Cái đẹp của văn chơng khôngchỉ thể hiện ở bề mặt ngôn từ mà còn chìm sâu vào nhiều tầng lớp nghĩacủa văn bản, của thế giới hình tợng, chính vì vậy tiếp nhận cái đẹp củavăn chơng không gi
Trang 1I/ Đặt vấn đề A/ Lí do chọn đề tài
1/ Cơ sở lí luân.
Văn bản văn chơng là văn bản nghệ thuật Nghệ thuật nào cũnglấy cái đẹp làm mục đích Dạy văn là khám phá cái hay, cái đẹp trongvăn bản nghệ thuật , nên trớc hết dạy văn là một nghệ thuật , nghệ thuậtcảm thụ và thể hiện( phô diễn) cái đẹp
Nói đến văn chơng là nói đến cái đẹp Có điều cái đẹp của vănchơng không tác động trực tiếp, trực giác , không bày ra, phô diễn gần
nh tất cả , gần nh đồng thời chinh phục ngay giác quan ,cảm quan củangời tiếp nhận nh hội hoạ hay kiến trúc Cái đẹp của văn chơng khôngchỉ thể hiện ở bề mặt ngôn từ mà còn chìm sâu vào nhiều tầng lớp nghĩacủa văn bản, của thế giới hình tợng, chính vì vậy tiếp nhận cái đẹp củavăn chơng không giống nh việc tiếp nhận cái đẹp do các ngành nghệthuật khác sáng tạo ra Đó là bản chất đặc thù bất biến của việc tiếpnhận văn học
Cụ thể , Văn học cổ ở lớp 9 chỉ là một bộ phận , một mảng vănhọc trong tổng thể nền văn học Việt Nam Nó mang đặc trng chung củatác phẩm văn học nghệ thuật nh mọi tác phẩm văn học khác , đồng thời
nó cũng có những nét riêng , đặc trng riêng ,mang dấu ấn, màu sắc củathời đại, quan điểm thẩm mĩ , t tởng , ý thức hệ thời phong kiến
Văn học cổ - văn thơ cổ là tên gọi chung cho các tác phẩm văn
ch-ơng đợc sáng tác trong 10 thế kỉ đầu của văn học dân tộc từ thế kỉ X đếnthế kỉ XIX, kể cả một số tác phẩm xuất hiện vào đầu thế kỉ XX nhng đ-
ợc sáng tác theo quan điểm thẩm mĩ, theo đặc điểm đề tài, đặc điểmngôn ngữ của các nhà thơ xa nh những bài thơ của Nguyễn Khuyến ,Trần Tế Xơng sau này (trong chơng trình cũ) Đấy là bộ phận quantrọng trong lịch sử văn học dân tộc gồm các tác phẩm u tú của các nhàthơ,nhà văn lớn nh Truyện Kiều của Nguyễn Du, truyện Lục Vân Tiêncủa Nguyễn Đình Chiểu , Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lênhất thống chí của dòng họ Ngô gia văn phái Các tác phẩm đó đã vợt qua những biến cố của lịch sử , qua thử thách khắc nghiệt của thờigian đến với chúng ta và hôm nay vẫn còn nguyên giá trị Với nội dungnhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc , văn thơ cổ cho học sinh
Trang 2hình dung đợc đất nớc, xã hội , con ngời những thời đại đã qua , phản
ánh cuộc đấu tranh của nhân dân để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc ,bảo vệ quyền sống , tình yêu hạnh phúc và phẩm giá của mình Đócũng là những mẫu mực về thể loại ,về ngôn ngữ trong văn học Tácphẩm văn chơng cổ điển thực sự là nguồn cảm hứng vô tận mà mỗichúng ta có thể khai thác để bồi dỡng tâm hồn thế hệ trẻ
Việc tiếp nhận những tác phẩm văn học này không tránh khỏi
những khó khăn khách quan - đối tợng tiếp nhận ( tác phẩm) Những rào cản ngôn ngữ, sự cách biệt về khoảng cách thời gian .Đặc biệt sự
khó khăn do yếu tố chủ quan – bản thân chủ thể tiếp nhận ( Đặc điểm
tâm lí, trình độ hiểu biết, năng lực cảm nhận, sở thích cá nhân ) Nhvậy việc tiếp nhận tác phẩm văn học cổ chỉ thực sự có hiệu quả khichúng ta nhận thấy rõ những thuận lợi , khó khăn , những cái bất biến vànhững cái khả biến ảnh hởng trực tiếp đến quá trình tiếp nhận tác phẩmvăn học cổ ở lớp 9 Đây là nhiệm vụ bắt buộc, là chìa khoá để mỗi giáoviên , mỗi ngời yêu thích văn học phải có để thởng thức cảm nhận vàtruyền đạt lại, thể hiện lại hoặc định hớng cho học sinh của mình có đợc
sự đồng cảm , có đợc tiếng nói chung trong quá trình tiếp nhận
Khó khăn thứ hai mà học sinh gặp phải khi tiếp cận tác
phẩm văn chơng cổ , đó là hàng rào ngôn ngữ Ngôn ngữ trong tác
phẩm văn chơng cổ với nhiều hình ảnh ớc lệ tợng trng , cách dùng điển
cố , từ ngữ Hán Việt , thuật ngữ xa , từ cổ Đi vào từng tác phẩm cụ thểthì ngôn ngữ của thơ, phú văn chính luận lại có những điểm riêng màhọc sinh ngày nay nếu không đợc hớng dẫn , giải thích thì khó mà hiểu ,cảm nổi .Đặc biệt hơn ,ngày nay lớp trẻ mang
Trang 3sẵn t tởng dựa dẫm ,ít chịu đào sâu suy nghĩ , thích cái mới , đơn giản
, hời hợt, vì thế việc hiểu và tiếp nhận một tác phẩm văn học cổ là
một vấn đề không còn đơn giản
3/Kết luận
Trớc những vấn đề đó , là một giáo viên trẻ , tôi mạnh dạn đa ranhững suy nghĩ , những hiểu biết của mình , những kiến thức từ thựctiễn giảng dạy , học hỏi để làm cơ sở cho việc giảng dạy của bản thân
và quá trình tiếp nhận ,học tập của học sinh Đây chính là lí do mà tôichọn đề tài này
B/ Mục đích của đề tài
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài này ngời viết muốn đa ra cáchtiếp nhận tác phẩm văn học cổ , phân biệt và chỉ ra sự khác biệt với tácphẩm văn học hiện đại Từ đó có cách thức, đờng hớng giảng dạy vàtiếp nhận tác phẩm văn học cổ theo đúng nghĩa của nó
C/ Đối t ợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
1/ Khái niệm tiếp nhận văn học.
Tiếp nhận : là đón nhận từ tay ngời trao.
Tiếp nhận văn học: là nhận lấy nội dung , thông điệp, lời gửi
của tác giả về một vấn đề nào đó nh tình yêu quê hơng đất nớc, tình
thơng yêu con ngời và cuộc sống con ngời trong xã hội ở mọi thời đại
qua tác phẩm văn học
Trang 4Với những tác phẩm văn học cổ , việc tiếp nhận có khó khăn hơn ,khác biệt hơn những tác phẩm văn học hiện đại hoặc tác phẩm văn họcdân gian Một vấn đề đặt ra là thực trạng tiếp nhận văn học cổ hiện nay
nh thế nào?
2/Thực trạng tiếp nhận văn học cổ.
Thực tế , học sinh đã đợc học các tác tác phẩm văn học cổ từ cáckhối lớp 7,8 Nên ít nhiều các em cũng đợc trang bị cách thức , phơngpháp tiếp nhận Thế nhng thực tế học sinh khối lớp 9 qua điều tra thìphần lớn các em ít có sự phân biệt rõ rệt ranh giới của các tác phẩm vănhọc Các em cảm nhận tất cả các tác phẩm văn học nh nhau Có em học
sinh đã đa ra tình huống rất hiện đại là “ Tại sao Vũ Nơng không ra toà
cắt đứt với Trơng Sinh mà phải nhảy xuống sông tự tử cho phí đời” ? Hoặc cũng có những trờng hợp học sinh không hiểu hết những từ ngữ
nh : “ một hai nghiêng n ớc nghiêng thành” và “ nét ngài” trong đoạn
trích Chị em Thuý Kiều , hoặc “ mỗi khi thấy bớm lợn đầy vờn, mây che kín lối thì nỗi buồn góc bể chân trời ” trong Chuyện ngời con gái
Nam Xơng của Nguyễn Dữ, Hoăc có em đọc đợc câu thơ “ Đình tiềntạc dạ nhất chi mai” đã vội hiểu “ tạc dạ“ là ghi lòng tạc dạ Phần
lớn các em có sự hiểu biết đúng đắn song cũng không ít học sinh khiếncho ngời đọc phải cời ra nớc mắt vì cách suy diễn thiếu cơ sở của cácem Vì vậy, trớc một tác phẩm cụ thể vĩnh hằng bất biến trớc thời gianthì sự khác nhau về tâm lí, trình độ , năng lực , sở thích, thói quen củangời tiếp nhận sẽ tạo ra kết quả tiếp nhận khác nhau Trớc tình hình đóchúng ta cần làm thế nào?
- Mảng truyện thơ nh Truyện Kiều của Nguyễn Du , Truyện Lục VânTiên của Nguyễn Đình Chiểu
Trang 5- Khi giảng dạy, giáo viên hớng dẫn học sinh cách tiếp nhận tác phẩm,
có hai điều cần lu ý:
Một là : Tác phẩm văn học cổ cũng là tác phẩm văn chơng nên chúng
ta cũng tiếp nhận chúng với cái đích cuối cùng là những giá trị văn ch
ơng , những thông điệp mà ng ời nghệ sĩ gửi gắm tới mọi thế hệ
độc giả qua những hình t ợng nghệ thuật, và hình thức thể hiện mang đặc tr ng ,dấu ấn của thời đại
Hai là: tiếp nhận tác phẩm văn học cổ với những đặc trng riêng của nó
Đó là hoàn cảnh lịch sử , quan điểm thẩm mĩ , những quan niệm xã hội
Có thể nói, khi giảng dạy phải cố gắng giải quyết những khâuquan trọng trớc khi đi vào tác phẩm nh hàng rào ngôn ngữ , rút ngắn khoảng cách
Đặc điểm của tự sự cổ là kết cấu xuôi chiều theo thời gian, nhân
vật còn đơn tuyến Thời phong kiến, trừ các truyện mang tính sử ký ,còn phần lớn ngời ta lấy cuộc đời thực , con ngời thực trong hiện tại đểviết thành truyện Phần lớn các truyện này đều mợn sự tích đời xa hay
sự tích nớc ngoài để nói về cuộc sống hiện tại hay gửi gắm tâm sự củamình Ngời con gái Nam Xơng, Truyện Kiều , Lục Vân Tiên , đềunằm trong trờng hợp này
Nhân vật chính trong tác phẩm có tầm quan trọng đặc biệt, câuchuyện trong truyện là chuyện của nhân vật nên ngời xa thờng lấy tên của nhân vật chính đặt tên cho tác phẩm nh: Ngời con gái Nam Xơng ,
Lục Vân Tiên , Truyện Kiều
Truyện cổ nói chung do nhu cầu tâm lí và tâm lí của ngời xa nênthờng đợc kết cấu hoàn chỉnh , phần kết thúc bao giờ cũng thoả mãn đợctâm lí ngời đọc ngời nghe, không bỏ lửng câu chuyện
*Các bớc cần thực hiện khi tiếp nhận tác phẩm văn học cổ.
Trang 6Văn xuôi cổ đợc viết theo lối biền văn , âm hởng của biền văn thểhiện trong cách ngắt nhịp , đọc thuận miệng , nghe sớng tai Vì thế,chúng ta phải hớng dẫn học sinh đọc cho đúng với tính chất cân đối ,nhịp nhàng, ngắt nghỉ ,lên xuống giọng đúng điệu , đúng chỗ , đồngthời phải thể hiện đợc giọng điệu , tính cách , tâm trạng của nhân vật
(*) Hoặc ở Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh cũng vậy:
“ Buổi ấy // bao nhiêu những loài trân cầm dị thú // cổ mộc quái thạch//chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian // Chúa đều sức thu lấy // khôngthiếu một thứ gì// ”
(*) Trong Hoàng Lê nhất thống chí cũng vậy
“ Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật // ngựa không kịp đóng yên // ngời khôngkịp mặc áo giáp // dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trớc qua cầuphao // rồi nhắm hớng bắc mà chạy// ”
(*) Trong truyện Kiều:
“ Kiều// càng sắc sảo // mặn mà
So bề tài sắc // lại là phần hơnLàn thu thuỷ // nét xuân sơnHoa ghen thua thắm// liễu hờn kém xanh”
Nh vậy, việc đầu tiên của quá trình tiếp nhận là phải đọc cho đúng ngữ
Trang 7hớng dẫn học sinh tóm tắt cốt truyện và phân tích cốt truyện , các chặngphát triển của tình tiết và đặc biệt là kết thúc có hậu của truyện phải đợc
kể lại với niềm hân hoan , thoả mãn
phẩm văn học cổ vì nh vậy là thiếu công bằng, thiếu toàn diện
Chẳng hạn : cái đẹp của nhân vật Thuý Vân ,Thuý Kiều là cái đẹp theoquan điểm thẩm mĩ phong kiến , nó đợc biểu hiện với bút pháp tợng trng,ớc lệ
Chúng ta thấy quan niệm trong văn học cổ , quan điểm thẩm mĩ phongkiến là lấy thiên nhiên làm thớc đo , làm chuẩn mực cho cái đẹp Vì thếcái đẹp của các nhân vật thờng đợc so sánh , thể hiện vẻ đẹp bằng cáchình ảnh của thiên nhiên nh “ trăng , hoa , tuyết, nguyệt” vì thế chúng
ta không lấy gì làm lạ khi Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ớc lệ , tợngtrng để miêu tả vẻ đẹp của nhân vật trong tác phẩm của mình :Vì vậykhiphân tích vẻ đẹp của nhân vật phải phá vỡ rào cản ngôn ngữ , những
điển tích , từ cổ mà tác giả sử dụng mang tính ơc lệ.
Chẳng hạn:Đoạn thơ miêu tả Thuý Vân :
“ Vân xem trang trọng khác vờiKhuôn trăng đầy đặn , nét ngài nở nang Hoa cời ngọc thốt đoan trang
Mây thua nớc tóc , tuyết nhờng màu da”
Vẻ đẹp của Vân qua cách miêu tả trên đây, là vẻ đẹp phúc hậu, vẻ đẹp
mà thiên nhiên nhờng nhịn - một vẻ đẹp báo trớc cuộc sống bình lặng ,
êm xuôi Các hình ảnh thiên nhiên đợc sử dụng để miêu tả vẻ đẹp củaVân đợc hiểu nh sau: Khuôn trăng đầy đặn ý nói khuôn mặt đầy đặn
nh mặt trăng tròn ; nét ngài là nét lông mày , ý nói lông mày hơi đậm ,
cốt tả đôi mắt đẹp – nét ngài còn có ý kiến cho rằng
Trang 8đó là nét ngời( đọc chệch âm ngài và ngời ) Màu mây đợc ví với màu
tóc của ThuýVân – màu tóc còn đẹp hơn màu mây; da của nàng còn
ở đây làn thu thuỷ đợc hiểu là làn nớc mùa thu ; nét xuân sơn là nét
núi mùa xuân Cả câu thơ ý nói mắt đẹp , trong sáng nh nớc mùa thu ,lông mày đẹp , thanh thoát nh nét núi mùa xuân
Cụm từ “nghiêng nớc , nghiêng thành“ lấy ý ở một câu chữ Hán
“Nhất cố khuynh nhân thànhTái cố khuynh nhân quốc”
Nghĩa là : Quay lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành ngời
Quay lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nớc ngời
ở đây chỉ sắc đẹp phi thờng , sắc đẹp tuyệt vời của ngờiphụ nữ có thểlàm cho ngời ta mê đắm đến nỗi mất thành , mất nớc
Nguyễn Du đã khắc hoạ vẻ đẹp toàn thiện , toàn mĩ trong cốt cách vàtrong phẩm cách hai chị em ngoài hình tợng phong cách tu từ ẩn dụ , sosánh , nhân cách hoá hình tợng thiên nhiên Đây là những hình tợngthiên nhiên có vẻ đẹp đặc biệt trong trắng , rực rỡ , vững bền nh tuyết mai, trăng hoa , mây tuyết, thu thuỷ xuân sơn , hoa liễu
thể hiện bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lí tởng hoá nhan sắc , cốt cách
hai chị em Thuý Kiều Phong cách cú pháp sử dụng tiểu đối tạo ra âm
điệu , tiết tấu cân đối , nhịp nhàng , góp phần nhấn mạnh sự toàn thiện ,toàn mĩ trong nhan sắc và cốt cách chị em Thuý Kiều
Ngợc lại , Văn học hiện đại lại lấy con ngời làm chuẩn mực chocái đẹp , làm thớc đo cho cái đẹp chẳng hạn:
Nhà thơ Xuân Diệu từng viết trong bài Vội vàng :
“Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần ” Tháng giêng là thời gian, ý chỉ tháng đầu tiên trong năm tơng ứng với
cảnh vật tơi đẹp, đầy sức sống, đó là sắc xuân trong sự cảm nhận của tácgiả thật cụ thể, thật mới mẻ và hiện đại
Trang 9Hoặc trong bài Cảnh Khuya Bác viết :
“Tiếng suối trong nh tiếng hát xa”
Lấy tiếng suối so sánh với tiếng hát Đây là một sự sáng tạo, một cách
tân nghệ thuật mà chỉ văn học hiện đại mới có
Đó là sự đối lập hoàn toàn về quan niệm thẩm mĩ ở hai thời đạikhác nhau
Trong truyện “ Ng ời con gái Nam Xơng” chỉ vì một câu nói ngây thơ
của con trẻ mà ngời chồng đã vội tin và trút hết oan khiên lên đầu vợ ,
và sau này cũng chỉ một câu nói ngây thơ của con mà tất cả những oan
khiên cũng đợc làm sáng tỏ Lại còn chuyện Vũ Nơng ở thuỷ cung vàtrở lại cõi đời trong giây lát rồi quay về thuỷ cung Nếu lấy con mắt hiện đại mà suy xét, đánh giá thì không thể chấp nhận đợc Đến nh
việc Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ( trong truyện Lục Vân Tiên) lúcnớc sôi lửa bỏng ấy màVân Tiên còn nói :
“Khoan khoan ngồi đó chớ raNàng là phận gái ,ta là phận trai”
Nếu không đợc lí giải theo quan điểm lễ giáo phong kiến thì học sinhTHCS ngày nay sao có thể hiểu và đồng tình đợc
Tất cả những điều trên chỉ đợc giải quyết khi đặt nhân vật vào hoàncảnh lịch sử , có sự đồng cảm với nhân vật
B
ớc 4/ Phân tích ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự cổ với những biện pháp diễn đạt nh
ớc lệ , tợng trng , điển cố, phải đợc giảng giải nhng phải tuỳ từng ờng hợp , giảng ớc lệ , tợng trng phải hiểu đây là những sáng tạo nghệ
tr-thuật của mĩ học phong kiến ; Nó có giá trị thẩm mĩ nhất định Giảng
ớc lệ, tợng trng phải đặt nó vào trong văn cảnh , gắn nó với câu văn , câu thơ hay cụm từ cùng đi với nó tạo thành hình tợng hoàn chỉnh
Giảng điển cố phải hiểu đợc điển cố nhng không cần nói kỹ cho họcsinh mà chỉ làm sao học sinh hiểu nghĩa của đoạn văn đoạn thơ
Gặp những tự sự cổ mà có nguyên tác bằng chữ Hán , bài học chỉ
là bản dịch thì nói chung không nên bám vào từ ngữ , vì đó là ngôn ngữdịch không phải ngôn ngữ gốc của văn bản trừ khi đó là những từngữ có giá trị nhất định thì chúng ta cũng cần lu ý thoả đáng
Lời kể trong các tác phẩm của tự sự cổ có một vị trí khá quan trọng
Trang 10Lời kể trong truyện Kiều đã thành điêu luyện , có nhiều ý vị Lời kể ở
đây đã rất tự nhiên, sinh động và truyền cảm Lời tựa đợc thay đổiluôn , kể xen với tả , kể bằng tả Có khi là lời của chính tác giả , có khitác giả đã để cho nhân vật tự kể về mình
B
ớc 5 “ Cảm nhận chung.(Đánh giá sơ bộ về nội dung).
Tới đây , tối thiểu học sinh phải nhận thức đợc rằng thuộc tính
của văn học là phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan của tác giả nhằm bồi dỡng t tởng tình cảm ngời đọc, mang đến những giá trị nh: Chân –Thiện - Mĩ cho con ngời và cuộc đời.
Nh vậy, bản chất của văn học là nh nhau, cùng phản ánh hiện
thực khách quan ( Xã hội, thòi đại, con ngời trong thời đại ấy ), cùng
hớng đến ca ngợi cuộc sống, ca ngợi cái cao cả, vị tha, biểu dơng cáimẫu mực Đồng thời lên án , phê phán cái thấp hèn, cái xấu xa Tất cảnhằm phát huy , duy trì cái tốt đẹp, cái chuẩn mực, khắc phục, cải tạo
cái lệch chuẩn cho đúng chuẩn mực, đúng t tởng thời đại.
Có thể nói rằng, Văn học thời kì nào đi nữa dù là văn học cổ hay
văn học hiện đại thì bản chất nh nhau đều phản ánh cuộc sống con
ng-ời và vì cuộc sống con ngng-ời mà phản ánh Có khác chăng chỉ khác ở
hình thức thể hiện Hình thức thể hiện mang dấu ấn thời đại, đó là
quan niệm nghệ thuật các phạm trù mĩ học mà mỗi thời đại khác nhau
? 2- Hiện thực đó đợc phản ánh bằng phơng thức nghệ thuật nào?
? 3- Mục đích của việc phản ánh là gì? ( Giá trị ? )
? 4- Suy nghĩ của em về vấn đề đó?
Nh thế , không khó một chút nào khi ta đọc, học xong truyện Kiều aicũng thấy đợc :
* Hiện thực đợc phản ánh trong truyện Kiều là một xã hội phongkiến thối nát , một xã hội vì tiền, sức mạnh của đồng tiền làm
đảo lộn trật tự xã hội Một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn trong một gia đìnhgia giáo có tâm hồn trong sáng, tấm lòng hiếu thảo, vị tha lại phải chịu
Trang 11đau khổ trong kiếp đoạn trờng lu lạc mời lăm năm chìm nổi, “ thanhlâu hai lợt, thanh y hai lần” chỉ vì để có tiền cứu cha và em bị vu oangiá hoạ
và đức hạnh nhng nàng lại bị xã hội phong kiến, định kiến lạc hậu, cổ
hủ, vô học đẩy nàng vào chỗ chết thảm thơng Trong xã hội đó, ngờiphụ nữ không có cơ hội thanh minh, nếu có chỉ là lấy cái chết để chứngminh cho sự trong sạch của mình
IV- Kết Quả
Sau khi thực hiện những giải pháp trên, kết quả thu đợc rất khảquan Nếu nh trớc đó học sinh không phân biệt các tác phẩm theo tiếntrình lịch sử, đánh đồng cách cảm thụ các tác phẩm văn học hiện đại
và văn học cổ thì nay hầu hết các em biết cách cảm thụ, phântích không còn hiện tợng nhầm lẫn đáng buồn, các em biết giải thích
từ ngữ , biết tìm hiểu thời đại , biết đợc quan điểm lễ giáo phong kiến
nh “ Tam cơng, ngũ thờng”, “Tam tòng tứ đức,”, “ Công, dung, ngôn ,hạnh” hoặc “ Nam nữ thụ thụ bất thân”
V/ Đúc rút kinh nghiệm