1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích cực hóa các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn địa lí lớp 4 ở trường tiểu học nga trung, huyện nga sơn, tỉnh thanh hóa

26 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết học sinh phải tìm hiểu thiên nhiên và hoạt động sản xuất củacon người ở các vùng miền khác nhau, học sinh cần có kỹ năng phân tích bản đồ, lược đồ, khai thác triệt để các kê

Trang 1

A MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết, chương trình giảng dạy ở tiểu học được chia làm haigiai đoạn Và ngay ở đầu giai đoạn hai, các en học sinh lớp 4 đã bắt đầu đượclàm quen với môn học Lịch sử và địa lý Phân môn Lịch sử có sự lôgic, hệ thốngtheo trục thời gian giúp các em dễ ghi nhớ, dễ hiểu mang đến cho các em niềmđam mê và thích tìm tòi sáng tạo Còn phân môn Địa lý thì sao? Đây là môn họcmới mẻ và nó được tách ra từ môn TNXH lớp 1,2,3 Hệ thống kênh chữ nhiềuhơn kênh hình, ở phân môn này có nhiều từ ngữ các em mới bắt đầu làm quennhư: địa hình, nét văn hóa, đồng bằng châu thổ,…Hơn nữa mục tiêu của mônhọc này yêu cầu học sinh phải nắm được các sự vật hiện tượng và các mối quan

hệ Địa lý ở các vùng miền chính trên đất nước Việt Nam

Sự cần thiết học sinh phải tìm hiểu thiên nhiên và hoạt động sản xuất củacon người ở các vùng miền khác nhau, học sinh cần có kỹ năng phân tích bản

đồ, lược đồ, khai thác triệt để các kênh hình, kênh chữ trong SGK nhằm khámphá ra kiến thức (dưới sự hướng dẫn của giáo viên), tiếp nhận kiến thức chomình để từ đó vận dụng vào thực tế cuộc sống Qua đó bồi dưỡng cho học sinhtình yêu quê hương, con người và đất nước Việt Nam ta Đó chính là những kỹnăng sống cơ bản mà một con người cần có: chủ động, tích cực và sáng tạo.Điều này sẽ giúp ngành Giáo dục đạt được mục tiêu mà nhà nước đã đặt ra là:

“Đào tạo ra những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo,có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh (có kiến thức toàn diện) đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước và chuẩn bị cho tương lai”.[6]

Các kiến thức địa lý được trình bày trong sách giáo khoa thông qua kênhchữ, kênh hình là các lượt đồ, bản đồ, tranh ảnh Tuy nhiên nếu ngày nào giáoviên cũng lên lớp giảng bài cho học sinh với những tranh ảnh tĩnh cùng với bảngđen phấn trắng thì sẽ gây nhàm chán cho học sinh và ngày càng làm cho họcsinh uể oải hơn và học sinh sẽ có cảm giác sợ môn Địa lí và sẽ có tâm lý học đốiphó Hiện nay khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển, thì việc ứng dụngcông nghệ thông tin vào dạy học là một điều tất yếu Khi các em vừa tìm hiểukiến thức thông qua sách giáo khoa vừa kết hợp với xem những tranh ảnh nhữngđoạn phim sinh động thì các em sẽ hứng thú hơn

Do vậy để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lý lớp 4, giúp họcsinh tiếp thu kiến thức một cách đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu song vẫnđảm bảo được mục tiêu, nội dung chương trình của môn học tôi đã tìm tòi,nghiên cứu và “Tích cực hóa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy họcnhằm nâng cao chất lượng phân môn Địa lý lớp 4 ở trường Tiểu học Nga Trung

- Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa” để ứng dụng hiệu quả nhất trong quá trìnhdạy học

2/ Mục đích nghiên cứu:

Do đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học còn non yếu, chưa đầy đủ,sâu sắc và chưa đạt tới trình độ tư duy khái quát.Vì thế tôi nghiên cứu kinhnghiệm này nhằm đạt được mục đích sau:

Trang 2

+ Tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Địa lý lớp 4 tại trường Tiểu họcNga Trung, Nga Sơn,Thanh Hóa.

+ Đề xuất một số biện pháp nhằm tích cực hóa các phương pháp và hìnhthức tổ chức dạy học khi dạy phân môn Địa lý lớp 4 nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy phân môn Địa lý ở Tiểu học

3/ Đối tượng nghiên cứu:

+ Nội dung, chương trình phần Địa lý - môn Lịch sử và địa lý lớp 4

+ Một số phương pháp dạy học phân môn Địa lý ở Tiểu học

4/Phương pháp nghiên cứu:

a/ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Để tìm hiểu rõ vấn đề tôi đã nghiên cứu kỹ những tài liệu, giáo trình cóliên quan để phân tích, tổng hợp, so sánh và rút ra những vấn đề lý luận có tínhđịnh hướng

b/ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin:

+ Nghiên cứu, điều tra qua thực tế dự giờ, phỏng vấn học sinh, giáo viên tạitrường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa để làm nền cho quá trìnhnghiên cứu, đề ra những giải pháp mang tính khả thi nhất

+ Trao đổi, bàn bạc với giáo viên, học sinh khối 4,5 để nắm bắt thông tin vềtình hình thực tế có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Tìm hiểu thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học khi dạy phân mônĐịa lý lớp 4 tại trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa từ đó phát hiệnvấn đề nghiên cứu và chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo

+ Trao đổi với đông nghiệp về những thuận lợi, khó khăn trong việc dạyhọc và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lý lớp 4

c/ Phương pháp thông kê, xử lý số liệu:

Sau khi thu thập những số liệu điều tra thực tế về đổi mới phương pháp dạyhọc phân môn Địa lý lớp 4 tại trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa,tôi có những căn cứ để xây dựng cho mình những phương pháp, hình thức vàgiải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Địa lý và rút ra những kếtluận khách quan

B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1/ Cơ sở lý luận:

Đặc điểm của học sinh Tiểu học là tiềm tàng khả năng phát triển nên ngườigiáo viên cần sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học khác nhau để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mới và ôn tập kiến thức

cũ Giáo viên cần giúp học sinh trải nghiệm và thử thách cộng với việc học tậptích cực, chủ động, tự giác trên nhu cầu hứng thú, tương tác lẫn nhau, từ đó hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo để học kiến thức mới và ôn tập kiến thức cũ một cách cóhiệu quả

Để học sinh tìm hiểu, phát hiện kiến thức và tự giác chiếm lĩnh kiến thức đóngười giáo viên phải là người năng động, sáng tạo và có vốn kiến thức vững, đổimới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chuẩn bị bài và đồ dùng dạy

Trang 3

học chu đáo, tránh việc giáo viên cung cấp thông tin và học sinh thụ động tiếpnhận thông tin.

Vận dụng đổi mới phương pháp dạy học là hoàn toàn có cơ sở lý luận.Trong giờ học Địa lý đối tượng môn học làm cho giờ học không chỉ mang tínhchất khoa học mà nó còn mang đậm tính chất nghệ thuật tổng hợp Bởi vậy mànhững vấn đề mà giáo viên đưa ra phải được tổ chức một cách nghệ thuật và làvấn đề càng gắn bó với nội dung thẩm mỹ của bài dạy thì càng động viên họcsinh tham gia tìm hiểu vấn đề sâu sắc hơn Môn Địa lý có điều kiện thuận lợi đểtiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy bởi lẽ các phương tiện dạy học Địa lýrất đa dạng Ngoài sách giáo khoa chúng ta còn cả hệ thống các thiết bị khácnhư: bản đồ treo tường, tranh ảnh, phim, băng hình, máy chiếu,…Từ những thiết

bị đó các em có công cụ để quan sát, phân tích, so sánh, nhận xét ngay trên lớphọc Vì vậy phương pháp mới là quan trọng và đạt hiệu quả cao trong giảng dạy.Đổi mới phương pháp giảng dạy để học sinh tự khám phá ra chân lý thì đó là cảmột quá trình Quá trình đó chi phối mọi hoạt động của giáo viên từ khâu chuẩn

bị bài dạy, đến các hình thức tổ chức dạy học trên lớp và cả việc đánh giá kếtquả học tập của học sinh Nếu làm tốt cả 3 khâu trên nghĩa là giáo viên đã thànhcông trong tiết dạy

Vì lẽ đó tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và tích cực hóa các phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Địa lý lớp

4 ở trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa

2/ Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

a/ Thực trạng của giáo viên:

+ Trường Tiểu học Nga Trung Nga Sơn Thanh Hóa có đội ngũ giáo viên

có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, ban giám hiệu nhà trường có bề dầy kinhnghiệm về quản lý, chỉ đạo chuyên môn Nhiều giáo viên có trình độ chuyênmôn tốt, luôn có tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Nhiều đồng chí đã đạt giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh có những sáng kiếnkinh nghiệm xếp loại cấp huyện, cấp tỉnh nhiều năm và luôn là cán bộ cốt cáncủa trường, của phòng giáo dục

+ Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy một số ít các đồng chí ngại đổi mớiphương pháp, ngại ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy vì cho rằng mấtthời gian, một số ít giáo viên hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức với nộidung còn sơ sài, mang tính hình thức nên hiệu quả chưa cao

+ Việc đổi mới các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinhcòn hạn chế và chưa mạnh dạn, chưa tuyên truyền sâu rộng đến tận các bậc phụhuynh và các em học sinh nên chưa làm cho các em thực sự yêu thích phân mônĐịa lý

Trang 4

+ Các em thiếu sự quan tâm của gia đình và điều kiện kinh tế còn gặp nhiềukhó khăn Một số gia đình đã quan tâm chăm lo cho con em nhưng chỉ đầu tư chocon em học môn Toán, Tiếng việt, Tiếng anh và coi phân môn Địa lý là môn phụ.+ Chất lượng học sinh không đồng đều, một số em nhận thức chưa cao, tiếpthu chậm Học sinh lớp 4 lần đầu tiên được tiếp thu kiến thức mới đối với phânmôn Địa lý và được làm việc với bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nộidung của bài Do vậy các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lược đồcòn lúng túng, thậm chí học sinh chưa biết chỉ đúng bản đồ, lược đồ, kỹ năng chỉbản đồ, lược đồ còn hạn chế.

+ Việc quan sát các sự vật, hiện tượng địa lý, tìm tòi tư liệu, cách trình bàykết quả bằng lời nói và cách diễn đạt còn hạn chế

+ Một số học sinh chỉ học đối phó với thầy cô giáo khi kiểm tra bài cũ hoặckhi thi cuối kỳ

+ Các em chưa có ý thức tự tìm hiểu, khám phá về những điều kiện tựnhiên của đất nước ta để sau này biết ứng dụng những điều kiện đã học được từsách vở đưa vào thực tiễn lao động sáng tạo làm giàu đẹp cho quê hương

em chưa yêu thích môn học Địa lý nên kết quả thấp Do đó tôi luôn trăn trở làlàm thế nào để học sinh thực sự yêu thích phân môn Địa lý

Để khơi dậy niềm yêu thích môn học và nâng cao chất lượng học tập phânmôn Địa lý Năm học 2018 – 2019, khi tôi được phân công chủ nhiện lớp 4B, tôi

đã tiến hành điều tra cụ thể về sự hiểu biết và sự ham thích môn học Nhằm giúphọc sinh yêu thích môn học và chiếm lĩnh kiến một cách tự nhiên, hứng thú, bảnthân tôi suy nghĩ cần nắm vững nội dung, phương pháp và chuẩn bị bài giảngcủa mình thật chu đáo, lời giảng hấp dẫn, phương pháp và hình thức tổ chứcsinh động, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong từng hoạt động và suy nghĩphải làm gì để học sinh tiếp thu được kiến thức một cách hiệu quả nhất Do vậyviệc tích cực hóa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phải được ápdụng thường xuyên và có hiệu quả trong từng bài học, từng tiết dạy

3/ Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Tích cực hóa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học không chỉmang đến cho học sinh những kiến thức cơ bản trong SGK mà còn cung cấp chocác em những kiến thức phong phú, những hình ảnh sống động, những kiến thứcthực tế sâu rộng, từ đó phát huy tính tích cực, say mê và hứng thú học tập Đó là

Trang 5

bước đột phá trong việc cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học, tránh lối họctheo kiểu truyền thống: thầy đọc, trò chép một cách thụ động Để nâng cao chấtlượng dạy học phân môn Địa lý lớp 4 và tổ chức thành công các phương pháp vàhình thức dạy học bản thân tôi đã thực hiện một số giải pháp sau:

3.1/ Làm sống động các bản đồ, lược đồ trong SGK, khai thác kiến thức

từ bản đồ, lược đồ:

Trong chương trình Địa lý lớp 4 có tất cả 20 lược đồ Theo định hướng đổimới phương pháp dạy học bản đồ, lược đồ và bảng số liệu được sử dụng nhưmột nguồn cung cấp kiến thức giúp học sinh tự tìm tòi, phát hiện những kiếnthức và hình thành, rèn luyện kỹ năng bộ môn chứ không phải chỉ để minh họacho lời dạy của giáo viên Như vậy bản đồ, lược đồ và bảng số liệu là những đốitượng để học sinh chủ động, tự lực đển mức tối đa, khai thác kiến thức dưới sựhướng dẫn của giáo viên Các bản đồ, lược đồ trong SGK đều có màu sắc rấtđẹp, phong phú về chủng loại Tuy nhiên các bản đồ, lược đồ này đều là cáctranh tĩnh, rất nhỏ, khi khai thác và tìm hiểu kiến thức các em đều rất khó, trừutượng dẫn đến việc tiếp thu kiến thức rất hời hợt, không khắc sâu Nhưng khicác bản đồ, lược đồ này được đưa vào giáo án điện tử, lập các hiệu ứng phù hợpvới trình tự tìm hiểu nội dung kiến thức sẽ trở thành các bản đồ, lược đồ sốngđộng, tạo sự hứng thú, sinh động, hấp dẫn học sinh và học sinh sẽ tiếp thu kiếnthức một cánh nhẹ nhàng, tự nhiên, chủ động và nhớ kiến thức lâu hơn

Ví dụ 1: Khi dạy bài 17: Đồng bằng Nam Bộ – SGK trang 116, 117:

Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đặc điểm tiêu biểu về mạng lưới sôngngòi ở đồng bằng Nam Bộ Trong SGK yêu cầu các em quan sát hình 2: Lược

đồ tự nhiên đồng bằng Nam Bộ và trả lời các câu hỏi:

+ Tìm và kể tên một số sông lớn, kênh rạch của đồng bằng Nam Bộ

+ Nêu nhận xét về mạng lưới sông ngòi, kênh rạch của đồng bằng Nam Bộ.Học sinh rất khó tiếp cận lĩnh hội kiến thức vì chữ quá nhỏ và rất trừutượng đối với các em Nhưng khi tôi làm sống động lược đồ này được trìnhchiếu trên máy, yêu cầu học sinh quan sát và thảo luận nhóm đôi để tìm hiểu thìlại khác

Khi học sinh báo cáo kết quả thảo luận, giáo viên trình chiếu để chốt kiếnthức: Khi các hiệu ứng chạy, học sinh sẽ nhìn thấy dòng chảy của sông MêCông, về đến Việt Nam thì chia thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, sau đóđến sông Đồng Nai, Kênh Vĩnh Tế, Kênh Rạch Sòi, Kênh Phụng Hiệp Từ đó

Trang 6

học sinh dễ dàng nhận ra: Đồng bằng Nam Bộ có mạng lưới sông ngòi, kênhrạch dày đặc và chằng chịt

Để mở rộng và khắc sâu kiến thức về tên sông Cửu Long (chín con rồng),tôi cho học sinh quan sát lược đồ, sau đó khi trình chiếu và cho chạy các hiệuứng học sinh dễ dàng nhận ra dòng chảy của sông Mê Công về đến Việt Nam thìchia thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, hai nhánh sông này đổ ra biểnbằng chín cửa sông nên có tên gọi là Cửu Long (chín con rồng)

Ví dụ 2: Khi dạy bài 11: Đồng bằng Bắc Bộ – SGK trang 98:

Ở hoạt động 1: Sau khi học sinh tìm hiểu về đặc điểm tiêu biểu về vị trí địa

lý, địa hình của đồng bằng Bắc Bộ giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ và kểtên các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ để mở rộng và khắc sâu kiến thức cho họcsinh Học sinh có năng khiếu có thể lên chỉ vị trí giới hạn của các tỉnh từ đó rènthêm kỹ năng chỉ bản đồ cho học sinh

Ví dụ 3: Khi dạy bài 31,32: Ôn tập – SGK trang 155, 156:

Giáo viên sử dụng bản đồ sau để ôn lại các đặc điểm, vị trí, giới hạn của cácvùng địa lý đã học: Vùng đồng bằng Bắc Bộ (màu đỏ); đồng bằng Nam Bộ (màuxanh dương); đồng bằng duyên hải Miền Trung (màu xanh lá); các cao nguyên ởTây Nguyên; dãy Hoàng Liên Sơn;…

Trang 7

Với hình thức dạy học này có thể sử dụng để dạy các bài:

+ Bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn

+ Bài 5: Tây Nguyên

+ Bài 11: Đồng bằng Bắc Bộ

+ Bài 15: Thủ đô Hà Nội

+ Bài 21: Thành phố Hồ Chí Minh

+ Bài 23: Ôn tập

+ Bài 24: Đồng bằng duyên hải Miền Trung

+ Bài 29: Biển, đảo và quần đảo

Để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ đạt hiệu quả,giáo viên cần:

+ Xác định kiến thức trong bài mà học sinh cần nắm qua bản đồ, lược đồsao cho phù hợp để học sinh có thể sử dụng kiến thức kỹ năng đã học tự pháthiện ra kiến thức mới

+ Soạn một hệ thống câu hỏi dựa trên lược đồ và trình độ học sinh để dẫndắt học sinh tự khám phá kiến thức Các câu hỏi thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau: tự luận, trắc nghiệm (câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn,…)

Ngoài ra, Địa lý là một phân môn mới mẻ đối với học sinh lớp 4 nên họcsinh phải được trang bị một số kiến thức tối thiểu, cần thiết để biết cách làm việcvới bản đồ, lược đồ như: xác định phương hướng trên bản đồ, lược đồ; nắm được

ký hiệu trong bảng chú giải và có biểu tượng về những sự vật và đối tượng địa lýtrên bản đồ, lược đồ Từ đó các em xác lập mối liên hệ địa lý đơn giản giữa cácyếu tố và các thành phần như địa hình và khí hậu; sông ngòi, thiên nhiên và hoạtđộng sản xuất của con người Trên cơ sở học sinh biết kết hợp những kiến thứcbản đồ, lược đồ và kiến thức địa lý để so sánh, phân tích, tổng hợp

Như vậy, khi các em tìm hiểu kiến thức qua những hình ảnh sống độngkhông những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng

Trang 8

bản đồ, lược đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích hứng thú học tập cho họcsinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng học tập của mình, rèn kỹnăng ứng xử mạnh dạn, trình bày lưu loát trước đám đông.

3.2/ Sưu tầm các tư liệu thực tế, tạo dựng các đoạn phim ngắn:

Trong chương trình Địa lý lớp 4, ngoài việc tìm hiểu những kiến thức vềđịa hình, khí hậu, đặc điểm tự nhiên tiêu biểu của vùng miền núi, trung du, đồngbằng, miền duyên hải trên đất nước Việt Nam các em còn được tìm hiểu nhữngphong tục tập quán của các vùng đó, các điều kiện phát triển kinh tế, thương mại

du lịch Nếu chỉ được quan sát những hình ảnh trong SGK và tìm hiểu qua kênhchữ thì không thể thu hút trì tò mò, óc tìm tòi khám phá đất nước Việt Nam củahọc sinh Vì vậy tôi thiết nghĩ bằng những tư liệu thực tế sống động về đất nước,con người, phong tục tập quán,…của những vùng đang học được đưa vào bàigiảng điện tử sẽ khiến giờ học trở nên hấp dẫn, các em như đang được đi du lịch,tham quan những nơi đó Như vậy các em sẽ rất hứng khởi, hồi hộp chờ đợiđược đến tiết học Địa lý để được tham gia vào quá trình tìm hiểu nội dung bài

Ví dụ 1: Khi dạy bài 4: Trung du Bắc Bộ – SGK trang 79, 80:

Ở hoạt động1: Giáo viên cho học sinh quan sát tranh trên máy chiếu để mô

tả vùng Trung du Bắc Bộ và những loại cây trồng thích hợp được trồng ở vùng

trung du Bắc Bộ: Trung du Bắc Bộ là vùng đồi với các đỉnh tròn, sườn thoải Thế mạnh ở đây là trồng cây ăn quả và cây công nghiệp, đặc biệt là trồng chè.

+ Ở hoạt động này giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh tham gia tròchơi: Em là hướng dẫn viên du lịch để nêu những hiểu biết của em về vùng Trung

du Bắc Bộ.Trong quá trình học sinh nêu giáo viên kết hợp trình chiếu đoạn videokhớp với lời nói của học sinh tạo hứng thú, thu hút học sinh vào học tập

Ví dụ 2: Khi dạy bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70,71:

Giáo viên cho học sinh quan sát các bức tranh sau để nêu đặc điểm của dãy

núi Hoàng Liên Sơn: Là dãy núi cao, đồ sộ nhất nước ta, có nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp và sâu Có đỉnh Phan – xi – păng cao nhất nước ta (cao 3143m) và được gọi là “nóc nhà” của Tổ quốc

Trang 9

Ví dụ 3: Khi dạy bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70,71:

Sau khi được quan sát những hình ảnh thực tế này học sinh sẽ nêu được đặc

điểm khí hậu ở Hoàng Liên Sơn: Những nơi cao khí hậu lạnh quanh năm, mùa đông đôi khi có tuyết rơi, nhưng lại là nơi du lịch nổi tiếng với đỉnh Phan - xi - păng rất lý tưởng ở vùng núi phía Bắc

Ví dụ 4: Khi dạy bài 20: Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ (tiếp theo) – SGK trang 124, 125: Học sinh sẽ được quan sát hình ảnh

chợ nổi trên sông – nét văn hóa của dân Nam Bộ

Sau đó học sinh sẽ được nghe một đoạn Video giới thiệu về hoạt động củachợ nổi Cái Răng – Cần Thơ:

Trang 10

“Chợ nổi Cái Răng nằm trên sông Cái Răng, gần cầu Cái Răng, cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 6km đường bộ và mất 30 phút nếu đi bằng thuyền từ bến Ninh Kiều (thành phố Cần Thơ - thủ phủ của Tây Đô cũ) Đay là một nét văn hóa rất đặc sắc ở vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, thu hút rất nhiều du khách, đặc biệt là khách nước ngoài Nét độc đáo và đặc điểm chính của chợ nổi Cái Răng là chuyên buôn bán các loại trái cây, đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long Chợ hoạt động tấp nập từ tờ mớ sáng với nhiều lọai thuyền bè lớn nhỏ Các cửa hàng hay các ghe thuyền thường không

có bảng hiệu, chợ bán sản vật gì người ta treo sản vật đó lên cây sào hoặc trên mũi thuyền Chợ Cái Răng thường họp khá sớm, thường từ lúc mờ sáng và đến khoảng 8;9 giờ thì vãn Những ghe bầu lớn thường chuyên thu mua trái cây để chở đi các nơi, kể cả sang Campuchia và Trung Quốc Lại cũng có những chiếc ghe bầu chở các mặt hàng khác cung cấp cho bà con miệt vườn như: Xăng dầu, mắm muối, thuốc tây, bánh kẹo và nhu yếu phẩm Ai bán gì thì treo thứ ấy lên ngọn sào cắm ở mũi thuyền, khách mua hàng từ xa trông thấy sẽ bơi xuồng đế hỏi Cũng như nhxng chợ nổi khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, chợ được hình thành để đáp \sng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa khi đường bộ và các phương tiện lưu thông đường bộ chưa phát triển Ngày nay, dù mạng lưới giao thông đường bộ đã phát triển rộng khắp nhưng chợ nổi vẫn tồn tại và phát triển ngày một sầm uất hơn mang lại tiềm năng về kinh tế lẫn du lịch miền Tây sông nước này.”

Khi các em được ngắm nhìn những hình ảnh thực tế phong cảnh tuyệt đẹp

về những con người, về thiên nhiên của những vùng đang học thông qua nhữnghình ảnh sinh động sẽ khiến giờ học trở nên sống động hơn, các em chiếm lĩnhkiến thức một cách nhẹ nhàng và hiệu quả hơn Các em mạnh dạn, tự tin, thíchthú hơn khi tham gia vào quá trình tìm hiểu kiến thức mới Tạo môi trường họctập thân thiện giữa giáo viên và học sinh.Tạo sự chờ đợi, hứng khởi cho các emkhi sắp được học phân môn Địa lý

Trang 11

3.3/ Tăng cường kết hợp nội dung kiến thức của hai phân môn Lịch sử

và Địa lý:

Thiên nhiên ở mỗi nơi trên đất nước ta đều có nét riêng Con người sống ở

đó cũng có những đặc điểm riêng trong đời sống sản xuất, trong cách ăn mặc,phong tục tập quán Song dù ở nơi nào, thuộc dân tộc nào, người dân đã sốngtrên dải đất này đều chung một Tổ quốc Việt Nam, chung một lịch sử, mộttruyền thống Việt Nam Để có Tổ quốc tươi đẹp như hôm nay, ông cha ta đã trảiqua hàng ngàn năm lao động đấu tranh để dựng nước và giữ nước Môn Lịch sử

và địa lý giúp các em biết những điều trên và từ đó các em thêm yêu thiên nhiên,yêu con người và yêu Tổ quốc ta Đó chính là nội dung và mục tiêu môn Lịch sử

và địa lý lớp 4 mà các em cần đạt

Trước năm 2000, cùng với khoa học, lịch sử và địa lý là hai môn học độc lập.Trong chương trình 2000, Lịch sử và địa lý là hai phân môn của môn Lịch sử vàđịa lý nhằm tăng cường sự kết hợp nội dung gần nhau của hai phân môn này

+ Trước khi dạy từng phần riêng, cần dạy tốt những kiến thức dùng chungnhư: Bản đồ, cách sử dụng bản đồ Đó là những kiến thức thiết yếu để sử dụngcho cả hai phân môn này

+ Sau đó liên hệ những kiến thức gần nhau giữa hai phần Lịch sử và Địa lý:

Ví dụ 1: Khi dạy Địa lý bài 11: Đồng bằng Bắc Bộ - SGK trang 98, 99:

Ở hoạt động 1: Sau khi học sinh nêu được đặc điểm địa hình của đông bằng

Bắc Bộ: Đây là đồng bằng lớn thứ hai của nước ta, có địa hình thấp, bề mặt khá bằng phẳng.

*/ Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh ôn lại kiến thức của bài Lịch sử bài 9:Nhà Lý dời đô ra Thăng Long - SGK trang 30, 31: Vì sao Lý Thái Tổ chọn vùng

đất Đại La làm kinh đô? (Vua thấy đây là vùng trung tâm đất nước, đất rộng lại bằng phẳng, sông chảy ở đồng bằng uốn lượn quanh co, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi.)

Ví dụ 2: Khi dạy bài Lịch sử bài 13: Nhà Trần và việc đắp đê - SGK trang

39, 40: Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời: Nhà Trần thu được kết quả như thế

nào trong việc đắp đê? (Đến thời nhà Trần, hệ thống đê đã hình thành dọc theo sông Hồng và các con sông lớn khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Hệ thống đê điều này đã góp phần giúp cho nông nghiệp phát triển và sử sách đã ghi lại rằng, nhà Trần là “Triều đại đắp đê”.)

*/ Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh ôn lại kiến thức ở tiết dạy Địa lý bài11: Đồng bằng Bắc Bộ - SGK trang 98, 99:

Trang 12

Giáo viên yêu cầu học sinh củng cố lại kiến thức về tác dụng của hệ thống

đê ngăn lũ ở đồng bằng Bắc Bộ: Đồng bằng Bắc Bộ có nhiều sông ngòi Vào mùa hạ mưa nhiều, nước các sông dâng cao thường gây ngập lụt ở Đồng bằng.

Do vậy người dân nơi đây đã đắp đê dọc 2 bên bờ sông để ngăn lũ lụt với tổng chiều dài hệ thống đê lên tới hàng nghìn ki - lô - mét Đó là một công trình vĩ đại của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ Cùng với thời gian hệ thống đê ngày càng được đắp cao và vững chắc hơn Ngày nay, kế tục nền tảng cha ông, hệ thống đê điều được củng cố, kiên cố hóa bằng nhiều kênh, mương để tưới tiêu nước cho đông ruộng.

MỘT ĐOẠN ĐÊ SÔNG HỒNG

Cảnh đắp đê dưới thời Trần (tranh vẽ)

Ví dụ 3: Khi dạy Lịch sử bài 28 : Kinh thành Huế – SGK trang 67, 68 và

yêu cầu học sinh mô tả kiến trúc độc đáo của quần thể kinh thành Huế: Là một tòa thành rộng lớn, dài hơn 2km, nằm bên bờ sông Hương Đây là tòa thành đồ

sộ, một công trình lao động sáng tạo và tài hoa của nhân dân ta và đẹp nhất nước ta thời nhà Nguyễn.

+ Giáo viên sẽ kết hợp liên hệ với nội dung bài Địa lý bài 27: Thành phốHuế – SGK trang 145, 146:

Ở ngay hoạt động 1: Khi học sinh nêu được đặc điểm tự nhiên: Huế là thành phố có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp, nhiều công trình kiến trúc cổ có giá trị nghệ thuật cao nên thu hút rất nhiều khách du lịch Sau đó giáo viên cho học sinh xem một đoạn video về Huế xưa và nay để học sinh thấy sự khác nhau.

+ Còn đối với các bài Lịch sử, Địa lý có nội dung phản ánh những đặctrưng của địa phương, tôi dành thời gian, tạo điều kiện cho học sinh đi thamquan để học sinh có thể thu được những thông tin cần thiết cho bài học

Trang 13

Như vậy được học kết hợp nội dung hai phần Lịch sử và Địa lý nhằm bồidưỡng cho học sinh khả năng hợp tác, rèn kỹ năng vận dụng vào thực tế, thườngxuyên được củng cố kiến thức, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứngthú cho học sinh trong học tập Gợi cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, đất nước,con người Việt Nam, có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và hành độngbảo vệ môi trường Các em thấy những điều đã học rất cần thiết và bổ ích chobản thân mình và sự phát triển của xã hội Từ đó giáo dục các em lòng say mê,yêu thích môn Lịch sử và địa lý nói chung và phân môn Địa lý nói riêng.

3.4/ Vận dụng linh hoạt, lồng ghép các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khi dạy học phân môn Địa lý lớp 4:

Đối với phân môn Địa lý phương pháp quan sát, vấn đáp, dạy học hợp tác theonhóm, trò chơi học tập thường được sử dụng thường xuyên, linh hoạt trong một tiếtdạy để tránh sự nhàm chán khi tiếp thu kiến thức Ở từng phần của một tiết học giáoviên cần vận dụng linh hoạt, thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả của tiết dạy

Phương pháp quan sát và dạy học hợp tác theo nhóm thường được sử dụngđan xen, lồng ghép với nhau Khi cho học sinh quan sát đối tượng để thu thậpthông tin tôi thường lồng ghép tổ chức học tập theo nhóm Trước hết nó chophép học sinh có nhiều cơ hội để diễn đạt và khám phá ý tưởng, mở rộng suynghĩ, hiểu biết và rèn luyện kỹ năng nói Nó cũng cho phép học sinh có cơ hội

để học hỏi từ bạn,pháp huy vai trò trách nhiệm, điều đó làm phát triển kỹ năng

xã hội và tính cách của học sinh, đặc biệt là kỹ năng phối hợp và hợp tác với cácbạn khác

Sau khi đã quan sát xong học sinh sẽ xử lý thông tin đã thu thập được, đốichiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp, nhận xét, khái quát hóa và trình bày kết quả.Giáo viên sẽ quan tâm, nêu câu hỏi để cùng học sinh trao đổi nhằm khẳng định

và hoàn thiện kết quả quan sát

Ví dụ 1: Khi dạy bài: Dãy núi Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70, 71:

Giáo viên cho học sinh quan sát các bức tranh sau, thảo luận nhóm đôi chỉ

và nêu đặc điểm về đỉnh, sườn, thung lũng của dãy núi Hoàng Liên Sơn: Là dãy núi cao, đồ sộ nhất nước ta, có nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp và sâu Có đỉnh Phan - xi - păng cao nhất nước ta (cao 3143m) và được gọi là

“nóc nhà” của Tổ quốc.

Ngày đăng: 08/08/2019, 14:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w