Tuy vậy, chính sự tăng trưởngkinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hìnhthành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC
BÁO CÁO TIỂU LUẬN Phần 1: MỞ ĐẦU
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
ĐÀ NẴNG - 2019
Trang 2Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xãhội, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức Tuy vậy, chính sự tăng trưởngkinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hìnhthành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ
sở vật chất và hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá.Người dân tại các cộng đồng này có nhiều cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng vàđược bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững
Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm xuất hiện nhữngcộng đồng dân cư nghèo, các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tựnhiên không thuận lợi cùng một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển.Cộng đồng nghèo thường gắn liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếuhoặc yếu kém; kinh tế không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đápứng đầy đủ; thiếu cơ hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ,
ỷ lại vào Nhà nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định Chính nhữngvấn đề trên đưa đến một môn học rất liên quan và tham gia giải quyết những hạn chế đó
Đó là môn phát triển cộng đồng
Môn học giới thiệu Phát triển cộng đồng như một phương pháp can thiệp của côngtác xã hội bên cạnh phương pháp công tác xã hội cá nhân và nhóm trong thực hành côngtác xã hội chuyên nghiệp Phương pháp phát triển cộng đồng nhằm vận động, tổ chức vànâng cao năng lực cho người dân trong các khu vực dân cư
Qua đó, người dân có thể tham gia và tự quyết định mọi việc liên quan đến cảithiện và nâng cao đời sống của họ Môn học sẽ giúp sinh viên liên hệ với thực tế qua cáchoạt động tại các địa phương, và các dự án phát triển cộng đồng đang được thực hiện nhiềunơi đặc biệt tại các khu vực dân cư nghèo, ở cả nông thôn và thành thị Phát triển cộngđồng tại Việt Nam rất gần gũi với các chủ trương chính sách của nhà nước như chươngtrình Xoá đói giảm nghèo, Quy chế Dân chủ cơ sở, Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá ở khu dân cư, hoặc những nỗ lực cải thiện đời sống của người dân xuất phát từdưới lên, với sự hỗ trợ của chính quyền
Chính vì vậy, việc đưa học phần tổ chức và phát triễn cộng đồng vào trong việcgiảng dạy là một điều hết sức quan trọng Học phần này cung cấp các kiến thức, kĩ năng
Trang 3cũng như các phương pháp thiết yếu trong quá trình phát triển, nhằm giúp đỡ cộng đồng
về các vấn đề gặp phải, giúp cho cộng đồng đi lên, phát triển thành một cộng đồng vănminh và tiến bộ
Cảm ơn thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy để chúng em có thể hiểu và ngấm lý thuyết
để đưa vào thực hành, và tạo điều kiện thuận lợi để cho chúng em hoàn thành thuận lợimôn học tại cộng đồng
I Khái niệm phát triển cộng đồng
Khái niệm phát triển cộng đồng được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940:
“ Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng.”
Theo Murray G Ross, 1955:
“Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự
tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng
để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng”
Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956:
“Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá của các cộng đồng
và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” Định nghĩa này nhấn mạnh hai yếu tố: - Sự tham gia của người dân với sự tự lực tối đa, và -
Sự hỗ trợ về kỹ thuật và dịch vụ của nhà nước để khuyến khích sáng kiến, sự tự giúp, những cố gắng của người dân”
Theo Th.S Nguyễn Thị Oanh, 1995:
“Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện
Trang 4tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức, và tiến tới tự lực, phát triển”
Tóm lại, Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựngtrên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như:Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước
và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo,các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một số vấn đề khókhăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sốngvật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sựtham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổchức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng
II Khái niệm tác viên cộng đồng
Tác viên cộng đồng là người có bằng cấp và chuyên môn thông qua các khóa đào tạo vàthực hành chuyên nghiệp Tác viên cộng đồng có kiến thức, kỹ năng và hệ giá trị nền tảng
để có đủ năng lực làm việc với các cơ quan, tổ chức xã hội của chính phủ và phi chính phủnhằm duy trì và nâng cao chức năng xã hội của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và của cộngđồng Đẩy mạnh công bằng xã hội và tối ưu hóa các nguồn lực con người là triết lý nềntảng trong công việc của tác viên cộng đồng
Tác viên cộng đồng hay tác viên đóng vai trò là người tổ chức, lập kế hoạch, ngườixúc tác cho quá trình hợp tác, người bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kỹ năng của người dân
về điều kiện sống và quyền an sinh và phát triển, đồng thời cũng là cầu nối giữa nhómngười nghèo, thiệt thòi với những nguồn lực sẵn có
III Phương pháp PRA
1 Định nghĩa phương pháp PRA
- PRA ( Participatory Rural Appraisal) là quá trình liên tục, là phương pháp khuyến khích,lôi cuốn người dân nông thôn cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của
họ về đời sống và điều kiện thực tế để họ lập kế hoạch hành động và thực hiện
Trang 5- PRA là một cách làm việc mới, khắc phục được cách làm việc cũ đồng thời cách làm nàykhông những được dùng trong quá trình thu thập, xử lý thông tin mà được thực hiện xuyênsuốt dự án hay chương trình
2 Vai trò của phương pháp PRA
- Là công cụ quản lý thì PRA nhằm phát huy khả năng cho người dân nâng cao hiệu suất
và hiệu quả Qua tiến trình tương tác người dân được nâng cao kiến thức và hiểu biết vềnhững vấn đề liên quan và ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ Nhờ đó họ được nângcao sự kiểm soát trên tiến trình phát triển của dự án
- Là tiến trình trong một hệ thống thì PRA cho phép những người thụ hưởng liên tục đánhgiá tiến độ của chính họ và tự lượng giá định kỳ để học tập những thất bại trong quá khứ
(PRA được ứng dụng trong quy trình Hành động-Suy ngẫm-Hành động mới) 3 Ưu và nhược điểm của PRA:
3.1.Ưu điểm:
- Chi phí tối thiểu, sự tham gia tối đa
- Thông tin trực quan và kịp thời
- Tạo cơ hội hợp tác giữa người dân và chính quyền
- Phát huy năng lực đa dạng của người dân
- Công khai, dân chủ
3.2 Nhược điểm:
- Khó lập nhóm liên ngành
- Thời gian ngắn nên khó tìm hiểu sâu
- Thông tin định tính dẫn tới khó thống kê cơ học
- Khó khăn trong đặt câu hỏi
- Đòi hỏi kỹ năng điều phối của tác viên cộng đồng
- Đánh giá vấn đề theo quan điểm cá nhân
- Khó tìm được đúng đối tượng để hỏi
4 Nguyên tắc sử dụng PRA:
- Học hỏi trực tiếp từ người dân địa phương về mọi mặt
Trang 6- Linh hoạt trong việc đặt câu hỏi tới nhóm liên ngành
Hòa Nhơn là một xã nằm ở phía Tây ( là xã vừa đồng bằng vừa trung du có địa hình
bán sơn địa), thuộc huyện Hòa Vang, nằm ở ven thành phố Đà Nẵng hay cùng gọi làvùng ngoại ô, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 10km
Bản đồ xã Hòa Nhơn
Hòa Nhơn là một xã luôn gắn với quá trình hình thành và phát triển của mảnh đấtHòa Vang và cả thành phố Đà Nẵng Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ địabàn xã Hòa Nhơn đã chia cắt và đặt nhiều tên xã trong nhiều thời kỳ, gồm có xã ThạchThất, xã Diêu Đài, xã Phú Thọ; Xã Hòa Ninh, xã Hòa Nam, xã Hòa Phú, xã Hòa Thịnh
và sau ngày đất nước được hòa bình độc lập mới hợp nhất đặt tên là xã Hòa Nhơn
Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là huyện Đảng bộ Hòa Vang đã phát huy tinhthần yêu nước, truyền thống bất khất của quân và dân Hòa Nhơn nói riêng đã ra sức độngviên sức người, sức của để xây dựng và phát triển lực lượng Đảng bộ và nhân dân xãHòa Nhơn đã vận dụng sáng tạo các phương thức hoạt động và chịu đựng gian khổ ác
Trang 7liệt, hy sinh, mưu trí, linh hoạt, sáng tạo, dũng cảm trong chiến đấu, làm tốt vai trò nòngcốt cho phong trào toàn dân đánh giác; suốt chặng đường 30 năm quân và dân Hòa Nhơncùng quân dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, góp phầnthắng lợi giải phóng dân tộc Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, tập thể và cá nhân của cán bộ và nhân dân xã Hòa Nhơn đã được Đảng và Nhà nướctặng thưởng như sau: Phong tặng 26 Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng; 158 Liệt sĩ, thương,bệnh binh 45 người, người có công cách mạng 20, tù đày 22 người, con Liệt sĩ 62 người,
45 Danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ các cấp, tặng thưởng 5 Huân chương độc lập, 95 Huânchương chiến công, 15 cờ thi đua quyết thắng, 20 chiến sĩ thi đua, 246 Huân chương, 56Huy chương và tặng hàng trăm Bằng khen thành tích có công cách mạng các cấp Năm
2015 xã Hòa Nhơn được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân
Sau ngày giải phóng năm 1975 xã Hòa Nhơn tập trung khôi phục lại hậu quả chiếntranh, phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, từ năm 1986 đếnnay sau chặng đường 30 năm đổi mới, Đảng bộ và chính quyền xã Hòa Nhơn tập trunglãnh đạo, chỉ đạo công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội,
ổn định và đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn
Giai đoạn 5 năm (2011-2015) xã Hòa Nhơn lãnh đạo, triển khai thực hiện Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, vận động nhân dân chung tay, góp sứcxây dựng nông thôn mới thực hiện hoàn thành 19/19 tiêu chí, đến nay xã luôn quan tâmchăm lo xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, nhất là điện, đường, trường, trạm đượcxây dựng mới khang trang, nâng mức sống cho các gia đình chính sách, xã hội ổn định,giải quyết không còn hộ đói, không còn hộ ở nhà tạm, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn2,5%, 100% hộ có điện thắp sáng, 100% đường giao thông được bê tông hóa, đầu tư xâydựng mới trung tâm văn hóa thể phục vụ các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thểthao cho người dân vui chơi giải trí, xã Hòa Nhơn được Ủy ban nhân dân thành phố ĐàNẵng Quyết định công nhận 07 di tích lịch sử – văn hóa Đình làng, để lưu truyền giá trịcủa bản sắc văn hóa dân tộc, hằng năm tổ chức các lễ hội truyền thống được đông đảo cáctầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng; Trên địa bàn bàn xã có tuyến đường 14B ĐàNẵng đi Quảng Nam, tuyến đường cao tốc Bắc – Nam, đây là điều kiện thuận lợi cho sự
Trang 8phát triển tiểu thủ công nghiệp, buôn bán thương mại, dịch vụ, năm 2016 mức thu nhậpbình quân đầu người 30 triệu/người/năm.
Thôn Hòa Khương Đông là một trong những thôn thuộc xã Hòa Nhơn cũng trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhân dân thôn Hòa Khương Đông đoàn kết trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh chống kẻ thù bảo vệ quê hương, gìn giữ các di tích lịch
sử, truyền thống văn hóa của thôn
Mọi chủ trương chính sách của Đảng nhà nước, các chỉ tiêu kinh tế- văn hóa xãhội, an ninh quốc phòng đều do đội sản xuất tổ chức triển khai thực hiện Năm 1993 chủtrương của Đảng nhà nước thành lập tại đơn vị thôn và chế độ trưởng thôn thay cho Banchỉ huy đội trước đó Từ đó thôn Hòa Khương Đông là cũng góp phần xây dựng nên xãHòa Nhơn ngày càng vững mạnh,
1 Khía cạnh về địa lý – môi trường:
Trụ sở cơ quan hành chính xã Hòa Nhơn được xây dựng tháng 8 năm 1975, địa chỉ
thôn Phước Thái, đến năm 1989 cơ quan xã được xây dựng mới tại thôn Phú Hòa 1, hiệnnay Hòa Nhơn là xã nằm về phía bắc Trung tâm hành chính huyện Hòa Vang, là xã vừađồng bằng, vừa trung du có địa hình bán sơn địa Vị trí phía Đông giáp phường Hòa ThọTây, Quận Cẩm Lệ, phía Tây giáp xã Hòa Phú, phía Nam giáp xã Hòa Phong, phía Bắcchạy dọc theo dãy núi Phước Tường giáp với xã Hòa Sơn Xã có 3 Hợp tác xã nôngnghiệp, 01 trường Mầm non, 02 trường tiểu học, 01 trường trung học sơ sở và 01 trạm y
tế xã.
Về tình hình đất đai: Xã Hoà Nhơn có diện tích 32,59 km², Tổng diện tích tự nhiên
3.259ha trong đó: đất nông nghiệp: 2.415,2ha; đất phi nông nghiệp: 715,1ha; đất ở nôngthôn: 249,9ha Xuất phát từ điều kiện địa lý tự nhiên hình thành qua các thời kỳ, xã HòaNhơn thuộc vùng bán sơn địa núi rừng chiếm 2/3 diện tích, đất đai phần lớn là ruộng bậcthang và chua phèn nên việc sản xuất lương thực và cây công nghiệp năng suất có hạnchế so với các xã trên địa bàn
Hòa Nhơn là một xã luôn gắn với quá trình hình thành và phát triển của mảnh đấtHòa Vang và cả thành phố Đà Nẵng Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ địabàn xã Hòa Nhơn đã chia cắt và đặt nhiều tên xã trong nhiều thời kỳ, gồm có xã Thạch
Trang 9Thất, xã Diêu Đài, xã Phú Thọ; Xã Hòa Ninh, xã Hòa Nam, xã Hòa Phú, xã Hòa Thịnh
và sau ngày đất nước được hòa bình độc lập mới hợp nhất đặt tên là xã Hòa Nhơn
Thôn Hòa Khương Đông nằm về hướng Đông của xã Hòa Nhơn,Diện tích đất tự nhiên là 1.510.679,0m2 , được phân chia thành 4 tổ đoàn kết tự quản Diện tích trồng trọt
có 22ha, trong đó diện tích đất hoa màu là 3ha Người dân nơi đây chủ yếu làm nghề trồng trọt Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, lao động chủ yếu làm việc trong các ngành nông, lâm, thủy sản, một bộ phận làm việc trong các các khu công nghiệp trên địa bàn
Vị trí địa lí của thôn Hòa Khương Đông có thể bao quát như sau:
Phía Bắc: giáp thôn Phước Thuận - Phước Hậu
Phía Nam: giáp thôn Thạch Nham Tây
Phía Đông: giáp thôn Phước Thuận - Phước Hậu
Phía Tây: giáp thôn Hòa Khương Tây
Thôn Ninh An nằm ở phía Đông của Ủy ban Nhân dân xã Hòa Nhơn Có một trường gồm: trường mẫu giáo Hòa Nhơn thôn Hòa Khương Đông
Sơ đồ thôn Hòa Khương Đông, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang
2 Khía cạnh về dân cư:
Thôn Hòa Khương Đông là một trong những thôn có số dân đông trong xã HòaNhơn, tính đến đầu năm 2019 tổng số hộ dân tại thôn là 212 hộ hộ với tổng số dân là 961
Trang 10người Trong đó nam 484 người chiếm 50,4%; nữ 477 người chiếm 50,6% tổng số dâncủa toàn thôn, với quy mô dân số trung bình là 3,4 người/hộ Cơ cấu dân số theo độ tuổibao gồm các lứa tuổi trẻ em, thanh niên, độ tuổi lao động và người già Trẻ em chiếm10% tổng dân số, thanh niên chiếm 25,5% tổng dân số, độ tuổi lao động chiếm 45% tổngdân số (đây là một nguồn lao động trẻ, dồi dào của thôn nói riêng và của xã Hòa Nhơnnói chung), và người già 14,5% tổng dân số
3 Khía cạnh kinh tế:
Cơ cấu kinh tế ngành nghề của thôn chủ yếu là nông nghiệp chiếm 80% và côngnghiệp chiếm 20% Nhìn chung mức sống ở thôn ở mức trung bình khá, người dân có thunhập khá ổn định, mức thu nhập bình quân khoảng 2.000.000 nghìn/ người/tháng
Về Nông nghiệp :
Huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng với diện tích tự nhiên là 2019 ha, trong đóđất lâm nghiệp chiếm 70%, đất thổ cư chiếm 18%, đất nông nghiệp 12% xen lẫn ở cácchân đồi và khu dân cư, ruộng bậc thang, đất canh tác mỏng dẫn đến năng suốt thấp,thường hay bị bệnh, nhất là dóm nâu, khô vằng, đậu ôn phân bố không đều quá trình tổchức sản xuất gặp nhiều khó khăn Những năm hạn hán lớn đời sống nhân dân gặp nhiềukhó khăn Trình độ sản xuất chưa được phát triển, nhìn chung sản xuất nông nghiệpchậm, năng suất các loại cây trồng thấp, chủ yếu sử dụng cây trồng địa phương hiện có.Trước thực trạng đó tháng 10 năm 1979 cùng với phong trào Hợp Tác Xã trong cả nước,huyện Hòa Vang được thành lập 3 HTX trong đó có HTX số 3 Hòa Nhơn thành lập quy
mô HTX toàn dân Toàn bộ đất đai, tư liệu sản xuất trâu, bò được hóa giá vào HTX trên95% nhân dân tham gia làm ăn tập thể Theo đại hội Hoạt động sản xuất kinh doanh2011-2015 tiếp tục duy trì HTX để giúp cho hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp, hỗtrợ tập huấn chuyển giao các loại cây trồng như cây lúa hằng năm năng xuất đều tăng từ
50 tạ/ha đến 55 tạ/ha diện tích cây lúa cả năm là 246 ha, cây màu 95 ha và mở rộng vườnrau sạch cho 2 thôn Ninh An và Phước Hưng Nam có thu nhập đem lại cuộc sống chongười dân ngày càng được ổn định HTX tổ chức các dịch vụ như dịch vụ cày lồng đất,máy gặt, dịch vụ vôi thuốc bảo vệ thực vật, dịch vụ thủy lợi, thủy nông nội đồng, dịch vụgiống và một số dịch vụ khác để đem lại hiệu quả, cũng là việc giúp đỡ hộ nông dântrong sản xuất nông nghiệp
Về chăn nuôi:
Trang 11Những năm trước đây, do tình hình dịch bệnh xảy ra liên tục, việc chăn nuôi ởtừng hộ dân giảm dần Người dân ở đây chăn nuôi chủ yếu là lợn, gà, vịt, trâu, bò Cảthôn chỉ có:
Về lĩnh vực thương mại dịch vụ:
Từ khi tuyến đường liên xã được nâng cấp xây dựng thành tuyến đường kiểu mẫu,hoạt động, thương mại dịch vụ tăng đáng kể Các quán xá mọc lên, sự lưu thông, trao đổihàng hóa giữa chợ Hòa Nhơn và chợ Túy Loan được dễ dàng, thuận lợi, góp phần cho bộmặt nông thôn ngày càng khởi sắc
Cả thôn hiện có 6 quán tạp hóa, 3 quán nước, 1 xí nghiệp tăm tre, 1 công tyTNHHMTV Mười Tài, 1 doanh nghiệp nấm, 1 nhà máy gạo
Về công tác xóa đổi giảm nghèo
Thực hiện thông tư số 17/2016/TT-BLDTBXH ngày 28 tháng 6 năm 2016 của BộLao Động Thương Binh và xã hội về việc hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo và cậnnghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
Theo kết quả rà soát trong thôn hiện có:
Trang 12+ 100% hộ có điện thắp sáng.
+ 95% hộ có nước sạch
+ 99% hộ có nhà tắm, nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn
+ 95% hộ có phương tiện nghe nhìn
Nhìn chung đời sống tình thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt so với năm 2017
4 Khía cạnh xã hội: (Văn hóa – giáo dục – y tế).
4.1 Khía cạnh giáo dục:
Tại địa bàn thôn chỉ có một trường mầm non
Trường mần non thì có chế bộ bán trú cho các trẻ nhỏ Trường được xây dựng dựatrên chính sách của xã và thôn Trường được cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất từ lớp họcđến cảnh quan xung quanh đều rất tốt tạo được môi trường học tập cho các em học sinh.Trong thôn không có trường tiểu học, trung học cơ sở và trường trung học phổthông, nên việc học khi ở cấp cao hơn thì các em di chuyển ra khu đường chính và xa vớigia đình của mình hơn
4.2 Khía cạnh về văn hóa:
Hòa Khương Đông là một trong những thôn thường xuyên tham phong trào vănhóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên tại địa phương, thu hút đôngđảo các tầng lớp nhân dân tham gia
Với sự hợp tác của các chi hội đoàn thể, ban ngành, ban nhân dân thôn đã thựchiện thành công các đợt trại, cũng như tổ chức nhiều đêm văn nghệ thu hút lượngngười xem, ủng hộ và cổ vũ phong trào Bên cạnh đó hằng năm vào tháng 2 và tháng
12, thôn có tổ chức sinh hoạt chung tại đình làng Các ngày hội, kì nghĩ lễ như quốckhánh, 30/4, 1/5, 8/3, 20/10, nhân dân thôn tập trung tại nhà văn hóa tổ chức hoạtđộng vui chơi, kết hợp trò chơi hay giao lưu văn nghệ.Thực hiện chỉ thị 27 của ban tổchức thành ủy Đà Nẵng, trong việc cưới, việc tang, Ban nhân dân thôn đã dần dầnhoàn thiện được ban trợ tang cũng như ban lễ của thôn chuyên lo cho việc cúng tế vàgiúp đỡ nhân dân trong việc tang gia,được toàn thể nhân dân đồng tình và bà con khắpnơi khen ngợi Phong trào thể dục thể thao luôn quan tâm và đầu tư chiều sâu, khơi
Trang 13dậy truyền thống thể dục thể thao của thôn, đặc biệt có từ năm 1975, giúp con cháurèn luyện thân thể tránh xa các tệ nạn xã hội Ba mươi năm qua, Ban nhân dân thôncùng các hội đoàn thể đã thành lập nhiều đội bóng với nhiều lứa tuổi từ U15 đến U23,
đã có một đội ngủ kề cận và kế thừa, Ban nhân dân thôn đã đầu tư, vận động mọi tầnglớp ra sân tập luyện Bên cạnh đời sống văn hóa, việc chăm lo vật chất cho nhân dânthường xuyên được quan tâm, giải quyết kịp thời mọi quyền lợi cho các hộ chínhsách, hộ nghèo, đảm bảo rất công bằng, đầy đủ và đúng đối tượng Nhiệm kỳ qua, với
sự năng động nhiệt tình, BND thôn đã tranh thủ, nhạy bén trong công tác quan hệ, sự
hỗ trợ của cấp trên để hỗ trợ cho nhân dân gạo và suất quà trong các đợt bão lụt và lễtết Công tác y tế, dân số chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được triển khai đồng bộ,phát hiện và kịp thời dập tắt tất cả các ổ dịch không để tràn lan trên đại bànthôn.Thường xuyên tuyên truyền vận động trong các đợt truyền thông dân số
5 Khía cạnh tổ chức, thể chức và các mối quan hệ:
Về bộ máy tổ chức
1 Nguyễn Thị Kim Mai: Trưởng thôn
2 Lê Lại: Phó Thôn Kinh Tế
3 Nguyễn Long: Phó Thôn Văn Hóa – Xã hội
4 Phạm Thị Bích Vân: Chi hội trưởng chi hội phụ nữ thôn
5 Nguyễn Đức Tây: Bí thư đoàn thanh niên
6 Phùng Đào: Trưởng ban công tác mặt trận
7 Nguyễn Đức Gặp: Hội người cao tuổi
8 Trương Quốc: Hội nông dân
9 Nguyễn Huy: Hội Cựu chiến binh
10 Trần Văn Thu : Bí thư chi bộ thôn
Trong thôn có 5 tổ chức đoàn thể: Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi, Hội Cựuchiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên
Trang 142 Kết quả khảo sát ( trình bày thông qua các công cụ của PRA)
Rác thải
BÍ THƯ CHI BỘ :Trần Văn Thu
Trưởng thôn: Nguyễn Thị
Hội nôn
g dân:
Trương Quốc
Trang 15Cây vấn đề
Cây mục tiêu
Rác thải
Rác thải ứ đọng, bốc mùi hôi thối
Truyền thông, kêu gọi toàn thôn thực hiện “ngày thứ 7 xanh – sạch – đẹp”
Phân bố nơi để rác hợp
lý, xây dựng hố rác
Trang 16Trẻ không có nơi vui chơi, giao lưu.
Trẻ không có các kỹ năng cơ bản để ứng phó với các tình huống trong cuộc
Gia đình chưa quan tâm
đến việc cho trẻ tiếp cận
với kỹ năng sống
Tổ chức giáo dục kỹ năng từ chối, lồng ghép kỹ năng xâm
hại tình dục
Trẻ được vui chơi, giải trí với các chuyên đề đa dạng
Có các kiến thức cơ bản, có thể xử lý đúng trước mọi tình huống
nguy cơ
Trẻ được chia sẻ các vấn
đề gặp phải
Cộng đồng tổ chức các buổi sinh hoạt theo chuyên đề, định kì hàng tháng
Nhà trường lồng ghép, dạy các kỹ năng trong môn học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa
Gia đình quan tâm, chia sẻ
cho trẻ các vấn đề xã hội
mà trẻ thắc mắc và gặp
phải
Trang 17cây vấn đề
Cây mục tiêu:
Sơ đồ VEN
Thanh niên sử dụng mạng xã hội
Sử dụng mạng xã hội hàng giờ đồng
xã hội
Gia đình chưa quan tâm, định hướng cho thanh niên
Sự phát triển của thời
đại 4.0
Thanh niên với văn hóa sử dụng mạng xã hội
Có kỹ năng kiểm soát nhu cầu sử dụng mạng xã hội
Sử dụng đúng mục đích, được gia đình quan tâm
của bản thân
Gia đình quan tâm, định hướng cho thanh niên về tác hại của việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều
Truyền thông, dạy kỹ
năng sử dụng đúng mạng
xã hội trong thời đại 4.0
Trang 18Lược sử cộng đồng:
Kỹ năng thanh niên với văn hóa sử dụng mạng xã hội
Trưởng
thôn
Phụ huynh
Trường
học
Nhóm sinh viên
Công an
Đoàn thanh niên