1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

khái niệm phương pháp dạy học

11 139 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 25,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MỚI NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO NGƯỜI HỌC NGUYỄN VĂN THIÊN Tóm tắt Thực trạng chung của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là bên cạnh những thành tựu

Trang 1

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MỚI NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO NGƯỜI HỌC

NGUYỄN VĂN THIÊN

Tóm tắt

Thực trạng chung của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn khá nhiều điều bất cập, trong đó tồn tại lớn nhất tập trung vào chất lượng đào tạo chưa cao Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giảng viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho người học.

Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

X đã xác định việc đầu tư cho giáo dục cũng có nghĩa là đầu tư cho sự phát triển bền vững, là đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm đưa nước ta thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thức giữ một vị trí rất quan trọng Đây chính là yếu tố then chốt, mang tính quyết định đưa đất nước đi lên như cha ông ta đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì nước mạnh, nguyên khí yếu thì nước suy’’

Thực trạng chung của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn khá nhiều điều bất cập, trong đó tồn tại lớn nhất tập trung vào chất lượng đào tạo chưa cao Nhiều chuyên gia, nhà khoa học, những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã bày tỏ quan điểm của mình về thực trạng này, đồng thời chỉ ra khá nhiều nguyên nhân dẫn tới sự bất cập giữa qui mô đào tạo và chất lượng đào tạo Trong đó các nguyên nhân chính tập trung vào sự yếu kém, bất hợp lý trong phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên giảng dạy, chương trình đào tạo, tài liệu học tập, giáo trình,

Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Một phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giảng viên, và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy Một phương pháp giảng dạy khoa học sẽ làm thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của người học

Bức tranh chung về phương pháp giảng dạy tại các cấp học của chúng ta hiện

Trang 2

nay là tập trung vào kỹ năng tư duy phân tích, nghĩa là dạy cho người học cách hiểu

các khái niệm, thảo luận theo phương pháp định sẵn, loại bỏ những hướng đi không đúng, tìm ra câu trả lời đúng nhất Thậm chí, nhiều nơi phương pháp thuyết trình (thầy giảng, trò ghi) vẫn chiếm ưu thế, nhiều giảng viên chưa chú trọng đến đến việc giới thiệu, yêu cầu, bắt buộc người học phải tham khảo những tài liệu gì Phương pháp giảng dạy này đã làm mất đi một hình thái khác của tư duy đó là tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng, phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra nhiều phương án trả lời đúng thay vì chỉ có một

Hậu quả của phương pháp giảng dạy cũ dẫn đến sự thụ động của người học trong việc tiếp cận tri thức Sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho người học sự trì trệ, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười tư duy và thiếu tính sáng tạo trong tư duy khoa học Người học còn quan niệm rằng chỉ cần học những gì giảng viên giảng trên lớp là đủ Ngoài ra sự thụ động của họ còn thể hiện qua phản ứng của họ đối với bài giảng của giảng viên trên lớp Họ chấp nhận tất cả những gì giảng viên trình bày Sự giao tiếp trao đổi thông tin trong lớp học hầu như chỉ mang tính một chiều

Từ thực tế trên cho thấy để nâng cao chất lượng đào tạo, việc đổi mới phương pháp giảng dạy đối với các cấp đào tạo tại Việt Nam là việc làm cấp thiết và cần tiến hành một cách đồng bộ Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõ những giá trị quan trọng, thực chất trong cuộc sống Điều đó làm tăng khả năng mà thực ra là yêu cầu giảng viên không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết Vì vậy, vai trò mới của người giảng viên trở thành nhân tố kích thích trí tò

mò của học viên, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả năng tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi phải có những tài liệu dạy-học mới Những tài liệu này phải gắn với các phương pháp kiểm tra mới nhằm khuyến khích không chỉ khả năng nhớ mà cả khả năng hiểu, các kỹ năng thực hành và sáng tạo của học viên

Tại Việt Nam hiện nay nhiều cơ sở đào tạo đã và đang chuyển đổi sang một phương thức đào tạo mới, đó là phương thức đào tạo theo tín chỉ Phương thức đào tạo này mang lại nhiều ưu điểm, đó là sự mềm dẻo và linh hoạt trong việc thiết kế chương trình, học viên có thể lựa chọn cho mình chương trình học lý phù hợp với khả năng và điều kiện của mình Bên cạnh đó phương thức đào tạo theo tín chỉ giảm đi sự nhồi nhét kiến thức của người dạy và tạo điều kiện để người học tự học, tự nghiên cứu, do đó phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Những lợi ích của phương thức đào tạo theo tín chỉ mang lại là rất lớn, tuy vậy nó cũng đặt ra khá nhiều thách thức đối với giảng viên và người học Việc áp dụng học chế tín chỉ vào giảng dạy sẽ làm thay đổi cơ bản cách học hiện nay.Ví dụ, người dạy cần tự quản lý về thời gian cũng như làm các công việc một cách độc lập (tiến hành những nghiên cứu trong

Trang 3

ngành đào tạo của mình) Người học cũng cần phải có quan điểm học tập là tập trung vào việc hình thành kiến thức, óc sáng tạo và cách giải quyết vấn đề

Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc theo nhóm của người học Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo của mình Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập

và áp dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ

Ví dụ:

Phương pháp học theo dự án (Project Based Learning)

Đây là mô hình học tập có nhiều khác biệt so với mô hình học tập truyền thống Phương pháp học theo dự án yêu cầu các hoạt động học tập phải được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài và liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật Đây

là mô hình lấy người học làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề thực tiễn của thế giới thực tại Mục tiêu của phương pháp học theo dự án là để học viên học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra Phương pháp này yêu cầu học viên cộng tác với các bạn trong lớp trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những vấn đề và cuối cùng trình bày công việc mình đã làm trước giảng viên và các học viên khác Phương pháp này cũng đòi hỏi các học viên phải đặt câu hỏi, đồng thời tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề Việc áp dụng phương pháp giảng dạy này sẽ làm thay đổi môi trường học của học viên từ chỗ nghe giảng viên nói sang môi trường làm việc, tư duy

Phương pháp học theo dự án mang đến cho học viên rất nhiều lợi ích, nó tạo cho học viên khả năng kết hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực, tạo nên công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề Đối với những vấn đề khó, phức tạp, phương pháp này tạo cho học viên khả năng khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách khoa học Thông qua các hoạt động thực tế trên lớp, phương pháp này tạo cho học viên sự thích thú, hứng thú với việc học

Vai trò của giáo viên trong phương pháp học theo dự án có rất nhiều thay đổi

so với phương pháp truyền thống Giáo viên không đóng vai trò là người điều khiển

tư duy học viên mà là người hướng dẫn, người huấn luyện, người tư vấn và bạn cùng học Giáo viên phải tập trung vào việc hướng dẫn cho học viên, tạo cơ hội để học

Trang 4

viên phát huy hết khả năng học tập và sáng tạo, đẩy mạnh tinh thần đồng đội làm việc theo nhóm của các học viên

Quá trình thực hiện phương pháp học theo dự án:

+ Xác định một vấn đề, dự án phù hợp với học viên

+ Liên kết vấn đề với thế giới, môi trường xung quanh của học viên

+ Xây dựng các chủ đề xung quanh vấn đề, dự án

+ Tạo cho học viên cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học tập để giải quyết vấn đề

+ Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập

+ Yêu cầu tất cả học viên trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình

Phương pháp người học là trung tâm (Learner - Centered)

Đây là phương pháp đặt học viên vào vị trí trung tâm của giáo dục Phương pháp này bắt đầu với việc tìm hiểu các môi trường giáo dục liên quan mà học viên xuất phát Sau đó giáo viên hướng dẫn tiếp tục đánh giá tiến độ học của học viên so với mục tiêu học, bằng cách giúp cho người học có được các kỹ năng cơ bản để học tập Phương pháp này tạo cho học viên nền tảng cho việc học suốt đời, vì vậy học viên phải có trách nhiệm với việc học của bản thân Với phương pháp này giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn học viên trong quá trình học

Phương pháp người học là trung tâm mang đến nhiều lợi ích, trước hết nó loại

bỏ cách dạy và học: " Giáo viên nói, học sinh nghe", khuyến khích sự sáng tạo từ giáo viên và học viên một cách tối đa, đồng thời tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên

và người học thông qua việc tăng cường trao đổi, học hỏi qua lại Phương pháp người học là trung tâm tập trung sự tham gia nhiệt tình, chủ động của người học trong suốt quá trình khám phá tìm tòi, đồng thời tạo điều kiện để người học có cơ hội trình bày, bảo vệ những ý kiến sáng tạo của mình

Các yếu tố liên quan đến phương pháp người học là trung tâm:

+ Bối cảnh học: Việc học chịu sự tác động của các yếu tố môi trường bao gồm văn hoá, kỹ thuật và các phương pháp giảng dạy Giáo viên đóng vai trò tương tác chính giữa học viên và môi trường học Những ảnh hưởng văn hoá có thể tạo ra nhiều

Trang 5

tác động liên quan mang tính giáo dục như động cơ học, định hướng đối với việc học

và cách tư duy Kỹ thuật và phương pháp dạy phải phù hợp với trình độ kiến thức sẵn

có, khả năng nhận biết và các chiến lược tư duy của học viên

+ Các ảnh hưởng đối với việc học: Việc học chịu ảnh hưởng bởi các mối quan

hệ giao tiếp với mọi người xung quanh Việc học có thể nâng cao khi người học có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với người khác Các môi trường học cho phép tạo ra các mối tương tác xã hội, tôn trọng tính đa dạng, khuyến khích lối tư duy linh hoạt Qua việc tiếp xúc và hợp tác với giáo viên hướng dẫn, cá nhân người học sẽ có cơ hội tiếp thu nhận thức và tư duy phản ánh, từ đó phát triển trình độ hiểu biết và hoàn thiện bản thân

+ Mục đích của quá trình học: Bản chất chiến lược của việc học là đòi hỏi học viên phải biết định hướng mục tiêu Để nắm vững các tri thức, kỹ năng và đạt được các chiến lược tư duy cần thiết cho việc học, học viên phải tạo ra các mục tiêu cho bản thân và theo đuổi các mục tiêu đó Khởi đầu, các mục tiêu ngắn và việc học có thể sơ sài trong một phạm vi nào đó nhưng qua thời gian, mức độ hiểu biết của học viên có thể được xác định thông qua trình tự tìm hiểu, trao đổi và tích luỹ các tri thức cần thiết

Phương pháp Kỹ thuật tạo ra ý tưởng (Brainstorming)

Tác giả của phương pháp Brainstorming (tạm dịch là kỹ thuật tạo ra ý tưởng) là Alex Osborn (Hoa Kỳ) Mục đích chính của phương pháp này là giúp người học thoát

ra khỏi tư duy theo lối mòn và tạo ra một loạt các ý tưởng mà sau đó có thể lựa chọn Phương pháp này áp dụng phù hợp với nhóm học viên

Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp kỹ thuật tạo ra ý tưởng:

+ Tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra: Khi các ý tưởng được đưa ra, không được phép chỉ trích, phê bình ngay Tất cả các ý tưởng đều được ghi chép lại và phân tích đánh giá ở các bước sau

+ Tự do suy nghĩ: Không giới hạn việc đưa ra các ý tưởng bay bổng kể cả những ý tưởng khác thường bởi trên thực tế có những ý tưởng kỳ quặc đã trở thành hiện thực

+ Kết nối các ý tưởng: Cải thiện, sửa đổi, góp ý xây dựng cho các ý tưởng Các câu hỏi thường đặt ra: Ý tưởng được đề nghị chất lượng thế nào? Làm thế nào để ý tưởng đó đem lại hiệu quả? Cần thay đổi gì để ý tưởng trở nên tốt hơn?

Trang 6

+ Cần quan tâm đến số lượng các ý tưởng: Tập trung suy nghĩ khai thác tạo ra khối lượng lớn các ý tưởng để sau đó có cơ sở sàng lọc Có hai lý do chính để cần số lượng lớn các ý tưởng Thứ nhất những ý tưởng lúc đầu học viên đưa ra thông thường

là các ý tưởng hiển nhiên, cũ, ít có tính sáng tạo, vì vậy cần có phương pháp để học viên tạo ra nhiều ý tưởng mới Thứ hai các ý tưởng giải pháp càng nhiều, càng có nhiều ý tưởng để lựa chọn

Ngoài các phương pháp đã đề cập trên đây còn khá nhiều các phương pháp khác đã được phát minh, nghiên cứu và áp dụng vào giảng dạy như phương pháp Học thực tiễn của David A Kolb, phương pháp Quản lý ý tưởng (Ideas Management), phương pháp 6 chiếc nón tư duy ( Six Thinking Hats)…

Qua việc phân tích một số phương pháp giảng dạy có thể nhận định các phương pháp này có rất nhiều sự khác biệt so với phương pháp truyền thống Trong

đó sự khác biệt cơ bản nhất là vai trò của người học và người dạy đã thay đổi, sự thay đổi này đã biến quá trình học của học viên từ thụ động sang chủ động, từ việc nghe giảng sang hoạt động tư duy, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm và kích thích khả năng sáng tạo của họ

Trở lại với hoạt động giáo dục đào tạo ở Việt Nam, vấn đề cốt lõi vẫn là cần tìm giải pháp khắc phục những tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo chúng ta cần phải cải tiến đổi mới đồng bộ về nhiều mặt: chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên, Trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ tạo điều kiện tốt cho người học có thể phát huy hết khả năng tư duy của mình, biến quá trình học của người học thành quá trình phát triển tư duy sáng tạo

1 Hai hướng tiếp cận vấn đề phươngpháp trong triết học:

a Tiếpcận của G.Henghen(1770-1831)

Theo G.henghen : “Phương pháplà hình thức vận động của sự vật”

Mỗi sự vật đều có bản chất và được thể hiện qua hình thức nhất định Hình thức không bao giờ tồn tạitách rời nội dung Chúng có phương pháp vận động của riêng mình

Vận dụng cách tiếp cận của G henghen vào dạy học: mỗi nội dung dạy học có một phương pháp đặc thù, mang lại hiệu quả nhất mà không thể thay thế băng phương pháp khác

Trang 7

Hệ quả:

Muốn xác định và sử dụng phương pháp dạy học tối ưu , phải trả lời câu hỏi: “dạy cái gì?” sau đó mới đến“dạy như thế nào?”

Cách dạy phải luôn luôn phù hợp với nội dung dạy học.dự thay đổi nội dung dẫn đến thay đổi phương pháp dạy học , hình thành phương pháp dạy học mới

Sự khác nhau giữa phương thức dạy học này với phương thức dạy học khác ở

cả mục đích , nội dung , phương pháp.b Tiếp cận của C.Mac (1818-1883)

Theo C.MAC : “Phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung sự vật”

Theo ông , thì ta có thể tách một cách tương đối giữa nội dung dạy học và phương pháp dạy học Trình độ và hiệu quả của hoạt đông dạy học được quy định bởi phương pháp và phương tiện

Hệ quả :

Có nhiều phương pháp triển khai một nội dung dạy học , trong đó có mọt phương pháp tốt nhất

Kết luận : Đạt hiệu caotrong dạy học phải trả lời được câu hỏi : “phương pháp nào

là tối ưa, phương tiện nào là tốt nhất để chuyển tải tới nôi dung người học?”

2 Khái niệm phương pháp dạy học:

a Định nghĩa phương phápdạy học:

- Phương pháp là con đường, cách thức tiến hành một việc gì đó

- Phương pháp dạy học là hình thứcvận động của một hoạt động đặc thù là: hoạt động dạy học

à Định nghĩa chung nhất về phương pháp dạy học là những con đường, cách thứctiến hành hoạt động dạy học.

v Các cấp độ của dạy học:Ø Cấp độ rộng nhất:

Dạy học là hoạt động của một hệ thống nhiều tầng bậc, từ quy mô quốc gia đến

một cấp học, bậc học, ngành học…Ø Cấp độ thứ hai:

Dạy học được hiểu là một hoạt động cụ thể, diễn ra theo một quá trình, trong một không gian thời gian nhất định và được cấu trúc bởi các yếu tố: mục đích, nội

dung dạy học, các hoạt động dạy – học và kết quả dạy học.Ø Cấp độ thứ ba:

Dạy học được hiểu là hoạt động của người dạy và người học trong sự tương tác lẫn nhau, nhằm thực hiện nộidung dạy và hoc đã được xác định

=> Phương pháp dạy học cũng được hiểu tương ứngvới ba cấp độ của dạy học:

Ø Cấpđộ rộng nhất:

PPDH là cách thức triển khai của một hệ thống dạy học đa tầng, đa diện:cho

một bậc học, cấp học, ngành học, phương thức học…Ø Cấpđộ thứ hai:

Trang 8

PPDH được hiểu là phương pháp triển khai một quá trình dạy học cụ thể Tức

là cách thức hình thành mục đích dạy học, cách thức soạn thảo và triển khai nội dung dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học nhằm hiện thức hóa mục đích, nội dung dạy học vàcách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình dạy

học.Ø Cấpđộ thứ ba:

PPDH là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực

hiện một nội dung dạy học đã được xác định.v

Lưu ý: Ở cấp độ đầu, PPDH mang đậm tính chiến lược, có nhiều yếu tố lý

luận,phương pháp luận Dần về các cấp độ sau, PPDH mang tính chiến lược, kỹ

thuật.b Phân biệt phương pháp dạy học vớikinh nghiệm dạy học:

v Vấn đề:

- Kinh nghiệm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả dạy và học

- Nhiều người đồng nhất kinh nghiệm dạy học với phương pháp dạy học

è Đây là quan niệm sai lầm, thực chất,kinh nghiệm và phương pháp dạy học là hoàn toàn khác nhau

Bởi kinh nghiệm được hình thành qua trải nghiệm của chính cá nhân đó Khi tiến hành hoạt động dạy và học, kinhnghiệm mà người dạy và người học hình thành được là những tri thức về hoạt độngnày Tuy những kinh nghiệm này rất sâu sắc và mang lại hiệu quả cao đối với tình huống dạy và học cụ thể của từng cá nhân nhưng chúng chỉ là những trải nghiệm cá nhân, những trải nghiệm này chưa được thực nghiệm và khái quát khoa học để trở thành lý luận phổ biến Chính vì lẽ đó mà kinh nghiệm dạy và học,chỉ có thể trao đổi, trao tay giữa người này với người khác gắn liền với nhữngtình huống dạy học cụ thể

Ngược lại, phương pháp dạy học với tư cách là một phạm trù lý luận, là những tri thức về cách thức dạy học đã được thực nghiệm và khái quát khoa học, trở thành những nguyên lý phổ biến và có thể chuyển giao theo một quy trình độc lập, cho

nhiều người.3 Cấu trúc phương pháp dạyhọc:

Mỗi phương pháp dạy học cụ thể là mộtcơ cấu nhiều tầng bao gồm bốn yếu tố có

quan hệ nhân quả với nhau:a Hướng tiếp cận đối tượng dạy học:

Quan điểm hay hướng tiếp cận đối tượng dạy học là tầng phương pháp luận của phương pháp dạy học

Trước khi triển khai một hoạt độngdạy học nào đó, cả người dạy và người học đều phải xác định hướng tiếp cận đến đối tượng của mình Điều quan trọng là phải xác định được mục đích của hoạt động dạy học Và quan điểm hay hướng tiếp cận đối tượng sẽ quyết định việc lựa chọn phương pháp dạy học cụ thể và các phương tiện dạy học phù hợp

Ví dụ như xác định mục tiêu của dạyhọc là hướng đến hình thành hành vi của người học thì dạy học phải tuân theocác nguyên tắc huấn luyện và kiểm soát hành vi của họ Nếu mục tiêu hướng tớiviệc cung cấp tri thức cho người học thì phải tuân

Trang 9

theo các nguyên tắc của dạyhọc thông báo, liên tưởng Ngược lại mục tiêu hướng đến việc phát triển nhâncách của người học, thì phải tuân theo các nguyên tắc có tính nhân văn, tôntrọng, thỏa mãn và thúc đẩy nhu cầu phát triển của họ

b Nộidung của phương pháp:

Nội dung lí luận của phương pháp dạyhọc là yếu tố tạo ra sự khác biệt về bản chất và mức độ khoa học giữa phươngpháp dạy học với kinh nghiệm cá nhân trong dạy học

Nội dung lí luận của phương pháp dạyhọc bao gồm sự mô tả toàn bộ nội dung của phương pháp dạy học, từ cơ sở lí luậncủa phương pháp đến hệ thống các biện pháp tiến hành; từ mục đích, chức năng,tính chất, nguyên tắc, cách thức triển khai các biện pháp đến những gợi ý cótính linh hoạt khi sử dụng các biện pháp dạy học, trong những tình huống phổbiến Nội dung lí luận của phương pháp cũng đề cập đến những

ưu thế và hạn chếcủa phương pháp, phạm vi sử dụng có hiệu quả của nó; những yêu cầu về phíangười dạy và người học khi tiến hành phương pháp này; sứ mạng hiện tại

và nhữngtriển vọng của phương pháp trong tương lai.v.v… Đối với người dạy và người học,việc hiểu sâu sắc và thấu đáo nội dung lí luận của phương pháp sẽ giúp họ

có cơsở vững chắc để triển khai các biện pháp dạy và học trong thực tiễn.c

Hệthống biện pháp kĩ thuật dạy học của phương pháp:

Nội dung lí luận của phương pháp chỉlà hình thái lí luận của phương pháp, chưa phải là phương pháp dạy học trongthực tiễn Điều quyết định sự tồn tại trong hiện thực và hiệu quả của phươngpháp dạy học là hệ thống biện pháp dạy học

Biện pháp dạy học là một hệ thống cáccách thức tác động cụ thể của người dạy và người học vào đối tượng dạy học, quađó thực hiện được nhiệm vụ dạy học Xung quanh vấn đề biện pháp dạy học có vàiđiểm cần chú ý:

Thứ nhất:

Biện pháp dạy học là những cách thức tác độngthực tiễn của người dạy và người học lên đối tượng dạy và học Vì vậy biện pháplà sự hiện thực hóa sức mạnh của phương pháp, là cơ cấu kĩ thuật của phươngpháp để thực hiện mục đích dạy học Nếu không có biện pháp thì phương pháp trởnên trống rỗng, không có nội dung Nếu biện pháp tốt, hiệu quả của phương phápsẽ cao và ngược lại Tính chất và cường độ của các biện pháp dạy học thể hiệntính tích cực của quá trình dạy học

Thứ hai:

Có hệ thống biện pháp của người dạy và biệnpháp của người học Đối tượng tác động, tính chất và cường độ các biện pháp củangười dạy và người học bị qui định bởi mục đích dạy học, nội dung dạy học, vịthế người người dạy và người học trong mối quan hệ giữa người dạy và người học.Chẳng hạn, nếu mục đích hướng đến nội dung

Trang 10

tri thức khoa học thì các biện phápcủa người dạy chủ yếu tác động vào nội dung tri thức và cách truyền thụ chúng;nếu mục đích là hình thành các kĩ năng hành động cho người học, thì biện phápdạy học phải là giới thiệu và hướng dẫn người học thực hành các kĩ năng đó

vThứ ba:

Công cụ dạy học quy địnhtrình độ dạy học Nói cách khác, cơ chế triển khai và trình độ các biện phápquy định trình độ phương pháp dạy học và hiệu quả dạy học Đến lượt nó, cơ chếvà trình độ các biện pháp bị quy định bởi công cụ dạy học Các công cụ dạy họcrất đa dạng, bao gồm:

+ Các công cụ tâm lí: Làcác tri thức, các khái niệm khoa học, các công cụ nhận thức như trí nhớ, tưduy, ngôn ngữ.v.v… Trong đó các khái niệm khoa học là công cụ quan trọng nhất.Khái niệm khoa học trong môn học là thước đo trình độ dạy học

 + Các công cụ kĩ thuật:Các công cụ kĩ thuật có một phổ rất rộng, bao gồm các biểu đồ, các bảng tưliệu, tranh ảnh, bản đồ, mô hình, máy tính, máy dạy học và các phương tiện kĩthuật khác

Thứ tư:

Các biện pháp dạy ( vàhọc ) tồn tại vừa theo cấu trúc không gian vừa theo quy trình tuyến tính Nóicách khác, hệ thống biện pháp dạy là cấu trúc đa diện, đa tầng trong đó cáctiểu hệ thống biện pháp đảm nhận chưc năng riêng và kết hợp với nhau thành một hệ thống hữucơ Trong mỗi tiểu hệ thống, các biện pháp cụ thể kết hợp với nhau theo logictuyến tính, tạo thành quy trình chặt chẽ ( các bước tìm hiểu học viên, các bướcthiết kế bài học v.v…) Vì vậy trong thực iễn dạy học, một mặt phải xác địnhđược đầy đủ các bình diện thao tác, đồng thời phải thiết lập được quy trình

cácthao tác trong từng bình diện đó.d Cácthủ pháp nghệ thuật dạy học:

Hệ thống biện pháp dạy học là cơ cấukĩ thuật của phương pháp dạy học Đó là điều kiện cần để tiến hành hoạt độngdạy học có kết quả Tuy nhiên, biện pháp kĩ thuật sớm hay muộn cũng dẫn đến máymóc Vì vậy có thể chuyển chúng vào trong các phương thức dạy học bằng máy dạyhọc Do đó, một giáo viên giỏi là người không chỉ tổ chức tốt các biện pháp dạyhọc mà phải nâng các biện pháp đó lên mức nghệ thuật dạy học Ta quy ước gọi đólà các thủ pháp ngệ thuật dạy học

Sự khác nhau giữa biện pháp kĩ thuậtvới thủ pháp ngệ thuật là tính logic Biện pháp kĩ thuật luôn luôn gắn với tiếnbộ khoa học và được thực hiện với quy trình logic chặt chẽ Tính logic tuyếntính nghiêm ngặt là bản chất của quytrình công nghệ Trong khi đó thủ pháp ngệ thuật luôn luôn có xu hướng sáng tạovà vượt ra khỏi khuôn khổ

Ngày đăng: 28/07/2019, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w