Củng cố kiến thức kĩ năng và luyện đề Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPTQG năm 2018I.Phần đọc hiểu(3.0 Điểm)II. Phần tự luận (7.0 điểm)Câu 1: NLXH (3.0 Điểm)Câu 2: NLVH (4.0 Điểm)VỀ VIỆC PHÂN BỐ THỜI GIAN LÀM BÀIPhần đọc hiểu(45 PHÚT)Phần tự luậnCâu 1. Nghị luận xã hội Viết bài văn. Độ dài khoảng 200 chữ.( 45 PHÚT)Câu 2. Nghị luận văn học Viết bài văn. Độ dài không hạn chế.( 60 PHÚT)
Trang 1ÔN TẬP NGỮ VĂN 10 ĐỢT IV- HKII
Năm học 2017- 2018BUỔI 1: ÔN TẬP TRÍCH ĐOẠN : TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
1 Kiến thức
- Hệ thống kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm
- Các vấn đề trọng tâm:
+ Cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ
+ Nỗi nhớ thương người chồng phương xa và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ
+ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng
+ Giá trị nhân đạo của đoạn trích
- Kiến thức cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn du
2 Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng phân tích 1 đoạn thơ, bài thơ ngâm khúc
- Rèn kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
3 Nội dung ôn tập
a.Những điểm kiến thức cần lưu ý
** Về nội dung
- Nhân vật trữ tình trong tác phẩm là người chinh phụ Nàng vốn dòng dõi trâm anh, tiễn chồng ra trận với mong ước chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa phú quý Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng rơi vào tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa, lo lắng cho chồng Thấm thía nỗi
cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi và cảnh lứa đôi đoàn tụ ngày càng xa vời Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đến cùng cực
- Đoạn trích (từ câu 193 đến câu 228) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn
buồn khổ ở người chinh phụ đang khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi
*16 câu đầu: cảm hứng chủ đạo là buồn và nhớ, day dứt và lo lắng
- Người chinh phụ ngóng chồng suốt ngày dài lại đến đêm thâu: ngày dạo hiên vắng, hết kéo rèm lại buông rèm, hết ngóng chim thước lại đến dõi bóng hòe, đêm nghe tiếng gà, trông ngọn đèn tàn
mà càng thêm não nề Hi vọng ngày chinh phu trở về ngày càng lui tắt (chú ý phân tích hình ảnh
ẩn dụ hoa đèn).
- Muốn thoát khỏi tâm trạng u uất, chán chường chinh phụ hết đốt hương, soi gương rồi lại gảy đàn,nhưng làm gì cũng khiến nàng thêm nhớ chồng và nỗi cô đơn lại thêm thấm thía Nàng không thoátđược ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của thương – nhớ - buồn –sầu
*12 câu tiếp: Chinh phụ bộc bạch nỗi nhớ chồng nơi phương xa
- Đợi tin chồng không được, nàng chỉ biết gửi tất cả tâm tư theo ngọn gió mùa xuân mang đến nơi biên ải cho chồng Cả tác giả và dịch giả đã khéo léo diễn tả nỗi nhớ thương, buồn khổ trải dài, trải
rộng theo không gian biển khơi, thời gian năm tháng (chú ý các từ láy đằng đẵng, thăm thẳm, đau
đáu).
Trang 2- Mang tâm trạng buồn thương, người chinh phụ nhìn thiên nhiên cũng mang màu sắc ảm đạm và
khốc liệt Ở đây, cảnh và tình đã hòa cùng một điệu (liên hệ với thơ Nguyễn Du Cảnh nào cảnh
chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ).
*8 câu cuối: thiên nhiên tiếp tục khoét sâu nỗi cô đơn của người chinh phụ
- Xuất hiện hình ảnh thiên nhiên hoa – nguyệt giao hòa quấn quýt gợi cho chinh phụ ý thức về hạnh
phúc lứa đôi Nhưng nàng càng khao khát sum vầy bao nhiêu thì đường như hiện thực lại càng phũ phàng với nàng bấy nhiêu
- Kết thúc đoạn trích là bi kịch của một thiếu phụ phải chứng kiến sự tàn lụi của tuổi trẻ mà hạnh phúc sum vầy vẫn là một viễn cảnh xa vời
** Về nghệ thuật
- Thể thơ song thất lục bát kết hợp với ngôn ngữ thơ hàm súc, trang nhã gợi cảnh gợi tình tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác
- Hệ thống từ láy tượng thanh, tượng hình (phất phơ, dằng dặc, thăm thẳm, đau đáu, trùng
trùng)kết hợp với hình ảnh thơ ước lệ, giàu tính tạo hình, biến hóa linh hoạt phù hợp với bức chân
dung u sầu, ai oán của người chinh phụ
- Nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm nhân vật sắc sảo, tài hoa thông qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm, tả cảnh ngụ tình
*Lưu ý: Để làm rõ nỗi bi thương của người chinh phụ trong đoạn trích cần đặt nhân vật trong bối
cảnh xã hội phong kiến thế kỷ XVIII (có thể so sánh với số phận người phụ nữ trong một số tác
phẩm cùng giai đoạn như Truyện Kiều, Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, Cung oán ngâm
khúc của Nguyễn Gia Thiều, thơ nôm Hồ Xuân Hương…) Hoặc có thể so sánh với Khuê oán (Nỗi oán của người phòng khuê) của nhà thơ thời Đường (Trung Quốc) Vương Xương Linh.
b Giới thiệu dạng đề tham khảo
Đề 1: Có ý kiến cho rằng đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn) đã thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc Anh (chị) hãy phân tích tâm
trạng người chinh phụ trong đoạn trích để làm sáng tỏ nhận định trên.
- Nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người, là tình thương giữa người với người
- Nhân đạo là một trong hai cảm hứng lớn của văn học tạo nên giá trị của một tác phẩm văn chươngchân chính
- Biểu hiện của cảm hứng nhân đạo:
+Cảm thông với những số phận bất hạnh
+Trân trọng và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người
+Phê phán, tố cáo những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người
+Hướng con người tới một tương lai tốt đẹp
b.Phân tích, chứng minh ý kiến.
b1 Đoạn trích thể hiện sự đồng cảm của tác giả đối với số phận bất hạnh của người chinh phụ
- Chồng đi chiến trận, chinh phụ mỏi mòn trông ngóng, từ hi vọng, đến thất vọng, cuối cùng là tuyệt vọng
- Buồn khổ, cô đơn, lo âu đến khắc khoải là những tâm trạng thường thấy ở chinh phụ (hình
ảnh hoa đèn gợi sự liên tưởng đến tuổi xuân tàn lụi của chinh phụ).
Trang 3- Tìm cách thoát ra khỏi cô đơn nhưng vô vọng (hành động đốt hương, soi gương, gảy đàn).
- Cảnh thiện nhiên có đôi có lứa (hoa – nguyệt) làm thức dậy khao khát về hạnh phúc lứa đôi ở
người chinh phụ Song chính cái thực tại nghiệt ngã đã khiến nàng trở nên bi kịch hơn bao giờ hết.b2 Ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người chinh phụ
-Ngợi ca tình cảm thủy chung son sắt của chinh phụ dành cho chồng (phân tích)
- Trân trọng ý thức về tuổi xuân và khát vọng hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ Đặt trong bốicảnh lễ giáo phong kiến hà khắc, người phụ nữ lại chủ động bộc bạch những khao khát của bản thân về đời sống vợ chồng thì quả là táo bạo và đáng quý
b3 Tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã chia lìa hạnh phúc của đôi trẻ, khiến người phụ nữ phải sống trong cô đơn, đau khổ
b4 Góp phần làm nên thành công của giá trị nhân đạo trong đoạn trích phải kể đến vai trò của yếu
tố nghệ thuật (xem phần trên)
3 Kết bài :
- Đánh giá về thành công của đoạn trích cũng như toàn tác phẩm trong việc thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo
- Cảm xúc của người viết về số phận người phụ nữ trong xã hội xưa
Đ ề 2 Cảm nhận 8 câu đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
( trích “chinh phụ ngâm”- Đặng Trần Côn)
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương “
( trích chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn, Bản dịch Đoàn Thị Điểm)
Hướng dẫn ôn tập:
Nêu hoàn cảnh sáng tác “Chinh Phụ Ngâm”
+Vào đầu thời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra chống lại triều đình Đây là thời kì vô cùng rối ren của xã hội phong kiến Chiến tranh xảy ra liên miên, hết Lê-Mạc đánh nhau đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, đất nước chia làm hai nửa Ngai vàng của nhà Lê mục ruỗng Nông dân bất bình nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi Nhân dân sống trong cảnh loạn li nồi da nấu thịt, cha
mẹ xa con, vợ xa chồng
+Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi của tầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả
Trang 4Nội dung chính của đoạn trích:
Đoạn trích miêu tả những cung bậc sắc thái tình cảm của người chinh phụ sau khi tiễn chồng ra mặttrận :Nỗi cô đơn của người chinh phụ trong cảnh lẻ loi; cảm giác về thời gian chờ đợi; cố tìm cách giải khuây nhưng không được
+Người chinh phụ tiễn chồng ra trận với mong muốn người chồng sẽ lập được công danh và trở về cùng với vinh hoa, phú quý Nhưng ngay sau buổi tiễn đưa, nàng sống trong tình cảnh lẻ loi, ngày đêm xót xa lo lắng cho chồng Thấm thìa nỗi cô đơn, nàng nhận ra tuổi xuân của mình đang qua đi
và cảnh lứa đôi đoàn tụ hạnh phúc ngày càng xa vời Người chinh phụ rơi vào tâm trạng cô đơn đếncùng cực Khúc ngâm thể hiện rất rõ tâm trạng cô đơn ấy
+Đoạn thơ đã mở ra trước mắt người đọc một không gian chật hẹp,nơi thềm hiên vắng lặng,nơi mà người chinh phụ đang cố gắng vượt qua sự cô đơn trống vắng khi người chồng đã đi xa.Bằng cách
sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình,Đặng Trần Côn đã vẽ nên bức tranh tâm trạng đầy xúc
động,thể hiện nỗi sầu của người chinh phụ cũng như bút pháp tinh tế của ông trong việc miêu tả nộitâm nhân vật
+Trong đêm thanh vắng quạnh hiu này,chỉ có tiếng bước chân của nàng ,một mình đối diện với chính mình Bước chân ấy đi đi lại lại trên hiên nhưng có lẽ tâm trí nàng đang chìm đắm trong miênman.Mỗi bước chân là 1 nỗi nhớ,mỗi bước chân là một nỗi lo,tất cả đang làm cho tâm trạng nàng nặng trĩu lo âu và thương nhớ người chồng đang chinh chiến ở ải xa
+Người chinh phụ hết đi đi lại lại , rồi lại buông rèm ,cuốn rèm không biết bao nhiêu lần…Đây là những động tác,cử chỉ và hành động được lặp lại nhiều lần mà không hề có mục đích của người chinh phụ
Đúng như nhan đề của tác phẩm,đoạn thơ là tâm trạng cô đơn trống vắng của người chinh phụ.Sau khi tiễn chồng ra trận nàng trở về trong nỗi chờ mong khắc khoải Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hồn Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu nỗi đau trong tim.nàng thật
bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêmtrong nỗi nhớ mong vô vọng
+Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.+Nàng lại quay về với không gian chật hẹp của căn phòng,nơi mà nàng đối diện với bóng
mình,đối diện với ngọn đèn khuya hiu hắt Nhưng thật trớ trêu, đền dù sao chỉ là một vật vô tri vô giác,có biết cũng như ko.câu hỏi tu từ “Đèn có biết chẳng biết”là một lời than thở,là nỗi khắc khoải chờ đọi và hi vọng trong nàng day dứt không yên.Tâm trạng của người chinh phụ đã chuyểngiọng tự nhiên từ lời kể bên ngoài thành lời tự độc thoại nội tâm , da diết , dằn vặt và ngậm
ngùi.nàng quả là một người đáng thương!
Trong đêm vắng chỉ có ngọn đèn có ánh sáng ,nó càng làm nổi bật đêm tối mênh mang và nỗi cô đơn dường như nhân lên gấp bôi trong lòng người thiếu phụ
+Đánh giá chung:
-Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụluôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi
-Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thông sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa
Trang 5Đề 3 : Cảm nhận của anh/ chị về 8 câu cuối bài ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
“Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
Trích Chinh phụ ngâm- Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch
Hướng dẫn cách làm :
Mở bài : các em có thể mở bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải giới thiệu được tên tác giả ( Đặng Trần Côn) , tên người dịch ( Đoàn Thị Điểm) , tên tác phẩm, và trích dẫn đoạn thơ trong đề bài
Sau đây là bài viết tham khảo
Bài làm : Cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến ở nước ta cuối thế khỉ XVIII đi qua để lại những đau thương mất mát không gì bù đắp được Văn học thời kì này tập trung phản ánh bản chất tàn bạo, phản động của giai cấp thống trị và nỗi đau khổ của những nạn nhân trong chế độ thối nát
ấy Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn ra đời đã nhận được sự đồng cảm rộng rãi củatầng lớp Nho sĩ Nhiều bản dịch xuất hiện, trong đó bản dịch sang chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm được coi là hoàn hảo hơn cả Tác phẩm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa,đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người Đoạn trích dưới đây là một trong những đoạn tiêu biểu của bản ngâm khúc : ( trích dẫn đoạn thơ trong đề bài )
Nếu như ở 16 câu đầu người chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng với tâm trạng cô đơn, lẻ loi, nỗi trống trải trong lòng thì đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết Mượn gió đông để gửi yêu
thương cho chồng Đó là ước muốn , là khát khao được biết tin tức về chồng mình:
“Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với điển cố ( non Yên) để diễn tả nỗi nhớ của nhân
Trang 6vật “Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ Gió đông là gió mùa xuân.Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm,nơi non Yên nghìn trùng Non yên,một địa danh cách xa Thiểm Tây,Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc , nơi chiến trận đầy gian khổ Nàng hỏi gió,nhờ gió nhưng”có tiện”hay không? Nàng mong gió hãy mang nỗi nhớ của nàng nói với người chồng ngoài biên cương Sự cô đơn trong lòng người chinh phụ ngày càng khắc khoải Làm sao tới được non Yên,nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng,ngủ cồn rêu xanh”? Cùng với những từ ngữ trang trọng “gửi nghìn vàng , xin” đã giúp người đọc thấy được không gian , nỗi nhớ được mở ra thật mênh mông , vô tận , khắc sâu nỗi cô đơn , hiu quạnh Thế nhưng hiện thực thật phũ phàng , đau xót :
“Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”
Việc sử dụng từ láy ‘thăm thẳm’ đã nói lên được nỗi nhớ da diết của người chinh phụ Mỗi nhớ thương ấy đè nặng trong lòng,triền miên theo thời gian, “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời” Có thể nói,dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn-điệp ngữ.Cả một trời thương nhớ mênh
mông.Nỗi buồn triền miên,dằng dặc vô tận
Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng , cuối cùng đọng lại trong nàng là nỗi đau , sự tủi thân:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu ,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng , với biển trời rộng lớn , xa “thăm thẳm” khônghiểu cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ.Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lolắng,day dứt khôn nguôi.Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và “đau đáu”,dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh :
“Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lạicảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên Niềm thương nỗi nhớ cứ kéo dài từ ngàynày sang ngày nọ Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà lòng nàng lạnh lẽo Nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà thêm nhói lòng, buồn nhớ Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ,cô đơn biết bao thương nhớ,lo lắng,buồn rầu
Bằng những hình ảnh ẩn dụ cho nỗibuồn chất chứa , sự mòn héo của cảnh vật 8 câu thơ cuối đã diễn tả nỗi nhớ da diết , nhớ tới thầm đau của người chinh phụ Nỗi đau được chuyểntừ lòng người sang cảnh vật Hàng loạt những hình ảnh ẩn dụ , từ ngữ gợi tả lại càng xoáy mạnh vào nỗi đau trong lòng người chinh phụ Qua đó người đọc cũng cảm nhận được 1 cách sâu sắc niềm thương cảm , thấu hiểu của tác giả đối với nỗi đau của người phụ nữ có chồng ra trận
Trang 7Với thể thơ song thất lục bát , cách dùng từ , hình ảnh ước lệ , điệp từ điệp ngữ , nghệ thuật miêu tả nội tâm , đoạn thơ đã thể hiện 1 cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi côđơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc , tình yêu lứa đôi Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương , cảm thong sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ , cất lên tiếng kêu nhân đạo , phản đối chiến tranh phi nghĩa
Đoạn trích cũng như toàn tác phẫm ‘chinh phụ ngâm’ là tiếng kêu thương tâm của người phụ nữ nhớ chồng nơi chinh chiến Trạng thái tình cảm của người chinh phụ một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận để biết bao chinh phụ héo hontựa cửa chờ chồng, mặt khác lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này Tác phẩm đã khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc
* Bài Trao duyên:
- Hệ thống kiến thức cơ bản về đoạn trích
- Các vấn đề trọng tâm:
+ Tình yêu sâu nặng và bi kịch của Kiều qua đoạn trích
+ Diễn biến tâm trạng của Kiều khi thuyết phục, trao duyên cho Vân
+ Tâm trạng đau xót sau khi trao duyên
+ Giá trị nhân đạo của đoạn trích Trao duyên
Trang 8- Kĩ năng phân tích nhân vật: diễn biến tâm trạng, thế giới nội tâm…
3 Nội dung ôn tập:
A ĐOẠN TRÍCH TRAO DUYÊN
I GIỚI THIỆU ĐOẠN TRÍCH
– Vị trí: Sau đêm thề nguyền giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, Kim Trọng phải về hộ tang chú ở LiêuDương Tai nạn ập đến khi gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan Vương Ông và Vương Quan bị bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, tài sản bị cướp hết Kiều buộc phải bán mình chuộc cha và em Đêm trước ngày phải theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho KimTrọng
– Nội dung: Đoạn trích miêu tả tình cảnh trớ trêu của Kiều khi phải trao duyên cho em.Đồng thời làm rõ diễn biến tâm trạng đau khổ tuyệt vọng của nàng khi tình yêu tan vỡ,mình buộc phải phụ tình với Kim Trọng
II PHÂN TÍCH
1 Thúy Kiều nhờ cậy, thuyết phục TV thay mình kết duyên với KT
a/Kiều thuyết phục Thúy Vân
– Lời lẽ tha thiết gửi gắm:
“Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
+ “Cậy” (không phải “nhờ”):
Nhờ với tất cả sự hy vọng, tin tưởng, tha thiết gửi gắm, phó thác tuyệt đối vào em
Âm nặng như dồn nén, chuyên chở, chứa chất sức nặng của một cõi lòng đang quằn quại, khó nói của một lời gửi gắm, nương tựa, trối trăng, một lời khẩn khoản thiết tha
+ “Chịu” (không phải “nhận”):
cũng là nhận lời nhưng là nhận lời trong tâm thế bị ràng buộc, khó có thể chối từ
sự thấu hiểu những thiệt thòi, hy sinh, khó xử nếu Thúy Vân nhận lời (Thúy Vân sẽ phải kết duyên với người mình chưa hề quen biết) => Đòi hỏi phải có sự chia sẻ, thấu hiểu, cảm thông
–
Thái độ, hành động khẩn khoản, chân thành: “lạy…thưa”
+ Phi lí: thay đổi thứ bậc, chị phải lạy em
+ Hợp lí:
Tạo không khí thiêng liêng, trịnh trọng, hé lộ tính chất hệ trọng của sự việc sắp nói tới
Kiều là người chịu ơn, muốn bày tỏ lòng biết ơn trước sự hy sinh to lớn của em, với Kiều thì Vân là
ân nhân của mình vì đã hy sinh hạnh phúc cá nhân mình vị chị
Trang 9=> Hiểu rõ việc mình sắp nhờ cậy em là một việc hết sức hệ trọng và tế nhị, Vân sẽ khó xử, vì vậy Kiều mở đầu lời trao duyên bằng những lời lẽ tha thiết gửi gắm, khéo léo ràng buộc và bằng cả mộtthái độ khẩn khoản, chân thành, đầy kính cần khiến Vân khó lòng từ chối.
b/ Kiều tâm sự với Thúy Vân
* Về cảnh ngộ éo le của mình:
“Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”
Tình yêu thơ mộng với chàng Kim Thực tế đắng cay
+ Điệp ngữ “Khi ngày…khi đêm” + phép đối
ngày > < đêm thể hiện sự gắn bó sâu nặng của
2 người
+ Quạt ước, chén thề: những kỉ niệm tình yêu
hạnh phúc, những lời thề thủy chung son sắt
=> Tình cảm sâu nặng, thắm thiết, khó có thể
phai mờ
+ “Giữa đường đứt gánh tương tư”: với người
xưa, tình yêu là gánh nặng, lúc tình cảm đang đậm sâu nhất, đắm say nhất thì gánh đứt, không sao mang xách lại được
+ “Sóng gió bất kì”: hình ảnh ẩn dụ cho tai họa bất ngờ ập đến phá tan tất cả, gia biến do thế lực
PK gây ra
=> Thực tế đắng cay,
=> Thực tế tàn nhẫn buộc nàng phải chọn lựa giữa “tình” và “hiếu”: ý thức sâu sắc về tình cảnh ngang trái, éo le của mình + sự chọn lựa khó khăn, nghiệt ngã
Quyết định: “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”
+ “Keo loan” là loại keo bền nhất được làm từ máu chim loan => Hy vọng Thúy Vân sẽ nối lại tình
duyên với KT một cách bền chặt, dài lâu, vĩnh cữu chứ không bị đứt gánh giữa đường như Thúy Kiều
+ “Mối tơ thừa”: với TK thì đó là mối duyên nhưng với Thúy Vân đó là mảnh duyên do chị trao lại,
là mối duyên không trọn vẹn => ý thức sâu sắc về sự thiệt thòi của Thúy Vân
+ “Mặc em”: quyết định phó mặc, dứt khoát, trông cậy mọi việc vào em.
=> Lời Kiều nói với Vân tưởng như chỉ kể lể đơn thuần để Vân hiểu được tình cảnh của mình nhưng thật ra, bên trong đó là cả tấm lòng hiểu mình, hiểu người, hiểu đời và cả những đớn đau, mất mát, chia lìa
c/ Lời Kiều thuyết phục Thúy Vân
“Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Trang 10Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”
“Ngày xuân”: ẩn dụ cho tuổi xuân của người con gái Vân vẫn còn trẻ, còn hạnh phúc, còn một
tương lai đầy hứa hẹn (đồng thời ngầm so sánh với mình nay chẳng còn gì cả mất đi tình yêu, Kiều xem như mình đã không còn tuổi xuân, hy vọng, không còn hạnh phúc)
“Xót tình máu mủ”:cách nói bình dân tác động đến tình cảm của TV, hãy vì tình cảm chị em ruột
thịt thiêng liêng mà thay chị gánh lấy trách nhiệm nặng nề “thay lời nước non”
“Thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”:thành ngữ dân gian thể hiện cái chết để ràng buộc
em (nghĩa tử là nghĩa tận) Thúy Kiều sẽ thanh thản, toại nguyện vì dẫu chết vẫn mang tiếng thơm bởi là người có tình nghĩa Đồng thời nàng mơ hồ nhận ra tương lai tăm tối đang chờ đợi mình phíatrước, đó là dự cảm về cái chết đang chờ đợi
=> Với cách nói đầy thương cảm, thống thiết, Kiều đã đưa ra những lý lẽ rất thuyết phục, vừa có lý vừa có tình để TV nhận lời trao duyên Lúc này, con người lý trí đã chiến thắng những đau đớn, yêuthương đang trỗi dậy trong lòng
2 Trao kỉ vật cho Thúy Vân và dặn dò những chuyện sau này
a/ Trao kỉ vật
–
Lí trí mách bảo: quyết định trao kỉ vật
“Chiếc vành với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung”
+ Chiếc vành: chiếc vòng xuyến đeo tay của những thiếu nữ, là tín vật kỉ niệm mà KT đã tặng nàng.+ Bức tờ mây: tờ giấy có trang trí hình mây ghi lời thề nguyền đôi lứa
=> Những kỉ vật gắn bó với tình yêu sâu đậm giữa Kim – Kiều Kiều quyết định trao kỉ vật là hành động thể hiện sự dứt khoát trao duyên cho em, để thuyết phục, tạo niềm tin cho em và sự giải phóng cho mình : LÍ TRÍ
–
Con tim trù trừ, do dự:
+ Nhìn thấy kỉ vật, bao kỉ niệm, tình yêu bỗng ùa về Trao kết kỉ vật nghĩa là hoàn toàn đoạn tuyệt với mối duyên này, kể từ giây phút đó chàng Kim sẽ vĩnh viễn không thuộc về nàng nữa => Nhận thức đầy đủ nỗi mất mát của tình yêu tan vỡ
+ Trong đau đớn tột cùng, Kiều cố gắng giữ lấy một chút an ủi nhỏ nhoi
“giữ”không có nghĩa là trao hẳn, chỉ là “giữ” mà thôi
“của chung”: Kỉ vật đó giờ là của chung 3 người, Kiều vẫn lưu luyến, níu kéo, vẫn muốn có sự tồn
tại, hiện diện của mình trong những kỉ vật đó
=> Kiều có thể trao em chữ “duyên”(nhân duyên, duyên phận, cơ duyên: sự run rủi cho số phận haingười gặp nhau, kết đôi với nhau và lấy nhau), còn chữ “tình” thì không thể trao đi Trao kỉ vật nhưng không thể trao hồn kỉ vật
Trang 11<=>Lí trí đã quyết nhưng con tim vẫn trù trừ do dự Con tim muốn níu giữ tình yêu còn lí trí buộc phải dứt tình Điều này khiến nàng thêm đau đớn, giằng xé tâm can.
b/ Tâm trạng sau khi trao kỉ vật
Trao duyên xong, Kiều dường như đã chết:
– Hình ảnh cõi âm hiện lên nửa thực nửa mộng: cách mặt khuất lời, dạ đài, người mệnh bạc, người
thác oan, thân bồ liễu … => tâm trạng đau đớn tột cùng khiến con người rơi vào trạng thái nửa mê
nửa tỉnh, chỉ nhìn thấy phía trước một màu tăm tối của cái chết, của đau đớn, của oan khuất, cô đơn
– Lời của Kiều là lời của một oan hồn mệnh bạc, âm dương cách trở, không nói được lời nào:
Nhắc đến những kỉ niệm ngày xưa đầy xót xa “mảnh hương nguyền, phím đàn”,“lò hương”…trong
đêm thề hẹn
Hình dung oan hồn bơ vơ, thê thảm của mình: ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ
Khao khát nhận được sự đồng cảm nơi người còn sống: “Dạ đài…thác oan”: bấy giờ, Kiều và Vân
sẽ thuộc về hai thế giới cách biệt, không thấy được nhau và nghe được nhau Khi đó, Kiều mong
em có thể rảy chén nước rửa nỗi oan khuất của Kiều => Trong hoàn cảnh ấy, Kiều vẫn ý thức sâu sắc về nỗi oan khuất của mình và đấu tranh đến cùng với sự bất công của xã hội phong kiến đương thời
Khát vọng trả món nợ nghĩa tình “Hồn còn…trúc mai” àMâu thuẫn trong Kiều: lúc thì cho rằng
trao duyên xong sẽ ngậm cười nơi chín suối, khi trở thành oan hồn vẫn muốn đền đáp món nợ tình,
lời thề năm xưa “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” Rõ ràng đây là tâm lý mâu thuẫn, phức
tạp, day dứt => Tư tưởng thủy chung son sắt dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo
=>Chới với trước viễn cảnh tương lai, Kiều nửa tỉnh nửa mê, nửa như đang sống, nửa như người đãchết Nói với em mà lời Kiều như phảng phất từ cõi bên kia đang vọng về
3/Lời độc thoại nội tâm của Kiều
– Sau khi hoàn tất việc trao duyên, đáng lẽ Kiều phải thấy an tâm, yên lòng đằng này Kiều lại như thấy hụt hẫng, xót xa Tiếng nói thành tiếng than khóc, nói với em mà như nói với chính mình, rời quên hẳn xung quanh, quên hẳn Vân trước mặt, chỉ còn lời độc thoại nội tâm:
Ý thức được sự đối lập giữa:
+ Quá khứ: hạnh phúc, viên mãn “muôn vàn ái ân”, ân tình không đong đếm nổi
+ Hiện tại: bi kịch tình yêu tan vỡ, tâm hồn đau đớn nát tan “trâm gãy gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”
=> Thúy Kiều nghẹn ngào đau đớn, xót xa trước thực tại, giọng thơ chua chát, cay đắng Quá khứ giờ đây đã trở thành niềm khát khao mãnh liệt
=>Bi kịch càng thêm sâu sắc
Hướng tới Kim Trọng: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân”thể hiện sự day dứt, giày vò, đồng thời thấy
được tình yêu cao thượng của Thúy Kiều (Tuy trao duyên cho TV nhưng vẫn thấy mình chịu muônvàn tội lỗi, cái lạy này là cái lạy tạ lỗi vô cùng thóng thiết Trong tình cảnh này, Kiều không thể làm
Trang 12gì hơn ngoài sự tạ lỗi với chàng Kim, cái lạy trong đau đớn, xót xa, trách đời, trách mình, đồng thờikết thúc mối tình đầu ngắn ngủi đầy tiếc nuối)
Ý thức được tình trạng bi kịch của bản thân:
+ “Bạc như vôi”: số phận bất hạnh, cuộc đời bạc bẽo
+ “Nước chảy hoa trôi”:
=> Số phận long đong, lận đận, chịu kiếp dập vùi, trôi nổi trên dòng đời vô định, nhơ nhớp, cuộn xiết không thể nào cứu vãn
=> Thành ngữ thể hiện cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, tượng trưng cho tuổi thanh xuân trinh trắng và đẹp đẽ của Kiều chấm dứt từ đây
Bi kịch tình yêu đến đỉnh điểm, Kiều thốt lên tiếng kêu xé lòng:
+ Thán từ “ôi hỡi”, nhịp thơ 3/3 như một tiếng nấc đau thương, nghẹn ngào, tiếng kêu than thảng thốt của người phụ nữ tuyệt vọng
+ Lời gọi được lặp lại một cách trang trọng “Kim Lang”(cách xưng hô thể hiện quan hệ vợ chồng) như một lời kêu cứu tuyệt vọng
+ Điệp từ “thôi” vừa thể hiện sự dằn vặt, vừa xác nhận sự phụ bạc, nhịp thơ ngân dài như tiếng kêu than vọng mãi không có lời đáp
=> Kiều tự cho mình là người phản bội lại tình yêu, qua đó, ta nhận thấy thêm sự vị tha, thủy chung, giàu đức hy sinh của Kiều
=> Cuộc trao duyên kết thúc trong đỉnh điểm nỗi đau, trong tiếng kêu than tuyệt vọng bởi tình yêu tan vỡ nhưng đó cũng là lúc khát vọng tình yêu lên tiếng
*** Đoạn trích kết lại bằng tiếng kêu xé lòng trong tột cùng đau đớn của Thúy Kiều khi nàng ý thức sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của mình Kiều thương mình thì ít, thương cho chàng Kim thì nhiều Nàng đã nhận hết mọi trách nhiệm của sự tan vỡ tình duyên về mình Có thể nói, trong đau khổ tột cùng Kiều vẫn sáng lên vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng: ân cần, chu đáo với Kim Trọng mà vẫn tự trách, nàng quên đi bất hạnh của mình để cảm thông cho người khác Đây là giây phút độc thoại thật nhất, nhân bản nhất
B ĐOẠN TRÍCH “CHÍ KHÍ ANH HÙNG”
Đề bài: Tìm hiểu đoạn trích Chí khí anh hùng
Trong đời Kiều có nhiều cuộc chia tay, chia tay đột ngột với Kim Trọng khi mối tình đầu chớm hé; chia tay Thúc Sinh trong tâm trạng cô đơn, đầy dự cảm không lành Trong đoạn trích này tác giả táihiện cảnh Kiều chia tay Từ Hải để chàng ra đi thực hiện nghiệp lớn Nhưng tại sao người soạn sách lại đặt tên cho đoạn trích này là “Chí khí anh hùng” mà không phải “Từ Hải chia tay Thuý Kiều”?
Đó là vì đoạn trích này không tập trung khắc hoạ cảnh chia tay mà muốn khắc hoạ Từ Hải ở vẻ đẹp,tầm vóc và quyết tâm đạt đến khát vọng
I Vị trí đoạn trích
Trang 13Vị trí đoạn trích từ câu 2213 tới 2230 Đoạn trích này là sáng tạo riêng của Nguyễn Du so với cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Trong “Kim Vân Kiều truyện” không có cảnh tiễn biệt của hai người và những nhớ mong, chờ đợi của Thuý Kiều sau đó.
II Đọc hiểu văn bản
1 Ý nghĩa nhan đề đoạn trích
“Chí”: mục đích cao cần hướng tới
“Khí”: nghị lực để đạt tới mục đích
“Chí khí anh hùng” là: lí tưởng, mục đích cao và nghị lực lớn của người anh hùng
2 Chân dung Từ Hải
a Dáng vẻ, hành động
– “Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.”
Sống với Kiều được nửa năm, cuộc sống đang lúc đằm thắm, nồng nàn nhất thì Từ Hải muốn ra đi thực hiện nghiệp lớn Tâm trí Từ Hải luôn suy nghĩ về những việc lớn lao Vì thế, việc “động lòng bốn phương” là hợp lí Từ “bốn phương” chỉ công việc và chí lớn của người nam nhi thời xưa
“Động lòng” nhấn mạnh việc Từ Hải nung nấu những ý chí lớn lao ý chí đó đã có sẵn trong con người chàng, nó chỉ tạm lui đi trong thời gian sống cùng Kiều, giờ là lúc chàng thể hiện Từ “thoắt”diễn tả sự mau chóng trong việc thay đổi tâm trạng, dáng vẻ của Từ Hải ở đây, Nguyễn Du đã gọi
Từ Hải là “trượng phu” Đó là cách nói vô cùng trân trọng với các vị anh hùng Nó dựng lên dáng
vẻ bệ vệ, oai nghiêm, đĩnh đạc của một vị tướng võ
– “Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.”
Câu thơ miêu tả hành động nhìn ra xa, đồng thời khắc hoạ dáng vẻ phóng khoáng của Từ Hải Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh Từ Hải song song, sánh ngang với hình ảnh trời đất Nhắc đến
Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất, vũ trụ Những từ láy, từ biểu cảm chỉ độ rộng, độ cao càng khắc hoạ rõ hơn tư thế của Từ Hải Cái nhìn của chàng không phải là trông hay nhìn bình thường mà là “trông vời” – cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi thường
Từ Hải một mình ra đi thực hiện ý nguyện của mình Việc xây dựng Từ Hải độc lập một mình không làm chân dung chàng đơn độc mà càng cho thấy sự dũng mãnh của chàng Hành động được miêu tả đầy sự dứt khoát, nhanh nhẹn Đã nghĩ là làm, Từ Hải không bao giờ chần chừ, do dự, suy tính lâu “Thoắt đã động lòng bốn phương” là “lên đường thẳng rong” ngay
– “Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.”
Tác giả để Từ Hải “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.” rồi mới để Kiều nói xin đi theo nói lên việc chàng ra đi là quyết định chắc chắn, không thể lay chuyển nổi Thuý Kiều muốn theo
Từ Hải, nhưng với chàng đã làm là dứt khoát Dặn dò xong Kiều, Từ Hải ra đi ngay Từ “quyết” và
“dứt” cùng xuất hiện trong một câu thơ cho thấy sự quyết đoán của Từ
Câu thơ cuối đoạn dựng lên hình ảnh phóng khoáng, kì vĩ về Từ Hải Nguyễn Du đã so sánh Từ Hảivới chim bằng để nhấn mạnh bản lĩnh phi thường của chàng Cảnh chàng ra đi thực hiện sự nghiệp hùng tráng như cảnh chim bằng tung bay giữa gió mây
=> Dáng vẻ, hành động của Từ Hải đầy phóng khoáng, kì vĩ, dứt khoát, nhanh nhẹn và oai nghiêm
b Lời nói
– Từ Hải ra đi không lưu luyến, bịn rịn tình cảm như thường thấy ở mọi người Dù yêu thương Thuý Kiều, coi nàng là “tâm phúc tương tri” song nàng quyết tâm ra đi một mình Câu hỏi “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?” khẳng định chàng là bậc nam nhi sự nghiệp và tình cảm rạch ròi
Trang 14-Từ Hải có lí tưởng công danh lớn lao Điều đó thể hiện qua lời hứa với Thuý Kiều Những khát vọng của chàng đều phi thường Đó là việc phải có được “Mười vạn tinh binh,/ Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời.” Từ đó để mọi người thấy được tài năng xuất chúng của Từ Hải: “Làm cho
rõ mặt phi thường./ Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia” Từ “mặt phi thường” dùng rất trúng Nó cho thấy sự tự tin, kiêu hãnh của Từ Hải Đây không chỉ là lời của riêng Từ Hải mà ẩn dấu sau đó còn
có cái nhìn trân trọng, tự hào của Nguyễn Du
-Từ Hải hẹn ước chắc nịnh Chàng hẹn khi thành công sẽ cưới Thuý Kiều Đó là khi nào? Chàng không nói vu vơ mà hẹn ước chắc chắn: “Đành lòng chờ đó ít lâu,/ Chầy chăng là một năm vội gì!”.Xác định rõ mục tiêu và thời gian phấn đấu, Từ Hải đã vẽ ra con đường đi cụ thể cho mình Do vậy,những gì chàng nói đều chắc như đinh đóng cột
=> Từ Hải là người có lí tưởng công danh lớn, rạch ròi giữa sự nghiệp và tình cảm, có cách phấn đấu cụ thể chứ không chung chung
: Với chí khí anh hùng, hoài bão lớn lao và niềm tin chắc chắn như vậy, Từ Hải đem đến cho cuộc đời Kiều không phải cái rung động chớm hé của buổi yêu đầu, không phải cuộc sống bình thường
mà thức dậy ở Kiều những điều người khác không có được: đó là khát vọng về công bằng, chính nghĩa
c Nghệ thuật xây dựng nhân vật Từ Hải
-Từ Hải được miêu tả bằng những từ ngữ trang trọng: “trượng phu”, “mặt phi thường Bên cạnh đó
là những hình ảnh ước lệ mang tính vũ trụ: “động lòng bốn phương”, “Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời”, “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” Những từ ngữ, hình ảnh này nhằm nhấn mạnh chân dung tiêu biểu của một vị anh hùng đồng thời thể hiện cái nhìn trân trọng của Nguyễn Du với
Từ Hải
-Tác giả chủ yếu miêu tả những hành động và lời nói của Từ Hải, ít đi sâu vào nội tâm
Nguyễn Du đã sử dụng cách miêu tả lí tưởng hoá để nâng cao tầm vóc của Từ Hải
3 Thái độ và ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải
Có giai thoại như sau: vua Tự Đức khi đọc đến đoạn Nguyễn Du viết về Từ Hải đã đòi phạt tác giả
300 roi Tại sao lại vậy? Vì theo giai cấp phong kiến, Từ Hải chỉ là một tên giặc cỏ (VD: Cao Bá Quát, Nguyễn Huệ) Trong “Kim Vân Kiều truyện”, Từ Hải cũng được miêu tả là một tên có nét tướng cướp Nhưng khi bước vào “Truyện Kiều”, con người dám chống lại triều đình ấy được miêu
tả như một anh hùng Nguyễn Du đã dùng những hình ảnh đẹp nhất để miêu tả Từ Từ Hải là bóng dáng của những người anh hùng nông dân khởi nghĩa với bao phen thay đổi sơn hà
-Thái độ của tác giả với Từ Hải: yêu quý, cảm phục Nguyễn Du đã dồn nén giấc mơ về tự do và công lí của mình trong con người Từ Hải
-Quan điểm về người anh hùng của tác giả: người anh hùng phải làm được những việc lớn lao, dámnghĩ dám làm, có dáng vẻ phóng khoáng, dứt khoát, oai nghiêm
III.Tổng kết
– Từ Hải là một vị anh hùng đầy phóng khoáng, dứt khoát, nhanh nhẹn và oai nghiêm, có lí tưởng công danh lớn, rạch ròi giữa sự nghiệp và tình cảm
– Nguyễn Du đã sử dụng cách miêu tả lí tưởng hoá để nâng cao tầm vóc của Từ Hải
– Từ Hải là hiện thân cho giấc mơ tự do, công lí của Nguyễn Du
Phân tích về “ Chí Khí Anh Hùng “ của Từ Hải trong Truyện Kiều
Nguyễn Trọng Bảo 16/03/2015 Lớp 10, Văn mẫu Leave a comment 128,443 Lượt xem
VĂN MẪU 1
A Mở bài
Trang 15Từ Hải là một giấc mơ của Nguyễn Du,giấc mơ anh hùng,giấc mơ tự do và công lý.Cho nên Từ Hải
là một người chí khí,một người siêu phàm.Con người ấy đến từ một giấc mơ và ở lại như một huyền thoại.Hiện diện trong “Truyện Kiều” như một nhân cách sử thi,Từ Hải đã làm nên những trang sôi động nhất,hào sảng nhất trong cái thế giới buồn đau dằng dặc của “Đoạn Trường Tân Thanh”.Đoạn trích “Chí Khí Anh Hùng” là một đoạn trích tiêu biểu khắc họa rõ nét chí khí anh hùng của Từ Hải
B.Thân bài
Kiều bị lừa vào lầu xanh lầnthứ 2, tâm trạng nàng vô cùng đau khổ và tuyệt vọng May sao Từ Hải đột ngột xuất hiện, đã xem Kiều như tri kỉ và chuộc nàng thoát khỏi lầu xanh Cả 2 đều là những con người thuộc tầng lớp thấp kém (một gái lầuxanh, một tướng giặc) bị xã hội phong kiến thối nát lúc bấy giờ ruồng rẫy, coi thường, và họ đã đến với nhau trong 1 tình cảm gắn bó của đôi tri kỉ Từ Hải đánh giá cao sự thông minh, khéo léo của Kiều và ngược lại Kiều nhận ra ở Từ Hải có chí khí anh hùng hiếm có trong thiên hạ, đồng thời cũng là người duy nhất có thể giải thoát cho
nàng.Nhưng dù yêu thương,trân trọng Từ Hải, Kiều cũng không thể giữ chân bậc anh hùng cái thế.Đã đến lúc Kiều để Từ Hải ra đi lập sự anh hùng.Tính cách và chí khí của Từ Hải được biểu hiện qua cách sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt,ngôn ngữ bình dân,dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố,điển tích.Đặc biệt nhân vật Từ Hải được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hóa.Mọi ngôn từ,hình ảnh và cách miêu tả Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này
“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương”
“Nửa năm” là khoảng thời gian chung sống của Từ Hải và Kiều,thời gian chưa đủ dài để dập tắt hương lửa nồng nàn của “trai anh hùng,cái thuyền quyên”.Vậy nhưng,Từ Hải vội dứt áo ra đi,Từ không quên mình là một tráng sĩ.Trong xã hội phong kiến,đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa trời đất cao rộng.Tác giả dùng từ “trượng phu” đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này vàdùng cho nhân vật Từ Hải.”Trượng phu” nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn.Từ “thoắt” nghĩa là nhanh chóng trong khoảng khắc bất ngờ.Đó là cách xử sự bất thường,dứt khoát của Từ Hải.Nếu là người không có chí khí,không có bản lĩnh thì trong lúc hạnh phúc vợ chồng đang nồng nàn người ta
dễ quên những việc khác.Nhưng Từ Hải thì khác,ngay khi đang hạnh phúc,chàng “thoắt” nhờ đến mục đích,chí hướng của đời mình Tất nhiên chí khí đó phù hợp với bản chất của Từ Hải,hơn nữa,Từ Hải nghĩ thực hiện được chí lớn thì mới xứng đáng với niềm tin yêu và trân trọng mà Thúy Kiều dành cho mình Cụm từ “động lòng bốn phương” theo Tản Đà là “động bụng nghĩ đến bốn phương”cho Từ Hải “không phải người một nhà,một họ,một xóm,một làng mà là người của trời đất,của bốn phương”(Hoài Thanh).Chính vì thế,chàng hướng về “trời bể mênh mang”,với “thanh gươm yên ngựa” lên đường đi thẳng:
“Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”
Không gian trời bể mênh mang,con đường thẳng đã thể hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hai.Tác giả dựng lên hình ảnh “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”rồi mới để cho Từ Hải và Thúy Kiểu nói lời tiễn biệt.Liệu có gì phi lôgic không?Không,vì hai chữ “thẳng dong” có người giải thích là “vội lời”,chứ không phải lên đường đi thẳng rồi mới nói lời tiễn biệt.Ta có thể hình dung,Từ Hải lên yên ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thúy Kiều.Lời Từ Hải nói với Thúy Kiều lúc chia tay thể hiện rõ rính cách nhân vật.Thứ nhất,Từ Hải là người có chí khí phi thường,khichia tay thấy Kiểu nói:
Nàng rằng : “Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”
Trang 16Từ Hải đã đáp lại rằng:
Từ rằng : ”Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”
Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì chia sẻ mọi điều trong cuộc sống, vừa động viên, tin tưởng Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự :
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”
Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu đuối như Thúc Sinh khi chia tay Kiều Sự nghiệp anh hùng đối với Từ Hải là ý nghĩa của sự sống Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng đáng với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông cậy của người đẹp
Thứ hai, Từ Hải là người rất tự tin trong cuộc sống :
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì !
Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là người rất tự tin trong cuộc sống Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở vềvới cả một cơ đồ lớn
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi
Hai chữ “dứt áo” thể hiện phong cách mạnh mẽ,phi thường của đấng trượng phu trong lúc chia biệt.Hình ảnh “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”là một hình ảnh so sánh đẹp đẽ và đầy ý
nghĩa.Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao,bay xa ngoài biển lớn.Không chỉ thể trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thỏa chí tung hoành “diễn tả một cách khoái trá trong giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt”.Chia li và hội ngộ,hộingộ và chia li,hai sự kiện trái ngược và nối tiếp chia cái đời thường của mỗi người ra thành những chặng đường giàu ý nghĩa hơn.Phải,nếu không có chia li và hội ngộ,cuộc sống chỉ là một dòng chảyđơn điệu và tẻ nhạt.Nếu hội ngộ là sướng vui,hạnh phúc thì chia li là sầu muộn,đau buồn.Có lẽ vì thế mà thơ ca viết về chia li nhiều hơn,thấm thía hơn?Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã ba lần khắc họa những cuộc chia biệt.Đó là Kiều tiễn Kim Trọng về quê hộ tang chú,ở đó có sự nhớ nhungcủa một người đang yêu mối tình đầu say đắm.Đó là cuộc chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẻ,hi vọng gặp lại mong manh.Cuộc chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thỏa chí vẫy vùng bốn biển.Do vậy tính chất ba cuộc chia biệt là hoàn toàn khác hẳn nhau.Vậy nhưng,bằng tài hoa của một người nghệ sĩ bậc thầy,Nguyễn du đã khắc họathành công chân dung nhân vật Từ Hải với những dấu ấn riêng biệt
C.Kết bài
Dưới hình thức một cuộc chia li,đoạn trích “Chí khí anh hùng” mang chở khát vọng tự do,công lí của Nguyễn Du.Từ Hải như một con đại bàng vỗ cánh làm xáo động cả đất trời.Chỉ có đôi cánh ấy mới che chở được những nạn nhân sống dưới gần trời tăm tối của thể giới “Truyện Kiều”
VĂN MẪU 2
Đề bài: Phân bài khí chí anh hùng
Khi nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, thì ta không thể nào không nhắc đến “Truyện Kiều” Đây là một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc, và đề cao giá trị con người khi lên tiếng
Trang 17tố cáo xã hội phong kiến thối nát Và đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích trong “Truyện Kiều”, thì Nguyễn Du đã dành những lời thơ của mình để nói về Từ Hải là một người anh hùng rất lí tưởng,
và có những phẩm chất cao đẹp, phi thường
Trong đoạn trích truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng một hình tượng nhân vật Từ Hải hoàn toàn mới so với hình tượng nhân vật này trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, còn trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thì hình tượng Từ Hải giống như một tướng cướp đã bị lược
bỏ, thay vào đó là một hình tượng Từ Hải như một vị anh hùng tuyệt đẹp, và phi thường vì vậy hình tượng này được coi là sự hợp nhất của hình tượng nhân vật có tính ước lệ, và là nghệ thuật miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du
Sau khi thuý Kiều mắc bẫy và rơi vào chốn lầu xanh lần thứ hai, Kiều luôn sống trong tâm trạng đau khổ, giày vò Thì giữa lúc ấy, Từ Hải đã xuất hiện như một vị cứu tinh giúp Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh đầy nhơ nhớp ấy thế là tình yêu giữa Thúy Kiều và Từ Hải vẫn không thể nào che khuất được ước mơ gây dựng một sự nghiệp lớn lao ở con người này Đó chính là lí do mà khi mối tình của họ vừa chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải đã tiếp tục lên đường với khát khao cháy bỏng để gây dựng sự nghiệp của mình thông qua cấu thơ
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong
Mặc dù trong thời gian sáu tháng, tình yêu của họ luôn nồng nàn, cháy bỏng nhưng với chí lớn và khát khao công danh sự nghiệp lớn của Từ Hải thoắt đã “động lòng bốn phương” ở đây là hình ảnh tượng trưng, với ước lệ cho chí nguyện lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải còn hình ảnh “trời bể mênh mang” cũng mang ý nghĩa tương tự như thế Và chúng như một sự ước lệ tạo nên một tầm vóc lớn lao, phi thường cho Từ Hải Có thể nói tình yêu hay bất cứ một cái gì đó cũng không đủ sức
để ngăn cản được bước chân của chàng Trong cả một tác phẩm dài, thì Nguyễn Du chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải nhằm để khẳng định một chí khí lớn ở chàng Còn hình ảnh trong câu thơ với thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong đây là sự diễn tả một phong thái ung dung của người “trượng phu” trên con đường gây dựng sự nghiệp
Còn đối với Thúy Kiều, Từ Hải không chỉ là một người chồng mà còn là một vị ân nhân có ơn vô cùng to lớn đã cứu Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh ô nhục Vì vậy, trước sự quyết tâm và sự ra đi vì nghiệp lớn của chồng mình, thì Thúy Kiều đã xin đi theo để là người chăm sóc, và nâng khăn sửa túi cho chàng
Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi
Nàng xin đi theo chàng với ý định là để làm trọn chữ “tòng” vì theo nàng Thuý Kiều “xuất giá tòng phu” lấy chồng thì phải theo chồng, và nguyện cùng chồng gánh vác mọi chuyện Nhưng lời Từ Hải đã quyết, thì như để làm an lòng Thúy Kiều:
Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Trước lời xin đi theo của Thúy Kiều, thì Từ Hải đã trách Kiều: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”’, đó cũng như là một lời khuyên Kiều đừng xem nặng vấn đề “lấy chồng là phải theo chồng”,
Trang 18mà hãy xem nhẹ chuyện tình cảm vì sự nghiệp lớn lao của chồng Với một quyết tâm, và chí khí lớn lao, Từ Hải nói như lời hứa hẹn sẽ gây dựng được một cơ đồ to lớn, để nắm chắc trong tay
“mười vạn tinh binh” và chàng sẽ trở về để đón Kiều trong “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp trời” của chàng Và đến lúc thành công quay trở lại cũng là lúc Từ Hải sẽ “rước nàng nghi gia”, nhằm đem lại địa vị và danh phận cho người mà chàng xem là tri âm tri kỉ thế là những lời của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt Thuý Kiều càng làm rõ “chí khí anh hùng” của nhân vật này, thay vì những lời nói nhằm để thể hiện sự bịn rịn, sự quyến luyến khi chia tay thì là những ước mơ, và sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng
Từ Hải còn thể hiện chí khí của mình cho rằng Thúy Kiều đi theo sẽ “càng thêm bận” nhưng sâu thẳm trong chàng là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu cực khổ, nay đây mai đó và “bốn
bể không nhà”:
Bằng ngay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu
Vì thế chàng còn dám khẳng định chắc chắn thời gian mà mình sẽ quay về đó là khoảng thời gian một năm Từ Hải khuyên Kiều nên ở nhà đợi chàng trở về trong sự chiến thắng vẻ vang
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì
Cách chia tay của Từ Hải rất khác biệt ở chỗ là những lời chia tay được thay bằng những lời hứa hẹn vào một ngày chiến thắng không xa, và sự quyến luyến được thay bằng một quyết tâm cho tương lai
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi
Chàng dứt khoát ra đi với sự một quyết tâm sắt đá như cánh chim, bằng khi đã cất cánh tung bay trên bầu trời thì phải bay thật xa mới nghỉ và nó cũng như Từ Hải khi đã chiến thắng, và thành côngthì mới quay trở về
Vì vậy với đoạn trích “Chí khí anh hùng”, Nguyễn Du đã xây dựng một hình tượng người anh hùng
lí tưởng hoàn toàn mới và có thể nói Nguyễn Du đã thực sự thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật này chính bằng tài năng nghệ thuật của mình được thể hiện ở sự sáng tạo độc đáo và sự đam mê văn chương của mình
Đề: Cảm nhận đoạn trích “Chí khí anh hùng” (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
DÀN Ý CHI TIẾT
Giới thiệu chung
– Đoạn trích “Chí khí anh hùng” từ câu 2213 đến câu 2230, thuộc phần “Gia biến và Lưu
lạc” trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Đoạn trích miêu tả người anh hùng Từ Hải, một
hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường
– Sau khi chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, Thúy Kiều và Từ Hải chung sống hạnh phúc bên nhau Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, nàng muốn có
sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra đi
Khái quát chung
– Từ Hải – giấc mơ anh hùng của Nguyễn Du – mẫu anh hùng cái thế, phi thường trong xã hội xưa
Nhân vật anh hùng hoàn hảo cả về ngoại hình lẫn tính cách: Ngoại hình: “Râu hùm hàm én mày
ngài/Vai năm tất rộng thân mười thước cao”; tính cách quy ước của người anh hùng xưa: với cái
ngông ngang tàng: “Chọc trời khuấy đất mặc dầu/Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
– Trong đoạn trích “Chí khí anh hùng” để làm nổi bật hình tượng người anh hùng Từ Hải, Nguyễn
Du đã đặt nhân vật này vào tình huống thử thách để thấy được những phẩm chất anh hùng Người
Trang 19xưa thường nói: anh hùng khó qua ải mĩ nhân Xưa nay những câu chuyện kinh điển từ chủ đề “anhhùng khó qua ải mĩ nhân” được người đời truyền tụng lại, như: Trụ Vương – từng là một vị vua văn
võ song toàn cuối đời nhà Thương vì mê đắm Đát Kỷ – người phụ nữ xinh đẹp nhưng độc ác, mà trở nên ham mê tửu sắc dẫn nhà Thương tới diệt vong sau thế 6 kỉ tồn tại Người anh hùng Từ Hải
là một bậc anh hùng “giang hồ quen thói vẫy vùng” ấy thế mà vì Thúy Kiều – người phụ nữ với vẻ đẹp “Một hai nghiêng nước nghiêng nghiêng thành” mà tạm dừng chân yên bề gia thất.
– Nhưng nếu người anh hùng trong giấc mơ của Nguyễn Du chỉ có thế thì tầm thường quá Vậy phải chăng Thúy Kiều là vật cản khát vọng xây dựng cơ đồ? Sau khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, Từ
Hải đã có mĩ nhân, nhưng khát vọng “vẫy vùng” vẫn chưa thỏa chí Điều Từ Hải muốn là tạo dựng
cơ đồ lớn lao để xứng đáng với Thúy Kiều vừa chẳng hổ thẹn với “chí làm trai”.
3 Cảm nhận
a Hoàn cảnh chia ly và hình ảnh người anh hùng Từ Hải lên đường (4 câu đầu):
“Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong”
– Hoàn cảnh chia ly: “Nửa năm hương lửa đương nồng/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn
phương” “Nửa năm” là khoảng thời gian Từ Hải và Thúy Kiều chung sống bên nhau, kể từ thời
điểm Từ Hải cứu nàng ra khỏi lầu xanh Cụm từ “hương lửa đương nồng” cho thấy khoảng thời gian “nửa năm” ấy hai người đã chung sống rất hạnh phúc, mặn nồng khó có thể rời xa Câu thơ thứ hai “Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” tạo ra diễn biến bất ngờ trong chuyện tình
Từ Hải – Thúy Kiều: chí làm trai trong bậc anh hùng trượng phu “đầu đội trời chân đạp đất” bừng
thức tỉnh sau khoảng thời gian mê đắm hạnh phúc lứa đôi Về giá trị nghệ thuật, động
từ “thoắt” linh hồn, thần thái của câu thơ, biểu đạt chính xác sự bừng tỉnh nhanh chóng, đột ngột niềm khao khát xây dựng cơ đồ của người anh hùng Từ Hải Đồng thời, động từ “thoắt” phần nào
lột tả được tính cách của Từ – dứt khoát, mau lẹ
– Hình ảnh người anh hùng Từ Hải lên đường mang tầm vóc vũ trụ, kì vĩ và ngang tàng vô
cùng: “Trông vời trời bể mênh mang/Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”.
+ Cách “Trông vời” không chỉ là ánh nhìn ra khoảng không trời đất mênh mông mà còn là ánh
nhìn chứa đựng niềm khao khát chinh phục mãnh liệt
+ Hình ảnh người anh hùng Từ Hải ra đi được đặt trong không gian rộng lớn, bao la của trời bể
Dẫu Từ Hải ra đi cô độc với một mình, một gươm, một ngựa đơn độc nhưng sự tương phản với
không gian rộng lớn không làm hình ảnh Từ Hải nhỏ bé mà đầy kiêu hùng, sánh ngang vũ trụ, đất
trời bao la Sự tương phản ấy cũng tương đồng với hình ảnh người tráng sĩ “cầm ngang ngọn” giáo bảo vệ giang sơn trong bài thơ Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão): “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” vô
cùng tráng lệ
+ Đằng sau Từ là mái ấm gia đình, là người phụ nữ, là người tri kỉ nhưng tư thế Từ ra đi không hề
lưu luyến, bịn rịn mà ngược lại, đầy dứt khoát, không ngoái đầu trông lại: “lên đường thẳng dong”.
Tư thế Từ Hải ra đi đầy lãng mạn, kiêu hùng
b Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải (10 câu tiếp):
“Nắng rằng: “Phận gái chữ tòng”,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri”,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình ?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường.