Internet ra đời đã tạo được bước đột phá mang tính cách mạng trong truyền tải và thể hiện thông tin từ những năm 2000 đến nay. Trong xu thế phát triển với tốc độ chóng mặt đó, truyền thông cũng chịu tác động không nhỏ. Ngày nay, trên thế giới, một cơ quan báo chí có thể sở hữu nhiều loại hình báo chí khác nhau, từ báo in, báo điện tử đến truyền hình. Bước tiến đó giúp công chúng trong thời đại truyền thông đa phương tiện được thụ hưởng rất nhiều lợi ích mà xu thế này mang lại. Sự xuất hiện của báo điện tử, mạng xã hội…trên nền tảng internet đã khiến thị hiếu của khán giả xem truyền hình thay đổi, không chỉ trung thành với chiếc Ti vi gia đình mà thay vào đó, chỉ bẳng một thiết bị cầm tay thông minh như máy tính bảng, điện thoại smartphone…khán giả đã có thể xem truyền hình trực tuyến hay xem lại qua dạng video. Công nghiệp 3.0 và bây giờ là 4.0 đã làm thay đổi cách thức truyền thông. Bước tiến vượt bậc của các phương tiện truyền thông, đặc biệt là truyền thông đa phương tiện đã và đang tạo ra những thách thức lớn cho người làm báo truyền hình ở nước ta nói chung và Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng. Để có được thị phần công chúng, các đài truyền hình, đặc biệt là các chương trình truyền hình chuyên biệt không thể không tính đến việc xây dựng cách thức sản xuất mới, hiện đại hơn, nâng cao chất lượng từng sản phẩm, tác phẩm truyền hình. Đây là yêu cầu bắt buộc để tồn tại, nâng cao khả năng cạnh tranh và thực hiện sứ mệnh phục vụ công chúng.Đối với báo chí truyền hình thì chương trình truyền hình chuyên đề được quan tâm và sử dụng nhiều ở tất cả các kênh truyền hình, đài truyền hình hiện nay. Sự hiện diện của chương trình truyền hình chuyên đề nhiều như vậy ở các kênh truyền hình xuất phát bởi lượng thông tin được truyền tải nhiều, đa dạng, phong phú, sinh động và có chiều sâu. Vì vậy chương trình truyền hình chuyên đề được khán giả đánh giá cao. Một số chương trình truyền hình chuyên đề độc đáo, mới mẻ, có sự đầu tư trong quá trình sản xuất bao giờ cũng chứa đựng một lượng thông tin có giá trị nhất định, tạo hiệu ứng xã hội cao. Nếu chương trình thành công, nó có thể nâng cao nhận thức, làm thay đổi hành vi của công chúng và tác động của nó sâu sắc hơn so với việc sử dụng các thể loại báo chí khác trong truyền tải thông tin. Vì vậy nâng cao chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề cũng là cách để cải thiện nội dung kênh truyên hình, thu hút khán giả quan tâm theo dõi. Đây là mối quan hệ mang tính biện chứng lẫn nhau.Tuy nhiên, một vài năm gần đây, sự lên ngôi của báo điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông đa phương tiện khác đã khiến truyền hình nói chung và chương trình truyền hình chuyên đề nói riêng phần nào mất đi lượng khán giả nhất định. Chương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Nếu không thay đổi theo hướng đi mới và nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của công chúng, những chương trình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam sẽ mất đi một lượng lớn khán giả. Để thu hút công chúng về mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và doanh thu quảng cáo, một trong những vấn đề sống còn của Đài Truyền hình Việt Nam là sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề theo hướng đi mới, bắt kịp xu thế của thời đại.Từ những lý do nói trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện” để chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực trạng chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề qua khảo sát tại và Trung tâm Phim tài liệu Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) Đài Truyền hình Việt Nam. Từ đó, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc đổi mới cách thức sản xuất, nội dung, hình thức thể hiện và các giải pháp cơ bản, để những người làm truyền hình tham khảo và thực hiện chương trình truyền hình chuyên đề đạt chất lượng cao. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề nói chung và các sản phẩm tại Trung tâm Phim tài liệu Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) – Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THỊ BÍCH HƯỜNG
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN
ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG
TIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Trang 2Hà Nội, 2018 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THỊ BÍCH HƯỜNG
SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN
ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG
Trang 3Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản
Hà Nội, 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cánhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản – NguyênTổng biên tập Tạp chí truyền hình thuộc Đài THVN Các số liệu phân tích vàđánh giá trong luận văn là dựa trên cơ sở thực tế nghiên cứu, trung thực vàkhách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình của mình
Tác giả luận văn: Bùi Thị Bích Hường
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản - người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này với đề tài: Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Báo chí vàTruyền thông, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã giảng dạy vàhướng dẫn tôi tận tình, giúp tôi có cách nhìn khoa học về sản xuất truyền hìnhtrong bối cảnh truyền thông mới
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Phim tài liệu và phóng
sự (Ban Biên tập chương trình truyền hình chuyên đề cũ), Đài Truyền hìnhViệt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn: Bùi Thị Bích Hường
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: 3
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn: 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài: 8
7 Kết cấu của luận văn: 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 10
1.1 Lý luận về truyền hình, phương thức sản xuất chương trình truyền hình và chương trình Truyền hình chuyên đề 10
1.1.1 Lý luận về truyền hình và chương trình truyền hình 10
1.1.2 Quan niệm về chương trình truyền hình chuyên đề 11
1.1.3 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình 13
1.1.4 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 14
1.1.5 Tính ưu việt của chương trình truyền hình được sản xuất trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 16
1.1.6 Yêu cầu để tổ chức sản xuất thành công chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 17
1.1.7 Tiêu chí để xây dựng một chương trình truyền hình chuyên đề tốt 19
Trang 71.1.8 Thế mạnh của chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh
truyền thông đa phương tiện 19
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 20
1.2.1 Đa phương tiện 20
1.2.2 Truyền thông đa phương tiện 22
1.2.3 Hội tụ truyền thông 25
1.2.4 Tòa soạn đa loại hình và cơ quan báo chí - truyền thông đa phương tiện 27
Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 31
2.1 Tổng quan về sản xuất chương trình Truyền hình Chuyên đề tại Đài Truyền hình Việt Nam 31
2.1.1 Đôi nét về Đài Truyền hình Việt Nam 31
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự 35
2.1.3 Đặc điểm một số chương trình khảo sát trong việc nghiên cứu sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề 37
2.2 Cách thức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam 39
2.2.1 Cách thức tổ chức và hoạt động của Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự 39
2.2.2 Quy trình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề của Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự 41
2.2.3 Nội dung thông tin của chương trình truyền hình chuyên đề do Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự - Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất 45
Trang 82.2.4 Yếu tố mới trong cách thức sản xuất chương trình truyền hình
chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 45
2.3 Đánh giá chung về thành công, hạn chế trong phương thức sản xuất Chương trình Truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 54
2.3.1 Thành công 54
2.3.2 Hạn chế 56
2.4 Nguyên nhân 57
2.4.1 Nguyên nhân thành công 57
2.4.2 Nguyên nhân hạn chế 59
Chương 3 NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 62
3.1 Cơ sở đề xuất 62
3.1.1 Quy hoạch báo chí đến năm 2025 – xây dựng Đài Truyền hình thành cơ quan truyền thông đa phương tiện 62
3.1.2 Đa phương tiện là xu thế tất yếu của truyền thông, báo chí hiện đại 64
3.1.3 Nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng hiện đại trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện 66
3.1.4 Sự quan tâm của lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam tới sản xuất chương trình truyền hình theo phương thức đa phương tiện 68
3.2 Những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh đa phương tiện hiện nay 68
3.2.1 Bồi dưỡng chuyên môn đội ngũ sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề 68
Trang 93.2.2 Nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý 71 3.2.3 Đổi mới quy trình sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh đa phương tiện 72 3.2.4 Nâng cao chất lượng công nghệ và kỹ thuật 75 3.2.5 Tăng cường đầu tư tài chính 76 3.2.6 Tăng cường sự hỗ trợ, hợp tác giữa Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự với các bộ phận trong Đài Truyền hình Việt Nam 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Internet ra đời đã tạo được bước đột phá mang tính cách mạng trongtruyền tải và thể hiện thông tin từ những năm 2000 đến nay Trong xu thếphát triển với tốc độ chóng mặt đó, truyền thông cũng chịu tác động khôngnhỏ Ngày nay, trên thế giới, một cơ quan báo chí có thể sở hữu nhiều loạihình báo chí khác nhau, từ báo in, báo điện tử đến truyền hình Bước tiến đógiúp công chúng trong thời đại truyền thông đa phương tiện được thụ hưởngrất nhiều lợi ích mà xu thế này mang lại Sự xuất hiện của báo điện tử, mạng
xã hội…trên nền tảng internet đã khiến thị hiếu của khán giả xem truyền hìnhthay đổi, không chỉ trung thành với chiếc Ti vi gia đình mà thay vào đó, chỉbẳng một thiết bị cầm tay thông minh như máy tính bảng, điện thoạismartphone…khán giả đã có thể xem truyền hình trực tuyến hay xem lại quadạng video Công nghiệp 3.0 và bây giờ là 4.0 đã làm thay đổi cách thứctruyền thông Bước tiến vượt bậc của các phương tiện truyền thông, đặc biệt
là truyền thông đa phương tiện đã và đang tạo ra những thách thức lớn chongười làm báo truyền hình ở nước ta nói chung và Đài Truyền hình Việt Namnói riêng Để có được thị phần công chúng, các đài truyền hình, đặc biệt làcác chương trình truyền hình chuyên biệt không thể không tính đến việc xâydựng cách thức sản xuất mới, hiện đại hơn, nâng cao chất lượng từng sảnphẩm, tác phẩm truyền hình Đây là yêu cầu bắt buộc để tồn tại, nâng cao khảnăng cạnh tranh và thực hiện sứ mệnh phục vụ công chúng
Đối với báo chí truyền hình thì chương trình truyền hình chuyên đềđược quan tâm và sử dụng nhiều ở tất cả các kênh truyền hình, đài truyềnhình hiện nay Sự hiện diện của chương trình truyền hình chuyên đề nhiềunhư vậy ở các kênh truyền hình xuất phát bởi lượng thông tin được truyền tảinhiều, đa dạng, phong phú, sinh động và có chiều sâu Vì vậy chương trìnhtruyền hình chuyên đề được khán giả đánh giá cao Một số chương trình
Trang 11truyền hình chuyên đề độc đáo, mới mẻ, có sự đầu tư trong quá trình sản xuấtbao giờ cũng chứa đựng một lượng thông tin có giá trị nhất định, tạo hiệu ứng
xã hội cao Nếu chương trình thành công, nó có thể nâng cao nhận thức, làmthay đổi hành vi của công chúng và tác động của nó sâu sắc hơn so với việcsử dụng các thể loại báo chí khác trong truyền tải thông tin Vì vậy nâng caochất lượng chương trình truyền hình chuyên đề cũng là cách để cải thiện nộidung kênh truyên hình, thu hút khán giả quan tâm theo dõi Đây là mối quan
hệ mang tính biện chứng lẫn nhau
Tuy nhiên, một vài năm gần đây, sự lên ngôi của báo điện tử, mạng xãhội và các loại hình truyền thông đa phương tiện khác đã khiến truyền hìnhnói chung và chương trình truyền hình chuyên đề nói riêng phần nào mất đilượng khán giả nhất định Chương trình truyền hình chuyên đề của ĐàiTruyền hình Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Nếu không thay đổitheo hướng đi mới và nâng cao chất lượng chương trình, đáp ứng tốt hơn nhucầu thông tin của công chúng, những chương trình chuyên đề của Đài Truyềnhình Việt Nam sẽ mất đi một lượng lớn khán giả Để thu hút công chúng vềmình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và doanh thu quảng cáo, một trongnhững vấn đề sống còn của Đài Truyền hình Việt Nam là sản xuất chươngtrình truyền hình chuyên đề theo hướng đi mới, bắt kịp xu thế của thời đại
Từ những lý do nói trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phươngtiện” để chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực trạng chất lượngchương trình truyền hình chuyên đề qua khảo sát tại và Trung tâm Phim tàiliệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) - Đài Truyền hình Việt Nam Từ
đó, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc đổimới cách thức sản xuất, nội dung, hình thức thể hiện và các giải pháp cơ bản,để những người làm truyền hình tham khảo và thực hiện chương trình truyềnhình chuyên đề đạt chất lượng cao Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng
Trang 12chương trình truyền hình chuyên đề nói chung và các sản phẩm tại Trung tâmPhim tài liệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) – Đài Truyền hình ViệtNam nói riêng.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách, các bài viếtcủa các nhà báo, nhà khoa học, nhà quản lý về chương trình truyền hình nóichung và chương trình truyền hình chuyên đề nói riêng Cụ thể như:
- Giáo trình Báo chí Truyền hình do PGS.TS Dương Xuân Sơn chủbiên – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2009 đã chỉ ra những lýthuyết căn bản về Truyền hình Trong đó có nói sâu về phim tài liệu truyềnhình, một thể loại gần gũi với chương trình truyền hình chuyên đề
- Cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh,Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin 2003 đã nói sâu về việc tổ chức sản xuấtmột chương trình truyền hình, bao gồm đầy đủ các thể loại: Tin, phóng sựtruyền hình, chương trình truyền hình thực tế… Cuốn sách cung cấp nhữngkiến thức sâu sắc về các khâu để cho ra đời một sản phẩm báo chí truyền hìnhhoàn chỉnh
- Cuốn “Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)”của PSG.TS Nguyễn Văn Dững do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội phát hànhnăm 2011 đã cung cấp các kiến thức lý luận và thực tiễn báo chí Việt Nam.Trong đó, tác giả cũng dành vài trang viết để nhận định về truyền thông đaphương tiện Theo tác giả, truyền thông đa phương tiện là thế mạnh nổi trộicủa báo điện tử
- Trên Tạp chí Cộng sản, số 15 – năm 2015, GS.TS Tạ Ngọc Tấn có bàiviết “Phát triển báo chí trước những yêu cầu mới của đất nước” Ở bài viếtnày, tác giả khẳng định: Để bắt kịp xu thế phát triển của truyền thông hiện đạiphải đổi mới báo chí Các cơ quan báo chí cần đổi mới để thu hút công chúng
- Tháng 6/2013, Viện Nghiên cứu Báo chí và Truyền thông – Học việnBáo chí và Tuyên truyền đã tổ chức hội thảo khoa học “Sự vận động, phát
Trang 13triển của Báo chí, Truyền thông trong thời kỳ Hội tụ truyền thông, tích hợpphương tiện” Tại hội thảo nhiều bài viết có liên quan đến chủ đề truyền thông
đa phương tiện, hội tụ truyền thông đã được đưa ra như: “Xu thế báo chí đaphương tiện thời truyền thông hội tụ” của TS Nguyễn Thị Trường Giang, Phótrưởng khoa Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
“Tòa soạn hội tụ và xu thế phát triển ở Việt Nam hiện nay” do TS TrươngThị Kiên – Phó Tổng biên tập tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, Họcviện Báo chí và Tuyên truyền viết, TS Nguyễn Thị Hằng - Viện Nghiên cứuBáo chí và Truyền thông – Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng nêu ranhiều vấn đề thú vị trong bài viết “Truyền thông đa phương tiện – Xu thế tấtyếu toàn cầu”… Những bài viết đều nêu ra vấn đề hội tụ truyền thông, truyềnthông đa phương tiện dưới góc nhìn sâu sắc, thấu đáo Hội thảo thực sự manglại những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cả về lý thuyết lẫn hoạt động thựctiễn liên quan đến xu thế truyền thông đa phương tiện
- Trong luận văn Thạc sĩ “Xây dựng mô hình tòa soạn đa phương tiệncủa báo Kinh tế và Đô thị”, tác giả Phùng Thị Hồng Hạnh hoàn thiện năm
2013 cũng nhấn mạnh cần xây dựng mô hình tòa soạn đa phương tiện tại tờbáo này Nhận định này được đưa ra trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưunhược điểm trong quá trình tổ chức hoạt động tòa soạn Báo Kinh tế và Đô thị.Giải pháp xây dựng tòa soạn đa phương tiện rất phù hợp với bước phát triểncủa tờ báo này
- Luận văn Thạc sĩ “Cách thức đưa tin đa phương tiện trên báo mạngđiện tử ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Hồng hoàn thành năm
2010 đã chỉ ra cách thức sản xuất tin tức đa phương tiện tại tòa soạn báo điệntử Trên cơ sở khảo sát quá trình sản xuất tin tức tại báo điện tử Vietnam.vn
và VnExpress tác giả đã chỉ ra ưu, nhược điểm của tin đa phương tiện hiệnnay từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nội dung các tin bàimultimedia
Trang 14- Tác giả Lý Hoàng Tú Anh cũng đã nghiên cứu mô hình tòa soạn đaloại hình của báo An ninh Thủ đô trong luận văn “Mô hình tổ chức tòa soạn
đa loại hình của báo An ninh thủ đô – Thực trạng và vấn đề đặt ra” (2012).Tác giả đã chỉ ra ưu điểm của sự phối hợp giữa các loại hình trong tòa soạn,những rào cản trong quá trình phát triển của tòa soạn Từ đó, tác giả đặt ranhững đề xuất góp phần xây dựng tòa soạn đa loại hình
- “Đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của Tòa soạn Báo in trong cơquan báo chí đa loại hình” là luận văn của tác giả Nguyễn Quý Hoài thực hiệnnăm 2012 Bằng việc đưa ra ví dụ về một số mô hình cơ quan báo in nằmtrong tòa soạn báo chí đa loại hình tại các nước tiên tiến trên thế giới, tác giả
đã đề xuất một số giải pháp để đổi mới mô hình tổ chức hoạt động của tòasoạn báo in trong cơ quan báo chí đa loại hình tại nước ta
Những cuốn sách, giáo trình, công trình nghiên cứu nêu trên đều có góc
độ tiếp cận, cách nhìn khác nhau và đều đề cập những vấn đề lý luận truyềnthông đa phương tiện; về cách thức tổ chức thực hiện các sản phẩm báo chí đaphương tiện, sản xuất chương trình truyền hình, nâng cao chất lượng sảnphẩm báo chí, truyền thông trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Cáctác giải cũng đề cập nhiều đến tòa soạn đa phương tiện dưới nhiều góc độkhác nhau, cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu một cách tổng thể về vấn đề sản xuất chương trình truyền hìnhchuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và chương trình truyềnhình chuyên đề tại Đài Truyền hình Việt Nam
Có thể nói luận văn này là công trình nghiên cứu, đánh giá một cáchtoàn diện và thấu đáo về thực trạng quy trình sản xuất chương trình truyềnhình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện và những hạn chếtrong việc nâng cao chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề trên ĐàiTruyền hình Việt Nam Qua đó, đưa ra những giải pháp cụ thể để nâng caohơn nữa thể loại chương trình truyền hình chuyên đề trong thời gian tới
Trang 15Như vậy, có thể khẳng định rằng, đề tài “Sản xuất chương trình truyềnhình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện” cho đến thờiđiểm này vẫn có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn Ở đây, tác giả có kếthừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, các thầy cô và anhchị đồng nghiệp đi trước để làm cơ sở lý luận và kinh nghiệm kiên cứu giúptác giả thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ ưu điểm và hạn chế củaviệc sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề từ trước đến nay của Trungtâm Phim tài liệu & Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) – Đài Truyền hìnhViệt Nam Từ đó, đề xuất các giải pháp để thay đổi cách thức tổ chức sảnxuất, nâng cao chất lượng chương trình truyền hình chuyên đề cả về nội dung
và hình thức trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụsau đây:
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về truyền thông đa phươngtiện nói chung, phương thức sản xuất chương trình truyền hình dưới góc độ đaphương tiện nói riêng
- Khái quát hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến việc sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề, chất lượng chương trình truyền hìnhchuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đaphương tiện, cũng như tâm lý tiếp nhận các chương trình truyền hình củacông chúng trong thời đại thông tin số
- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong quá trình sản xuất chươngtrình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện qua khảo sát thực tế
Trang 16- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để cải tiến cách thức sản xuấtchương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trong bốicảnh truyền thông đa phương tiện.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu, khảo sát cách thức tổ chức sản xuất các chương trìnhtruyền hình chuyên đề do và Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự (BanChuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ khảo sát cách thức tổ chức sảnxuất các chương trình truyền hình chuyên đề do và Trung tâm Phim tài liệu &Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam trongkhoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận:
Khi thực hiện luận văn, tác giả sử dụng lý luận chung mang tính hệthống về loại hình báo chí truyền hình, xu hướng phát triển của truyền hình ởViệt Nam, hệ thống lý thuyết về chương trình truyền hình, chất lượng củachương trình truyền hình, chương trình truyền hình chuyên đề và cách thức tổchức sản xuất của nó… Từ đó, vận dụng vào việc khảo sát, phân tích sự pháttriển của chương trình truyền hình chuyên đề được phát sóng trên sóng ĐàiTruyền hình Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả thực hiệnnhững phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Thực hiện trong quá trình khảo sátnghiên cứu các tài liệu khoa học, giá trình, các văn bản,… Phương pháp nàyđược sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề về lý luận báo chí, truyền hìnhtạo cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu
Trang 17- Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phân tích quy trình tổ chức sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim tài liệu & Phóng
sự (Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên các dữ liệu có được từkhảo sát thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm của việc sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam trongbối cảnh đa phương tiện Từ đó, tổng hợp và phân tích để làm sáng tỏ mụcđích nghiên cứu đề tài
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu các tác giả thực hiệnchương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim tài liệu & Phóng sự(Ban Chuyên đề trước đây) của Đài Truyền hình Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa thêm khung lý luận về báo chítruyền hình, cụ thể là về quy trình thực hiện chương trình truyền hình chuyên
đề Đồng thời nêu ra những yêu cầu cần thiết đối với người làm báo truyềnhình để tối ưu hóa việc thực hiện chương trình truyền hình chuyên đề trong xuthế truyền thông đa phương tiện – xu thế tương lai
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi những mặt hạn chế của quytrình thực hiện chương trình truyền hình chuyên đề theo lối truyền thống để
có thể đáp ứng tối đa yêu cầu sản xuất chương trình truyền hình trong bốicảnh truyền thông đa phương tiện Từ đó, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và tâm lýtiếp nhận thông tin của công chung hiện đại
Kết quả đạt dược của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển nghề củanhững người làm báo truyền hình, tối ưu hóa quá trình sản xuất chương trìnhtruyền hình cũng như chương trình truyền hình chuyên đề ở Đài Truyền hình
Trang 18Việt Nam Đây cũng là tài liệu giúp các Đài Truyền hình tham khảo về việc tổchức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong xu thế mới.
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về truyền hình và sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Chương 2: Thực trạng sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện của Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3: Những khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH
VÀ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRONG BỐI
CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
1.1 Lý luận về truyền hình, phương thức sản xuất chương trình truyền hình và chương trình Truyền hình chuyên đề
1.1.1 Lý luận về truyền hình và chương trình truyền hình
Để hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất chương trình truyền hình nóichung và chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh đa phương tiệnnói riêng, ta cần tìm hiểu các khái niệm cơ bản về truyền hình
Trong giáo trình “Báo chí truyền hình”, PGS.TS Dương Xuân Sơn cóviết: Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tinbằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vôtuyến điện [1]
Theo nghiên cứu của PGS.TS Dương Xuân Sơn, Truyền hình xuất hiệnvào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tôc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ củakhoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đờisống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình,mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tưtưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thôngđại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng vềchất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hànhtinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộcsống như được cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức
và phong phú hơn về nội dung Trong các loại hình truyền thông đại chúng,truyền hình là phương tiện ra đời muộn, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền vănminh khoa học công nghệ phát triển
Trang 20Trước khi tìm hiểu về phương thức sản xuất chương trình truyền hình,trước cần hiểu thế nào là chương trình truyền hình
Thuật ngữ chương trình “program” trong chương trình truyền hình đượchiểu gồm các chương trình như: chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”,chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Phụ nữ”, “Thiếu nhi”, “Tròchơi (show games)”,… được phân bổ theo các kênh chương trình và được thểhiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình
PGS.TS Dương Xuân Sơn khẳng định: Chương trình truyền hình là sựliên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanhtrong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kếtthúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báochí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả
Báo chí truyền hình có nhiều dạng chương trình khác nhau Nếu phânchia theo tiêu chí tính chất thời sự của thông tin, có: chương trình Thời sự,chương trình Chuyên đề Nếu phân chia theo lĩnh vực phản ánh, có: chươngtrình Kinh tế, Văn hóa, Quân đội, Giáo dục, Y tế, Thể thao… Nếu chia theotiêu chí giới và lứa tuổi, có các chương trình: Phụ nữ, Thiếu nhi, Thanh niên,Người cao tuổi… Nếu theo tiêu chí mục đích thông tin, chủ yếu có cácchương trình Giải trí (gameshows), các chương trình tin tức thời sự…
Mỗi chương trình truyền hình có chức năng nhiệm vụ khác nhau vàhướng đến đối tượng khán giả khác nhau Căn cứ vào các yếu tố đó, người tathường xây dựng chương trình có cấu trúc, format tương đối ổn định, có thờilượng xác định, thời điểm phát cụ thể Các chương trình được phát trên từngkênh sóng khác nhau
1.1.2 Quan niệm về chương trình truyền hình chuyên đề
Hệ thống chương trình chuyên đề là mảng nội dung quan trọng của bấtkỳ kênh truyền hình nào Trên thực tế tại tất cả các đài phát thanh – truyềnhình toàn quốc đều có các chương trình chuyên đề trên sóng Tuy nhiên, đến
Trang 21nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về khái niệm “chương trình truyền hìnhchuyên đề” Khái niệm này cũng chưa được sử dụng một cách nhất quán.
Theo từ điển Tiếng Việt, thì “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn có giớihạn, được nghiên cứu riêng Có thể hiểu thuật ngữ “chuyên đề” bao gồm
“chuyên” và “đề” “Chuyên” là chuyên sâu, chuyên biệt, chuyên về một lĩnhvực cụ thể Còn “đề” trong phạm vi nghiên cứu này có nghĩa là vấn đề, đề tài,chủ đề Như vậy, thông tin chuyên đề là thông tin chuyên sâu, chuyên biệt vềmột chủ đề, vấn đề, đề tài chuyên môn nào đó, trong các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội, dưới các góc độ, các thức, phương pháp, phương tiện kỹthuật tiếp cận khác nhau Từ đó, nhằm cung cấp một khối lượng thông tinnhất định trước một chủ đề, vấn đề, đề tài nào đó cho công chúng, khán, thínhgiả hoặc độc giả nhà báo thường chọn chuyên đề báo chí Riêng với truyềnhình, các đài truyền hình thường có riêng bộ phận sản xuất chương trìnhtruyền hình chuyên đề với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng [2]
Chuyên đề báo chí truyền hình là những chương trình phản ánh hiệnthực khách quan những vấn đề mang tính thời sự của đời sống xã hội, có đốitượng công chúng xác định Chương trình chuyên đề không có tính hư cấu nhưvăn nghệ, giải trí, cũng không phải các chương trình nghệ thuật trên truyềnhình mà là chương trình mang tính báo chí, phản ánh thực tiễn cuộc sống
Chương trình truyền hình chuyên đề gồm một chuỗi các tác phẩmchuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề nhất định; được biểu hiệnthông qua nhiều óc độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng đã đượcnêu và hướng tới một nhóm đối tượng công chúng xác định
Một số đặc điểm cơ bản của chương trình truyền hình chuyên đề đó là:
- Tính định hướng và chuyên sâu
- Tính định kỳ
- Hướng tới đối tượng công chúng cụ thể
- Sử dụng đa dạng các loại thể của báo hình
Trang 221.1.3 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình
Phương thức sản xuất Chương trình Truyền hình có thể hiểu là toàn bộnhững công việc nhằm làm ra một chương trình truyền hình trong một thờigian nhất định, được sắp xếp theo một quy trình định sẵn
Đối với một Đài truyền hình quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sángtạo các tác phẩm truyền hình Trong đó phóng viên là người trực tiếp sáng tạotác phẩm báo chí truyền hình Các tác phẩm tin, bài được phát qua cácchương trình truyền hình đều có sự lựa chọn, xắp xếp bố trí hợp lý để giúpkhán giả tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống, có chiều sâu
Trên thực tế sự tính toán đến điều kiện, sở thích của từng nhóm khángiả để thỏa mãn nhu cầu của công chúng chỉ là tương đối vì không thể có sựthống nhất hoàn toàn giữa các chương trình trong điều kiện nhiều kênh cùngphát sóng, cũng như trong sở thích của các nhóm đối tượng khán giả củatruyền hình
Tóm lại, chương trình truyền hình là kết quả của quá trình sáng tạo ra
nó từ nhiều công đoạn như tạo dựng kế hoach, hoạch định tác phẩm, hìnhthành chương trình Quá trình tạo dựng kế hoạch và xắp xếp chương trìnhđược gọi là chương trình truyền hình
Trong cuốn Giáo trình báo chí truyền hình, tác giả - PGS TS DươngXuân Sơn nhận định: Dựa vào khả năng kỹ thuật và công nghệ, có thể phânchia các loại phương thức sản xuất chương trình truyền hình như sau:
- Chương trình băng từ
- Chương trình phim nhựa
- Chương trình phát trực tiếp ( )
Trong đó, chương trình sản xuất bằng phim nhựa vì giá thành rất caonên hầu như không được sử dụng trong truyền hình Vì vậy, trong sản xuấtchương trình truyền hình thường có hai loại: băng từ và trực tiếp
Như vậy, theo cách lý giải của PGS TS Dương Xuân Sơn: Phươngthức sản xuất chương trình băng từ chính là phương thức sản xuất chươngtrình có hậu kỳ
Trang 23Trong luận văn này, khi nghiên cứu về phương thức sản xuất chươngtrình truyền hình, từ việc tìm hiểu, khảo sát quy trình sản xuất chương trìnhtruyền hình có hậu kỳ, tôi đi sâu nghiên cứu kỹ về quy trình tổ chức sản xuấtmột chương trình truyền hình chuyên đề trong cơ quan báo chí đa phương tiện
1.1.4 Phương thức sản xuất chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
1.1.4.1 Giải nghĩa thuật ngữ “Bối cảnh”
Để đi sâu tìm hiểu về phương thức sản xuất chương trình truyền hìnhtrong bối cảnh truyền thông đa phương tiện Trước hết, tác giả tìm hiểu nghĩacủa từ “bối cảnh” Đây là từ Hán Việt, “bối” có nghĩa là lưng, “cảnh” làquang cảnh, cảnh vật Nghĩa đen của "bối cảnh" là quanh cảnh cảnh vật saulưng, nghĩa mở rộng là hoàn cảnh, tình hình lịch sử có tác động ảnh hưởngđến một nhân vật, sự kiện hay vấn đề nào đó Bối cảnh được hiểu là hoàncảnh, là tình hình ở lúc đang nói có thể là hiện tại hay quá khứ Nó còn lànguyên nhân để xảy ra sự việc hiện tượng
Ở luận văn này, khi nói đến “bối cảnh truyền thông đa phương tiệntrong sản xuất chương trình truyền hình”, tác giả muốn tìm hiểu hoàn cảnh,
xu thế tác động đến chương trình truyền hình ở thời điểm hiện tại Hoàn cảnh
đó chính là những thay đổi của truyền thông trong những năm gần đây.Truyền thông đa phương tiện đã ảnh hưởng, chi phối như thế nào đến quátrình sản xuất chương trình truyền hình
1.1.4.2 Bối cảnh truyền thông đa phương tiện tác động như thế nào đến phương thức sản xuất chương trình truyền hình
Như tác giả đã nêu ở phần lý do để chọn đề tài, sự xuất hiện của báođiện tử, mạng xã hội… trên nền tảng internet đã khiến thị hiếu của khán giảxem truyền hình thay đổi, khán giả không chỉ trung thành với chiếc Ti vi giađình mà thay vào đó, chỉ bẳng một thiết bị cầm tay thông minh như máy tínhbảng, điện thoại smartphone…khán giả đã có thể xem truyền hình trực tuyến
Trang 24hay xem lại qua dạng video Công nghiệp 3.0 và bây giờ là 4.0 đã làm thayđổi cách thức truyền thông, và những người tạo ra sản phẩm truyền thôngtrong đó có những phóng viên truyền hình đã phải suy nghĩ và thay đổi cáchthức truyền thông để phù hợp với xu thế chung của nhân loại.
Truyền thông đa phương tiện tác động đến tác phẩm truyền hình ở haikhía cạnh: nội dung sản phẩm và quá trình tạo ra tác phẩm cũng như tòa soạn,
cơ quan báo chí nơi sản xuất ra sản phẩm
Với nội dung sản phẩm, một sản phẩm truyền hình đa phương tiệnngoài hình ảnh, âm thanh (những tư liệu truyền thống) sẽ có thêm đồ hình, đồhọa, chữ viết và những nội dung tương tác trực tiếp như điện thoại từ hiệntrường, trao đổi với nhân vật qua internet
Với quá trình tạo ra sản phẩm truyền hình, đa phương tiện được biểuhiện như sau:
- Đa phương tiện trong quá trình khai thác tư liệu để xây dựng kịchbản: Ngoài việc tìm kiếm nguồn tin đơn thuần, các sản phẩm truyền hình cóthể được sản xuất, khai thác từ nhiều loại phương tiện truyền thông đại chúngkhác nhau như: báo in, báo ảnh, phát thanh, báo điện tử…
- Đa phương tiện trong xử lý và biên tập nội dung: Sau khi tìm kiếmcác đề tài, nguồn tin được đăng tải trên các phương tiện truyền thông khác,phóng viên/biên tập viên truyền hình sẽ biên tập, xây dựng kịch bản phù hợpvới yêu cầu của chương trình truyền hình
- Đa phương tiện với quá trình phát sóng và tương tác với khán giả:Nhờ có đa phương tiện, chương trình truyền hình thay vì chỉ phát trên sóngtruyền hình, khán giả xem bằng vô tuyến sẽ được phát trực tiếp hoặc phát lại(dạng video) trên trang báo điện tử, trên kênh mạng xã hội hay ứng dụng xemtruyền hình bằng thiết bị cầm tay… tất cả đều dựa trên nền internet Nhờ vậy,công chúng cũng dễ tiếp cận hơn với các chương trình truyền hình và xem lạimọi nơi, mọi lúc trên mọi thiết bị đầu cuối Từ thực tế phát triển này, một số
Trang 25cơ quan hoặc kênh truyền hình tại Việt Nam đã có bộ phận chuyên trách đưacác chương trình truyền hình lên trang thông tin điện tử, báo điện tử của riêngmình để thu hút công chúng theo dõi lại chương trình bất cứ lúc nào.
- Đa phương tiện trong tương tác với công chúng: Cũng nhờ nền tảnginternet có thể kết nối mọi lúc, mọi nơi, khán giả hiện đại có thể phản hồi,bình luận, tương tác khi xem chương trình truyền hình rất dễ dàng Thay vìgửi thư tay qua đường bưu điện theo cách truyền thống, họ có thể gửi thư điệntử đến bộ phận sản xuất, tương tác trực tiếp thông qua phần bình luận trêntrang thông tin điện tử/ báo điện tử, để lại bình luận trên trang mạng xã hội.Thậm chí, một số chương trình truyền hình đã tương tác trực tiếp với khán giảbằng tin nhắn qua điện thoại di động, phần bình luận trên mạng xã hội… Khi
đó, khán giả được tham gia trực tiếp và phần nào đó quyết định kịch bản củachương trình
- Đa phương tiện trong tác nghiệp: Để hoàn thiện các sản phẩm truyềnhình chất lượng trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, người làm truyềnhình (phóng viên/biên tập viên/ tổ chức sản xuất) ngoài kỹ năng nghiệp vụ,kiến thức chuyên môn cần có của người làm truyền hình còn phải đa năng,nắm được nghiệp vụ của tất cả các loại hình báo chí và sử dụng thành thạocác thiết bị kỹ thuật, thiết bị công nghệ
Như vậy, từ việc tìm hiểu rõ các khía cạnh của quá trình sản xuấtchương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, tác giảsẽ có những sở cứ để khảo sát và phân tích một số chương trình truyền hìnhchuyên đề của Đài Truyền hình Việt Nam ở chương sau
1.1.5 Tính ưu việt của chương trình truyền hình được sản xuất trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
- Đối với người làm truyền hình, được tham gia vào quá trình sản xuấtchương trình trong bối cảnh đa phương tiện sẽ cho họ môi trường làm việc cởi
mở, năng động, được tiếp cận với nguồn thông tin dưới nhiều hình thức khác
Trang 26nhau Đồng thời bản thân họ cũng phải rèn luyện thêm nhiều kỹ năng nghềnghiệp để có thể đáp ứng được nhu cầu công việc.
- Đối với tòa soạn, cơ quan báo chí truyền thông, bên cạnh việc tiếtkiệm nhân lực, nguồn vốn và thời gian thực hiện sản phẩm người ta sẽ cóthêm nhiều cơ hội để thu hút khán giả cũng như thu hút khán giả của báo in,báo điện tử xem truyền hình
- Đối với công chúng, họ sẽ được thỏa mãn mọi nhu cầu nghe, đọc,xem ở mọi nơi, mọi lúc chỉ cần có thiết bị đầu cuối và mạng internet Trongbối cảnh này, người làm truyền hình và các Đài truyền hình cũng buộc phảinhanh nhạy, tạo nên các sản phẩm chất lượng để thu hút công chúng Vì vậy,công chúng có lợi khi được thưởng thức các sản phẩm chất lượng cao
Tuy nhiên, chương trình truyền hình được sản xuất trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện cũng có một số hạn chế như nội dung ít đào sâu
vì yêu cầu của tốc độ, thời gian; phóng viên/biên tập viên một lúc đảm nhiệmnhiều vai trò, vị trí sẽ không thực sự tập trung để nâng cao tay nghề ở mộtmảng nhất định Để khắc phục được những nhược điểm này cần có sự thayđổi mang tính hệ thống từ trên xuống dưới, tác giả xin phép được phân tíchtrong phần sau
1.1.6 Yêu cầu để tổ chức sản xuất thành công chương trình truyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Nhịp sống hiện đại đang không ngừng phát triển, báo chí – truyềnthông hay bất kỳ một ngành nghề nào cũng không tránh khỏi những thay đổiđể tiến lên, phù hợp với khách hàng (hay chính là khán giả) trong thời đạimới Trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, để cải tiến chương trìnhtruyền hình theo phương thức sản xuất hiện đại cần thay đổi hai yếu tố chính:Một là cơ cấu tổ chức tòa soạn hoặc cơ quan báo chí – truyền thông vàphương thức sản xuất; Hai là nâng cao trình độ chuyên môn đội ngũ phóngviên, biên tập viên
Trang 27- Đối với đài truyền hình, tòa soạn, cơ quan báo chí – truyền thông cầnđảm bảo những yếu tố sau:
Một là tổ chức hoạt động đài truyền hình, tòa soạn, cơ quan báo chí –truyền thông tích hợp (cũng có thể hiểu là hội tụ/đa phương tiện) Cần tăngtính tương tác giữa các bộ phận trong tổ chức để bộ máy hoạt động trơn tru,đạt hiệu quả cao
Hai là đầu tư hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, đáp ứng đượcyêu cầu của việc khai thác thông tin (thiết bị di động, truyền phát các gói tin,các thiết bị phục vụ tác nghiệp hiện trường như máy tính, máy quay…), xử lýnội dung thông tin (hệ thống quản lý nội dung dựa trên nền tảng của web) vàcác nền tảng đưa thông tin đến với độc giả (website, ứng dụng xem tin tứctrên thiết bị cầm tay)
Ba là đào tạo và chọn lựa đội ngũ phóng viên, biên tập viên thích hợpvới tác nghiệp đa phương tiện, có kỹ năng nghiệp vụ ở mọi loại hình báo chí
và có kiến thức ở mảng chuyên môn phụ trách
Bốn là tăng tương tác với khán giả qua tất cả các kênh chủ sở hữu đểnắm bắt được nhu cầu của khán giả và thay đổi những mặt đã lạc hậu, hạn chế
Năm là tăng cường tận dụng các công cụ mạng xã hội để nghiên cứu,thu thập tin tức, sản xuất và phổ biến tin tức Từ đó, báo in, phát thanh, truyềnhình, báo điện tử hay báo chí trên các thiết bị di động sẽ có sự tương hỗ quảng
bá lẫn nhau
- Đối với người làm truyền hình (phóng viên, biên tập viên, nhà báo truyềnhình): Ngoài những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ báo chí cơ bản, ngườilàm truyền hình phải linh hoạt, sáng tạo và có khả năng làm việc theo nhóm.Trong xã hội thông tin số, người làm truyền hình phải có sự nhạy bén để xử lýthông tin từ nhiều nguồn khác nhau chọn thông tin hữu ích, chính xác để đưavào chương trình Bên cạnh đó, để có được kỹ năng sản xuất chương trìnhtruyền hình đa phương tiện, người làm truyền hình phải được đào tạo để có
Trang 28thể ứng dụng, làm chủ các thiết bị công nghệ mới, đặc biệt là các thiết bị diđộng và thiết bị cầm tay (ghi âm, quay phim, xử lý kỹ thuật cơ bản, truyềnphát dữ liệu….)
1.1.7.Tiêu chí để xây dựng một chương trình truyền hình chuyên đề tốt
- Đề tài nổi bật, phù hợp với xu thế xã hội, được xã hội quan tâm (chọn
đề tài)
- Xây dựng được cây vấn đề hay còn gọi là xây dựng vấn đề theo cấutrúc hình cây để đào sâu, kỹ vấn đề mình đề cập (kịch bản ý tưởng)
- Lên kịch bản hình ảnh và ngôn ngữ chi tiết
- Chuyên đề phản ánh để lại dư âm, ấn tượng đối với khán giả xemtruyền hình
- Chương trình ngắn gọn, cô đọng gây được sự tập trung cho ngườixem qua các thiết bị (các phương tiện truyền thông khác ngoài tivi)
1.1.8 Thế mạnh của chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
Như ở phần 1.1.2 về thế nào là chương trình truyền hình chuyên đề, tácgiả đã nêu thông tin chuyên đề là những thông tin chuyên sâu, chuyên biệt vềmột chủ đề, vấn đề nào đó của đời sống xã hội Chương trình truyền hìnhchuyên đề là chương trình phản ánh hiện thực khách quan những vấn đề,mảng đời sống xã hội theo một chủ đề xuyên suốt
Trong bối cảnh truyền thông phong phú, truyền thông tin, chuyển tảithông điệp bằng nhiều phương tiện (đa phương tiện) trên nền tảng internetđáp ứng tình nóng hổi của thông tin, phản ánh bằng hình ảnh chân thực vànhanh nhất đến khán giả, và cách thức thể hiện (thể loại) thông thường đượccác phóng viên chuyển tải theo cách đưa tin, tường thuật trực tiếp Nhữngchương trình dài hoặc gameshows lớn không phải là những chương trình ưuviệt chuyển tải trên mạng internet Như vậy, cách thức tổ chức chương trìnhkhông được kỹ lưỡng, kịch bản không được đào sâu, chi tiết Và chương trình
Trang 29truyền hình chuyên đề, với cách thức thực hiện phóng sự ngắn hơn, chuẩn bịkịch bản lời và hình ảnh chi tiết đã đào sâu được vấn đề, hấp dẫn được khángiả.
Thế mạnh của chương trình chuyên hình chuyên đề trong bối cảnhtruyền thông đa phương tiện là chuyển tải nội dung, thông điệp chuyên sâu,hình ảnh nghệ thuật đến khán giả trên nhiều phương tiện truyền thông màkhông quá dài (mất quá nhiều thời gian) với khán giả Khán giả vẫn đượcthưởng thức nghệ thuật hình ảnh truyền hình, được tiếp cận vấn đề chuyên sâu
mà không mất nhiều thời gian và hoàn toàn chủ động trong việc sử dụngphương tiện truyền thông để tiếp nhận
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Đa phương tiện
Từ điển Tiếng Việt (NXB Từ điển bách khoa, 2010) giải nghĩa “Phươngtiện” được hiểu là “những cách thức, công cụ, con đường để thực hiện mộtcông việc cụ thể nào đó”[3 tr 403] Như vậy, có thể hiểu với truyền thông nóichung và báo chí nói riêng, phương tiện chính là những cách thức, công cụ, conđường để truyền thông điệp (nội dung thông tin) đến với công chúng
Còn theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, đa phương tiện (TiếngAnh - Multimedia) là một sự kết hợp phương tiện truyền thông (media) và cácdạng nội dung (content) khác nhau Trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ
“Multimedia” xuất hiện khoảng vào giữa thế kỷ 20 – khi internet còn chưa rađời Theo đó, “Media” là phương tiện, “Multi” là nhiều; “Multimedia” là sảnphẩm được tạo ra để “chạy” trên nhiều thiết bị khác nhau, hay nói cách khác,
là sản phẩm được truyền tải bởi nhiều phương tiện khác nhau [4]
Thuật ngữ này có thể được sử dụng như một danh từ (một phương tiệnvới nhiều hình thức nội dung) hoặc như một tính từ để mô tả một phương tiện
có nhiều hình thức nội dung Đa phương tiện được sử dụng mang ý nghĩatương phản với phương tiện truyền thông sử dụng chỉ máy tính thô sơ để hiển
Trang 30thị như chỉ văn bản hoặc các dạng thức truyền thống của in ấn hoặc tài liệusản xuất thủ công Đa phương tiện bao gồm sự kết hợp văn bản (text), âmthanh (audio), ảnh tĩnh, hoạt hình, video, link hoặc các dạng nội dung tươngtác khác Khi là tính từ đa phương tiện cũng mô tả các thiết bị điện tử được sửdụng để lưu và trải nghiệm nội dung
Lần đầu tiên, cụm từ “đa phương tiện” xuất hiện là vào tháng 7/1966,được Bob Goldstein (sau này là Bobb Goldsteinn) sử dụng để miêu tả mộtbuổi trình diễn đặc biệt mang tên “Exploding PlasticInevitable” (Sự kết hợphoàn hảo mang tính đột phá từ những điều quen thuộc) Đây là buổi biểu diễnđầu tiên có sự kết hợp của nhạc rock, chiếu bóng, ánh sáng và trình diễn nghệthuật Sau này, trong sử dụng thường ngày, thuật ngữ đa phương tiện dùng đểchỉ sự kết hợp điện tử phương tiện truyền thông gồm video, ảnh tĩnh, âmthanh và văn bản theo cách có thể được truy cập tương tác
Khái niệm “đa phương tiện” được rất nhiều tác giả đề cập đến trongnhiều công trình nghiên cứu cũng như các bài báo, bài thảo luận Tùy vàolĩnh vực, khái niệm “đa phương tiện” được định nghĩa không hoàn toàn giốngnhau Chẳng hạn, trong lĩnh vực điện tử công nghệ, “multimedia” hay “đaphương tiện” là sự kết hợp giữa phương tiện truyền thông (media) và cácdạng nội dung (contents) khác nhau bao gồm tổ hợp văn bản (text), âm thanh(audio), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (video), đồ hình – đồ họa(graphic), và những nội dung mang tính tương tác (interactive programs) vàotrong cùng một thiết bị công nghệ như điện thoại di động, máy vi tính, máyảnh, máy nghe nhạc…
Trong cuốn “Multimedia Technologies”, tác giả Ashok Banerji viết:
“Khi được sử dụng như một danh từ: Đa phương tiện đề cập đến công nghệ vàcác thiết bị, phương tiện truyền thông Đó là việc sử dụng kết hợp các hìnhthức khác nhau của các phương tiện truyền thông âm thanh và hình ảnh như:văn bản, đồ họa, hoạt hình, âm thanh và video; khi sử dụng như một tính từ:
Trang 31Đa phương tiện mô tả sự trình bày liên quan đến việc sử dụng nhiều phươngtiện truyền thông cùng một lúc” Ở lĩnh vực khoa học tự nhiên, PGS TS ĐỗTrung Tuấn – Giảng viên Khoa Toán Cơ Tin học, Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên đưa ra định nghĩa: “Đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng và sửdụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyển hóa thông tin và các tác phẩmtừ kỹ thuật đó Trong khi đó, lĩnh vực truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vựcbáo chí, thuật ngữ “đa phương tiện” lại được dùng thiên về cách hiểu làphương thức truyền tải thông tin trên các thiết bị khác nhau, với các dạng thứcngôn ngữ khác nhau phù hợp cho mỗi loại thiết bị [5]
Nói tóm lại, mỗi lĩnh vực, thuật ngữ đa phương tiện có cách hiểu tươngđối khác nhau tùy vào mục đích, đối tượng sản xuất, phương tiện kỹ thuật, nộidung thông tin, đối tượng tiếp nhận Tuy nhiên, một cách chung nhất, có thểhiểu: Đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại phương tiện thiết bị kỹ thuật
và nhiều loại ngôn ngữ khác nhau để chuyển hóa, truyền tải thông tin đếncông chúng
1.2.2 Truyền thông đa phương tiện
Trong tiếng Anh, từ “Communication” (Truyền thông) có nghĩa là sựtruyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông TheoBách khoa toàn thư Wikipedia, “Truyền thông” là hoạt động truyền đạt thôngtin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thứchoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thểbằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý
và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiềuthành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng)
Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phươngtiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặcnhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thôngnày diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn
Trang 32trong thời gian và không gian Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻmột khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếpđược coi là hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi.
Các phương thức truyền tin là những sự tác động lẫn nhau qua mộttrung gian giữa ít nhất hai tác nhân cùng chia sẻ một ký hiệu tin tức hoặc mộtquy tắc mang một ý nghĩa nào đó Truyền tin thường được định nghĩa là "sựtruyền đạt suy nghĩ, ý kiến hoặc thông tin qua lời nói, chữ viết, hoặc dấu hiệu
Vậy “Truyền thông” được hiểu là hoạt động gắn liền với sự phát triểncủa con người và xã hội loài người Nhờ truyền thông, giao tiếp mà con người
tự nhiên phát triển thành con người xã hội Cùng với sự phát triển của khoahọc, kỹ thuật, công nghệ, các phương thức truyền thông của loài người cũngphát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hiện đại Ngày nay, conngười đã biết sử dụng những kỹ thuật công nghệ tiên tiến để truyền thôngnhư: truyền hình cáp, vệ tinh địa tĩnh, Internet Các phương tiện truyềnthông trở thành một nhu cầu của đời sống, một công cụ đảm bảo cho sự pháttriển bền vững của mỗi quốc gia, một phương tiện hữu hiệu để tăng cường sựhiểu biết lẫn nhau của con người, một nhịp cầu nối liền các dân tộc trên hànhtinh chúng ta
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về khái niệmnày, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về truyền thông Quan điểmcủa PGS TS Lương Khắc Hiếu cho rằng: Truyền thông là quá trình giao tiếp,chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạtđược sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vicủa con người [6]
Truyền thông đa phương tiện theo Từ điển bách khoa Wikipedia, là việcdùng một số phương tiện khác nhau như văn bản, âm thanh, đồ họa, video vàkhả năng tương tác để chuyển tải thông tin Đa phương tiện theo nghĩa rộng làviệc tổ hợp các phương tiện khác nhau để tạo nên một cách mô tả nhiều mặt ý
Trang 33tưởng, khái niệm hay tư tưởng Đa phương tiện đơn giản có nghĩa là có khảnăng liên lạc, giao tiếp theo nhiều hơn một cách thức Như vậy, đa phương tiệnthật ra là liên lạc, giao tiếp theo vài cách thức khác nhau”
Trong cuốn “Multimedia Journalism – A practical guide” (Báo chí đaphương tiện – Hướng dẫn thực hành), tác giả Andy Bull cho rằng: “Báo chí
đa phương tiện là sự phát triển của Báo mạng điện tử khi các tác phẩm báochí trên Báo mạng điện tử được tích hợp đa phương tiện nhiều hơn”
Trong bài viết “What is Multimedia Journalism” (Thế nào là nhà báo
đa phương tiện”), tác giả Mark Deuze, giảng viên báo chí thuộc trường Đạihọc Amsterdam (Hà Lan) lại cho rằng: “Báo chí đa phương tiện đơn giản làhình thức báo chí dựa vào các loại phương tiện truyền thông như văn bản,hình ảnh, đồ họa, âm thanh, video, chương trình tương tác để truyền tải thôngtin đến độc giả một cách đa dạng, sống động và chân thực” [7]
PGS TS Nguyễn Văn Dững – Trưởng khoa Báo chí, Học viện Báo chí
& Tuyên truyền nhận định: “Đa phương tiện chính là khả năng kết hợp các tàiliệu văn bản, hình ảnh, âm nhạc, video, hình động và tài liệu in ấn có thể đượcsử dụng ở nhiều mức độ khác nhau nhằm “thay đổi” sự chú ý và truyền đạtmột cách có hiệu quả thông điệp của bạn (…) Đa phương tiện cho phép kếthợp các loại hình truyền thông trong việc chuyển tải thông điệp nhằm gây chúý, hấp dẫn và thuyết phục công chúng” [8]
Tham khảo một số ý kiến trên, tác giả cho rằng: Truyền thông đaphương tiện là hình thức truyền thông sử dụng đồng thời nhiều phương thứctruyền tải thông tin như văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnhđộng (animation), âm thanh (audio), video và các chương trình tương tác(interactive programs) để đưa thông tin đến với công chúng, thỏa mãn khảnăng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan của họ
Truyền thông đa phương tiện có 2 hình thức thể hiện:
Trang 34Thứ nhất là Truyền thông đa phương tiện trên cùng một sản phẩm báochí Ví dụ như trong cùng một chương trình truyền hình (có thể gọi là chươngtrình truyền hình theo phương thức đa phương tiện), trên cùng một tác phẩm/một tờ báo điện tử
Thứ hai là Truyền thông đa phương tiện trong một cơ quan báo chí, haycòn gọi là cơ quan báo chí đa phương tiện, tức là một cơ quan báo chí cónhiều loại hình báo chí khác nhau: báo viết, báo phát thanh, báo truyền hình,báo điện tử…
Ở Luận văn này, khi nghiên cứu về phương thức sản xuất chương trìnhtruyền hình trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, là chúng tôi đang tiếpcận thuật ngữ Truyền thông đa phương tiện ở cả hai hình thức trên Trong đó,tác giả đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát và phân tích truyền thông đa phươngtiện ở hình thức thứ hai
1.2.3 Hội tụ truyền thông
Liên quan đến thuật ngữ đa phương tiện, các nhà nghiên cứu trên thếgiới cũng như ở Việt Nam còn sử dụng thuật ngữ “Hội tụ truyền thông” Ngaytừ năm 1978, giáo sư công nghệ truyền thông nổi tiếng người Mỹ NicholasNegroponte đã đưa ra khái niệm hội tụ Điều đó cho thấy, quá trình hội tụ trênthế giới đã diễn ra từ vài thập kỷ nay Thực tế cho thấy, khái niệm hội tụtruyền thông bao hàm hai ý nghĩa: “hội tụ” và “kết hợp” Xét theo nghĩa hẹp,hội tụ truyền thông là sự tích hợp các loại hình báo chí, tạo ra sự biến đổi vềchất, hình thành hàng loạt phương tiện truyền thông mới như sách điện tử,blog, mạng xã hội…
Nếu xét từ nghĩa rộng, hội tụ truyền thông có phạm vi rộng hơn, gồm
sự kết hợp các phương tiện truyền thông, không chỉ về loại hình truyền thông,
mà còn là sự hội tụ cả về chức năng, phương thức đưa tin, quyền sở hữu, cơcấu tổ chức của các cơ quan báo chí, truyền thông… Nói cách khác, hội tụtruyền thông là quá trình phát triển tiệm tiến từ thấp đến cao, là sự phát triểntất yếu của báo chí truyền thông hiện đại
Trang 35Bàn về hội tụ truyền thông, trong bài viết “Truyền thông hội tụ: Xét từgóc độ báo chí” đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, TS.Phạm Thị Thanh Tịnh nhận định: Hội tụ truyền thông trong lĩnh vực báo chíchính là sự hợp nhất của các loại hình báo chí truyền thống trong cùng một cơquan báo chí về cấu trúc tòa soạn, sản xuất tin bài, phản hồi thông tin… Đểthực hiện được quá trình này, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong đó cómạng Internet là cơ sở hạt nhân cho xu hướng này Thời đại Internet cho phépthông tin được truyền tải trên một môi trường khác, không phải chỉ là sảnphẩm giấy in, radio hay trên một chiếc tivi truyền thống, mà thông tin đượcchủ động phân phối theo cách mà công chúng cần tiếp nhận nó nhanh nhất,chất lượng nhất, đầy đủ nhất Như vậy, cơ quan báo chí phải tổ chức lại để trởthành một cơ sở sản xuất chương trình phân phối thông tin phục vụ theo nhucầu của công chúng về nội dung lẫn hình thức, phù hợp thời điểm mà họmuốn tiếp nhận [9]
PGS TS Nguyễn Đức Dũng lại cho rằng: thuật ngữ “Hội tụ truyềnthông” được dùng để chỉ sự tích hợp các phương tiện báo chí khác nhau vàotrong một phương thức hoạt động Theo đó, các phương tiện truyền thông cũ
và mới sẽ tương tác với nhau theo những cách phức tạp hơn so với dự đoántrước đây Sự hội tụ này đã mở ra một kỷ nguyên mới của truyền thông đaphương tiện, trong đó các loại hình báo chí, truyền thông như báo in, phátthanh, truyền hình, tivi, phim ảnh, báo điện tử… được kết hợp để đưa các dịchvụ mới có chất lượng cao hơn đến người sử dụng” [10]
Bên cạnh đó, ở cuốn sách “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển”,PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng cũng có quan điểm khá tương đồng: “Trongkhuôn khổ của lĩnh vực truyền thông, hội tụ được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Thứ nhất, nội dung quan trọng nhất của hội tụ truyền thông là cùng vớiviệc phá bỏ “hàng rào” kiểm soát thông tin, các loại hình báo chí như báo in,phát thanh, truyền hình, báo chí trực tuyến và cá thiết bị di động đã và đang
Trang 36hội tụ với nhau về mặt công nghệ Công nghệ thông tin đã dẫn đến việc liênhợp các loại phương tiện báo chí khác nhau vào trong một phương thức hoạtđộng Sự hội tụ này đã mở ra một kỷ nguyên mới của đa truyền thông Hội tụcủa các loại hình báo chí: báo in, truyền hình, phát thanh, phim ảnh được kếthợp để đưa các dịch vụ tới người sử dụng.
Thứ hai là sự tập trung sở hữu truyền thông đại chúng Các “tập đoànbáo chí, một công ty sở hữu nhiều loại hình kinh doanh báo chí khác nhau.Điều này dẫn đến sự hội tụ về kinh tế: các hãng truyền thông hội tụ qua việcliên kết, sáp nhập hoặc mua cổ phần của nhau” [11]
Theo tác giả Đinh Thị Thúy Hằng hội tụ truyền thông nghĩa là sự tíchhợp các phương thức truyền tải thông tin hay tích hợp các phương tiện trongcùng một cơ quan báo chí nhằm đem đến cho công chúng khả năng tiếp nhậnthông tin tiện lợi, gần như bằng mọi giác quan như: nghe, xem, đọc trên nềntảng báo điện tử
Từ tham khảo các nguồn tài liệu trên, ở phạm vi nghiên cứu của đề tàinày, tác giả đồng ý với quan điểm: Hội tụ truyền thông nghĩa là sự tích hợpcác phương thức truyền tải thông tin hay tích hợp các phương tiện trong cùngmột tòa soạn, cơ quan báo chí hoặc nhằm đem đến cho công chúng khả năngtiếp nhận thông tin tiện lợi, gần như bằng mọi giác quan như: nghe, xem,đọc trên nền tảng báo điện tử
1.2.4 Tòa soạn đa loại hình và cơ quan báo chí - truyền thông đa phương tiện
Trong thời đại bùng nổ của internet, báo chí truyền thông phải tìm cáchđể thích ứng với môi trường truyền thông mới và báo chí đa phương tiện đượcđánh giá cao Do vậy, việc xây dựng các tòa soạn đa loại hình và cơ quan báochí - truyền thông đa phương tiện đã và đang trở thành xu thế phát triển củangành báo chí - truyền thông hiện đại Tại Đại hội lần thứ IX - Hội Nhà báoViệt Nam, TS Đinh Thế Huynh, Nguyên Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam,
Trang 37Nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân nhận định: “Báo chí thời gian tới khôngcòn đơn nhất một loại hình mà sẽ dần trở thành báo chí đa phương tiện”.Nhận định này cho thấy, đa phương tiện là xu thế toàn cầu Hiện nay, nhiềutòa soạn, cơ quan báo chí lớn trên thế giới đã áp dụng mô hình này Một tòasoạn, cơ quan báo chí đa phương tiện sẽ cùng lúc sở hữu nhiều loại hình báochí Người ta vừa có báo in, vừa có phát thanh, truyền hình, vừa có báo mạngđiện tử [12]
Ở Việt Nam, một số cơ quan báo chí đã áp dụng mô hình tòa soạn đaphương tiện Nhiều cơ quan báo in đã có thêm đài truyền hình và báo mạngđiện tử; nhiều đài phát thanh, truyền hình có thêm tạp chí và báo mạng điệntử Chẳng hạn như Đài Truyền hình Việt Nam có báo điện tử VTV(www.vtv.vn), Tạp chí truyền hình, ứng dụng xem tin tức trên thiết bị cầm tayVTVgo; Đài Tiếng nói Việt Nam có báo điện tử VOV Online (www.vov.vn),Kênh truyền hình VOVTV, Kênh truyền hình Quốc hội Việt Nam và Báo inVOV; Báo Nhân dân đã cho ra đời báo Nhân Dân điện tử
(www.nhandan.com.vn) từ năm 1998 và hiện nay có thêm Kênh truyềnhình Nhân Dân
Như vậy, thuật ngữ “Cơ quan truyền thông đa phương tiện”, “Tòa soạn đaloại hình” đều có chung một đặc điểm: đó là cơ quan truyền thông mà ở đó cóthể có nhiều loại hình truyền thông cùng hoạt động, nhưng tùy theo điều kiện vàcách nhìn nhận cơ quan báo chí đó để có cách gọi cụ thể và chính xác.“Tòa soạn
đa loại hình” hay “Tòa soạn hội tụ” là cái nhìn dưới góc độ tổ chức, còn “Cơquan truyền thông đa phương tiện” là cách nhìn dưới góc độ kỹ thuật
Phát triển tòa soạn, cơ quan báo chí – truyền thông theo định hướngphương tiện sẽ mang tới những lợi ích có thể thể nhìn thấy rõ ràng Thứ nhất,
mô hình này giúp giảm thiểu chi phí nhân lực, cơ sở hạ tầng, những việc làmchồng chéo sẽ được giảm thiểu so với hình thức tổ chức hoạt động tòa soạntruyền thống
Trang 38Thứ hai, các đầu ra tin tức sẽ thống nhất ở tất cả các thiết bị, dựa trêncùng những thông tin được dẫn nguồn và kiểm chứng nhưng được tính toáncho những chương trình và những nền tảng khác nhau; việc này sẽ củng cốthương hiệu tòa soạn Và việc kiểm tra chất lượng tập trung sẽ đảm bảo rằngnội dung trên tất cả các thiết bị ở chất lượng tốt nhất.
Thứ ba, phóng viên của tòa soạn có nhiều kỹ năng tác nghiệp cùng mộtlúc trên nhiều thiết bị kỹ thuật và đảm bảo cung cấp được thông tin cho nhiềuloại hình báo chí Việc thu thập thông tin được thống nhất sẽ cải thiện tốc độ
và hiệu quả phản ứng tin tức
Thứ tư, cơ quan báo chí có thể tranh thủ những cơ hội kinh doanh mới vàsẽ có thể sản xuất những nội dung mới, tương tác từ những nguồn lực hiện có
Tiểu kết chương 1
Sự bùng nổ của Internet đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội củacon người và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của ngành báo chí - truyềnthông thế giới Truyền thông đa phương tiện xuất hiện và được biết đến vớitên gọi Multimedia Theo xu thế truyền thông đa phương tiện, một tòa soạn,
cơ quan báo chí sẽ sở hữu nhiều phương tiện để tiếp cận với công chúng từbáo in, báo điện tử đến phát thanh và truyền hình Thị trường báo chí ViệtNam cũng nằm trong dòng chảy chung đó và đa phương tiện được xem là một
xu thế phát triển của báo chí trong thời đại toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin.Để bắt kịp nhịp phát triển của bối cảnh truyền thông mới, truyền hình cũngdần chuyển mình và thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất, xây dựng nộidung chương trình và cách tiếp cận với khán giả
Trên tinh thần đó, trong Chương 1 của luận văn này, tác giả đã đi sâuvào tìm hiểu về đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện làm nền tảngcho toàn bộ hệ quy chiếu của luận văn Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứunhững kiến thức căn bản về truyền hình, chương trình truyền hình chuyên đề
và phương thức sản xuất chương trình truyền hình dưới góc độ truyền
Trang 39thông đa phương tiện cũng như tính ưu việt của chương trình truyền hìnhđược sản xuất trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện.
Toàn bộ hệ thống kiến thức căn bản này sẽ là nền tảng, cơ sở để tác giả
đi sâu vào khảo sát, phân tích và đánh giá một cách cụ thể về quá trình sảnxuất chương trình truyền hình chuyên đề tại Trung tâm Phim & Phóng sự tàiliệu – Đài Truyền hình Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện
ở chương tiếp theo
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN
2.1 Tổng quan về sản xuất chương trình Truyền hình Chuyên đề tại Đài Truyền hình Việt Nam
2.1.1 Đôi nét về Đài Truyền hình Việt Nam
Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia Việt Nam, cơquan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và cung ứng các dịch vụ công;góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dânbằng các chương trình truyền hình Tên viết tắt thông dụng của đài là VTV(viết tắt của Vô tuyến Truyền hình Việt Nam Ba ký tự VTV (ở dạng in) nàyxuất hiện trong biểu tượng của đài, lần lượt được thể hiện trong ba màu đỏ,lục, lam
Ngay từ trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, một banbiên tập của Đài Tiếng nói Việt Nam được tách ra và thành lập đài truyềnhình ngày 7 tháng 9 năm 1970 Lịch sử hình thành và phát triển của Đài trảiqua các mốc quan trọng: Ngày 7/9/1970, Đài Tiếng nói Viết Nam phát sóngthử nghiệm chương trình có hình đầu tiên đến tháng 11/1970, chính phủ cấpphép mua xe truyền hình lưu động đầu tiên và thành lập Đài Truyền hình ViệtNam Sau đó, Đài Truyền hình Việt Nam có nhiều bước tiến đáng kể nhưtường thuật trực tiếp chương trình đầu tiên bằng xe lưu động và cử phóngviên đưa tin tại Hội nghị Paris (Pháp) vào năm 1973 Đến năm 1974, Đàinhập thiết bị ghi hình bằng băng từ đầu tiên của Nhật Bản Đến năm 1976,Đài Truyền hình Việt Nam bắt đầu phát sóng hàng ngày, tường thuật trực tiếpkhai mạc và bế mạc Đại hội Đảng toàn quốc Năm 1987 đài lấy tên chính thức
là Đài Truyền hình Việt Nam [13]