1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TẾ NHA TRANG ĐÀ LẠT

60 203 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 5,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một trong những nước có hệ động thực vật đa dạng và phong phú, đặc biệt là 2 thành phố Nha Trang và Đà Lạt. Nha Trang là một thành phố giáp biền và có Viện Hải dương học là nơi lưu giữ rất nhiều loài động vật biển quan trọng đối với hệ sinh thái và quý hiếm, đặc trưng. Đà Lạt với khí hậu mát mẻ là nơi thích hợp phát triển hệ thực vật đặc biệt là thực vật hạt trần.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

“Không thầy đố mày làm nên”

Để hoàn thành học phần Thực tế thiên nhiên này, em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em cũng như các bạn khác trong tập thể lớp Sinh 3 khóa 2016-2020, vừa được học tập cũng như được thư giãn sau thời gian học căng thẳng, đồng thời giúp chúng

em có được chuyến tham quan, mở rộng kiến thức bằng việc thực tập với thiên nhiên Và em cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, tỉ

mĩ và chu đáo của quý thầy: Thầy Hoàng Xuân Thảo và thầy Ngô Văn Bình

đã sắp xếp mọi công việc, quan tâm, lo lắng để chúng em có được một khóa thực tập thiên nhiên hữu ích và đáng nhớ này

Sinh viên

Lê Hồ Sơn

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thiên nhiên xung quanh chúng ta luôn chứa đựng nhiều điều thú vị và mới mẻ mà chúng ta chưa khám phá hết, đặc biệt nó vô cùng phong phú và đa dạng Con người luôn tò mò và thích khám phá cũng bởi vậy nên mới có các chuyến thám hiểm, chuyến đi phượt Bởi vì có lẽ mỗi người chúng ta ai ai cũng muốn đi hết mọi miền của Tổ quốc Được tìm hiểu, tiếp thu những điều mới mẻ của những vùng đất, những đanh lam thắng cảnh khác nhau Từ đó có những cái nhìn toàn diện, sâu sắc, và thực tế hơn về đất nước mình đang sống, học tập và làm việc Hơn thế nữa là phát hiện những quy luật tồn tại và vận động của sự sống Vì vậy thực tập thiên nhiên là một môn học rất quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống môn học giảng dạy ở các trường đại học, đặc biệt là đối với các sinh viên ngành Sinh học - ngành học luôn đi sâu vào thiên nhiên, gắn liền với thiên nhiên và các loài sinh vật Qua đó giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc, quá trình phát triển và tiến hoá của các loài sinh vật

Ngoài ra môn học này giúp sinh viên không chỉ được tiếp thu tri thức từ các bài giảng, giáo trình, các sách báo, trên mạng internet mang tính chất lí thuyết mà còn tạo điều kiện cho chúng ta tiếp xúc hơn với thực vật và động vật trên các vùng đất trên cả nước Qua đó đòi hỏi mỗi một sinh viên cần trang bị thêm cho mình những tri thức mang tính chất thực tiễn, phải có cái nhìn tổng quát về thế giới tự nhiên và quá trình sản xuất của con người Nhờ đó sinh viên

mở rộng và hoàn thiện sự hiểu biết của mình về thế giới các sinh vật, biết bảo vệ

hệ sinh thái vừa khám phá khoa học vừa trải nghiệm thực tế Là sinh viên của ngành Sinh học thì thực tập thiên nhiên là vô cùng cần thiết Riêng đối với ngành Sinh học, chúng ta có lợi thế rất lớn khi chính đất nước chúng ta là một nơi có độ đa dạng sinh học cao Chính vì thế, Khoa Sinh học – Trường ĐHSP Huế đã tổ chức cho khối sinh viên năm 3 (khóa 2015 – 2019) một chuyến thực

tế thiên nhiên tại Nha Trang và Đà Lạt trong 7 ngày

Thành phố biển Nha Trang trên nền khí hậu nhiệt đới ổn định, có bờ biển dài Nơi đây có số lượng các loài sinh vật biển thuộc loại phong phú nhất Việt Nam.Viện Hải dương học Nha Trang là viện nghiên cứu sinh vật biển lớn nhất Đông Nam Á, là nơi trưng bày và lưu trữ nhiều mẫu vật về các loài động vật biển quý giá Còn ở Đà Lạt được mệnh danh là xứ sở sương mù, có khí hậu mát

mẻ quanh năm nên hệ động - thực vật ở đây cũng hết sức phong phú và đa dạng, đặc biệt là thực vật hạt trần Đà Lạt còn được mệnh danh là xứ sở của các loài hoa ở Việt Nam cùng với rất nhiều địa danh nổi tiếng cho du khách đến thăm Như vậy cả Đà Lat và Nha Trang đều là hai danh lam thắng cảnh nổi tiếng với

Trang 3

nhiều địa điểm thăm quan kỳ thú đồng thời cũng là hai địa điểm có hệ động thực vật đặc trưng cho hai đới khí hậu của Việt Nam Trong chuyến đi này em

đã đươc giới thiệu và học tập về sinh vật biển tại viện Hải dương học Nha Trang, học về hệ sinh thái rừng Tây Nguyên tại Viện sinh học Tây Nguyên tại

Đà Lạt, học về hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà và nhiều địa điểm du lịch khác

Chung quy lại chuyến Thực tập thiên nhiên này vừa là một môn học bổ ích vừa là một dịp để sinh viên chúng em thư giãn sau thời gian học tập căng thẳng để chuẩn bị cho kỳ thi kết thúc học phần sau chuyến đi nên cần được tổ chức thường xuyên hơn trong nhà trường đặc biệt là đối với ngành Sinh học Nó mang lại cho sinh viên những kiến thức, kinh nghiệm thực tế Chuyến đi này rất thú vị, rất nhiều hứng thú, kích thích sự tìm tòi cho mỗi sinh viên

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

A ĐA DẠNG HỆ ĐỘNG VẬT BIỂN NHA TRANG

I TỔNG QUAN VỀ NHA TRANG - KHÀNH HOÀ

1 Tổng quan về tỉnh Khánh Hòa

- Tọa độ: 12 004’B – 109 002’Đ

- Độ cao: 60m

- Diện tích: 5.217,6 km2

- Dân số: 1,16 triệu người; 32 dân tộc

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, giáp với tỉnh Phú Yên

về hướng bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng tây bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng tây nam, tỉnh Ninh Thuậnvề hướng nam, và Biển Đông về hướng đông

Khánh Hòa có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng khác Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam

2 Tổng quan về thành phố Nha Trang

Thành phố Nha Trang – Tỉnh Khánh Hòa

Trang 5

Vị trí: Thành phố Nha Trang hiện nay có diện tích tự nhiên là 251 km²,

dân số 392.279(2009) Phía Bắc thành phố giáp huyện Ninh Hòa, phía Nam giáp thị xã Cam Ranh, phía Tây giáp huyện Cam Lâm, phía Đông giáp với biển Đông

Khí hậu: Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa

+ Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nha Trang cao (khoảng 26,7 °C) + Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%

+ Thường có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10

và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm Những tháng còn lại là mùa khô, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng

Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành Các

di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang Nha Trang được Thủ tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 vào ngày 22 tháng

4 năm 2009 Đây là một trong các đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam

Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ Vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san

hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san

hô trên thế giới Vì lí do đó Nha Trang được mệnh danh là “Hòn ngọc của biển Đông”, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của nó

3 Viện Hải dương học Nha Trang

3.1 Giới thiệu vài nét về viện Hải dương học Nha Trang

Sở Hải dương học nghề cá Đông dương được thành lập vào ngày 14/9/1922, nâng cấp lần thứ nhất thành Viện Hải dương học Đông dương vào năm 1930 Mục tiêu là khảo sát điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật, kết hợp với việc đánh cá ở biển Đông, bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratly) và biển Hồ ở Campuchia để xác định chiến lược cho nghề khai thác cá

ở Đông Dương Đồng thời triển khai nghiên cứu các công nghệ chế biến và nuôi trồng hải sản Chính vì mục tiêu có tính chiến lược đó nên Viện đã đuợc xây

Trang 6

dựng tại Nha Trang, địa điểm lý tưởng để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu và khai thác Biển Đông

Đến năm 1993, Viện Hải dương học bao gồm tất cả các cơ quan nghiên cứu biển trên toàn quốc, Viện được tổ chức thành một viện chính ở Nha Trang và hai phân viện ở Hải Phòng và Hà Nội Năm 2001, hai phân viện ở Hải Phòng và

Hà Nội được nâng cấp thành Viện Địa chất và Địa vật lý biển (Hà Nội) và Viện Tài nguyên và Môi trường biển (Hải Phòng) Cả 3 viện đều trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Viện Hải dương học đã xác lập kỷ lục Việt Nam là nơi lưu trữ bộ mẫu sinh vật biển lớn nhất Việt Nam

Để thuận lợi cho việc tìm hiểu hệ sinh vật tại nha trang – khánh hòa, chúng

em được tham quan viện hải dương học dưới sự hướng dẫn của người hường dẫn viên và hai thầy hướng dẫn

Đến viện hải dương học, các bạn sẽ được tận mắt ngắm nhìn Bảo Tàng Sinh Vật Biển với trên 20.000 mẫu vật, 4.000 loài sinh vật biển và nước ngọt khác nhau Nhắc đến viện Hải dương học thì không thể không nhắc đến bảo tàng Hải dương học – một bộ phận rất quan trọng của nó, vốn đã nổi tiếng từ những năm

30 của thế kỷ trước Hiện nay, bảo tàng Hải Dương Học đang được tập trung nâng cấp, mở rộng để phát triển thành một quần thể liên hoàn phục vụ cho nghiên cứu, tham quan và giáo dục cộng đồng, cùng như trở thành nơi lưu trữ mẫu sinh vật biển lớn nhất nước

Đến tham quan bảo tàng, du khách vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hàng trăm loài sinh vật biển nhiệt đới vừa được tìm hiểu về hơn 10.000 loài sinh vật ở

Viện Hải Dương Học xác lập kỉ lục Việt Nam

Trang 7

biển Đông đang được lưu trữ tại đây Bộ mẫu sinh vật biển ở viện có một số loài thú biển quý hiếm, có nguy cơ tiệt chủng như Bò biển Đặc biệt, đây còn là nơi bảo quản, trưng bày bộ xương cá voi khổng lồ dài gần 26m, cao 3m đã bị chôn vùi trong lòng đất ở đồng bằng sông Hồng ít nhất hơn 200 năm

Đến bảo tàng, du khách cũng sẽ được giới thiệu về đặc điểm tự nhiên của vùng biển Đông cũng như những tài nguyên thiên nhiên quý giá, khoáng sản, được tìm hiểu về cảnh quan môi trường vùng biển ven bờ, các hệ sinh thái giàu

có như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển Để từ đó, mọi người có ý thức nâng cao tầm quan trọng của việc bảo vệ cảnh quan, môi trường

3.2 Đa dạng hệ động vật ở Viện Hải dương học - Nha Trang

3.2.1 San hô (Athozoa)

San hô là động vật không xương sống thuộc ngành Ruột Khoang và được coi là một loài động vật mặc dù chúng ít cử động và chúng có hình thù như những bông hoa Nhiều loài san hô có hình thái giống như đá hoặc cành cây Chúng thường sống tập trung thành tập đoàn chứ không sống đơn lẻ San hô thường có màu sắc sặc sỡ, rất đẹp Rạn san hô cũng là môi trường sống của nhiều loài

San hô có hai phần gồm phần trên là phần thịt mềm của san hô chúng mở ra vào ban đêm để bắt mồi chúng dùng các xúc tu có chứa chất độc để bắt mồi trong dòng nước biển, phần dưới chính là xương của san hô khi chết đi sẽ bị cốt hóa tạo thành các phần cứng tuy nhiên chính các phần cứng của san hô đã tạo ra các chỗ ẩn nấp cho các loài sinh vật biển và tạo ra một hệ sinh thái vô cùng đa dạng và hệ sinh thái rạn san hô có độ đa dạng sinh học tương tự như hệ sinh thái của rừng mưa nhiệt đới trên đất liền Do vậy, việc bảo vệ san hô góp phần bảo

vệ sự đa dạng sinh học trên Trái Đất

Trang 8

3.2.2 Một số sinh vật biển rạn san hô

a Cá búp nẻ xanh (Paracanthurus hepatus)

Tên khoa học: Paracanthurus hepatus (Shmidt, 1931)

Phân bố: Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương

Kích thước tối đa: 21cm

Đặc điểm: Cá bắp nẻ điện là một loài thuốc họ cá đuôi gai Cơ thể cá có màu nâu sẫm với vây lưng và vây hậu môn màu đen với viền xanh dương ở mép vây trong khi gốc vây có màu vàng sáng Gần cuối vây đuôi có một dải màu đỏ Phần đầu có một vệt màu trắng kéo dài từ mắt đến phần môi của cá Cá thường sống thành cặp hoặc theo từng đàn trong khu vực nước nông ở đầm phá hoặc các rạng gần bờ Chúng là loài ăn thực vật, thức ăn chủ yếu là các loài tảo biển

Hệ sinh thái San hô

Trang 9

b Cá mao tiên (Pterois Volitans)

Đây là loài sinh vật đặc trưng cho Viện Hải dương học

Tên khoa học: Pterois volitans (Linnaneu, 1758)

- Phân bố: Ở 65 nước thuộc vùng biển Ấn Độ - Nam Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa: 47cm

- Đặc điểm: Cá xòe ra những tua vây lả lướt rất đẹp khi bơi nên được mệnh

danh là “Công chúa biển” Những cá mao tiêm có những vũ khí tự vệ rất lợi hại

là những chiếc vây lưng Trong các tia vây này có chứa chất độc, khi chích sẽ

làm cho vết thương bị sưng tấy, đau nhức, thậm chí có thể gây sốt cao bất tỉnh

Cá mao tiên có sọc trắng xen kẽ với màu đỏ, nâu, hoặc màu nâu Con trưởng

thành có thể dài đến 43 cm, trong khi con chưa thành niên có thể ngắn hơn 2,5

cm Chúng có thể sống đến 10 năm Cá xòe ra những tua vây lả lướt rất đẹp khi

bơi nên được mệnh danh là “công chúa biển” Những cá mao tiêm có những vũ

Cá Búp nẻ xanh

Trang 10

khí tự vệ rất lợi hại là những chiếc vây lưng Trong các tia vây này có chứa chất độc, khi chích sẽ làm cho vết thương bị sưng tấy, đau nhức, thậm chí có thể gây sốt cao bất tỉnh.Cá mao tiêm là loài cá đặc trưng vùng nhiệt đới, màu sắc nâu

đỏ, vàng, hai vây trước xèo rộng như hai cánh chim, vây lưng tua tủa 13 chiếc gai độc, vây đuôi mỏng trong suốt có chấm như chiếc quạt Nhật Bản Đầu sù sì như đầu rồng, thân hình mềm mại như nàng tiên múa vũ khúc Cá mao tiên được cho là loài cá có hại cho rạn san hô do chúng là loài cá háo ăn chúng có thể ăn tất cả các loài cá nhỏ không những thế loài cá này có tốc độc sinh sản và thích nghi cao, nên nhiều nơi trên thế giới đang tìm cách để kìm hãm sự phát triển của chúng nhằm bảo vệ hệ sinh thái của rạn san hô Cá mao tiên được chọn

là biểu tượng của Viện Hải Dương học

c Cầu gai (Echinoidea)

- Phân bố: các vùng biển nhiệt đới và ôn đới

- Đặc điểm: Vỏ của câu gai có hình cầu và có nhiều gai, do đó mà có tên gọi cầu gai Có khoảng 940 loài cầu gai Chúng phân bố rộng trên khắp các đại dương và có tập tính sống đáy Cầu gai di chuyển chậm bằng các chân ống và thỉnh thoảng tự đẩy bằng gai của chúng Thức ăn chủ yếu của chúng là tảo, nhưng chúng có thể ăn các động vật ít di chuyển Kẻ thù của chúng là các cá biển, sao biển, các chính sói và các loài cá bò Sao biển vừa có những ảnh hưởng tích cực vừa có những tiêu cực đối với rạn san hô Thuộc ngành động vật

da gai (cùng với huệ biển, đuôi rắn và hải sâm, sao biển) Cơ thể đối xứng tỏa tròn, miệng nằm bên dưới, lỗ hậu môn nằm phía trên Có 5 điểm cảm quang là 5 điểm trắng trên thân Trứng cầu gai là món ăn bổ dưỡng, rất được ưa thích

Cá Mao tiên

Trang 11

Thuộc ngành động vật da gai (cùng với huệ biển, đuôi rắn và hải sâm, sao biển) có hình cầu và có nhiều gai, do đó mà có tên gọi cầu gai Gai nhọn mọc khắp vỏ bên ngoài, nếu bị đâm thì vùng da bị đâm sẽ nhức, tuy nhiên không gây nguy hiểm đến sức khỏe Cơ thể đối xứng tỏa tròn, miệng nằm bên dưới, lỗ hậu môn nằm phía trên Có 5 điểm cảm quang là 5 điểm trắng trên thân Trứng cầu gai là món ăn bổ dưỡng, rất được ưa thích Khối lượng thịt cầu gai (còn gọi là trứng nhum) rất ít so với tổng thể khối vỏ của chúng Các thớ thịt được cấu tạo thành hình sao từ 5 đến 8 cánh, màu vàng hoặc cam, bám dọc theo vỏ gần như rỗng Cầu gai trong tự nhiên là thức ăn của các loài rái cá biển, lươn sói (Anarrhichthys ocellatus), cá Balistidae

e Cá hoàng hậu đuôi vàng (Chaetodontoplus septentrionalis)

Tên khoa học: Chaetodontoplus septentrionalis (Temarick & Schiegle,

1844)

Phân bố: các rán đá hoặc san hô vùng Tây Thái Bình Dương

Kích thước tối đa: 25cm

Đặc điểm: Là loài ăn tạp, màu sắc cá thay đổi lớn tùy thuộc giai đoạn phát triển Cá tương đối dể thích nghi với môi trường sống Trong mùa sinh sản cá đưc thực hiện các vũ điệu để chinh phục con cái Có kiểu hình tương đối giống cái quạt, thân có nhiều sọc chéo màu xanh tím

Cầu gai

Trang 12

f Cá chình (Gymnothorax favagineus)

- Phân bố: Vùng biển Ấn Độ và Thái Bình Dương

Cá Hoàng hậu đuôi vàng

Trang 13

- Kích thước tối đa là 1.8m (loài Gymnothorax favagineus Bloch &

Schneider, 1801)

- Đặc điểm: cá chình hoạt động vào ban đêm, ban ngày chui rúc trong hang hốc hoặc vùi mình trong cát Những con cá chình lớn có răng sắc nhọn có khả năng tấn công nên rất nguy hiểm đối với các thợ lặn Là loài không vảy, cơ thể dài dạng rắn Những con cá chình lướn có răng rất sắc và nhọn, có thể tấn công người Cá Chình có thân mình dài hình rắn chúng sống trong các hốc đá để rình

mò bắt mồi Vây lưng và vây hậu môn dài, phía sau thường gắn với vây đuôi Phần lớn các loài cá Chình thích sống trong các vùng nước nông hay ẩn mình dưới đáy biển, đôi khi chúng sống trong các lỗ Cá Chình biển có chất chống đông máu, đặc điểm này đã được các nhà khoa học ứng dụng để sản xuất chất chống đông máu ứng dụng trong y học Đây là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao

do đó chúng cũng hay bị săn bắt Một số loài cá chình có thể phóng ra điện gây

tê liệt con mồi

g Cá nóc (Diodon liturosus)

- Phân bố: ở biển Đỏ, Ấn Độ - Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 90cm (loài Arothron stellatus Schneider, 1801)

- Đặc điểm: đây là nguyên liệu chính để làm món “sushi fugu” rất ưa thích ở Nhật Tuy nhiên, một số loài cá nóc mang độc tố tetrodotoxin cực mạnh, chỉ cần

ăn phải một lượng rất nhỏ cũng có thể tử vong Bộ cá Nóc phân bố chủ yếu ở những vùng biển nhiệt đới Chúng có thân ngắn, trần hoặc phủ các mấu xương, gai xương hoặc tấm xương Xương hàm và xương gian hàm gắn liền với nhau thành mỏ cứng, nhờ vậy chúng có thể cắn giập vỏ thân mềm và giáp xác Đây là loài cá độc khi ăn phải có thể gây tử vong, chúng cũng thường xuất hiện nhiều ở

Cá Chình

Trang 14

vùng biển Việt Nam Độ độc của cá nóc luôn luôn thay đổi theo mùa theo thời gian do vậy khi ngư dân bắt phải chúng và ăn lúc đầu sẽ không thấy sao dẫn đến chủ quan do vậy ở lần thứ hai khi ăn phải thì sẽ bị trúng độc và có thể gây chết

Cá nóc thường phình to lên như một quả bóng nước khi gặp phải kẻ thù

h Hải quỳ ống (Cerianthus membranaceus)

Tên khoa học: Cerianthus membranaceus Delle Chiaje, 1830)

- Kích thước tối đa khoảng 40cm

Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

Đặc điểm: Hải quỳ Còn được gọi là “cây dừa biển” Chúng có các xúc tu nhiều màu sắc, trên đầu các xúc tu có các tế bào châm giữ nhiệm vụ bám dính con mồi Chúng kiếm mồi bằng cách dùng các tua rây mảnh mai có chất nhầy bắt những sinh vật nhỏ lơ lửng làm thức ăn Khi gặp nguy hiểm, Hải quỳ co vào trong ống hoặc trầm mình dưới lớp trầm tích để lẩn tránh Hải quỳ có miệng vừa

là nơi nhận thức ăn, vừa là nơi thải bã Các xúc tu của Hải quỳ có chứa các túi thích ty bào rất độc, có thể làm tê liệt kẻ thù của nó Tuy nhiên, duy nhất chỉ có loài cá Khoang cổ có khả năng chống lại độc tố của nó

Cá Nóc

Trang 15

i Cá bống đuôi kéo (Ptereleotris evides)

Đây là loài cá hiền thường sống trong các vũng rạn san hô, đầm phá hoặc vùng vịnh Cá có kích thước bé, khi còn nhỏ chúng sống thành bầy đàn, khi lớn lên chúng sống thành từng đôi một.Chúng có vây lưng và vây hậu môn màu xám đậm với viền màu đen cũng là đặc trưng như chiếc kéo màu đen trên đuôi của chúng

Hải quỳ ống

Trang 16

j Cá mặt quỷ (Synancela verrucosa)

Tên khoa học: Synancela verrucosa (Bloch & J.G Dchrieider, 1801)

Phân bố: Úc, Ấn Độ - Thái Bình Dương

Đặc điểm: Cá Mặt quỷ hay còn gọi là cá Đá vì nó có hình thức ngụy trang nhìn vào giống như hòn đá Những chiếc gai trên lưng và hậu môn của cá có chứa độc tố rất mạnh, có thể gây hôn mê, thậm chí tử vong Thế nhưng thịt cá lại không có độc tố, thịt cá Mặt quỷ được xem là một loại đặc sản

Cá Bống đuôi kéo

Trang 17

3.2.3 Cá mập (Selachimorpha)

Cá mập ở vùng biển Việt Nam nhỏ và hiền hơn nhưng chúng vẫn là sát thủ của biển cả, chúng sẽ tấn công người nếu như cảm thấy nguy hiểm

Cá Mặt quỷ

Trang 18

3.2.4 Bò biển (Dugong dugon)

Bò biển còn được gọi là “Nàng tiên cá” chúng là động vật thuộc lớp thú (Mamalia) chúng sinh con và nuôi con bằng sữa Tuổi thọ của Bò biển có thể đạt đến 70 tuổi, chúng thành thục sinh dục ở độ tuổi 9 đến 10 Bò biển sinh sống quanh năm mà đỉnh cao là mùa cỏ biển phong phú Bò biển mang thai 13 tháng

và chỉ sinh 1 con, vú nằm ở nách, con có thể bú sữa mẹ và có thể bắt đầu gặm

cỏ sau vài tuần

Là loài rất phàm ăn, trung bình một con dugong ngốn hết 25 kg cỏ biển/ngày Dugong không thể lặn lâu trong nước mà thường xuyên cứ 1-2 phút

là phải ngoi lên mặt nước để thở vài giây Dugong chuyển động chậm chạp, với vận tốc 5 km/giờ dù chúng cũng có thể đạt tốc độ cao nhất 20 km/giờ Chúng thường xuyên nghỉ ngơi ở tầng nước 2-10 m, chuyển động hàng ngày của dugong bị ảnh hưởng bởi thủy triều, thời tiết, thức ăn và các vật quấy nhiễu bên ngoài Tuổi thọ của bò ở biển cao hơn bò trên cạn rất nhiều, chúng có thể sống hơn 70 tuổi Có thể phân biệt con đực và con cái dễ dàng nhờ vào vị trí khe hở của cơ quan sinh dục Quá trình thai nghén sẽ kéo dài từ 12-13 tháng và chỉ sinh một con Quá trình sinh sản thường diễn ra vào lúc cỏ biển và rong biển phát triển dồi dào nhất, lượng dinh dưỡng có sẵn trong rong biển tươi sẽ là món khoái khẩu cho các bê con Con cái chỉ sinh con rạ từ sau 3-7 năm Tỷ lệ sinh sản chậm là điều đã khiến các nhà khoa học kết luận bò biển rất dễ bị tuyệt chủng

Cá Mập

Trang 19

Ở Việt Nam, Bò biển được phát hiện ở vùng Côn Đảo (khoảng 8 đến 12 con), Phú Quốc, Khánh Hoà Hiện nay trên thế giới bò biển ước tính còn khoảng 100.000 con, sự suy giảm số lượng bò biển do nhiều nguyên nhân khác nhau như: săn bắt, ô nhiễm môi trường, các thảm cỏ bị phá hại

Hiện tại Viện Hải Dương học Nha Trang đang lưu giữ mẫu vật của loài này.Chú Bò biển này mắc lưới của ngư dân vào ngày 23/12/2003 thuộc địa phận

xã Gành Dầu huyện Phú Quốc tỉnh Kiên Giang Với chiều dài 275 cm, trọng lượng khoảng 400 kg

3.2.5 Cá voi lưng gù (Megaptera Novaeangliae)

Tên khoa học: Megaptera Novaeangliae (Borowski, 1781)

Cá voi là loài động vật lớn nhất ở biển Cơ thể chúng có chiều dài là 18m, nặng gần 10 tấn, nếu sống có thể lên gần 80 tấn Với thân hình đồ sộ nhưng chúng lại là những loài động vật hiền lành chúng chỉ ăn các động vật phù du của biển Chúng tiêu tốn thức ăn khoảng 4 tấn trong 1 ngày Bộ xương cá voi lưng

gù được phát hiện vào ngày 08/12/1994 do nhân dân xã Hải Cường huyện Hải Hậu tỉnh Hà Nam tìm thấy khi đào mương thuỷ lợi Nó nằm cách mặt đất 1,2 m

và cách bờ biển 4km Vào năm 1997 tỉnh uỷ Hà Nam đã trao tặng bộ xương này cho viện Hải Dương học Nha Trang

Bộ xương Bò Biển

Trang 20

3.2.6 Rùa biển (Chelonioidea)

Rùa biển xuất hiện cuối kỷ Triassic, gồm những loài chuyên sống ở vùng biển nhiệt đới Rùa biển là một liên họ bò sát trong bộ Rùa, sinh sống ở tất cả đại dương trên thế giới trừ Bắc Cực Trong số 7 loài rùa biển, tất cả đều được liệt kê trong Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa hoặc là nguy cấp hay cực kỳ nguy cấp Mặc dù rùa biển thường đẻ khoảng 100 trứng mỗi lần nhưng hầu như chỉ có một rùa con sống sót đến tuổi trưởng thành Trong tự nhiên, rùa biển con thường bị đe dọa bởi các loài động vật ăn thịt bao gồm cá mập, gấu, báo đốm Bắc Mỹ, cáo hay các loài chim biển, và đặc biệt là con người.Biến đổi khí hậu cũng có thể đe dọa đối với rùa biển bởi trứng rùa biển sinh ra cá thể đực hay cái phụ thuộc vào nhiệt độ.Ngoài ra, rùa biển còn bị mối đe dọa đến từ việc săn bắt

cá không đúng phương pháp, tình cờ làm nhiều con rùa biển mắc lưới, không ngoi lên hít thở không khí nên đã bị chết

Bộ xương cá Voi lưng gù

Trang 21

Ở biển Việt Nam có những loài rùa biển sau:

- Rùa Da hay còn gọi là rùa Bà Tam hay rùa Múi khế (Dermochelys coriacea

Lin 1766)

- Rùa Xanh hay rùa Trắng bông (Chelonia mydas Lin 1758)

- Đồi mồi (Eretmochelys imbricata)

có nọc độc mạnh Điển hình có thể kể đến rắn cạp nong, cạp nia…

Rùa biển

Trang 22

3.2.8 Cá sơn đá (Holocentridae J Richardson, 1846)

- Phân bố: gặp ở tất cả các vùng nhiệt đới

- Kích thước tối đa: 32 cm

- Đặc điểm: Cá chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày cá ẩn nấp trong các khe

đá, hang hốc Cá có thể phát ra những tiếng “click” rất rõ

Rắn biển

Trang 23

3.2.9 Con sam (Carcinoscorpius rotundicauda)

Phân bố: Đông Á và Đông Nam Á

Kích thước tối đa: 79,5 cm

Đặc điểm: Sam là một trong những loài chân khớp cổ xưa nhất còn sống đến ngày nay và được coi là một ‘hóa thạch sống’ Sam có mối liên hệ gần gũi với nhện và bò cạp Đuôi Sam có gờ mặt lưng rất rõ, hình tam giác Sam đực thường nhỏ hơn con cái và thường bám trên lưng sam cái khi di chuyển Sam thường hoạt động về đêm Chúng sống từng cặp trên nền cát và bùn ở các vùng biển ven bờ Thức ăn của chúng là các loài thân mềm, giun và một số động vật không xương sống ở đáy Đây là một trong những loài cần được bảo vệ

Cá Sơn đá

Trang 24

3.2.10 Cá bò bông bi (Balistoides consipicillum)

Phân bố ở vùng duyên hải miền nhiệt đới khu hệ Indo- Pacific

Kích thước tối đa là 50 cm

Đặc điểm: Là loài cá bò hỏa tiễn, có màu sắc sặc sỡ, hoa văn độc đáo, thường được nuôi làm cảnh Cá có hai hàm răng rất khỏe, có thể ăn được cá cầu gai và những loài trai sò có vỏ cứng Cá rất hung hang, luôn sẵn sàng tấn công những sinh vật khác sống cùng

Con Sam

Trang 25

3.2.11 Cá mó két (Scarus globicep)

Phân bố ở các vùng biển Ấn Độ- Thái Bình Dương

Kích thước tối đa là 45 cm

ĐẶc điểm: Ta thường gặp chúng ở các rạn san hô, là loài lưỡng tính, cá chưa trưởng thành thường sống thành nhóm nhỏ với vài cá thể Là loài ăn tảo đáy

Cá Mo két

3.2.12 Cá vệ sinh (Labroides sp.)

Thường phân bố Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

Kích thước tối đa 14cm (loài Labroides bicolor Fowler and Bean, 1928)

Cá Bò bông bi

Trang 26

Đặc điểm: Những loài cá dù to lớn hay hung dữ thế nào đi nữa thì đứng trước cá vệ sinh đều tỏ ra rất hiền lành, ngoan ngoãn Chúng chuyên ăn các phần thịt thối, làm sạch vết thương và ăn các loại kí sinh trùng bám trên mang,

da, trong miệng các loài cá khác

Cá vệ sinh 3.2.13 Cá Bàng chài (Labridae)

Phân bố ở các vùng biển nhiệt đới và ôn đới

Kích thước khoảng 2,3 m (loài Cheilinus unifasciatus Streets, 1878)

Đặc điểm: Thành phần loài rất phong phú (khoảng 500 loài), chỉ ít hơn họ cá Gobidae trong nhóm cá rạn san hô Màu sắc cá thường thay đổi tùy theo độ tuổi

và giới tính Cá có thể dài tới 2.3m và nặng 190,5 kg Có trên 86 loài bàng chài

đã được ghi nhận ở vùng biển Trường Sa, đặc biệt là có sự hiện diện của các loài cá Bàng chài gù Đây là loài ít được ghi nhận ở vùng biển Việt Nam, đang

có nguy cơ bị tuyệt chủng và được IUCN đưa vào danh sách cần được bảo tồn trên quy mô toàn cầu

Cá Bàng chài

Trang 27

3.2.14 Cá khoang cổ đỏ (Amphiprion frenatus)

Phân bố hầu hết ở các rạn san hô

Kích thước tối đa là 14 cm (loài Amphiprion sebae Bleeker, 1853)

Đặc điểm: loài cá này có màu đỏ với một sọc trắng ở phần đầu phía sau mắt

Cá sống hội sinh với hải quì Cá khoang cổ tìm được thức ăn thường đem về chia cho Hải quỳ Khi gặp nguy hiểm Hải quỳ sẳn sàng bảo vệ cho cá khoang

cổ Đã cho sinh sản nhân tạo thành công ở Viện Hải Dương Học

Cá khoang cổ đỏ 3.2.15 Sao biển

Sao biển thuộc nghành Da gai (Echinodermata) Chúng có dạng đối xứng tỏa tròn 5 bậc, gồm một đĩa trung tâm ở giữa và 5 hay nhiều tay cuốn xếp xung quanh, đôi khi, số tay cuốn lên đến 40 chiếc.Chúng không có cơ quan chuyên hóa để đảm nhiệm việc bắt hay nghiền mồi Trên mặt đối diện, bộ xương chỉ có các tấm gắn với nhau Trong đó tấm sàng có kích thước lớn hơn hoặc có màu sắc khác các tấm khác.Nhờ có 2 dãy hàm chân móng nằm giữa cánh tạo điều

Trang 28

kiện cho sao biển di chuyển và có khả năng tái sinh khi bị mất đi Thức ăn của sao biển thường là những loài cá, ốc, trai biển

Sao biển 3.2.16 Cá nhám trúc (Hemiscylliidaea)

Phân bố: các vùng duyên hải miền nhệt đới khu hệ Indo-Pacific

Kích thước tối đa là 121 cm

Đặc điểm: Cá nhám trúc thuộc nhóm cá mập Kích thước khá nhỏ, những chiếc đuôi rất dài, đôi khi dài hơn cả thân Nhờ hai chiếc râu dưới cằm, chúng tìm những loài sinh vật và cá nhỏ sống vùi trong đáy làm thức ăn

Trang 29

Cá Nhám trúc

3.2.17 Cá xà phòng (Grammistidae)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 38cm ( Diploprion bifasciatum Kuhl & Van Hasselt, 1928)

- Đặc điểm: Cá sẽ tiết ra chất độc Grammistine có dạng bọt như bong bóng xà phòng khi gặp nguy hiểm để xua đuổi hoặc giết chêt kẻ thù

Cá xà phòng

Trang 30

3.2.18 Cá ngựa (Hippocampus sp.)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 25cm ( loài Hippocampus kellogi Jordan & Snyder 1902)

- Đặc điểm: Cá ngựa có một túi da trước bụng để mang thai và ấp trứng giúp cho cá ngựa cái Khi giao phối cá ngựa đực thực hiện những điệu nhảy kết hợp uyển chuyển để cá ngựa cái có thể kề sát đẻ trứng vào túi dưới bụng cá đực Viện Hải Dương Học thực hiện thành công dự án sinh sản nhân tạo cá ngựa Chúng rất cần được bảo vệ trong tự nhiên vì đã khai thác quá mức

Cá Ngựa 3.2.19 Cá đuôi gai dù (Zebrasoma velifer)

Tên khoa học: Zebrasoma velifer (Block, 1795)

Phân bố: Vùng biển Tây Ấn Độ dương và Thái bình Dương

Kích thước tối đa: 40cm

Ngày đăng: 21/06/2019, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w