Từ thực tế nhu cầu quả Tai chua được ưu chuộng tiêu thụ tốt trên thị trường, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo vùng nông thôn miền núi. Hiện nay nhu cầu gây trồng tai chua lấy quả trong thực tiễn là rất lớn đặc biệt là những giống cho năng suất quả cao và nhanh thu hoạch. Đây cũng là loài cây lâm sản ngoài gỗ được Bộ NNPTNT khuyến khích trồng. Để phát triển nhanh cây Tai chua có năng xuất, chất lượng quả cao, phát triển trên diện rộng, đủ cung cấp cho thị trường cần có nguồn giống tốt. Nhân giống là khâu cuối cùng trong công tác chọn giống. Sau khi chọn được giống tốt, để giữ được các đặc tính tốt của cây giống người ta dùng các phương thức nhân giống sinh dưỡng. Nghiên cứu cho thấy, ngoài phương pháp nhân giống truyền thống bằng hạt, cây Tai chua còn có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom, ghép và chiết cành. Chiết cành là một hình thức nhân giống cây ăn quả mà cây con vẫn giữ nguyên được các đặc tính di truyền của cây mẹ. Cây chiết sinh trưởng, phát triển nhanh, thân cây thấp, tán gọn dễ chăm sóc, ra quả sớm và nhanh cho thu hoạch. Vì vậy chiết cành là phương pháp nhân giống vô tính đơn giản, dễ làm, tỷ lệ sống cao. Để góp phần nhân giống các cây mẹ tốt có sản lượng quả cao, phẩm chất tốt cung cấp cho trồng rừng hoặc xây dựng vườn giống, chúng tôi tiến hành chuyên đề “Thử nghiệm nhân giống Tai Chua (Garcinia cowa Roxb) bằng phương pháp chiết cành”. Kết quả của chuyên đề này giúp chúng ta tìm ra được phương pháp chiết cành hiệu quả, đáp nhu cầu phát triển nhanh nhiều cây giống, phục vụ trồng rừng phân tán, tập trung tại vùng Tây Bắc và một số tỉnh lân cận.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC LÂM NGHIỆP
==============
BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
==============
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 16
THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG TAI CHUA (GARCINIA COWA ROXB.)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHIẾT CÀNH
Thuộc nhiệm vụ “Khai thác và phát triển nguồn gen cây Tai chua
(Garcinia cowa Roxb.) tại vùng Tây Bắc”
BQL khu BTTN Thượng Tiến Chủ nhiệm nhiệm vụ
Ngô Văn Quý
Người thực hiện
Ths Nguyễn VănThanh
Hà Nội, 2015
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Mục tiêu 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.1 Đối tượng nghiên cứu 3
2.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 3
4.2 Phương pháp tiến hành 4
4.3 Phương pháp thu thập số liệu 5
4.3 Phương pháp xử lý số liệu 6
5 Kết quả và thảo luận 6
5.1 Kết quả ảnh hưởng IBA ở các nồng độ khác nhau đến kết quả ra rễ của cành chiết cây Tai Chua 6
5.2 Kết quả ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng chiết cành Tai Chua 8
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ thực tế nhu cầu quả Tai chua được ưu chuộng tiêu thụ tốt trên thị trường, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo vùng nông thôn miền núi Hiện nay nhu cầu gây trồng tai chua lấy quả trong thực tiễn là rất lớn đặc biệt là những giống cho năng suất quả cao và nhanh thu hoạch Đây cũng là loài cây lâm sản ngoài gỗ được Bộ NN&PTNT khuyến khích trồng Để phát triển nhanh cây Tai chua có năng xuất, chất lượng quả cao, phát triển trên diện rộng, đủ cung cấp cho thị trường cần
có nguồn giống tốt
Nhân giống là khâu cuối cùng trong công tác chọn giống Sau khi chọn được giống tốt, để giữ được các đặc tính tốt của cây giống người ta dùng các phương thức nhân giống sinh dưỡng Nghiên cứu cho thấy, ngoài phương pháp nhân giống truyền thống bằng hạt, cây Tai chua còn có thể nhân giống bằng phương pháp giâm hom, ghép và chiết cành Chiết cành
là một hình thức nhân giống cây ăn quả mà cây con vẫn giữ nguyên được các đặc tính di truyền của cây mẹ Cây chiết sinh trưởng, phát triển nhanh, thân cây thấp, tán gọn dễ chăm sóc, ra quả sớm và nhanh cho thu hoạch
Vì vậy chiết cành là phương pháp nhân giống vô tính đơn giản, dễ làm, tỷ
lệ sống cao
Để góp phần nhân giống các cây mẹ tốt có sản lượng quả cao, phẩm chất tốt cung cấp cho trồng rừng hoặc xây dựng vườn giống, chúng tôi tiến
hành chuyên đề “Thử nghiệm nhân giống Tai Chua (Garcinia cowa Roxb) bằng phương pháp chiết cành” Kết quả của chuyên đề này giúp chúng ta
tìm ra được phương pháp chiết cành hiệu quả, đáp nhu cầu phát triển nhanh nhiều cây giống, phục vụ trồng rừng phân tán, tập trung tại vùng Tây Bắc và một số tỉnh lân cận
Trang 41 Mục tiêu
Xác định được nồng độ IBA và mùa vụ thích hợp để chiết cành Tai Chua
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb.) tại tỉnh
Hòa Bình
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Chỉ tập trung nghiên cứu về cây cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb.) tại
tỉnh Hòa Bình
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Ảnh hưởng IBA ở các nồng độ khác nhau đến kết quả ra rễ của cành chiết
cây Tai Chua
3.2 Ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng chiết cành Tai Chua
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Mỗi công thức 30 cành, lặp lại 3 lần
- T Ảnh hưởng của IBA ở các nồng độ khác nhau đến khả năng
chiết cành Tai Chua, thí nghiệm được bố trí như bảng 4.1
Bảng 4.1 Bố trí thí nghiệm các n ng ộ IBA Công thức Loại thuốc N ng ộ (ppm)
- T Ảnh hưởng của mùa vụ đến chiết cành: Vụ Hè và Vụ xuân
Trang 54.2 Phương pháp tiến hành
Chọn cây mẹ chiết cành: Là cây trội đã được chọn lọc
Phương pháp chiết:
C ọ cà c ết: Không chọn cành già, cành ở thấp, cành mọc trên ngọn, cành
bị sâu bệnh, cành vượt Chọn cành ở giữa tầng tán phơi ra ngoài ánh sáng, cành mập, đường kính từ 1,0-1,5 cm, chọn cành bánh tẻ để chiết Chiều dài cành chiết từ 40-60 cm, có hai nhánh
C uẩ bị đất bó bầu: Dùng đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ rồi
trộn lẫn với phân chuồng hoai mục, trấu bổi hay rơm rác mục, rễ bèo tây Hỗn hợp theo tỷ lệ 2/3 đất còn 1/3 là những nguyên liệu kể trên và được làm ẩm đến 70% độ ẩm bão hoà (đất có thể vê thành “con giun”, nhưng nắm chặt nước không chảy ra tay) Bầu chiết đường kính từ 6-8 cm, trọng lượng 150 – 300 g, chiều cao bầu đất 10-12 cm Không làm bầu quá to, cây không cung cấp đủ nước cho đất, đất phía ngoài bị khô cứng, chặt bí cây khó ra rễ
K oa vỏ: Dùng dao sắc khoanh tròn cành chiết ở hai đầu cách nhau từ 3-5
cm, cách gốc cành 10-15 cm, sau đó dùng mũi dao bóc vỏ vùng đã khoanh Dùng dao cạo sạch chất nhờn trên mặt gỗ để loại bỏ lớp tế bào tượng tầng, dùng giẻ lau sạch vết cắt sau đó xử lý IBA theo các nồng độ thí nghiệm xung quanh vùng vỏ đã khoanh (đặc biệt là phần khoanh phía ngọn của cành chiết) Dùng nguyên liệu đất đã chuẩn bị, giàn đất mỏng đều đủ bó xung quanh cành, dùng giấy nilông quấn xung quanh bầu, lấy dây buộc chặt hai đầu túi bầu, buộc chặt không cho bầu chiết xoay tròn
Trang 64.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu thập sau 3- 4 tháng chiết cành về tỉ lệ cành chiết ra rễ, số rễ/cành, chiều dài rễ Trong đó, hom ra rễ và số lượng rễ được xác định bằng phương pháp quan sát và đếm, còn chiều dài rễ trung bình được xác định bằng thước kẻ có chia tới mm, đo rễ dài trung bình trong các rễ của hom Kết quả ghi vào bảng 4.2
Bảng 4.2 Bảng theo dõi các chỉ tiêu về rễ
Tên CTTN:
…
Số rễ Chiều
dài rễ Số rễ
Chiều dài rễ Số rễ
Chiều dài rễ
1
2
30
Trang 74.3 Phương pháp xử lý số liệu
*Tính toán các đặc trưng mẫu bằng công thức sau:
+Số trung bình mẫu:
i
Xi n
X
1
1
+ Sai tiêu chuẩn:
1
n
Q
n
x x
2
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và phần mềm Excel
* So sánh giữa các công thức thí nghiệm bằng tiêu chuẩn về tỉ cành chiết ra rễ bằng tiêu chuẩn khi bình phương (2
)
Nếu S (xác suất của 2
) < 0,05 tỷ c a có s sa ác a các
cô t ức t
Nếu S (xác suất của 2
) > 0,05 tỷ c a ô có s sa ác
a các cô t ức t
* So sánh giữa các công thức thí nghiệm về chiều dài rễ và số lượng rễ/cây bằng phân tích phương sai một nhân tố
Nếu S (xác suất của H oặc F) < 0,05 c t u t c có s sa ác
a các cô t ức t
Nếu S (xác suất của H oặc F) > 0,05 thì c t u t c ô có
s sa ác a các cô t ức t
5 Kết quả và thảo luận
5.1 Kết quả ảnh hưởng IBA ở các n ng ộ khác nhau ến kết quả ra rễ của cành chiết cây Tai Chua
Kết quả tổng hợp được ghi ở bảng sau:
Trang 8Bảng 5.1 Bảng theo dõi các chỉ tiêu về rễ
STT
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4
Số rễ
Chiều dài rễ (cm)
Số rễ Chiều
dài rễ Số rễ
Chiều dài rễ Số rễ
Chiều dài rễ
Trang 925 3 3 4 2 6 4 0 0
Bảng 5.2: Bảng tổng hợp tỷ lệ cành chiết ra rễ
Công
thức
Tổng số
bầu ra rễ
Số bầu không ra rễ
Tỷ lệ bầu
ra rễ (%)
Số rễ trung bình
Chiều dài rễ trung bình
- Qua bảng 5.1 và b 5.2 ta thấy ảnh hưởng IBA ở các nồng độ 1000ppm, 1500ppm, 2000ppm đến kết quả ra rễ (cả về số lượng rễ lẫn chiều dài rễ) của cành chiết cây Tai Chua đạt tỷ lệ cao nhất ở công thức 3 với nồng độ 2000ppm (81,11%), tiếp đến là công thức 2 (68,89%), công thức 1 có tỷ lệ ra rễ là 44,44% So sánh với công thức đối chứng ta thấy tỷ lệ bầu ra rễ rất thấp chỉ đạt 28,89%
5.2 Kết quả ảnh hưởng của mùa vụ ến khả năng chiết cành Tai Chua
Trong thời gian thực hiện chuyên đề, chúng tôi tiến hành thí nghiệm chiết cành Tai chua vào 2 thời điểm: vụ Xuân và vụ Hè Kết quả tổng hợp được ghi ở bảng sau:
Trang 10Bảng 5.3: Tỷ lệ sống của cành Tai chua chiết trong các lần thí nghiệm Thí
nghiệm
Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4
Số bầu
sống
Tỷ lệ sống
Số bầu sống
Tỷ lệ sống
Số bầu sống
Tỷ lệ sống
Số bầu sống
Tỷ lệ sống
Từ kết quả bảng tính toán có thể nhận xét như sau:
- Trong 2 vụ thực hiện thí nghiệm thì ở 4 công thức ta đều thấy vụ Xuân
có tỷ lệ sống cao hơn vụ Hè Cụ thể: Tại công thức 3 (công thức tốt nhất) thì tỷ
lệ sống ở vụ Xuân là 74,44%, vụ Hè là 64,44%
- Để xác định chính xác về mặt toán học xem vụ ghép nào thực sự tốt và
có sai khác rõ rệt với các vụ chiết khác không, chúng ta sử dụng phần mềm thống kê SPSS phân tích cụ thể từng nhân tố
a) Ả ưở của các tố đế tỷ số của c y c ết
Tiếp tục phân tích các chỉ số thống kê trong SPSS cho thấy:
- Nhân tố thời vụ chiết trong các vụ có sự sai khác rõ rệt về tỷ lệ sống (các giá trị tính toán < 0,05)
- Các lần lặp trong vụ chiết chưa thấy có sự sai khác (giá trị tính toán
> 0,05) điều đó cho thấy thao tác chiết trong các thí nghiệm chiết là tương đối ổn định
b) Xác đị t ờ vụ c ết tốt ất
Kết quả thí nghiệm được so sánh theo phương pháp Bonferroni cho thấy:
- Tỷ lệ sống của vụ hè có sự sai khác rõ rệt so với vụ xuân (Sig <0.05) Kết quả so sánh cho thấy trong 2 vụ thì vụ xuân (tháng 1 -3) là cho kết quả về
tỷ lệ sống cao nhất, tuy nhiên chỉ có sự sai khác rõ rệt so với vụ hè
- Trong 2 vụ chiết thì vụ thích hợp nhất để chiết cây Tai chua là vụ Xuân (tỷ lệ sống tại công thức tốt nhất trung bình đạt 74,44%)
- Vụ hè cho tỷ lệ sống thấp nhất (tỷ lệ sống tại công thức tốt nhất trung bình chỉ đạt 64,44%)
Trang 12KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Ta thấy ảnh hưởng IBA ở các nồng độ 1000ppm, 1500ppm, 2000ppm đến kết quả ra rễ (cả về số lượng rễ lẫn chiều dài rễ) của cành chiết cây Tai chua đạt tỷ lệ cao nhất ở công thức 3 với nồng độ 2000ppm
Trong 2 vụ chiết thì vụ Xuân cho tỷ lệ sống cao hơn (tỷ lệ sống tại công thức tốt nhất trung bình đạt 74,44%), vụ có tỷ lệ sống thấp nhất là vụ Hè (tỷ lệ sống tại công thức tốt nhất trung bình đạt 64,44%)
Tỷ lệ sống của vụ hè có sự sai khác rõ rệt so với vụ xuân (Sig <0.05) Kết quả so sánh cho thấy trong 2 vụ thì vụ xuân (tháng 1 -3) là cho kết quả về
tỷ lệ sống cao nhất, tuy nhiên chỉ có sự sai khác rõ rệt so với vụ hè
Như vậy, thời điểm thích hợp nhất để chiết cành Tai chua là từ tháng 1 đến tháng 3 (vụ Xuân), khi chiết ta dùng thuốc IBA với nồng độ 2000ppm
2 Kiến nghị:
Do cây Tai chua là cây có nhựa mủ, nên khi chiết ta có thể sử dụng các nồng độ thuốc kích thích ra rễ cao hơn so với các loại cây khác
Cần thử nghiệm bọc đất để chiết cành, sau khi khoanh vỏ thời gian dài hơn so với cách thức chiết cành truyền thống ( Thời gian từ 5 đấn 10 ngày)
Do thời gian hình thành sau khi triết khá lâu từ 3 đến 4 tháng Nên cần nghiên cứu bổ sung các thành phần hỗn hợp đất cộng với mùn (đất để chiết cành, có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn)
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Huê, 2006 N cứu c ọ ọc c y t ộ t eo ục t u sả ượ quả
ở c y Ta c ua (Ga c a cowa Roxb) tạ xã Đ T ế uy Y T ế - t Bắc Giang, Đại học Lâm nghiệp
2 Lê Quang Liên, N ố Lu bằ c ết cà , Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam
3 Hoàng Vĩnh Tường, 1977 N cứu tác dụ của ột số c ất c t c s
t ưở đế v c ố u bằ cà
4 Dương Mộng Hùng (2004) Tuyể c ọ c y Dẻ T ù K á t ộ về sả ượ quả
và ố bằ ươ á é Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
số 8
5 Lê Đình Khả (1996) Đặc điểm công tác Giống cây rừng và đánh giá giống cây rừng Thông tin khoa học số 2
6 Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003) Giống cây rừng Nhà xuất bản nông nghiệp
7 Ngô Kim khôi, Nguyễn Hải Tuất, Nguễn Văn Tuấn (2001) Tin học ứng dụng trong Lâm nghiệp Nhà xuất bản nông nghiệp