấu xã hội ( tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình độ học vấn…)
- Cơ cấu dân tộc
- Cơ cấu tự nhiên (tuổi và giới tính) là 2 cơ cấu quan trọng nhất bởi vì không những nó ảnhhưởng tới các quá trình dân số như mức sinh và mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng tớiquá trình phát triển kinh tế xã hội
c. Chất lượng dân số:
• Là những thuộc tính bản chất của dân số bao gồm tổng hoà các yếu tố thể lực, trí lực vàtinh thần của con người phù hợp với quy mô, cơ cấu dân số (tuổi, giới tính, phân bố, trình
độ học vấn, nghề nghiệp…) và với trình độ phát triển kinh tế xã hội
Nó bao hàm chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng lao động hay “vốn con người”
• Chất lượng dân số có các đặc tính:
- Chất lượng dân số có đặc tính riêng theo từng vùng, theo thời kỳ Con người sinh sốngtrong môi trường, hoàn cảnh nào thì về mặt nòi giống, phẩm chất và đời sống tinh thầnmang những đặc trưng riêng của vùng miền và thời kỳ đó
- Trong chất lượng dân số, yếu tố chất lượng con người đòi hỏi phải được tích luỹ, pháttriển và rèn luyện qua thời gian, nó sẽ mất dần đi nếu không được sử dụng, rèn luyệnthường xuyên Chất lượng con người được nâng cao thông qua quá trình phát triểnKTXH, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng giống nòi
- Chất lượng dân số gắn liền với quá trình tái sản xuất dân số nên nó cũng mang tính mâuthuẫn và tính quán tính, để đổi mới chất lượng dân số chúng ta cần thời gian của vài thếhệ
3. Gia tăng dân số:
- Sự gia tăng dân số tự nhiên là quá trình tái xuất dân cư, thế hệ già được thay bằng thế hệtrẻ Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là số chênh lệch giữa tỉ lệ sinh và tử trong một khoảngthời gian thường là một năm trên một lãnh thổ nhất định, tính bằng phần trăm (%)
- Sự gia tăng dân số cơ giới là sự tăng giảm dân số ở một khu vực, một quốc gia do có việcchuyển đổi địa bàn cư trú Nếu số người xuất cư ít hơn nhập cư thì tỉ lệ tăng cơ giớidương và ngược lại là âm
- Trong nhiều thế kỉ, dân số thế giới tăng hết sức chậm Nguyên nhân chủ yếu là do dịchbệnh, đói kém và chiến tranh Vào đầu Công nguyên, dân số thế giới chỉ có khoảng
300000000 người, đến thế kỉ XVI mớii tăng gấp đôi Năm 1804, dân số thế giới là
Trang 41000000000 người, thế mà đến năm 2001 đã lên đến 6160000000 người; đó là nhờ nhữngtiến bộ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và y tế.
Trích: Wikipedia
Vào ngày 13 tháng 8 năm 2009, dân số trên Trái Đất được đo bởi Cục điều tra dân số của
Mỹ là 6,777 tỉ người Dân số thế giới bắt đầu tăng lên từ cuối giai đoạn của căn bệnh Cái chếtđen (Black Death) hoành hành vào khoảng năm 1400 Cũng có một giai đoạn ngắn dân số giảm
đi ở những thời gian khác bởi các dịch bệnh, chẳng hạn ở thế kỉ 17 (xem biểu đồ) Thời gian dân
số thế giới tăng nhanh nhất (hơn 1,8%) là vào khoảng thời kì những năm 1950 sau đó là một thờigian dài từ những năm 1960 cho tới 1970 (xem biểu đồ) Theo bản đồ dân số, dân số thế giới sẽtiếp tục tăng cho tới những năm 2050 Vào năm 2008, sự gia tăng dân số thế giới đã giảm gầnmột nửa so kỉ lục là 2,2% một năm, đạt đến vào năm 1963 Số người được sinh ra mỗi năm vàokhoảng 134 triệu người, sau khi đạt kỉ lục 163 triệu vào cuối những năm 1990 Tuy nhiên, chỉkhoảng 57 triệu người chết mỗi năm, và được dự đoán sẽ tăng lên 90 triệu người vào năm 2050
Kể từ khi số người sinh ra nhiều số người chết, dân số thế giới sẽ đạt ngưỡng 9 tỉ người vào năm
2040 Dân số thế giới đạt mức 7.000.000.000 người vào ngày 10 tháng 4 năm 2011
Trang 6• PHẦN 2: DÂN SỐ VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
1, Các khái niệm cơ bản, phân loại và vai trò của tài nguyên khoáng sản
a. Khái niệm cơ bản:
- Tài nguyên:bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu năng lượng, thông tin có trêntrái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con người có thể sử dụng cho mục đích tồntại và phát triển của mình
- Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất,
mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụngtrực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày
b. Phân loại tài nguyên khoáng sản:
Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng)
Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt tráiđất)
Trang 7 Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quýhiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy(than, dầu, khí đốt, đá cháy).
c. Vai trò của tài nguyên khoáng sản:
• Thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu cho các nghành kinh tế
- Nghành công nghiệp: cung cấp nguyên liệu cho các nghành như luyện kim,hóa chất, cơ khí
• Giải quyết các vấn đề xã hội
- Giải quyết vấn đề việc làm cho người dân,hạn chế thất nghiệp,nâng cao đời sống
- Thúc đẩy phát triển kinh tế,giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng
2,Các loại tài nguyên khoáng sản trên thế giới hiện nay
Tùy theo đặc điểm và tính chất của mỗi loại khoáng sản, người ta phân chúng ra làm hai loại:khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại; mỗi loại lại được phân thành nhiều nhóm khácnhau tùy theo công dụng
• Khoáng sản kim loại: bao gồm tất cả các kim loại được biết hiện nay như nhôm, sắt,mangan, magnesium, crom và các kim loại hiếm như đồng, chì, kẻm, thiếc, tungsten,vàng, bạc, bạch kim, uranium, thủy ngân, molypden
• Khoáng sản phi kim loại như clorua natri, carbonat calci, silic, thạch cao, nước biển,nước ngầm
Trong những chỉ số về phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia , người ta thường quan tâmđến ba chỉ số: tăng trưởng dân số, tăng trưởng sản xuất công nghiệp và tăng tổng sản lượng thuhoạch; vì sự gia tăng các chỉ số này luôn gắn liền với nhu cầu ngày càng cao về năng lượng vàkhoáng sản
Trang 8Một số kim loại quan trọng như: sắt, đồng, nhôm, chì, kẻm Ở nhiều quốc gia có nền côngnghiệp phát triển thì nhu cầu về các kim loại nầy chiếm tỉ lệ 80% - 90% tổng lượng kim loại sửdụng trên thế giới Ngoài ra nhu cầu về khoáng sản phi kim loại cũng tăng lên, chủ yếu được sửdụng để làm phân bón, sử dụng trong xây dựng và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành côngnghiệp.
Sau đây,chỉ đề cập đến một số khoáng sản kim loại chủ yếu được khai thác sử dụng:
a Quặng sắt
Ðây là loại khoáng sản thường gặp và khá phổ biến trong vỏ trái đất, gồm bốn loại quặng có tầmquan trọng trong thương mại là: Fe3O4 (magnetit), Fe2O3 (Hematit), FeO2 (limonit) và FeCO3(Siderit) Các loại quặng này có chứa khá nhiều tạp chất nên tỷ lệ kim loại trong quặng giảm.Vùng Siberia (Liên Xô cũ) là vùng có trử lượng sắt được xem như lớn nhất thế giới Công nghiệpsản xuất thép trên thế giới ngày càng tăng theo sự phát triển của nền công nghiệp, năm 1965 sảnxuất trên toàn thế giới là 370 triệu tấn đến năm 1980 sản xuất được gần 1 tỉ tấn
b Quặng đồng
Mặc dù trử lượng đồng trên thế giới ít hơn nhưng nhu cầu sử dụng cũng gia tăng Năm 1965 sảnxuất đồng trên toàn thế giới là 6, 6 triệu tấn và với nhịp điệu gia tăng hàng năm từ 3, 4% - 5,8% Dự kiến,năm 2000 khi dân số tăng nhu cầu về đồng khoảng từ 16,8 triệu St đến mức tối đa
là 34, 9 triệu St ( St = Shortton = 907,2 kg ), như vậy so với năm 1965 ở mức thấp thì tăng gấp2,6 lần
Vấn đề đặt ra hiện nay trong công nghiệp đồng là nhu cầu về đồng càng tăng trong khi đó phẩmchất của quặng lại giảm nên giá thành của sản xuất đồng càng ngày càng tăng lên Vì thê, nhữngcông cụ truyền thống vốn làm bằng đồng dần dần được thay thế bằng nhôm hoặc bằng chất dẻo
c Quặng nhôm
Nhôm không được gặp ở trạng thái đơn chất trong tự nhiên mặc dù nó chiếm đến 8,13% trọnglượng vỏ trái đất
Năm 1948 sản xuất nhôm toàn thế giới chỉ đạt 0, 5 triệu tấn, đến năm 1968 đã lên tới 8 triệu tấn
và nhu cầu về nhôm càng ngày càng cao hơn rất nhiều Hiện nay, hai ngành xây dựng và giaothông vận tải sử dụng nhôm nhiều nhất Hơn nữa do tính chất bền và chắc của hợp kim nhôm nênngành kỹ thuật hàng không và hàng không vũ trụ ngày càng tiêu thụ nhiều nhôm hơn
Bảng 1 Nhu cầu về một số kim loại chính được sử dụng trên toàn thế giới (Mc.Hale)
(đơn vị Triệu St; 1 St = 907, 2 kg)
Trang 9- Quặng thiếc: trử lượng thiếc rất hạn chế và tập trung ở một số nước Ðông Nam Á như Thái
Lan, Mã Lai, Indonesia, Trung Quốc và một số quốc gia khác ở Châu Phi như Nigeria,Congo Thiếc mềm và dể dát mỏng nên được sử dụng để làm thùng và hộp chứa thực phẩm khô(60%), trong kỹ nghệ hàn (20%) và một số các công việc khác Do tính chất dể bị han gỉ củathiếc nên ngày nay nhôm và chất dẽo dần dần thay thế vị trí của thiếc trong việc sản suất cácthùng chứa thực phẩm
- Nikel (kền): chủ yếu khai thác ở Canada (chiếm 80% toàn thế giới) ngoài ra còn có ở Liên
Xô cũ, Cuba
- Chì: chì thì mềm, nóng chảy ở nhiệt độ tương đối thấp, không bị han gỉ và nặng hơn cả trong
số các kim loại thông thường Nhu cầu chì ngày càng tăng nhất là Liên Xô và một số nước ởChâu Á, một phần do phát triển sản xuất ô tô ở khu vực này
- Phân bón: Nông nghiệp ngày càng phát triển nên nhiều nước sử dụng càng nhiều phân hóa
học để tăng thu hoạch mùa màng Công nghiệp phân hóa học càng phát triển, kỹ thuật chế tạophân bón không phức tạp nó đòi hỏi số nguyên liệu để cố định đạm và xử lý phosphat Nguyên
Trang 10liệu chủ yếu để sản xuất phân bón là P205, K20 và N2 dồi dào trong lớp vỏ quả đất nên giá thành
trở nên hạ
Nền công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam đang từng bước phát triển với tốc độ ngày càng tăng
đòi hỏi nhu cầu sử dụng khoáng sản càng nhiều hơn
a Các khoáng sản kim loại chính
- Quặng sắt: Trử lượng 700 triệu tấn phân bố rải rác từ Bắc bộ đến Nam trung bô Những mỏ
đạt trử lượng công nghiệp không nhiều và tập trung ở Bắc bộ, trong đó mỏ Thạch Khê (Nghệ
Tỉnh) có trử lượng ước tính khoảng 500 triệu tấn, chất lượng quặng tốt
- Quặng đồng: Trử lượng ước tính 600.000 tấn, hầu hết tập trung ở Tây Bắc bộ như ở Tạ
Khoa (Sơn La) và Sinh Quyền ( íLào Cai ) Hiện nay sự khai thác thủ công với sản lượng
2.000kg/ năm
- Quặng nhôm: Quặng bauxit chứa hydroxyd nhôm có trử lượng đạt yêu cầu công nghiệp tập
trung ở Ðông Bắc bộ và khu 4 cũ, ở Tây nguyên, Lâm Ðồng ước tính có 4 tỉ tấn, chất lượng
quặng tốt, hàm lượng quặng từ 40 - 43%
- Quặng thiếc: có trử lượng 70.000 tấn phân bố ở 3 khu vực: khu vực đông bắc Bắc bộ (Cao
Bằng, Tuyên Quang); khu vực Bắc trung bộ (Nghệ An, Hà Tỉnh); khu vực Nam Trung bộ ( Lâm
đồng, Thuận Hải)
- Quặng cromit: trử lượng chung khoảng 10 triệu tấn phân bố rải rác ở các khu vực phía Bắc
chất lượng quặng không cao, trử lượng lớn tập trung ở Thanh Hóa ước tính khoảng 3,2 triệu tấn,
hàm lượng 46%
- Các kim loại khác: vàng, titan, kẻm, nikel, mangan phân bố rộng rải nhiều nơi từ vùng núi
đến các bải biển Việc khai thác các quặng này còn hạn chế và nhà nước chưa có biện pháp hữu
hiệu để quản lý nguồn tài nguyên này nên việc khai thác bừa bải làm hao hụt tài nguyên và còn
ảnh hưởng xấu đến môi trường
b Phân bón
- Apatit: trử lượng trên 1 tỉ tấn tập trung ở Cam Ðường (Lào Cai) và Qùy Châu (Nghệ An)
trong đó quặng có chất lượng cao chỉ khoảng 70 triệu tấn, số còn lại kém chất lượng Sản lượng
khai thác hiện nay là 1, 5 triệu tấn / năm, từ đó chế biến khoảng 500.000 tấn phân lân Năm 1995
sản xuất được 1 triệu tấn phân lân, số phân này chỉ đáp ứng 50% nhu cầu trong nước
Trang 11- Ðá vôi: là nguồn nguyên liệu đáng kể Trử lượng lớn phân bố ở Bắc bộ và Trung bộ và một
số ít ở vùng Kiên Giang Ðá vôi là nguyên liệu để làm xi măng và một số ít được dùng để bónruộng Hiện nay, sản xuất xi măng có thể đáp ứng được cho nhu cầu trong nước và một số ítđược xuất khẩu
4, Mối quan hệ tác động qua lại giữa dân số với tài nguyên khoáng sản
Dân số là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế Với số dân đông, nước ta
có nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn Song trong điều kiện nước tahiện nay, dân số đông là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế và nâng cao đời sống
cũng như làm cạn kiệt nguồn tài nguyên khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường
Bảng 3 Bảng thể hiện mối quan hệ dân số, tài nguyên khoáng sản và môi trường
a, Ảnh hưởng tiêu cực của dân số đến tài nguyên khoáng sản
Sự biến động của dân số có tác động đến nguồn tài nguyên khoáng sản Nhất là đối với nước tatrong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay thì mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiênnói chung và tài nguyên khoáng sản nói riêng ngày càng tăng.Phân tích ảnh hưởng dân số đến tàinguyên khoáng sản qua 2 khía cạnh:
• Ảnh hưởng theo quy mô dân số
Chất lượng tài nguyên khoáng sản
-Sự cạn kiệt tài nguyên khoáng sản,
nguyên nhiên liệu, năng lượng
-Khai thác quá mức tài nguyên
khoáng sản, làm chất lượng các mỏ
khoáng sản giảm sút, cạn kiệt
Các quá trình của tài nguyên môi trường
-Khai thác tài nguyên khoáng sảnnguyên nhiên liệu năng lượng cho:+sản xuất công nghiệp, xây dựng, giaothông vận tải…hoạt động dịch vụ, chonhu cầu mong muốn
Trang 12• Ảnh hưởng theo cơ cấu dân số
b Ảnh hưởng tích cực của dân số đến tài nguyên khoáng sản
+Quy mô dân số: dân số đông nhu cầu sử dụng hàng hóa (thuộc nghành khai thác khoángsản) tăng Thị trường tiêu thụ rộng lớn sản xuất ngày càng phát triển tăng quy mô sảnxuất thúc đẩy kinh tế
+Cơ cấu dân số: cơ cấu dân số trẻ sức lao động khỏe mạnh có nhiều hoạt động nghànhcông nghiệp nặng tăng tăng quy mô,chất lượng sản xuất thúc đấy kinh tế
5,Biện pháp khắc phục,giải pháp khai thác tài nguyên lâu dài
Tài nguyên ks nghèo
Mở rộng phạm vi, quy mô khai thác Cường độ khai thác lớn
Dân số đông Nhu cầu sử dụng tăng
Hoạt động khai thác tăng,hiệu quả thấp,lãng phí tn
Nhu cầu người trẻ tiêu dùng sản xuất nhiều
Cơ cấu dân số trẻ
Cạn kiệt tài nguyên
Trang 13a, Tương lai tài nguyên khoáng sản thể giới
Theo đánh giá của các nhà chuyên môn về tình hình trử lượng một số loại khoáng sảnnhư sau: Sắt, nhôm, titan, crom, magnesium, platin trử lượng còn khá nhiều chưa cónguy cơ cạn kiệt; Bạc, thủy ngân, đồng, chì, kẻm, thiếc, molypden còn ít và đang báođộng; Fluorit, grafit, barit, mica trử lượng còn ít, đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt.Tuy nhiên, cũng có những ý kiến lạc quan hơn, đặt hy vọng vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuậttrong tương lai và dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản chưa được khai thác ở các đại dươngbên cạnh nguồn tài nguyên còn lại trên lục địa, người ta cho rằng:
+ Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì tương lai có thể phát hiện và tạo nên những nguyên liệumới đảm bảo cho nhu cầu của con người
+ Tận dụng khai thác phần khoáng sản còn lại trên lục địa, khi cần thì đào sâu hơn và thu nhận
cả những khoáng sản nghèo hơn
+ Sự phát triển của ngành Hải dương học (oceanography) và ngành địa chất hải dương (marinegeology) hy vọng rằng sẽ phát hiện được một kho tàng phong phú và khai thác để sử dụng
Nhiều nguồn khoáng sản bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt
b Tương lai của tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Trang 14 Tiềm năng về khoáng sản kim loại và phi kim loại ở Việt Nam tương đối lớn, các quặng
mỏ đã dần dần được xác định và một kế hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản có hiệuquả đang từng bước được thực hiện Tuy nhiên, để thực hiện được kế hoạch này, cónhững khó khăn cần được khắc phục như:
+ Lựa chọn giữa việc mở công trường khai thác khoáng sản với việc sử dụng đất với mục đíchkhác sau cho có hiệu quả hơn
+Các hoạt động khai thác cố tránh hoặc hạn chế thấp nhất làm thay đổi địa hình, gây nên sựnhiễm bẩn không khí, nước, đất và ảnh hưởng xấu đến cảnh quang
+ Tránh mọi tổn thất tài nguyên trong khâu thăm dò khai thác, chế biến sử dụng
Vì vậy, để giải quyết các vấn đề trên, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác quản lý kế hoạchthăm dò, khai thác và chế biến sử dụng kết hợp với việc bảo vệ tài nguyên trong lòng đất và môitrường chung quanh, chống ô nhiễm trong quá trình khai thác, phục hồi các hệ sinh thái vùng
mỏ, giảm bớt sự tổn thất tài nguyên trong quá trình thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng, đây làvấn đề cần được quan tâm
Năng lượng lòng đất gồm nhiệt lòng đất biểu hiện ở các nguồn địa nhiệt, núi lửa và năng lượngphóng xạ tập trung ở các nguyên tố như U,Th,Po,…
“Về cơ bản, năng lượng được chia thành hai loại, năng lượng chuyển hóa toàn phần (không táitạo) và năng lượng tái tạo lại dựa trên đặc tính của nguồn nguyên liệu sinh ra nó.”
Năng lượng chuyển hóa toàn phần gồm: năng lượng hóa thạch và năng lượng nguyên tử
Năng lượng tái tạo gồm: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều, năng lượngthủy điện, năng lượng sóng biển, năng lượng từ trường, phóng xạ,…
Hiện nay, nhu cầu sử dụng năng lượng trên toàn thế giới đang liên tục tăng, dự đoán đến năm
2025, mức sử dụng năng lượng hóa thạch sẽ chiếm 90% tổng nhu cầu về năng lượng,nó được