1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thông qua sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử chương trình lịch sử lớp 10

45 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thông qua sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử chương trình lịch sử lớp 10
Tác giả Vũ Thị Trâm
Trường học Trường Phổ Thông DTNT Cấp 2-3 Tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 795,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu là một loại bài hoặc một dạng bài tập nhận thức lịch sử có tác dụng vô cùng quan trọng đối với việc tăng cường hoạt động nhận thức, nâng cao tính tích cực,

Trang 1

1

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TRƯỜNG PHỔ THÔNG DTNT CẤP 2-3 TỈNH VĨNH PHÚC

=====***=====

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học

học lịch sử chương trình Lịch sử lớp 10

Tác giả sáng kiến: Vũ Thị Trâm

Mã sang kiến: 04.57.02

Vĩnh Phúc, năm 2021

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

HS: Học sinh

THPT: Trung học phổ thông

GDTX: Giáo dục thường xuyên

PT DTNT: Phổ thông dân tộc nội trú

PPDH: Phương pháp dạy học

THPTQG: Trung học phổ thông quốc gia

SGK: Sách giáo khoa

QHSXPK: Quan hệ sản xuất phong kiến

QHSXTBCN: Quan hệ sản xuất tư bản

TBCN: Tư bản chủ nghĩa

NN: Nông nghiệp

TCN: Thủ công nghiệp

TN: Thương nghiệp

Trang 3

3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử theo tinh thần đổi

mới giáo dục, việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) có ý nghĩa quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo con người của xã hội Vậy bản chất của quá trình đổi mới PPDH lịch sử ở trường THPT là gì?

Quan niệm dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS nêu rõ vai trò tổ chức, hướng dẫn điều khiển của GV trong quá trình nhận thức của HS Còn HS là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học, được phát huy các năng lực, phẩm chất nhận thức

để chiếm lĩnh lấy kiến thức Tất nhiên, việc nhận thức của HS trong quá trình học tập khác với việc nghiên cứu của các nhà khoa học Các em tiếp nhận những kiến thức mới

đã được xác định, không phải đi tìm kiến thức mới như các nhà khoa học

Việc học tập chỉ diễn ra trong một thời gian quy định và bao giờ cũng phải có sự hướng dẫn, giảng dạy của GV Vì vậy, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS không

có nghĩa là xem nhẹ vai trò của GV Vậy thực chất của việc phát huy tính tích cực, chủ động sang tạo của HS trong quá trình dạy học là gì?

Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng, quá trình nhận thức của HS là quá trình mà trong

đó, HS với tư cách là chủ thể phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình, nắm được bản chất và quy luật của nó và vận dụng vào các quy luật này để làm biến đổi nó, cải tạo nó Đó chính là quá trình nhận thức từ cảm tính sang lý tính và từ nhận thức lý tính trở về với thực tiễn Qúa trình này chỉ có thể hoàn thành khi HS có các phẩm chất nhất định như tự giác, tích cực, độc lập,… Học tập, không chỉ nắm kiến thức mà còn hình thành năng lực của bản thân Điều này được thực hiện trong việc tự giác học tập

Tự giác theo nghĩa chung: “tự hiểu, tự biết mình mà làm, không chờ nhắc nhở, thúc ép”

Tự giác nhận thức là HS ý thức được đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập; đồng thời có ý thức lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo bộ môn, giữ gìn, lưu giữ những thông tin

đã thu được, vận dụng kiến thức đã học và tự kiểm tra đánh giá quá trình học tập của bản thân…

“ Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập”

Trang 4

Trên các cơ sở đó, việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT sẽ đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong quá trình học tập Hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu là một loại bài hoặc một dạng bài tập nhận thức lịch sử có tác dụng vô cùng quan trọng đối với việc tăng cường hoạt động nhận thức, nâng cao tính tích cực, chủ động sang tạo của HS được thể hiện trên những mặt sau:

- Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản, trọng tâm đã học

- Là phương tiện để phát triển tư duy lịch sử cho học sinh, nâng cao các mức độ nhận thức trong quá trình lĩnh hội kiến thức

- Rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo bộ môn như khả năng khái quát hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp,…

- Giúp học sinh tự lực vận dụng những kiến cơ bản, trọng tâm để có thể làm các bài tập nhận thức lịch sử một cách độc lập, chủ động sáng tạo

Ngoài ra, việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học lịch sử cũng giúp học sinh hiểu bài và có thể trình bày lại nội dung bài học, mối liên hệ giữa các kiến thức cũ và mới, tính hệ thống của kiến thức trong một bài hoặc một chương…Đồng thời giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá mức độ nhận thức cũng như khả năng trình bày, lập luận và diễn đạt của học sinh để có thể điều chỉnh và tìm ra những biện pháp tối ưu và hữu hiệu trong phương pháp giảng dạy của mình để giúp cho học sinh có thể hiểu bài và trình bày các vấn đề có liên quan một cách tốt nhất Hơn nữa, trong tình hình hiện nay chúng ta đang thực hiện chủ trương đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và đào tạo nhằm phát huy tính tích cực của học sinh thì việc sử dụng hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu trong trong các giờ học lịch sử lại càng cần thiết hơn Bởi chính trong việc nghiên cứu bài dạy

để xây dựng và thiết kế sơ đồ, bảng biểu, hướng dẫn học sinh cách khai thác và sử dụng

để giải quyết các bài tập nhận thức hoặc các vấn đề liên quan đến nội dung bài học Trong giờ học, thầy giáo thông qua các thao tác sư phạm của mình sẽ thực sự trở thành người hướng dẫn học sinh tự học, tự nhận thức và các em sẽ trở thành trung tâm của hoạt động dạy và học

Như vậy, với những tác dụng nêu trên thì việc xây dựng, thiết kế và sử dụng hệ thống

sơ đồ, bảng biểu trong dạy học lịch sử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh là một việc làm cần thiết của người giáo viên trong quá trình giảng dạy đối với bộ môn

Hơn nữa xét về cơ sở thực tiễn hiện nay thì hệ thống sơ đồ hóa, bảng biểu được xem

Trang 5

5

trong quá trình dạy học cũng như học tập của giáo viên và học sinh là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên trên thực tế, ở các trường phổ thông số giáo viên sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu trong quá trình dạy học không nhiều, vì có nhiều nguyên nhân:

- Giáo trình, tài liệu đề cập đến vấn đề này hầu như không có Sơ đồ hóa, bảng biểu là gì? xây dựng thiết kế như thế nào?, vận dụng như thế nào trong quá trình dạy học, hướng dẫn học sinh khai thác và vận dụng ra sao?

Trên thực tế, để có thể thiết kế và xây dựng được hệ thống sơ đồ, bảng biểu để phục vụ cho công tác giảng dạy không phải là một điều dễ dàng Người giáo viên phải trải qua một quá trình đầu tư công sức, tìm tòi, trải nghiệm qua các tiết dạy từ năm này qua năm khác, phải có khả năng về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm Giáo viên phải có đủ phẩm chất và năng lực để tiến hành thiết kế, tổ chức, điều khiển quá trình hoạt động học tập của học sinh Đây là những vấn đề mà không phải bất cứ người giáo viên nào cũng làm được

- Về nội dung thi cử, kiểm tra - đánh giá vẫn chưa có sự đổi mới, chỉ dừng lại ở nhớ, thuộc sự kiện là chính, việc vận dụng kiến thức có đề cập nhưng rất hạn chế, nó chưa phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình làm bài

Đây cũng chính là một trở lực lớn cần phải giải quyết để thực hiện nhiệm vụ cải tiến và đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Vì vậy, cần phải xây dựng và vận dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT hiện nay

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường PT DTNT cấp 2-3 Tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0963121356 Email: vutram.dtnt@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Vũ Thị Trâm

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Trước hết, sáng kiến được áp dụng trực tiếp ở lĩnh vực giáo dục, đào tạo học sinh, giúp học sinh hình thành các năng lực, tích cực, hứng thú trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bài học lịch sử Sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh để nâng cao hiệu quả

bài học lịch sử, từ đó phát triển năng lực người học phù hợp với đề án đổi mới chương

trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ GD&ĐT đang tiến hành

Trang 6

Đồng thời đây là một yêu cầu quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Mặt khác, sáng kiến còn có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác của đời sống

xã hội như hoạt động nghiên cứu, lập kế hoạch… hình thành các năng lực và kĩ năng cần thiết trong quá trình làm việc và cuộc sống con người

Sáng kiến đã giải quyết được các vấn đề thiết yếu sau: làm rõ được tầm quan trọng của việc áp dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử; tạo hứng thú và niềm yêu thích, đam mê đối với môn học Điều này giải quyết được băn khoăn, lo lắng của ngành giáo dục và sự quan tâm của xã hội về thực trạng dạy và học Lịch sử hiện nay

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 09/2020

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1.1 PHẦN I: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VÀ VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH

a Khái niệm:

Trước hết, hệ thống các sơ đồ, bảng biểu được xem là một dạng của bài tập nhận thức lịch sử nhằm đem đến những hiểu biết mới về lịch sử với một phương thức giải quyết mới so với những phương thức đã biết trước đó mà các giáo viên thường sử dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn như hỏi – đáp; nêu vấn đề, sử dụng tranh ảnh,… Nó bao gồm những điều kiện và yêu cầu được ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà sơ đồ hoặc biểu bảng được đưa ra

Như vậy, hệ thống các sơ đồ, bảng biểu là một hệ thông tin xác định về tổ chức quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh trên các lĩnh vực nhận thức Để thực hiện điều này, học sinh phải giải quyết toàn bộ hoặc từng phần vấn đề được nêu Có thể hiểu như sau:

- Hệ thống sơ đồ, bảng biểu được xem là một hệ thông tin, quy định mục đích mà giáo viên và học sinh cần phải hoàn thành trong dạy học lịch sử

- Hệ thống sơ đồ, bảng biểu là phương tiện chủ yếu của dạy học nêu vấn đề, một kiểu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh

Trang 7

7

Như vậy, hệ thống sơ đồ, bảng biểu là một dạng bài tập nhận thức lịch sử Đồng thời cũng là phương tiện của giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Qua đó, học sinh sẽ dựng lại được bức tranh lịch sử xã hội đã diễn ra trong quá khứ, mặc dù không tuyệt đối hoàn toàn

b Bài tập nhận thức trong đó có hệ thống sơ đồ, bảng biểu là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy học sinh trong học tập lịch sử

Để nâng cao trình độ tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử, người giáo viên phải xây dựng một hệ thống các bài tập nhận thức, trong đó có cả sơ đồ, bảng biểu Các sơ đồ, bảng biểu này đề cập đến những vấ đề mà học sinh cần nắm để khôi phục hình ảnh quá khứ và chủ yếu đi sâu vào nội dung bản chất sự kiện Nó bao gồm các vấn đề sau:

- Nhận biết quá trình phát triển của lịch sử và cơ cấu của một sự kiện ( hiện tượng, biến

cố, nhân vật…)

- Xác định những mối liên hệ nhân quả của sự kiện

- Xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, thời kì, giai đoạn lớn

- Nêu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời đại hay xã hội nói chung

Phân tích tính chất của một sự kiện

- Xác định các giai đoạn, thời kì phát triển của sự kiện, của xã hội

- So sánh để rút ra cái chung, cái riêng, giống và khác, tiêu biểu và đặc thù của các sự kiện, thời kì lịch sử

- Tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, bài học kinh nghiệm lịch sử đối với ngày nay

Những loại bài tập như vậy được xây dựng trên cơ sở một sự kiện quan trọng, một bài, một chương hay một khóa trình Bài tập nhận thức dạng sơ đồ, bảng biểu có nội dung rộng, đòi hỏi thời gian và công sức của học sinh nhiều hơn và tác dụng, kết quả của nó cũng cao hơn so với câu hỏi kiểm tra Tuy nhiên, tùy từng nội dung, trình độ mà những bài tập dạng sơ đồ, bảng biểu được giới hạn ở phạm vi, yêu cầu của câu hỏi hoặc một số câu hỏi mang nội dung bài tập nhận thức và phải thỏa mãn những yêu cầu sau đây:

* Làm cho học sinh nhận thức được sự kiện cơ bản của bài học

* Khôi phục lại được bức tranh quá khứ theo yêu cầu và trình độ học tập của mỗi lớp

* Nhận thức, phân tích sự kiện trong tình huống có vấn đề, rút ra bản chất, đặc trưng của

sự kiện, quy luật lịch sử

* Vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu bài học mới trong hoạt động thực tiễn, nhằm phát triển tư duy sáng tạo và năng lực thực hành của học sinh Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo

bộ môn như khái quát hóa, phân tích, so sánh, tổng hợp, nhận xét đánh giá…

Trang 8

Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tốt trong dạy học lịch sử, nếu chỉ có người giáo viên chuẩn bị không thì chưa đủ mà đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của học sinhtrong quá trình tiếp thu tri thức Đặc biệt, trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn học sinh

tự học một cách có hiệu quả

Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề quan trọng, vì đó là một khâu trong quá trình thống nhất của việc dạy học nhằm phát huy năng lực tích cực, chủ động sáng tạo của các

em trên lớp cũng như ở nhà Vậy học sinh phải tự học như thế nào cho có hiệu quả?

Trong việc tự học, không chỉ chú ý đến việc học sinh tự đọc sách, tự làm việc không có thầy cô và bạn bè, mà phải chú ý đến tinh thần, thái độ, ý chí, phương pháp làm việc của các em để nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức vào đời sống Trong quá trình nghe giảng và tự học, học sinh phải tiến hành những hoạt động tư duy độc lập trong việc lựa chọn những điều nghe được để ghi chép, nảy sinh những vấn đề mới cần giải quyết, có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn những điều giáo viên trình bày Trên cơ sở đó, các em tự trình bày những kiến thức thực sự của mình mà mình đã lĩnh hội được, biết sử dụng kiến thức

đó để diễn đạt và có những ý kiến nhận xét, phán đoán riêng

Vậy, tự học của học sinh là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách chính xác, vững chắc, được suy nghĩ, nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách linh hoạt, thành thạo Việc tự học phải được tiến hành với sự hứng thú, say mê và ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù Trong việc tự học, điều quan trọng đối với học sinh không chỉ là nắm vững, hiểu sâu kiến thức mà còn hình thành ở các em tư cách, phẩm chất của người lao động: kiên nhẫn, tự tin, sáng tạo

c Phạm vi đề tài:

Như tôi đã nói trên, bài tập nhận thức lịch sử có nhiều loại bài, dạng bài với những tác dụng khác nhau, trong đó có dạng bài sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Trong đề tài này, do thời gian có hạn nên tôi không thể trình bày tất cả toàn bộ hệ thống sơ đồ, bảng biểu ở bậc THPT Qua thực tiễn nghiên cứu, thiết kế, xây dựng và áp dụng vào giảng dạy lịch sử những năm qua, tôi chỉ xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân về việc xây dựng và sử dụng những sơ đồ, bảng biểu ở một số bài và đã được tập hợp, tổng kết trong quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong dạy học lịch sử lớp 10 cơ bản – phần lịch sử thế giới ở trường THPT Sau này tôi sẽ tiếp tục

bổ sung để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn nhằm phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ giảng dạy của mình

Trang 9

9

- Nội dung của một số bài trong chương trình lịch sử lớp 10 ở bậc học THPT ( chương

trình chuẩn)- Phần lịch sử thế giới

- Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng

- Các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học lịch sử do Bộ giáo dục và đào tạo phát hành

- Các đối tượng giáo viên, học sinh của các lớp

e Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đọc, nghiên cứu tài liệu và khái quát thành một số khái niệm và luận điểm chung

- Phương pháp thực nghiệm: Quan sát khả năng tiếp nhận kiến thức của học sinh, các thao tác giải quyết, xử lí thông tin; giải quyết các vấn đề, các bài tập nhận thức dưới dạng

sơ đồ hóa hoặc bảng biểu ( trình bày, phân tích, so sánh, khái quát, chỉ ra mối quan hệ…)

mà giáo viên đưa ra trong quá trình dạy học lịch sử Đặc biệt có thuận lợi hơn do bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy

- Phương pháp khái quát, tập hợp: Tập hợp một số sơ đồ, bảng biểu đã được thực hiện trong quá trình dạy học lịch sử

- Phương pháp khảo sát, đánh giá: Thực hiện cụ thể trong một tiết học cơ bản để đánh giá

7.1.2 PHẦN II: VAI TRÒ, Ý NGHĨA VÀ CÁCH THỨC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ HÓA, BẢNG BIỂU TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

a Vai trò:

- Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

lịch sử theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, phù hợp với mục tiêu đào tạo và yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

- Sử dụng sơ đồ, bảng biểu góp phần hình thành, củng cố tri thức lịch sử cho học sinh Qúa trình hình thành tri thức cho học sinh chỉ có thể đạt hiệu quả khi việc dạy học trên cơ

sở tổ chức hoạt động nhận thức độc lập cho học sinh, chứ không phải là truyền đạt kiến thức có sẵn của giáo viên Để nắm vững tri thức một cách sâu sắc trong học tập, học sinh phải thực hiện một chu trình hoạt động trí tuệ, bao gồm nghiên cứu tài liệu ( trực tiếp và gián tiếp), thông hiểu nó, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo bằng những bài tập luyện tập và sau đó

là khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức Việc chú trọng tổ chức cho học sinh làm những bài tập nhận thức dưới dạng sơ đồ, biểu bảng ở trên lớp và tự học ở nhà thì học sinh sẽ thực sự nắm vững kiến thức

Trang 10

- Sử dụng sơ đồ, bảng biểu góp phần vào nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách của học sinh Việc bồi dưỡng tư tưởng đạo đức, ý thức tình cảm cho học sinh là một chức năng quan trọng của việc dạy học lịch sử, góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ So với các môn học khác ở trường phổ thông, môn lịch sử có nhiều khả năng và ưu thế trong việc giáo dục học sinh; song vấn đề ở đây là hiệu quả giáo dục chứ không phải là sự phô trương hình thức, công thức giáo điều, áp đặt Phải xuất từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ nói chung, từ mục tiêu đào tạo của nhà trường, từ đặc trưng của bộ môn mà lựa chọn hình thức, biện pháp có hiệu quả Vơi tư cách là một phương tiện để cung cấp, trang bị tri thức lịch sử cho học sinh, việc sử dụng bài tập nhận thức dạng sơ đồ háo, bảng biểu có vai trò,

ý nghĩa quan trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh

b Ý nghĩa:

- Ý nghĩa giáo dục của việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu trong bài tập nhận thức mà các phương tiện dạy học khác khó có thể thay thế được chính là việc vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm, những kiến thức lịch sử để giải quyết một vấn đề được đặt ra, học sinh tiếp cận được với chân lí, phản ánh được hiện thực Qua dó, xây dựng được niềm tin vững chắc vào sự phát triển hợp quy luật của lịch sử Điều này có tác dụng không chỉ củng cố kiến thức mà cả về mặt giáo dục ý thức thông qua bài tập dạng sơ đồ,

bảng biểu ở trên lớp và cả ở nhà

- Việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu gây hứng thú học tập đối với bộ môn, góp phần phát triển tư duy cho học sinh Vì đây là một hình thức cơ bản giúp học sinh tự làm việc trong học tập Khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến sơ đồ, bảng biểu, học sinh phải

sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, liên hệ,… Mặt khác, để làm được điều đó, học sinh phải nắm vững kiến thức, có phương pháp chính xác, khoa học và có hiệu quả trong việc tìm ra câu trả lời một cách độc lập và được chứng minh rõ ràng

- Việc sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu góp phần rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh Đây là một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học lịch sử, là một trong những biện pháp cần thiết để tăng cường hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo cho học sinh, góp phần nâng cao năng lực trí tuệ, thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng “ học đi đôi với hành” Rèn luyện kĩ năng bộ môn chính là rèn luyện những phương pháp học tập thích hợp nhất, phù hợp với quy luật nhận thức, làm cho học sinh tích cực hoạt động tại lớp, biết định hướng và tìm ra phương pháp hoạt động tự lập để chủ động tiếp thu bài, lĩnh hội các kiến thức một cách sâu sắc và vận dụng vào thực tiễn Vì vậy, rèn luyện kĩ năng học tập và thực hành bộ môn lịch sử cho học sinh là một công việc cần được quan tâm và phải được

Trang 11

11

Tóm lại, dạng bài tập nhận thức theo sơ đồ hóa, bảng biểu trong dạy học nói chung, môn

lịch sử nói riêng là một trong những phương tiện dạy học quan trọng có vai trò, ý nghĩa về nhiều mặt, góp phần hoàn thiện mục tiêu, nhiệm vụ môn học Do đó, cải tiến đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường THPT thì không thể không tiến hành bài tập nhận thức, trong đó có dạng bài theo sơ đồ hóa, bảng biểu

c Cách thức sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học lịch sử lớp 10:

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy và nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học trên lớp, giáo viên phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về mọi mặt: tổ chức hoạt động như thế nào, các phương tiện, đồ dùng dạy học,… đặc biệt là việc sử dụng các sơ đồ, bảng biểu có liên quan đến bài học Sơ đồ, bảng biểu được sử dụng trong hầu hết các khâu trong quá trình dạy học như: khái quát hóa, hệ thống hóa, củng cố, so sánh, đánh giá kiến thức,…Qua quá trình nghiên cứu, xây dựng, tôi thấy có thể sử dụng sơ đồ hóa, bảng biểu trong giờ học lịch

sử ở trên lớp cũng như tự học ở nhà đều đem lại hiệu quả rất cao trong việc phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh

* Sử dụng sơ đồ :

Sử dụng bài tập dạng sơ đồ để học sinh xác định hướng tiếp cận và tổ chức hoạt động học tập của học sinh trong quá trinh tiếp thu kiến thức mới Việc làm này không chỉ tiến hành vào đầu giờ học, mà còn được sử dụng ở từng phần, từng đơn vị kiến thức của bài hoặc củng cố bài sau mỗi tiết học Để tiết học đạt hiệu quả, giáo viên phải xây dựng hệ thống câu hỏi để khai thác nội dung kiến thức thông qua sơ đồ Câu hỏi phải có mục đích rõ ràng, phù hợp và lo-gic với quá trình nhận thức, gợi nhớ lại những kiến thức đã học có liên quan, suy nghĩ giải quyết vấn đề mới, làm cơ sở cho việc tiếp thu bài học Ví dụ: Khi dạy mục 1 của bài 5 : Trung Quốc thời phong kiến, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ :

SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

Quý tộc

Nông dân công xã

Nông dân tự canh

Nông dân nghèo Nông dân giàu

Quan lại, địa chủ

Nông dân lĩnh canh

Ruộng đất

Tô ruộng đất

QHSX

PK

Trang 12

Để khai thác nội dung bài học, giáo viên yêu cầu học sinh nhớ lại bài cũ về xã hội có giai cấp ở Phương Đông, kết hợp SGK và sơ đồ ( GV chuẩn bị sơ đồ trên bảng phụ), trả lời

câu hỏi sau: “Chế độ phong kiến Trung Quốc được hình thành như thế nào?”

Trên cơ sở gợi ý, hướng dẫn của GV, dựa vào sơ đồ học sinh sẽ thấy được sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ trong xã hội Trung Quốc vào những thế kỉ cuối trước công

nguyên Vậy nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa mạnh mẽ này là gì ? Quá trình phân

hóa này diễn ra như thế nào? GV hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi để các em nắm

được nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa xã hội chính là sự phát triển của trình độ kĩ thuật (công cụ sắt, kĩ thuật canh tác,…), đặc biệt là sự thống nhất của Trung Quốc đã tạo điều kiện cho kinh tế phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy nhanh sự phân hóa giai cấp trong xã hội, các giai cấp mới được hình thành Sau đó, kết hợp với SGK, học sinh sẽ trình bày được quá trình hình thành hai giai cấp cơ bản trong xã hôi Giáo cần hướng dẫn và nhấn mạnh rằng: trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến, chính quá trình tập trung bao chiếm , chiếm đoạt ruộng đất của quan lại, địa chủ sẽ làm cho người nông dân bị bần cùng hóa ngày càng mạnh mẽ, nông dân tự canh có xu hướng giảm dần, còn nông dân nghèo, mất ruộng đất, phải lệ thuộc và chịu sự bóc lột của bọn quan lại ,địa chủ ngày càng nhiều Trên cơ sở đó, hình thành quan hệ sản xuất mới - đó chính là quan hệ bóc lột của địa chủ đối với nông dân lĩnh canh thông qua tô ruộng đất, thay thế cho quan hệ bóc lột giữa quý tộc đối với nông dân công xã trong xã hội cũ Chế độ phong kiến Trung

Quốc được xác lập Tiếp đó, giáo viên hướng dẫn các em nắm được khái niệm “ quan hệ

sản xuất phong kiến”

Hay khi dạy tiết 1của bài 10: Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở Tây

Âu (từ TKV – TKXV), giáo viên có thể sử dụng sơ đồ sau đây :

Trang 13

13

để trình bày về quá trình hình thành của chế độ phong kiến ở Tây Âu, về mối quan hệ

xã hội giữa lãnh chúa với nông nô, những đặc điểm của lãnh địa phong kiến (kinh tế - chính trị), vì sao nông nô lại nổi dậy chống lại lãnh chúa, nhằm giúp cho học sinh có

thể vừa nắm được một cách khái quát bài học vừa có thể hiểu một cách sâu sắc bài học hơn Đồng thời, học sinh có thể hiểu được khái niệm “ chế độ phong kiến tập quyền”,

“chế độ phong kiến phân quyền” Trên cơ sở đó, học sinh có thể so sánh được chế độ phong kiến phương Tây và phương Đông

Hay trong bài 11: Tây Âu thời hậu kì trung đại, sau khi học xong mục 2: Sự nảy sinh CNTB ở Tây Âu, ( Chương trình nâng cao) giáo viên có thể đưa ra sơ đồ sau đây để

Quan

hệ sản xuất phong kiến

=

SƠ ĐỒ VỀ SỰ HÌNH THÀNH XÃ HỘI PHONG KIẾN TÂY ÂU TKXI-XIV

Trang 14

Với sơ đồ trên, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi sau: Quan hệ sản xuất TBCN được hình thành như thế nào? Rút ra nhận xét Trên cơ sở trình bày của học sinh, giáo viên cần hướng dẫn các em rút ra kết luận và đặt vấn đề cho tiết học sau: “Chính

những cuộc phát kiến đã tạo nền tảng, thúc đẩy sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu Trên cơ sở đó, xã hội đã hình thành những giai cấp mới với quan hệ mới ( QHSX TBCN) Và như vậy, CNTB đã dần dần hình thành trong lòng của chế độ phong kiến Tuy nhiên, QHSX mới (QHSX TBCN) ra đời trong khi QHSX cũ (QHSX PK) vẫn còn tồn tại và kìm hãm sự phát triển của giai cấp mới đang lên ( giai cấp Tư sản) Mâu thuẫn

xã hội nảy sinh, những cuộc đấu tranh nổ ra là điều tất yếu Vậy những cuộc đấu tranh đó diễn ra như thế nào? Những người lãnh đạo là ai? Kết quả, ý nghĩa ra sao? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu trong tiết học tiếp theo”

Quý tộc phong kiến

Vẫn lệ thuộc quý tộc

PK

Quý tộc mới

Bị rào đất cướp ruộng

Bị tước đoạt TLSX hay

QH

SX

PK

SƠ ĐỒ VỀ SỰ PHÂN HÓA GIAI CẤP TRONG

XÃ HỘI TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI

Trang 15

15

Hoặc như trong bài 31: CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỈ XVIII, ở tiết 1 – mục 1, ngoài bức tranh biếm họa về tình cảnh người nông dân Pháp, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ các đẳng cấp xã hội để khai thác những đặc điểm về xã hội của Pháp trước cách mạng

Dựa vào sơ đồ trên, học sinh có thể trình bày được xã hội Pháp chia thành ba đẳng cấp với những đặc điểm riêng biệt: Hai đẳng cấp tăng lữ và quý tộc giữ những chức vụ

cao trong bộ máy nhà nước, có nhiều bổng lộc, hưởng mọi đạc quyền, đặc lợi và không phải đóng thuế Do đó, họ muốn duy trì quyền lực và không muốn thay đổi chế độ chính trị

Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều giai cấp và tầng lớp: tư sản, nông dân và bình dân thành thị

Họ phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ, song lại không có quyền lợi chính trị và bị lệ thuộc vào những đẳng cấp có đặc quyền

Qua đó, học sinh sẽ rút ra được nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng Pháp cuối thế kỉ XVIII chính là do mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế và địa vị chính trị giữa đẳng cấp

thứ ba với đẳng cấp Tăng lữ và Quý tộc

Trang 16

* Sử dụng bảng biểu :

Trong quá trình giảng dạy môn lịch sử trong giờ dạy trên lớp, bảng biểu thường được sử dụng rất phổ biến nhằm khai thác nội dung của bài học một cách hiệu quả với những mức

độ nhận thức khác nhau Cụ thể:

- Trong một số cuộc cách mạng, bảng biểu thường được sử dụng để định hướng học sinh

về việc nắm một số kiến thức cơ bản, trọng tâm Ví dụ : Trong bài 29 “ Cách mạng Hà Lan

và cách mạng tư sản Anh”, việc giảng dạy bài này gặp nhiều khó khăn vì thời lượng chỉ có một tiết Để trình bày diễn biến của hai cuộc cách mạng, giáo viên có thể sử dụng bảng biểu sau đây dưới dạng phiếu học tập và yêu cầu học sinh tự hoàn thiện khi giáo viên trình bày diễn biến của cuộc cách mạng Hà Lan và cách mạng Anh kết hợp với bảng đồ

Như vậy, với việc sử dụng bảng biểu nêu trên, học sinh sẽ nắm được những sự kiện chủ

Diễn biến chính của cách mạng Anh

1640

1642

1649 1653-1658

1688

Diễn biến chính của cách mạng Hà Lan

8 - 1566

7 - 1581

1609

1648

Trang 17

17

hoàn thiện sau khi đã kết thúc tiết học (hoạt động nối tiếp) Trên cơ sở biết và hiểu bài, học sinh có thể tự trình bày và diễn đạt về tiến trình của cách mạng theo cách hiểu của mình

Hay khi dạy bài 11 TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI, trong mục 1, khi mô tả về các cuộc phát kiến địa lí, kết hợp với việc sử dụng lược đồ những cuộc phát kiến, giáo viên có thể sử dụng bảng biểu sau ( dưới dạng phiếu học tập):

Thời gian Tên nhà thám hiểm Kết quả của các cuộc thám hiểm

1487

1492

1497

1519-1522

Với bảng biểu trên, giáo viên trình bày, mô tả các cuộc phát kiên, đồng thời yêu cầu học

sinh lắng nghe và tự hoàn thiện phiếu học tập, lưu giữ để làm tài liệu học tập

Với cách tổ chức hoạt động theo nhóm, giáo viên cũng có thể sử dụng bảng biểu sau đây

sau khi dạy mục 2, phần các hình thức kinh doanh TBCN của bài 11: TÂY ÂU THỜI

HẬU KÌ TRUNG ĐẠI ()

Với bảng biểu trên, giáo viên có thể chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học trong bài 10 : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU và những kiến thức vừa học tiến hành thảo luận và hoàn thành bảng sơ đồ nêu trên Sau khi các nhóm trình bày phần yêu cầu của mình, giáo viên

có thể yêu cầu các nhóm khác nhận xét, bổ sung và rút ra nhận xét Giáo viên nhận xét

SƠ ĐỒ VỀ SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA KINH TẾ TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI

Nhóm 1-2 : Thế kỉ XI - XIV Nhóm 3-4 : Thế kỉ XVI TCN

Nông nghiệp

Thương nghiệp

Quan hệ sản xuất

Trang 18

phần trình bày của các nhóm và dùng phần chuẩn bị của mình sau đây để chuẩn kiến thức:

Với việc hoàn thành bảng biểu trên, học sinh sẽ thấy rõ được sự phát triển của nền kinh tế trong chế độ phong kiến Tây Âu từ thế kỉ XI-XVI, đặc biệt là sự xuất hiện của nền kinh

tế hàng hóa TBCN đã thúc đẩy nền kinh tế chuyển biến một cách mạnh mẽ Tuy nhiên,

sự tồn tại của chế độ phong kiến đã kìm hãm, cản trở sự phát triển đó Yêu cầu đặt ra là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội xóa bỏ chế độ phong kiến lạc hậu, bảo thủ và tạo điều kiện cho nền kinh tế TBCN phát triển, xác lập chế độ mới phù hợp, tiến bộ hơn Vậy nhiệm vụ đó được tiến hành như thế nào? Lực lượng lãnh đạo là ai? Động lực nào đưa cách mạng đi đến thắng lợi ? Chế độ xã hội mới được xác lập so với xã hội phong kiến (tích cực và hạn chế) ? Trên cơ sở đó, giáo viên có thể nêu vấn đề để giải quyết trong các bài học tiếp theo

Để nâng cao khả năng nhận thức và rèn luyện các kĩ năng bộ môn cho học sinh trong quá trình học tập như khả năng khái quát hóa, so sánh, phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử và rút ra bản chất, quy luật của chúng, giáo viên cũng

có thể sử dụng bảng biểu Ví dụ, sau khi học xong chương II: XÃ HỘI CỔ ĐẠI, giáo

viên yêu cầu học sinh “Lập bảng so sánh sự khác biệt giữa các quốc gia cổ đại phương Đông với các quốc gia cổ đại phương Tây theo các tiêu chí sau Trên cơ sở đó, em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa các tiêu chí đó ở phương Đông và phương Tây thời kì

cổ đại Yếu tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng, tác động như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế, đến cơ cấu xã hội và thể chế chính trị ?”:

Tiêu chí so sánh Các quốc gia cổ đại phương Đông Các quốc gia cổ đại phương Tây ĐKTN

Trang 19

tự nhiên

Cũng với yêu cầu so sánh, sau khi học xong 02 tiết của bài 10: SỰ HÌNH THÀNH VÀ

PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở TÂY ÂU, giáo viên yêu cầu học sinh

so sánh sự khác biệt giữa lãnh địa với thành thị theo yêu cầu sau đây:

* Trên cơ sở của bài học, giáo viên có thể đưa ra dạng bài tập tổng hợp với yêu cầu sau

đây: Vận dụng kiến thức đã học trong bài 29: CÁCH MẠNG HÀ LAN VÀ CÁCH

MẠNG TƯ SẢN ANH, các em hãy hoàn thành bảng so sánh sau đây:

Trang 20

Lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế, tạo điều kiện cho kinh tế TBCN phát triển

Động lực cách

mạng

Quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân

Giai cấp lãnh đạo Qu ý tộc tư sản hóa Tư sản, quý tộc mới

Hình thức Chiến tranh giành độc lập Nội chiến

Kết quả Giành được độc lập, thành lập

chế độ cộng hòa

Thành lập chế độ Quân chủ lập hiến

Như vậy, với bài tập trên, học sinh rút ra dược những điểm giống và khác nhau giữa hai cuộc cách mạng được tiến hành ở hai nước khác nhau Đồng thời, giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành khái niệm “ cách mạng tư sản”

Thông qua việc sử dụng bài tập nhận thức lịch sử dưới dạng sơ đồ, bảng biểu trong giờ học trên lớp cũng như ở nhà, vấn đề đặt ra là khả năng hoạt động độc lập của học sinh được thể hiện ở mức độ nào là hợp lí ? cần phải sử dụng sơ đồ hoặc bảng biểu lúc nào là

Trang 21

21

hợp lí ? thời gian dành cho việc giải quyết là bao nhiêu ? hình thức câu hỏi và trả lời như thế nào? Giáo viên hướng dẫn, gợi ý ở chừng mực nào?

Để giải đáp vấn đề nêu trên, cần phải dựa vào các yếu tố sau đây :

- Số lượng và độ khó của sơ đồ, bảng biểu đưa ra mà học sinh cần phải nhận thức

- Mức độ lĩnh hội kiến thức đã học và mối quan hệ của các kiến thức này với sơ đồ hoặc bảng biểu cần hoàn thiện

- Đối tượng học sinh tham gia

Vì vậy, cần phải có nhiều phương án khác nhau khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy và học, đặc biệt là tùy vào từng đối tượng học sinh, người giáo viên cần phải linh động, sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất

Ngoài ra , đối với sơ đồ, bảng biểu thuộc dạng tổng hợp, giáo viên nên cho học sinh về làm ở nhà, vì trên lớp không có đủ thời gian và đây cũng là một trong những yếu tố có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho trò tự học, tự phát triển và trưởng thành Với bài tập dạng sơ đồ hoặc bảng biểu tổng hợp sẽ giúp học sinh nắm vững và củng cố vững chắc hệ thống kiến thức đã học

Khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú ý đưa ra nhiều loại bài tập đảm bảo tính phong phú, đa dạng nhằm rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn cho học sinh Tuy nhiên, tùy theo nội dung học tập, trình độ học sinh mỗi lớp, điều kiện cụ thể của từng trường mà giáo viên đưa ra số lượng và mức độ yêu cầu cho phù hợp Việc hướng dẫn học sinh phương thức giải quyết là cần thiết đối với học sinh Để đạt dược hiệu quả , giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức của học sinh, đặc biệt là việc tự học ở nhà thông qua vở tự soạn của các em, nhận xét, đánh giá cho điểm nhằm động viên khuyến khích kịp thời Đồng thời giáo viên phải sửa chữa, uốn nắn

về cách lập luận và trình bày của học sinh

Tóm lại, với việc sử dung sơ đồ, bảng biểu đã trình bày trên đây được xem là một dạng

bài tập nhận thức lịch sử đối với học sinh, đồng thời cũng là phương tiện, là đồ dùng dạy học tự làm của giáo viên trong quá trình dạy học Nếu sử dụng thường xuyên trong quá trình giảng dạy sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, đồng thời bồi dưỡng giáo viên về nghiệp vụ sư phạm Đây là một mặt của việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay

7.1.3.Vận dụng :

Ngày soạn:

Trang 22

- Học sinh giải thích được những nguyên nhân và điều kiện dẫn tới các cuộc phát kiến địa

lí cuối thế kỉ XV-đầu thế kỉ XVI

- Trình bày được những cuộc phát kiến địa lí lớn của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

- Đánh giá được hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí đối với nhân loại

2 Về kĩ năng

- Kĩ năng phân tích, đánh giá sự kiện

- Kĩ năng sử dụng lược đồ, khai thác tranh ảnh

3 Về thái độ:

- Có thái độ trân trọng dự dũng cảm của các nhà hàng hải và đấu tranh chống chế độ áp bức, bóc lột

4 Về định hướng phát triển năng lực:

- Năng lực phân tích, đánh giá, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề

- Năng lực trình bày một nội dung lịch sử, năng lực tái hiện lịch sử…

II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:

Ngày đăng: 07/05/2021, 19:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w