Trên các cơ sở đó, việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học bộmôn Lịch sử ở trường THPT sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH và phát huy tínhtích cực, chủ động
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DTNT CẤP 2-3
TỈNH VĨNH PHÚC =====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học
sinh thông qua sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm nâng cao hiệu quả bài
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
THPT: Trung học phổ thông
GDTX: Giáo dục thường xuyên
PT DTNT: Phổ thông dân tộc nội trú
PPDH: Phương pháp dạy học
THPTQG: Trung học phổ thông quốc gia
SGK: Sách giáo khoa
QHSXPK: Quan hệ sản xuất phong kiến
QHSXTBCN: Quan hệ sản xuất tư bản
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu:
Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử theo tinh thần đổimới giáo dục, việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) có ý nghĩa quan trọng nhằmđáp ứng yêu cầu đào tạo con người của xã hội Vậy bản chất của quá trình đổi mới PPDHlịch sử ở trường THPT là gì?
Quan niệm dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS nêu rõ vai trò tổchức, hướng dẫn điều khiển của GV trong quá trình nhận thức của HS Còn HS là nhânvật trung tâm trong quá trình dạy học, được phát huy các năng lực, phẩm chất nhận thức
để chiếm lĩnh lấy kiến thức Tất nhiên, việc nhận thức của HS trong quá trình học tậpkhác với việc nghiên cứu của các nhà khoa học Các em tiếp nhận những kiến thức mới
đã được xác định, không phải đi tìm kiến thức mới như các nhà khoa học
Việc học tập chỉ diễn ra trong một thời gian quy định và bao giờ cũng phải có sự hướngdẫn, giảng dạy của GV Vì vậy, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS không
có nghĩa là xem nhẹ vai trò của GV Vậy thực chất của việc phát huy tính tích cực, chủđộng sang tạo của HS trong quá trình dạy học là gì?
Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng, quá trình nhận thức của HS là quá trình mà trong
đó, HS với tư cách là chủ thể phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình, nắmđược bản chất và quy luật của nó và vận dụng vào các quy luật này để làm biến đổi nó,cải tạo nó Đó chính là quá trình nhận thức từ cảm tính sang lý tính và từ nhận thức lýtính trở về với thực tiễn Qúa trình này chỉ có thể hoàn thành khi HS có các phẩm chấtnhất định như tự giác, tích cực, độc lập,… Học tập, không chỉ nắm kiến thức mà còn hìnhthành năng lực của bản thân Điều này được thực hiện trong việc tự giác học tập
Tự giác theo nghĩa chung: “tự hiểu, tự biết mình mà làm, không chờ nhắc nhở, thúc ép”
Tự giác nhận thức là HS ý thức được đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập; đồng thời có ýthức lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn, giữ gìn, lưu giữ những thông tin
đã thu được, vận dụng kiến thức đã học và tự kiểm tra đánh giá quá trình học tập của bảnthân…
“ Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụđộng sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức đểnâng cao hiệu quả học tập”
3
Trang 4Trên các cơ sở đó, việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học bộmôn Lịch sử ở trường THPT sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH và phát huy tínhtích cực, chủ động sáng tạo của HS trong quá trình học tập Hệ thống sơ đồ hóa, bảngbiểu là một loại bài hoặc một dạng bài tập nhận thức lịch sử có tác dụng vô cùng quantrọng đối với việc tăng cường hoạt động nhận thức, nâng cao tính tích cực, chủ động sangtạo của HS được thể hiện trên những mặt sau:
- Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản, trọng tâm đã học
- Là phương tiện để phát triển tư duy lịch sử cho học sinh, nâng cao các mức độ nhận thức trong quá trình lĩnh hội kiến thức
- Rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo bộ môn như khả năng khái quát hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp,…
- Giúp học sinh tự lực vận dụng những kiến cơ bản, trọng tâm để có thể làm các bài tập nhận thức lịch sử một cách độc lập, chủ động sáng tạo
Ngoài ra, việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học lịch sửcũng giúp học sinh hiểu bài và có thể trình bày lại nội dung bài học, mối liên hệ giữa cáckiến thức cũ và mới, tính hệ thống của kiến thức trong một bài hoặc một chương…Đồngthời giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá mức độ nhận thức cũng như khả năng trình bày, lậpluận và diễn đạt của học sinh để có thể điều chỉnh và tìm ra những biện pháp tối ưu vàhữu hiệu trong phương pháp giảng dạy của mình để giúp cho học sinh có thể hiểu bài vàtrình bày các vấn đề có liên quan một cách tốt nhất Hơn nữa, trong tình hình hiện naychúng ta đang thực hiện chủ trương đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và đào tạo nhằmphát huy tính tích cực của học sinh thì việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trongtrong các giờ học lịch sử lại càng cần thiết hơn Bởi chính trong việc nghiên cứu bài dạy
để xây dựng và thiết kế sơ đồ, bảng biểu, hướng dẫn học sinh cách khai thác và sử dụng
để giải quyết các bài tập nhận thức hoặc các vấn đề liên quan đến nội dung bài học Tronggiờ học, thầy giáo thông qua các thao tác sư phạm của mình sẽ thực sự trở thành ngườihướng dẫn học sinh tự học, tự nhận thức và các em sẽ trở thành trung tâm của hoạt độngdạy và học
Như vậy, với những tác dụng nêu trên thì việc xây dựng, thiết kế và sử dụng hệ thống
sơ đồ, bảng biểu trong dạy học lịch sử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạocủa học sinh là một việc làm cần thiết của người giáo viên trong quá trình giảng dạy đốivới bộ môn
Hơn nữa xét về cơ sở thực tiễn hiện nay thì hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu được xem
là một dạng bài tập trong bài tập nhận thức lịch sử, do đó việc sử dụng và tác dụng của nó
4
Trang 5trong quá trình dạy học cũng như học tập của giáo viên và học sinh là điều không thể phủnhận Tuy nhiên trên thực tế, ở các trường phổ thông số giáo viên sử dụng sơ đồ hóa,bảng biểu trong quá trình dạy học không nhiều, vì có nhiều nguyên nhân:
- Giáo trình, tài liệu đề cập đến vấn đề này hầu như không có Sơ đồ hóa, bảng biểu làgì? xây dựng thiết kế như thế nào?, vận dụng như thế nào trong quá trình dạy học, hướngdẫn học sinh khai thác và vận dụng ra sao?
Trên thực tế, để có thể thiết kế và xây dựng được hệ thống sơ đồ, bảng biểu để phục vụcho công tác giảng dạy không phải là một điều dễ dàng Người giáo viên phải trải quamột quá trình đầu tư công sức, tìm tòi, trải nghiệm qua các tiết dạy từ năm này qua nămkhác, phải có khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm Giáo viên phải có đủ phẩmchất và năng lực để tiến hành thiết kế, tổ chức, điều khiển quá trình hoạt động học tập củahọc sinh Đây là những vấn đề mà không phải bất cứ người giáo viên nào cũng làm được
- Về nội dung thi cử, kiểm tra - đánh giá vẫn chưa có sự đổi mới, chỉ dừng lại ở nhớ,thuộc sự kiện là chính, việc vận dụng kiến thức có đề cập nhưng rất hạn chế, nó chưaphát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình làm bài
Đây cũng chính là một trở lực lớn cần phải giải quyết để thực hiện nhiệm vụ cải tiến vàđổi mới phương pháp dạy học lịch sử Vì vậy, cần phải xây dựng và vận dụng sơ đồ, bảngbiểu trong quá trình dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT hiện nay
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường PT DTNT cấp 2-3 Tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0963121356 Email: vutram.dtnt@gmail.com
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Trâm
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Trước hết, sáng kiến được áp dụng trực tiếp ở lĩnh vực giáo dục, đào tạo họcsinh, giúp học sinh hình thành các năng lực, tích cực, hứng thú trong quá trình nghiêncứu, tìm hiểu bài học lịch sử Sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm tích cực hóa hoạt độngnhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh để nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử, từ đó phát triển năng lực người học phù hợp với đề án đổi mới chương
trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ GD&ĐT đang tiến hành
5
Trang 6Đồng thời đây là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Mặt khác, sáng kiến còn có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác của đời sống
xã hội như hoạt động nghiên cứu, lập kế hoạch… hình thành các năng lực và kĩ năngcần thiết trong quá trình làm việc và cuộc sống con người
Sáng kiến đã giải quyết được các vấn đề thiết yếu sau: làm rõ được tầm quan trọngcủa việc áp dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định hướng pháttriển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử; tạo hứng thú và niềm yêuthích, đam mê đối với môn học Điều này giải quyết được băn khoăn, lo lắng của ngànhgiáo dục và sự quan tâm của xã hội về thực trạng dạy và học Lịch sử hiện nay
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 09/2020
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1 PHẦN I: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH.
a Khái niệm:
Trước hết, hệ thống các sơ đồ, bảng biểu được xem là một dạng của bài tập nhận thứclịch sử nhằm đem đến những hiểu biết mới về lịch sử với một phương thức giải quyếtmới so với những phương thức đã biết trước đó mà các giáo viên thường sử dụng trongquá trình giảng dạy bộ môn như hỏi – đáp; nêu vấn đề, sử dụng tranh ảnh,… Nó baogồm những điều kiện và yêu cầu được ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học mộtlời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn củangười giải tại thời điểm mà sơ đồ hoặc biểu bảng được đưa ra
Như vậy, hệ thống các sơ đồ, bảng biểu là một hệ thông tin xác định về tổ chức quátrình dạy học lịch sử ở trường phổ thông khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sửcủa học sinh trên các lĩnh vực nhận thức Để thực hiện điều này, học sinh phải giải quyếttoàn bộ hoặc từng phần vấn đề được nêu Có thể hiểu như sau:
- Hệ thống sơ đồ, bảng biểu được xem là một hệ thông tin, quy định mục đích mà giáo viên và học sinh cần phải hoàn thành trong dạy học lịch sử
- Hệ thống sơ đồ, bảng biểu là phương tiện chủ yếu của dạy học nêu vấn đề, mộtkiểu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng sáng tạo của học sinh
- Hệ thống sơ đồ, bảng biểu là phương tiện thúc đẩy sự nỗ lực tự học của học sinh, giúp các em tiếp cận dần với phương pháp tự học, tự nghiên cứu
6
Trang 7Như vậy, hệ thống sơ đồ, bảng biểu là một dạng bài tập nhận thức lịch sử Đồng thờicũng là phương tiện của giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạyhọc lịch sử Qua đó, học sinh sẽ dựng lại được bức tranh lịch sử xã hội đã diễn ra trongquá khứ, mặc dù không tuyệt đối hoàn toàn.
b Bài tập nhận thức trong đó có hệ thống sơ đồ, bảng biểu là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy học sinh trong học tập lịch sử.
Để nâng cao trình độ tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử, người giáo viên phải xâydựng một hệ thống các bài tập nhận thức, trong đó có cả sơ đồ, bảng biểu Các sơ đồ,bảng biểu này đề cập đến những vấ đề mà học sinh cần nắm để khôi phục hình ảnh quákhứ và chủ yếu đi sâu vào nội dung bản chất sự kiện Nó bao gồm các vấn đề sau:
- Nhận biết quá trình phát triển của lịch sử và cơ cấu của một sự kiện ( hiện tượng, biến
cố, nhân vật…)
- Xác định những mối liên hệ nhân quả của sự kiện
- Xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, thời kì, giai đoạn lớn
- Nêu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời đại hay xã hội nói chung
Phân tích tính chất của một sự kiện
- Xác định các giai đoạn, thời kì phát triển của sự kiện, của xã hội
- So sánh để rút ra cái chung, cái riêng, giống và khác, tiêu biểu và đặc thù của các sự kiện, thời kì lịch sử
- Tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, bài học kinh nghiệm lịch sử đối với ngày nay
Những loại bài tập như vậy được xây dựng trên cơ sở một sự kiện quan trọng, một bài,một chương hay một khóa trình Bài tập nhận thức dạng sơ đồ, bảng biểu có nội dungrộng, đòi hỏi thời gian và công sức của học sinh nhiều hơn và tác dụng, kết quả của nócũng cao hơn so với câu hỏi kiểm tra Tuy nhiên, tùy từng nội dung, trình độ mà nhữngbài tập dạng sơ đồ, bảng biểu được giới hạn ở phạm vi, yêu cầu của câu hỏi hoặc một sốcâu hỏi mang nội dung bài tập nhận thức và phải thỏa mãn những yêu cầu sau đây:
* Làm cho học sinh nhận thức được sự kiện cơ bản của bài học
* Khôi phục lại được bức tranh quá khứ theo yêu cầu và trình độ học tập của mỗi lớp
* Nhận thức, phân tích sự kiện trong tình huống có vấn đề, rút ra bản chất, đặc trưng của
sự kiện, quy luật lịch sử
* Vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu bài học mới trong hoạt động thực tiễn, nhằmphát triển tư duy sáng tạo và năng lực thực hành của học sinh Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo
bộ môn như khái quát hóa, phân tích, so sánh, tổng hợp, nhận xét đánh giá…
7
Trang 8Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tốt trong dạy học lịch sử, nếu chỉ có người giáo viên chuẩn bịkhông thì chưa đủ mà đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của học sinhtrong quá trình tiếp thutri thức Đặc biệt, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn học sinh
tự học một cách có hiệu quả
Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề quan trọng, vì đó là một khâu trong quá trìnhthống nhất của việc dạy học nhằm phát huy năng lực tích cực, chủ động sáng tạo của các
em trên lớp cũng như ở nhà Vậy học sinh phải tự học như thế nào cho có hiệu quả?
Trong việc tự học, không chỉ chú ý đến việc học sinh tự đọc sách, tự làm việc không cóthầy cô và bạn bè, mà phải chú ý đến tinh thần, thái độ, ý chí, phương pháp làm việc củacác em để nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức vào đời sống Trong quá trình nghegiảng và tự học, học sinh phải tiến hành những hoạt động tư duy độc lập trong việc lựachọn những điều nghe được để ghi chép, nảy sinh những vấn đề mới cần giải quyết, cónhu cầu tìm hiểu sâu hơn những điều giáo viên trình bày Trên cơ sở đó, các em tự trìnhbày những kiến thức thực sự của mình mà mình đã lĩnh hội được, biết sử dụng kiến thức
đó để diễn đạt và có những ý kiến nhận xét, phán đoán riêng
Vậy, tự học của học sinh là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách chính xác, vữngchắc, được suy nghĩ, nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách linh hoạt, thành thạo.Việc tự học phải được tiến hành với sự hứng thú, say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thầnlao động cần cù Trong việc tự học, điều quan trọng đối với học sinh không chỉ là nắmvững, hiểu sâu kiến thức mà còn hình thành ở các em tư cách, phẩm chất của người laođộng: kiên nhẫn, tự tin, sáng tạo
c Phạm vi đề tài:
Như tôi đã nói trên, bài tập nhận thức lịch sử có nhiều loại bài, dạng bài với những tácdụng khác nhau, trong đó có dạng bài sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm tích cực hóahoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Trong đề tàinày, do thời gian có hạn nên tôi không thể trình bày tất cả toàn bộ hệ thống sơ đồ, bảngbiểu ở bậc THPT Qua thực tiễn nghiên cứu, thiết kế, xây dựng và áp dụng vào giảng dạylịch sử những năm qua, tôi chỉ xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân về việc xâydựng và sử dụng những sơ đồ, bảng biểu ở một số bài và đã được tập hợp, tổng kết trongquá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong dạyhọc lịch sử lớp 10 cơ bản – phần lịch sử thế giới ở trường THPT Sau này tôi sẽ tiếp tục
bổ sung để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn nhằm phục vụ đắc lực cho nhiệm vụgiảng dạy của mình
d Đối tượng nghiên cứu:
8
Trang 9- Nội dung của một số bài trong chương trình lịch sử lớp 10 ở bậc học THPT ( chương trình chuẩn)- Phần lịch sử thế giới.
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng
- Các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử do Bộ giáo dục và đào tạo phát hành
- Các đối tượng giáo viên, học sinh của các lớp
e Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đọc, nghiên cứu tài liệu và khái quát thành một
số khái niệm và luận điểm chung
- Phương pháp thực nghiệm: Quan sát khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh,các thao tác giải quyết, xử lí thông tin; giải quyết các vấn đề, các bài tập nhận thứcdưới dạng sơ đồ hóa hoặc bảng biểu ( trình bày, phân tích, so sánh, khái quát, chỉ ramối quan hệ…) mà giáo viên đưa ra trong quá trình dạy học lịch sử Đặc biệt cóthuận lợi hơn do bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy
- Phương pháp khái quát, tập hợp: Tập hợp một số sơ đồ, bảng biểu đã được thực hiện trong quá trình dạy học lịch sử
- Phương pháp khảo sát, đánh giá: Thực hiện cụ thể trong một tiết học cơ bản để đánh giá
7.1.2 PHẦN II: VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ CÁCH THỨC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ HÓA, BẢNG BIỂU TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
a Vai trò:
- Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy họclịch sử theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, phù hợp với mục tiêuđào tạo và yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo của Đảng ta trong giai đoạnhiện nay
- Sử dụng sơ đồ, bảng biểu góp phần hình thành, củng cố tri thức lịch sử cho học sinh.Qúa trình hình thành tri thức cho học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả khi việc dạy học trên cơ
sở tổ chức hoạt động nhận thức độc lập cho học sinh, chứ không phải là truyền đạt kiếnthức có sẵn của giáo viên Để nắm vững tri thức một cách sâu sắc trong học tập, học sinhphải thực hiện một chu trình hoạt động trí tuệ, bao gồm nghiên cứu tài liệu ( trực tiếp vàgián tiếp), thông hiểu nó, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo bằng những bài tập luyện tập và sau đó
là khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức Việc chú trọng tổ chức cho học sinh làmnhững bài tập nhận thức dưới dạng sơ đồ, biểu bảng ở trên lớp và tự học ở nhà thì họcsinh sẽ thực sự nắm vững kiến thức
9
Trang 10- Sử dụng sơ đồ, bảng biểu góp phần vào nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhâncách của học sinh Việc bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, ý thức tình cảm cho học sinh là mộtchức năng quan trọng của việc dạy học lịch sử, góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ Sovới các môn học khác ở trường phổ thông, môn lịch sử có nhiều khả năng và ưu thế trongviệc giáo dục học sinh; song vấn đề ở đây là hiệu quả giáo dục chứ không phải là sự phôtrương hình thức, công thức giáo điều, áp đặt Phải xuất từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻnói chung, từ mục tiêu đào tạo của nhà trường, từ đặc trưng của bộ môn mà lựa chọn hìnhthức, biện pháp có hiệu quả Vơi tư cách là một phương tiện để cung cấp, trang bị tri thứclịch sử cho học sinh, việc sử dụng bài tập nhận thức dạng sơ đồ háo, bảng biểu có vai trò,
ý nghĩa quan trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh
b Ý nghĩa:
- Ý nghĩa giáo dục của việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu trong bài tập nhận thức màcác phương tiện dạy học khác khó có thể thay thế được chính là việc vận dụng một cáchsáng tạo những quan điểm, những kiến thức lịch sử để giải quyết một vấn đề được đặt ra,học sinh tiếp cận được với chân lí, phản ánh được hiện thực Qua dó, xây dựng đượcniềm tin vững chắc vào sự phát triển hợp quy luật của lịch sử Điều này có tác dụngkhông chỉ củng cố kiến thức mà cả về mặt giáo dục ý thức thông qua bài tập dạng sơ đồ,bảng biểu ở trên lớp và cả ở nhà
- Việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu gây hứng thú học tập đối với bộ môn, góp phầnphát triển tư duy cho học sinh Vì đây là một hình thức cơ bản giúp học sinh tự làm việctrong học tập Khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến sơ đồ, bảng biểu, học sinh phải
sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, liên hệ,… Mặtkhác, để làm được điều đó, học sinh phải nắm vững kiến thức, có phương pháp chính xác,khoa học và có hiệu quả trong việc tìm ra câu trả lời một cách độc lập và được chứngminh rõ ràng
- Việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu góp phần rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh.Đây là một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học lịch sử, là một trong những biện phápcần thiết để tăng cường hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo cho học sinh, góp phầnnâng cao năng lực trí tuệ, thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng “ học đi đôi với hành”.Rèn luyện kĩ năng bộ môn chính là rèn luyện những phương pháp học tập thích hợp nhất,phù hợp với quy luật nhận thức, làm cho học sinh tích cực hoạt động tại lớp, biết địnhhướng và tìm ra phương pháp hoạt động tự lập để chủ động tiếp thu bài, lĩnh hội các kiếnthức một cách sâu sắc và vận dụng vào thực tiễn Vì vậy, rèn luyện kĩ năng học tập vàthực hành bộ môn lịch sử cho học sinh là một công việc cần được quan tâm và phải đượctiến hành thường xuyên trong dạy học lịch sử
10
Trang 11Tóm lại, dạng bài tập nhận thức theo sơ đồ hóa, bảng biểu trong dạy học nói chung, môn
lịch sử nói riêng là một trong những phương tiện dạy học quan trọng có vai trò, ý nghĩa vềnhiều mặt, góp phần hoàn thiện mục tiêu, nhiệm vụ môn học Do đó, cải tiến đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinhnhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy họclịch sử ở trường THPT thì không thể không tiến hành bài tập nhận thức, trong đó có dạngbài theo sơ đồ hóa, bảng biểu
c Cách thức sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học lịch sử lớp 10:
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy và nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ họctrên lớp, giáo viên phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về mọi mặt: tổ chức hoạt động như thế nào,các phương tiện, đồ dùng dạy học,… đặc biệt là việc sử dụng các sơ đồ, bảng biểu có liênquan đến bài học Sơ đồ, bảng biểu được sử dụng trong hầu hết các khâu trong quá trìnhdạy học như: khái quát hóa, hệ thống hóa, củng cố, so sánh, đánh giá kiến thức,…Qua quátrình nghiên cứu, xây dựng, tôi thấy có thể sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu trong giờ học lịch
sử ở trên lớp cũng như tự học ở nhà đều đem lại hiệu quả rất cao trong việc phát huy tínhtích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
* Sử dụng sơ đồ :
Sử dụng bài tập dạng sơ đồ để học sinh xác định hướng tiếp cận và tổ chức hoạt động họctập của học sinh trong quá trinh tiếp thu kiến thức mới Việc làm này không chỉ tiến hànhvào đầu giờ học, mà còn được sử dụng ở từng phần, từng đơn vị kiến thức của bài hoặccủng cố bài sau mỗi tiết học Để tiết học đạt hiệu quả, giáo viên phải xây dựng hệ thốngcâu hỏi để khai thác nội dung kiến thức thông qua sơ đồ Câu hỏi phải có mục đích rõ ràng,phù hợp và lo-gic với quá trình nhận thức, gợi nhớ lại những kiến thức đã học có liên quan,suy nghĩ giải quyết vấn đề mới, làm cơ sở cho việc tiếp thu bài học Ví dụ: Khi dạy mục 1của bài 5 : Trung Quốc thời phong kiến, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ :
SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC
Quý tộc
Nông dân công xã
Trang 13Để khai thác nội dung bài học, giáo viên yêu cầu học sinh nhớ lại bài cũ về xã hội có giaicấp ở Phương Đông, kết hợp SGK và sơ đồ ( GV chuẩn bị sơ đồ trên bảng phụ), trả lời
câu hỏi sau: “Chế độ phong kiến Trung Quốc được hình thành như thế nào?”.
Trên cơ sở gợi ý, hướng dẫn của GV, dựa vào sơ đồ học sinh sẽ thấy được sự phân hóagiai cấp diễn ra mạnh mẽ trong xã hội Trung Quốc vào những thế kỉ cuối trước công
nguyên Vậy nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa mạnh mẽ này là gì ? Quá trình phân
hóa này diễn ra như thế nào? GV hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi để các em nắm
được nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa xã hội chính là sự phát triển của trình độ kĩ thuật(công cụ sắt, kĩ thuật canh tác,…), đặc biệt là sự thống nhất của Trung Quốc đã tạo điềukiện cho kinh tế phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy nhanh sự phân hóa giai cấp trong xã hội,các giai cấp mới được hình thành Sau đó, kết hợp với SGK, học sinh sẽ trình bày đượcquá trình hình thành hai giai cấp cơ bản trong xã hôi Giáo cần hướng dẫn và nhấn mạnhrằng: trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến, chính quá trình tập trung baochiếm , chiếm đoạt ruộng đất của quan lại, địa chủ sẽ làm cho người nông dân bị bầncùng hóa ngày càng mạnh mẽ, nông dân tự canh có xu hướng giảm dần, còn nông dânnghèo, mất ruộng đất, phải lệ thuộc và chịu sự bóc lột của bọn quan lại ,địa chủ ngàycàng nhiều Trên cơ sở đó, hình thành quan hệ sản xuất mới - đó chính là quan hệ bóc lộtcủa địa chủ đối với nông dân lĩnh canh thông qua tô ruộng đất, thay thế cho quan hệ bóclột giữa quý tộc đối với nông dân công xã trong xã hội cũ Chế độ phong kiến Trung
Quốc được xác lập Tiếp đó, giáo viên hướng dẫn các em nắm được khái niệm “ quan hệ
sản xuất phong kiến”.
Hay khi dạy tiết 1của bài 10: Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở Tây
Âu (từ TKV – TKXV), giáo viên có thể sử dụng sơ đồ sau đây :
12
Trang 14Nông dân công xã
SƠ ĐỒ VỀ SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI PHONG KIẾN TÂY ÂU TKXI-XIV
để trình bày về quá trình hình thành của chế độ phong kiến ở Tây Âu, về mối quan hệ
xã hội giữa lãnh chúa với nông nô, những đặc điểm của lãnh địa phong kiến (kinh tế chính trị), vì sao nông nô lại nổi dậy chống lại lãnh chúa, nhằm giúp cho học sinh có
-thể vừa nắm được một cách khái quát bài học vừa có -thể hiểu một cách sâu sắc bài họchơn Đồng thời, học sinh có thể hiểu được khái niệm “ chế độ phong kiến tập quyền”,
“chế độ phong kiến phân quyền” Trên cơ sở đó, học sinh có thể so sánh được chế độphong kiến phương Tây và phương Đông
Hay trong bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại, sau khi học xong mục 2: Sự nảy
sinh CNTB ở Tây Âu, ( Chương trình nâng cao) giáo viên có thể đưa ra sơ đồ sau đây để
củng cố:
Trang 15Quý tộc phong kiến
Thương nhân
Làm ăn giàu có
SƠ ĐỒ VỀ SỰ PHÂN HÓA GIAI CẤP TRONG
XÃ HỘI TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI
Với sơ đồ trên, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi sau: Quan hệ sản xuất TBCN được hình thành như thế nào? Rút ra nhận xét Trên cơ sở trình bày của học sinh, giáo viên cần hướng dẫn các em rút ra kết luận và đặt vấn
đề cho tiết học sau: “Chính những cuộc phát kiến đã tạo nền tảng, thúc đẩy sự
Trang 16nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu Trên cơ sở đó, xã hội đã hình thành nhữnggiai cấp mới với quan hệ mới ( QHSX TBCN) Và như vậy, CNTB đã dần dầnhình thành trong lòng của chế độ phong kiến Tuy nhiên, QHSX mới (QHSXTBCN) ra đời trong khi QHSX cũ (QHSX PK) vẫn còn tồn tại và kìm hãm sựphát triển của giai cấp mới đang lên ( giai cấp Tư sản) Mâu thuẫn xã hội nảysinh, những cuộc đấu tranh nổ ra là điều tất yếu Vậy những cuộc đấu tranh đódiễn ra như thế nào? Những người lãnh đạo là ai? Kết quả, ý nghĩa ra sao? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu trong tiết học tiếp theo”.
1 4
Trang 17Hoặc như trong bài 31: CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỈ XVIII, ở tiết 1 –mục 1, ngoài bức tranh biếm họa về tình cảnh người nông dân Pháp, giáo viên có thể sửdụng sơ đồ các đẳng cấp xã hội để khai thác những đặc điểm về xã hội của Pháp trướccách mạng.
Quý tộc
Nộp các loại thuế
Đẳng cấp thứ ba
Nông dân
SƠ ĐỒ BA ĐẲNG CẤP TRONG XÃ HỘI PHÁP TRƯỚC CÁCH MẠNG
Dựa vào sơ đồ trên, học sinh có thể trình bày được xã hội Pháp chia thành ba đẳng cấp với những đặc điểm riêng biệt: Hai đẳng cấp tăng lữ và quý tộc giữ những chức vụ
cao trong bộ máy nhà nước, có nhiều bổng lộc, hưởng mọi đạc quyền, đặc lợi và không phải đóng thuế Do đó, họ muốn duy trì quyền lực và không muốn thay đổi chế độ chínhtrị
Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều giai cấp và tầng lớp: tư sản, nông dân và bình dân thành thị Họ phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ, song lại không có quyền lợi chính trị và bị
lệ thuộc vào những đẳng cấp có đặc quyền
Qua đó, học sinh sẽ rút ra được nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII chính là do mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế và địa vị chính trị giữa đẳng cấp
thứ ba với đẳng cấp Tăng lữ và Quý tộc
15
Trang 18vì thời lượng chỉ có một tiết Để trình bày diễn biến của hai cuộc cách mạng, giáoviên có thể sử dụng bảng biểu sau đây dưới dạng phiếu học tập và yêu cầu học sinh
tự hoàn thiện khi giáo viên trình bày diễn biến của cuộc cách mạng Hà Lan và cáchmạng Anh kết hợp với bảng đồ
Thời gian
8 - 1566
7 - 158116091648
Thời gian
1640164216491653-16581688
Như vậy, với việc sử dụng bảng biểu nêu trên, học sinh sẽ nắm được những sự kiện chủ yếu trong toàn bộ tiến trình của cuộc cách mạng và trên cơ sở đó, học sinh có thể tiếp tục
16
Trang 19hoàn thiện sau khi đã kết thúc tiết học (hoạt động nối tiếp) Trên cơ sở biết và hiểu bài,học sinh có thể tự trình bày và diễn đạt về tiến trình của cách mạng theo cách hiểu củamình.
Hay khi dạy bài 11 TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI, trong mục 1, khi mô tả vềcác cuộc phát kiến địa lí, kết hợp với việc sử dụng lược đồ những cuộc phát kiến, giáoviên có thể sử dụng bảng biểu sau ( dưới dạng phiếu học tập):
Với cách tổ chức hoạt động theo nhóm, giáo viên cũng có thể sử dụng bảng biểu sau đây
sau khi dạy mục 2, phần các hình thức kinh doanh TBCN của bài 11: TÂY ÂU THỜI
HẬU KÌ TRUNG ĐẠI ()
SƠ ĐỒ VỀ SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA KINH TẾ TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI.
Nhóm 1-2 : Thế kỉ XI - XIV TCN
đồ nêu trên Sau khi các nhóm trình bày phần yêu cầu của mình, giáo viên có thể yêu cầucác nhóm khác nhận xét, bổ sung và rút ra nhận xét Giáo viên nhận xét
17
Trang 20phần trình bày của các nhóm và dùng phần chuẩn bị của mình sau đây để chuẩn kiến thức:
TCN Nông nghiệp Thương nghiệp Quan hệ sản xuất
Với việc hoàn thành bảng biểu trên, học sinh sẽ thấy rõ được sự phát triển của nền kinh tếtrong chế độ phong kiến Tây Âu từ thế kỉ XI-XVI, đặc biệt là sự xuất hiện của nền kinh
tế hàng hóa TBCN đã thúc đẩy nền kinh tế chuyển biến một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, sựtồn tại của chế độ phong kiến đã kìm hãm, cản trở sự phát triển đó Yêu cầu đặt ra là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội xóa bỏ chế độ phong kiến lạc hậu, bảo thủ và tạo điều kiện cho nền kinh tế TBCN phát triển, xác lập chế độ mới phù hợp, tiến bộ hơn Vậynhiệm vụ đó được tiến hành như thế nào? Lực lượng lãnh đạo là ai? Động lực nào đưa cách mạng đi đến thắng lợi ? Chế độ xã hội mới được xác lập so với xã hội phong kiến (tích cực và hạn chế) ? Trên cơ sở đó, giáo viên có thể nêu vấn đề để giải quyết trong cácbài học tiếp theo
Để nâng cao khả năng nhận thức và rèn luyện các kĩ năng bộ môn cho học sinh trongquá trình học tập như khả năng khái quát hóa, so sánh, phân tích để tìm ra mối liên hệgiữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử và rút ra bản chất, quy luật của chúng, giáo viên cũng
có thể sử dụng bảng biểu Ví dụ, sau khi học xong chương II: XÃ HỘI CỔ ĐẠI, giáo
viên yêu cầu học sinh “Lập bảng so sánh sự khác biệt giữa các quốc gia cổ đại phương
Đông với các quốc gia cổ đại phương Tây theo các tiêu chí sau Trên cơ sở đó, em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa các tiêu chí đó ở phương Đông và phương Tây thời kì
cổ đại Yếu tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng, tác động như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế, đến cơ cấu xã hội và thể chế chính trị ?”:
Tiêu chí so sánh Các quốc gia cổ đại phương Đông Các quốc gia cổ đại phương Tây
ĐKTN
18
Trang 21tự nhiên.
Cũng với yêu cầu so sánh, sau khi học xong 02 tiết của bài 10: SỰ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU, giáo viên yêu cầu học sinh
so sánh sự khác biệt giữa lãnh địa với thành thị theo yêu cầu sau đây:
* Trên cơ sở của bài học, giáo viên có thể đưa ra dạng bài tập tổng hợp với yêu cầu sau
đây: Vận dụng kiến thức đã học trong bài 29: CÁCH MẠNG HÀ LAN VÀ CÁCH
MẠNG TƯ SẢN ANH, các em hãy hoàn thành bảng so sánh sau đây:
19
Trang 22Như vậy, với bài tập trên, học sinh rút ra dược những điểm giống và khác nhau giữa haicuộc cách mạng được tiến hành ở hai nước khác nhau Đồng thời, giáo viên hướng dẫnhọc sinh hình thành khái niệm “ cách mạng tư sản”.
Thông qua việc sử dụng bài tập nhận thức lịch sử dưới dạng sơ đồ, bảng biểu tronggiờ học trên lớp cũng như ở nhà, vấn đề đặt ra là khả năng hoạt động độc lập của học sinhđược thể hiện ở mức độ nào là hợp lí ? cần phải sử dụng sơ đồ hoặc bảng biểu lúc nào là
20
Trang 23hợp lí ? thời gian dành cho việc giải quyết là bao nhiêu ? hình thức câu hỏi và trả lời như thế nào? Giáo viên hướng dẫn, gợi ý ở chừng mực nào?
Để giải đáp vấn đề nêu trên, cần phải dựa vào các yếu tố sau đây :
- Số lượng và độ khó của sơ đồ, bảng biểu đưa ra mà học sinh cần phải nhận thức
- Mức độ lĩnh hội kiến thức đã học và mối quan hệ của các kiến thức này với sơ đồ hoặcbảng biểu cần hoàn thiện
- Đối tượng học sinh tham gia
Vì vậy, cần phải có nhiều phương án khác nhau khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quátrình dạy và học, đặc biệt là tùy vào từng đối tượng học sinh, người giáo viên cần phảilinh động, sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất
Ngoài ra , đối với sơ đồ, bảng biểu thuộc dạng tổng hợp, giáo viên nên cho học sinh vềlàm ở nhà, vì trên lớp không có đủ thời gian và đây cũng là một trong những yếu tố có tácdụng thúc đẩy, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành.Với bài tập dạng sơ đồ hoặc bảng biểu tổng hợp sẽ giúp học sinh nắm vững và củng cốvững chắc hệ thống kiến thức đã học
Khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú ý đưa ra nhiềuloại bài tập đảm bảo tính phong phú, đa dạng nhằm rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn chohọc sinh Tuy nhiên, tùy theo nội dung học tập, trình độ học sinh mỗi lớp, điều kiện cụthể của từng trường mà giáo viên đưa ra số lượng và mức độ yêu cầu cho phù hợp Việchướng dẫn học sinh phương thức giải quyết là cần thiết đối với học sinh Để đạt dượchiệu quả , giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức của học sinh,đặc biệt là việc tự học ở nhà thông qua vở tự soạn của các em, nhận xét, đánh giá chođiểm nhằm động viên khuyến khích kịp thời Đồng thời giáo viên phải sửa chữa, uốn nắn
về cách lập luận và trình bày của học sinh
Tóm lại, với việc sử dung sơ đồ, bảng biểu đã trình bày trên đây được xem là một dạng
bài tập nhận thức lịch sử đối với học sinh, đồng thời cũng là phương tiện, là đồ dùng dạyhọc tự làm của giáo viên trong quá trình dạy học Nếu sử dụng thường xuyên trong quátrình giảng dạy sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, đồngthời bồi dưỡng giáo viên về nghiệp vụ sư phạm Đây là một mặt của việc cải tiến, đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
7.1.3.Vận dụng :
Ngày soạn:
21
Trang 24- Trình bày được những cuộc phát kiến địa lí lớn của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
- Đánh giá được hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí đối với nhân loại
2 Về kĩ năng
- Kĩ năng phân tích, đánh giá sự kiện
- Kĩ năng sử dụng lược đồ, khai thác tranh ảnh
3 Về thái độ:
- Có thái độ trân trọng dự dũng cảm của các nhà hàng hải và đấu tranh chống chế độ
áp bức, bóc lột
4 Về định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực phân tích, đánh giá, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
- Năng lực trình bày một nội dung lịch sử, năng lực tái hiện lịch sử…
AI. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH: