1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài báo cáo thực tế Nha Trang - Đà Lạt doc

28 13,7K 217
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thu Hoạch Thực Tập Thiên Nhiên Nha Trang - Đà Lạt
Tác giả Nguyễn Hữu Lanh
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy thực tậpthiên nhiên là một môn học rất quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống môn họcgiảng dạy ở các trường đại học, đặc biệt là đối với ngành sinh học là một ngành học luôn

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiên nhiên xung quanh chúng ta vô cùng phong phú và đa dạng, nó luôn thôithúc con người tìm hiểu và khám phá Qua quá trình đó mà loài người đã phát hiệnnhững quy luật tồn tại và vận động của sự sống Quá trình đó diễn ra từ rất lâu từ khi loàingười biết nhận thức về thế giới và mãi cho đến ngày hôm nay Lịch sử đã chứng minhrằng mọi tri thức khoa học đều bắt nguồn từ những nhận thức đó Nói cách khác mọi phátminh mới, vĩ đại của loài người đều bắt nguồn từ nhu cầu của thực tiễn Vì vậy thực tậpthiên nhiên là một môn học rất quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống môn họcgiảng dạy ở các trường đại học, đặc biệt là đối với ngành sinh học là một ngành học luôn

đi sát, đi sâu vào thiên nhiên, gắn liền với thiên nhiên với các loài sinh vật Qua đó giúpchúng ta hiểu được nguồn gốc, quá trình phát triển và tiến hoá của các loài sinh vật.Thiên nhiên chính là một ngôi trường học lớn nhất mà mỗi một sinh viên chúng ta cầnphải trải qua

Mỗi một sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tiếp thu nguồn tài liệuphong phú và đa dạng từ các bài giảng, giáo trình, các sách báo, trên mạnginternet,v.v ,nhưng những kiến thức mà chúng ta được học đó chỉ mang tính chất líthuyết Mặc dù có các học phần thực hành tạo điều kiện cho chúng ta tiếp xúc với thực tếvới thực vật và động vật, nhưng đó cũng chỉ là các thực hành trong phòng thí nghiệm.Chúng ta chỉ nắm bắt được các cấu tạo giải phẫu, những đặc điểm hình thái cơ bản nhất

mà thôi Do đó đòi hỏi mỗi một sinh viên cần trang bị thêm cho mình những tri thứcmang tính chất thực tiễn, phải không ngừng hoàn thiện tri thức của bản thân Thực tậpthiên nhiên đem lại cho sinh viên cái nhìn tổng quát về thế giới tự nhiên và quá trình sảnxuất của con người Qua đó giúp sinh viên mở rộng và hoàn thiện sự hiểu biết của mình

về thế giới các sinh vật Đồng thời thực tập thiên nhiên giúp cho chúng ta biết cái gì cầnkhai thác cái gì cần bảo tồn và phát triển Qua đó làm cho hệ động - thực vật khôngnhững không mất đi mà ngày càng được bảo vệ và phát triển hơn.Và cũng giúp chúng tathấy được quá trình khám phá của các nhà khoa học, một quá trình đi từ tự nhiên đếnthực tiễn, rồi từ đó lại áp dụng vào tự nhiên để có được xã hội như ngày nay

Là sinh viên của ngành sinh học thì thực tập thiên nhiên là vô cùng cần thiết.Trong chương trình học chúng em đã được học nhiều môn cơ sở như: Giải phẩu hình tháithực vật, phân loại thực vật, động vật không xương sống và động vật có xương sống,

Trang 2

v.v chúng là tiền đề để chúng em áp dụng vào thực tế và thực tế là điều kiện để chúng

em kiểm nghiệm lại những gì mà chúng em đã được học Chính quá trình đó đã đem lạikiến thức sâu sắc hơn cho mỗi một sinh viên như chúng em, và nó sẽ là nền tảng kiếnthức sau này để chúng em truyền thụ kiến thức lại cho học sinh của mình sau này đượchoàn chỉnh, sống động và mang tính thực tiễn hơn

Nhưng tại sao lại chọn Nha Trang (Khánh Hoà) và Đà Lạt (Lâm Đồng) là hai địađiểm thực tập thiên nhiên ? Điều này chỉ có thể giải thích như sau: tại vì Nha Trang và

Đà Lạt là hai nơi có hệ động - thực vật hết sức đa dạng và phong phú Nha Trang là nơitrưng bày và lưu trữ nhiều mẫu vật về các loài động vật biển quý giá Còn ở Đà Lạt đượcmệnh danh là xứ sở của các loài hoa ở Việt Nam, đồng thời hệ động vật rừng và hệ thựcvật ở đây cũng hết sức phong phú và đa dạng

Nói tóm lại Thực tập thiên nhiên là một môn học không thể tách rời và cần được

tổ chức thường xuyên hơn trong nhà trường đặc biệt là đối với ngành sinh học Nó manglại cho sinh viên những kiến thức chưa có trong sách vở, đi sâu, đi sát vào thiên nhiên,qua đó mà nó làm cho ai cũng thích thú, hào hứng học tập

Trang 3

B NỘI DUNG

I Nội dung thực tập thiên nhiên tại Nha Trang (Khánh Hoà)

1 Điều kiện địa lý – khí hậu của Nha Trang

Thành phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa được mệnh danh là "Miền thùydương cát trắng" nằm trên dải đất Nam Trung Bộ nước ta Diện tích tự nhiên của thành phố

là 251 km2, với dân số 361.454 người (2009) Phía Bắc thành phố giáp huyện Ninh Hòa, phíaNam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp với biểnĐông

Nhìn chung, khí hậu của Nha Trang tương đối ôn hoà Mùa mưa ngắn kéo dài

từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch, mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 âm lịch Nhiệt độbình quân hằng năm là 26,7oC, nhiệt độ cao nhất vào khoảng 32oC, nhiệt độ thấp nhất cũngchỉ 22oC Với bờ biển dài và đẹp cộng thêm một khí hậu mát mẻ, Nha Trang đã và đang trởthành điểm đến hứa hẹn cho du khách trong và ngoài nước

Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hệ thống vũng, vịnh tựnhiên hiếm trên thế giới Nơi đây có các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới như:

hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái

cỏ biển… với nhiều chức năng sinh thái quý giá như bảo vệ môi trường, nơi cư trú, sinh sản,ương nuôi của các loài thủy hải sản Đây cũng là bờ kè tự nhiên phòng chống lụt bão, xóilở… Vịnh Nha Trang được đánh giá là nơi có sự đa dạng sinh thái cao, nơi đây có trên 350loài cá cảnh biển và khoảng 350 loài san hô…

2 Đặc điểm sinh thái biển

Biển là môi trường có diện tích lớn nhất trên thế giới, chiếm trên 3/4 diện tích

bề mặt trái đất với khối lượng và thể tích nước khổng lồ Ở nước ta có đường bờ biển dàikhoảng 3200 km, với 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế biển Biển đóng một vai trò to lớntrong đời sống con người Biển cung cấp thức ăn, là nguồn dược liệu phong phú, ngoài ra,biển cũng đem đến cho con người những nguồn nguyên liệu, nhiên liệu quý giá cho sản xuấtcông nghiệp Trong tương lai, biển sẽ là nguồn sinh chất cung cấp thức ăn cho nhân loại.Chính vì thế môi trường biển đang được quan tâm khai thác, sử dụng Có nhiều mô hình đãđược áp dụng thành công trên thế giới như mô hình phân chia vùng bờ ven biển thành cáckhoảnh, thửa và giao cho các hộ dân sống ven biển để quản lý và khai thác Có thể nói, đây

là hình thức canh tác bờ biển Hiện nay, nước ta cũng đang tập trung đến việc phát triển môi

Trang 4

trường biển, sử dụng một cách triệt để nguồn tài nguyên này nhằm phục vụ cho đời sốngnhân dân.

Ở Vịnh Nha Trang, có trên 240 loài cá Trứng cá, cá bột của Vịnh Nha Trang

có hơn 60 dãy phát triển cá thể có quan hệ với 30 họ Những loài cá chất lượng thường cư trú

ở vùng nước nông ven bờ (dưới 50m) và ở rạn san hô

Ở biển Việt Nam có những loài rùa biển sau:

- Rùa Da hay còn gọi là rùa Bà Tam hay rùa Múi khế (Dermochelys coriacea Lin 1766).

- Rùa Xanh hay rùa Trắng bông (Chelonia mydas Lin 1758).

- Đồi mồi (Eretmochelys imbricata).

- Vích (Lepidochelys olivacea).

- Đú (Caretta caretta).

3.2 Cá Mao Tiên (Scorpaenidae)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 38cm ( loài Pterois Volitans ( Linnaneu, 1758))

Trang 5

- Đặc điểm: Cá xòe ra những tua vây lả lướt rất đẹp khi bơi nên được mệnhdanh là “Công chúa biển” Những cá mao tiêm có những vũ khí tự vệ rất lợi hại là nhữngchiếc vây lưng Trong các tia vây này có chứa chất độc, khi chích sẽ làm cho vết thương bịsưng tấy, đau nhức, thậm chí có thể gây sốt cao bất tỉnh

- Phân bố ở các vùng nhiệt đới và ôn đới

- Kích thước tối đa là 3m (loài Gymnothorax favagineus Bloch & Schneider, 1801)

- Đặc điểm: cá chình hoạt động vào ban đêm, ban ngày chui rúc trong hang hốc hoặc vùi mình trong cát

Những con cá chình lớn có răng sắc nhọn có khả năng tấn công nên rất nguy hiểm đối vớicác thợ lặn

3.5 Cá thia ba chấm

- Phân bố: Trong các rạn san hô ở

Ấn Độ - Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa: 14 cm

- Đặc điểm: Là loài cá thia sống phổ biến trong các rạn san hô Cá màu đen, trên thân có 3 chấm trắng rất dễ nhận biết Khi lớn, cácchấm trắng trên thân thường biến mất Cá sống theo đàn Khi con còn nhỏ, những đàn cá thia

3 chấm sống cùng với hải quỳ lớn hoặc bụi san hô, thậm chí với cầu gai gai dài Thức ăn chủyếu của chúng là những loài động vật nhỏ trôi nổi

3.6 Cá sơn đá

- Phân bố: gặp ở tất cả các vùng nhiệt đới

- Kích thước tối đa: 32 cm

- Đặc điểm: Cá chỉ hoạt động vào ban đêm, ban ngày cá ẩn nấp trong các khe đá, hang hốc Cá

Trang 6

có thể phát ra những tiếng “click” rất rõ

3.7 Cá nóc

- Phân bố ở biển Đỏ, Ấn Độ - Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 90cm (loài Arothron stellatus Schneider, 1801)

- Đặc điểm: đây là nguyên liệu chính để làm món “sushi fugu” rất ưa thích ở Nhật Tuy nhiên, một

số loài cá nóc mang độc tố tetrodotoxin cực mạnh, chỉ cần ăn

phải một lượng rất nhỏ cũng có thể tử vong Cá có thể phình to khi gặp nguy hiểm

3.8 Cá vệ sinh (Labroides sp.)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 14cm (loài Labroides bicolor Fowler and Bean, 1928)

- Đặc điểm: Những loài cá dù to lớn hay hung

dữ thế nào đi nữa thì đứng trước cá vệ sinh đều tỏ ra rất hiền

lành, ngoan ngoãn Chúng chuyên ăn các phần thịt thối, làm sạch vết thương và ăn các loại kísinh trùng bám trên mang, da, trong miệng các loài cá khác

3.9 Cầu gai

- Phân bố: các vùng biển nhiệt đới và ôn đới

- Đặc điểm: Thuộc ngành động vật da gai (cùng với huệ biển, đuôi rắn và hải sâm, sao biển) Cơ thể

đối xứng tỏa tròn, miệng nằm bên dưới, lỗ hậu môn nằm

phía trên Có 5 điểm cảm quang là 5 điểm trắng trên thân

Trứng cầu gai là món ăn bổ dưỡng, rất được ưa thích

3.10 San hô mềm

- Phân bố: Các vùng biển trên khắp thế giới

- Đặc điểm: San hồ mềm trông giống như cây nhưng chúng là động vật thực sự, có trâm gây ngứa

Như những dạng san hô khác, san hô mềm có cấu tạo đơn

giản như sứa hoặc hải quỳ Điểm khác biệt là san hô mềm

không có bộ xương cứng bên trong, chỉ có các trâm xương đá

Trang 7

vôi nhỏ nên khá mềm Một số mềm đến mức có thể đu đưa theo dòng nước Khi san hô mềmchết đi, thân chúng tan ra hoàn toàn Nguồn dinh dưỡng chủ yếu của san hô mềm là nhờ vàoquang hợp của các vi tảo cộng sinh bên trong cơ thể Chúng cũng có thể bắt những sinh vậtnhỏ lơ lững trong nước làm thức ăn

3.11 Cá Bàng chài (Labridae):

- Phân bố: các vùng biển nhiệt đới và ôn đới

- Kích thuước: 2,3 m (loài Cheilinus unifasciatus Streets, 1878)

- Đặc điểm: thành phần loài rất phong phú (khoảng 500 loài), chỉ ít hơn họ cá Gobidae trong nhóm cá

rạn san hô Màu sắc cá thường thay đổi tùy theo độ tuổi và giới tính

3.12 Cá mặt quỷ

- Phân bố ở Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa là 35 cm (loài Synanceja verrucosa Bloch & Scheneider, 1810)

- Đặc điểm: cá có hình thức nguỵ trang đặc biệt nên còn được gọi là cá đá Những chiếc gai trên

lưng và hậu môn của cá có độc tố rất mạnh, có thể gây hôn

mê, thậm chí tử vong Tuy nhiên thịt cá lại rất ngon và được xem là một loại đặc sản

3.13 Cá ngựa (Hippocampus sp.)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 25cm ( loài Hippocampus kellogi Jordan & Snyder 1902)

- Đặc điểm: Cá ngựa có một túi da trước bụng để mang thai và ấp trứng giúp cho cá ngựa cái Khi

giao phối cá ngựa đực thực hiện những điệu nhảy kết hợp uyển

chuyển để cá ngựa cái có thể kề sát đẻ trứng vào túi dưới bụng cá đực Viện Hải Dương Họcthực hiện thành công dự án sinh sản nhân tạo cá ngựa Chúng rất cần được bảo vệ trong tựnhiên vì đã khai thác quá mức

3.14 Cá xà phòng (Grammistidae)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 38cm ( Diploprion

Trang 8

bifasciatum Kuhl & Van Hasselt, 1928)

- Đặc điểm: Cá sẽ tiết ra chất độc Grammistine có dạng bọt như bong bóng

xà phòng khi gặp nguy hiểm để xua đuổi hoặc giết chêt kẻ thù

3.15 Hải quỳ ống

- Phân bố ở Úc, Ấn Độ - Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa khoảng 40cm

- Đặc điểm: Hải quỳ ống còn được gọi là

“cây dừa biển” Chúng kiếm mồi bằng cách dùng các tua râu

mảnh mai có chất nhầy bắt những sinh vật nhỏ lơ lững làm

thức ăn Khi gặp nguy hiểm hải quỳ co vào trong ống hoặc trầm mình dưới lớp trầm tích đểlẩn tránh

3.16 Cá khoang cổ

- Phân bố hầu hết ở các rạn san hô

- Kích thước tối đa là 14 cm (loài Amphiprion sebae Bleeker, 1853)

- Đặc điểm của loài cá này là sống chung với hải quỳ như những đôi bạn thân thiết Cá khoang cổ tìm được thức ăn thường đem vềchia cho Hải quỳ Khi gặp nguy hiểm Hải quỳ sẳn sàng bảo vệ cho cá khoang cổ

- Phân bố: ở tất cả các vùng biện ôn đới, nhiệt đới và vùng cực

- Đặc điểm : là một ngành động vật không xương sống chỉ có ở biển, gồmsao biển, đuôi rắn, huệ biển, cầu gai và hải sâm Đặc điểm

chung của chúng là khung xương có cấu tạo từ những gai

hoặc phiến đá vôi nằm ẩn trong da hầu hết động vật da gai

có đố xứng tỏa tròn bậc 5 Ngoài ra chúng còn có 1 hệ thống

Trang 9

chân ống ở mặt dưới cơ thể dùng để vận động, ăn uống và

hô hấp Rất nhiều loài Da gai có giá trị dinh dưỡng cao,

được dùng làm thực phẩm như Hải sâm, cầu gai, hoặc để chiết xuất các chất có hoạt tính sinhhọc dùng trong y học và công nghiệp

3.19 Hải sâm

- Hải sâm thuộc ngành Da gai (Echinodermata)

Về cấu tạo, Hải sâm có các tấm xương tiêu giảm và đặc điểm

đối xứng hai bên Cơ thể của chúng có dạng hình trái dưa,

dài theo hướng miệng - đối miệng Quanh miệng có 5 – 10

tua miệng có chức năng bắt mồi Hải sâm sống bò trên đáy

hoặc chui rúc trong bùn Chúng có vùng phân bố rất rộng,

có thể tìm thấy chúng ở tất cả các vùng biển, ở mọi độ sâu

Khi bị tấn công, Hải sâm có thể phun hầu hết các phần nội tạng ra ngoài để làm thức ăn cho

kẻ thù Những nội tạng mất đi sẽ được tái sinh sau 20 ngày

3.20 Sao biển

- Sao biển thuộc nghành Da gai (Echinodermata) Chúng có dạng đối xứngtỏa tròn 5 bậc, gồm một đĩa trung tâm ở giữa và 5 hay nhiều tay cuốn xếp xung quanh, đôikhi, số tay cuốn lên đến 40 chiếc.Chúng không có cơ quan chuyên hóa để đảm nhiệm việcbắt hay nghiền mồi Trên mặt đối diện, bộ xương chỉ có các tấm gắn với nhau Trong đó tấmsàng có kích thước lớn hơn hoặc có màu sắc khác các tấm khác.Nhờ có 2 dãy hàm chânmóng nằm giữa cánh tạo điều kiện cho sao biển di chuyển và có khả năng tái sinh khi bị mất

đi Thức ăn của sao biển thường là những loài cá, ốc, trái biển

3.21 San hô

- San hô (Anthozoa) thuộc lớp động vật không xương sống thuộc ngành Ruột khoang, phụ ngành

Thích ti (Cnidaria), chỉ có dạng thuỷ tức, không có dạng thuỷ

mẫu Các cá thể dạng thuỷ tức nằm trong khối cơ chất trung

gian (San hô mềm) hoặc một bộ xương bằng sừng (San hô

sừng) hoặc xương đá vôi (San hô đá) Đa số sống thành tập

đoàn lớn ở vùng biển nông, hình thành nên các rạn San hô,

đảo San hô là chướng ngại cho giao thông đường biển

Trang 10

3.22 Cá phèn

- Phân bố: các vùng nhiệt đới và ôn đới

- Kích thước tối đa: 55 cm (loài Parupeneus barberinus)

- đặc điểm : Cá thường sống theo đàn, hoạt động chủ yếu vào ban đêm.Thân cá dài, vây lưng cách xa vây bụng Đặc điểm dễ nhận biết là chúng có 2 râu ở dướicằm Nhờ những chiếc râu này, chúng có thể tìm được những sinh vật nhỏ sống trong nềnđáy làm thức ăn Cá phèn thường có màu sắc sặc sỡ và có thể thay đổi màu tùy theo hoạtđộng cơ thể

cá mập Kích thước khá nhỏ, những chiếc đuôi rất dài,

đôi khi dài hơn cả thân Nhờ hai chiếc râu dưới cằm, chúng

tìm những loài sinh vật và cá nhỏ sống vùi trong đáy làm thức ăn

3.24 Cá bò bông bi

- Phân bố ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Biển Đỏ, Nam Phi

- Kích thước tối đa là 50cm

- Đặc điểm: đây là loàii cá rất quý hiếm, có màu sặc sặc sỡ và đặc trưng Thường sống đơn độc

quanh các rạn san hô Cũng như các loài cá bò khác, cá bò

bông bi có những chiếc răng rất khoẻ Thức ăn của chúng là cầu gai, sò, ốc, mực, v.v Cá rấthung hăng, luôn sẵn sàng tấn công những sinh vật khác sống cùng

3.25 Cá bò hỏa tiễn (Balistidae)

- Phân bố: Úc, Ấn Độ, Thái Bình Dương

- Kích thước tối đa 60cm ( loài Balistoides viridescens)

- Đặc điểm: Lớp da cá rất dày, miệng nhỏ nhưng có những chiếc răng rất khỏe nhờ đó có thể ăn được

Trang 11

những sinh vật có vỏ cứng như cua, cầu gai, sò vẹm Lớp da dưới ngực cá có khả năng giãn

ra làm cho kích thước cá tăng đáng kể để hăm dọa kẻ thù

3.26 Cá voi lưng gù :

Cá voi là loài động vật lớn nhất ở biển Với thân hình đồ sộ nhưngchúng lại là những loài động vật hiền lành chúng chỉ ăn các động vật phù du của biển Chúngtiêu tốn thức ăn khoảng 4 tấn trong 1 ngày Bộ xương cá voi lưng gù được phát hiện vàongày 08/12/1994 do nhân dân xã Hải Cường huyện Hải Hậu tỉnh Hà Nam tìm thấy khi đàomương thuỷ lợi Nó nằm cách mặt đất 1,2 m và cách bờ biển 4km, chiều dài của bộ xương là18m, nặng gần 10 tấn, nếu sống có thể lên gần 80 tấn Vào năm 1997 tỉnh uỷ Hà Nam đãtrao tặng bộ xương này cho viện Hải Dương học Nha Trang

3.27 Bò biển Dugong Dugon (Muller, 1776)

- Bò biển này bị mắc vào lưới của ngư dân ngày 23 tháng 12 năm 2003thuộc địa phận xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, chiều dài 275cm, trọnglượng khoảng 400kg

- Bò biển là loài thú biển, đẻ con và nuôi con bằng sữa, tuổi thọ của bò biển

có thể trên 70 tuổi, thành thục sinh dục sớm ở độ tuổi 9-10 ,

bò biển sinh sản quanh năm, đỉnh cao là mùa cỏ biển

phong phú, bò biển mang thai đến 13 tháng và chỉ sinh

một con, vú nằm ở nách, con con bú sữa mẹ và bắt đầu

gặm cỏ sau vài tuần

- Bò biển không thể lặn lâu trong nước nó cần lấy không khí để thở, thờigian nín thở lâu nhất là 8 phút 26 giây, chúng bơi chậm chạp, tốc độ trung bình khoảng 5km/

h, nhanh nhất có thể đạt đến 20km/h

- Bò biển có thể sống đơn độc, từng đôi mẹ-con, thành những nhóm nhỏ

- Bò biển phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc vùng Ấn Độ-TâyThái Bình Dương Bò biển được phát hiện ở vùng côn đảo (khoảng 8-12 con) Phú Quốc

- Hiện nay trên thế giới ước tính bò biển con khoảng 100000 con Sự suy giảm số lượng bò biển do

nhiều nguyên nhân khác nhau: Do săn bắn, ô nhiếm

môi trường, các thảm cỏ biển bị phả hoại…Nhiều nhà khoa

học cho rằng chúng có thể sẽ bị tuyệt chủng trong tương

lai gần Vì vậy cần phải có biện pháp tích cực và hữu hiệu

nhằm bảo vệ loài thú quý hiếm này

3.28 Tôm kí cư

Trang 12

- Tôm ký cư hay còn gọi là ốc mượn hồn thuộc bộ Mười chân (Decapoda) Chúng có bụng và phần

bụng kém phát triền thích ứng với lối sống bò Loài tôm này

không có vỏ cứng bao bọc cơ thể nên thường sống chui trong

vỏ ốc, dấu phần bụng mềm vào trong vỏ Bụng mất đối xứng

và mất phân đốt Khi cơ thể lớn lên, vỏ ốc cũ không còn đủ chỗ để chứa thì chúng

rời bỏ vỏ ốc cũ để đi tìm một vỏ ốc khác lớn hơn

3.29.Cá mú

- Cá Mú thường sống ẩn mình trong các hang, hốc hay rạn san hô Kích thước tối đa có thể lên

đến 2,7 m Ở một số loài cá có khả năng chuyển đổi giới

tính, ban đầu là cá cái, khi kích thước cơ thể đạt đến 80 cm

thì biến đổi thành cá đực Đây là một loại cá có giá trị kinh tế

cao và đang được nuôi ở nhiều nơi

4 Ý nghĩa của đa dạng sinh vật bển

- Các rạn san hô tạo nên một khu hệ sinh thái đẹp có lợi cho việc phát triển dulịch biển ở nước ta

- Các loài cá biển luôn là những sinh vật mang giá trị kinh tế cao cho ngưòidân như cá mú, cá mặt quỷ, cá chình, v.v

5 Đa dạng thực vật biển

5.1 Hệ sinh thái cỏ biển

- Số loài cỏ biển trên toàn thế giới đến nay đã biết 58 loài Ở Việt Nam phântích các mẫu cỏ biển lưu trữ tại Phân Viện Hải dương học Hải Phòng thuộc Viện Khoa học

& Công nghệ Việt Nam, thu được trong các cuộc khảo sát ở một số vùng ven biển và đảo(Long Châu, đảo Trần, Bạch Long, quần đảo Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quý, Phú Quốc đãxác định được 14 loài cỏ biển Như là Halophila beccarii (cỏ nàn), Halophila ovalis (cỏxoan),, Thalassia hemprichii (cỏ vích), Enhalus acoroides (cỏ lá dừa), Cymodocea rotundata(kiệu tròn), Cymodocea serrulata (kiệu răng cưa).v.v

- Số liệu thống kê mặc dù chưa đầy đủ, diện tích phân bố cỏ biển cho đếnnay đă biết khoảng trên 10.000 ha

Trang 13

- Các loài cỏ biển phát triển hầu như quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùaxuân, đầu hè, phát triển kém vào mùa mưa bão Chúng phân bố từ vùng triều đến độ sâu 3 -15m.

- Chúng thích nghi với độ muối 0,5-3,4%, chất đáy là bùn bột nhỏ, bùn cát,cát san hô, cát thô hoặc sỏi

5.2 Ý nghĩa của hệ sinh thái cỏ biển

- Hệ sinh thái cỏ biển tuy có số lượng loài không nhiều, nhưng chúng đóngvai trò quan trọng trong biển cả và đại dương Hệ sinh thái cỏ biển có các chức năng quantrọng như điều chỉnh (môi trường thủy vực), cung cấp (nơi ở của các loài), sản xuất (nguồngen, nguyên nhiên vật liệu, năng lượng) và thông tin (nghiên cứu khoa học, du lịch) Thảm

cỏ biển có thể làm ổn định và bảo vệ nền đáy bằng hệ rễ, thân bò và lá rụng xuống đất.Chúng có tác dụng ngăn ngừa hoặc giảm thiểu sự xói mòn hay phá hỏng bờ biển

- Giá trị kinh tế 1ha diện tích cỏ biển ở một số nước :+ 12.635 USD/ha/năm (nghề cá) (Trung Quốc)+ 16.640 USD/ha/năm (bảo vệ bờ) (Trung Quốc)+ 20.000 USD/ha/năm (nghề cá) (Philippin)+ 1.200.000 USSD/ha/năm (giá trị nghề cá và các giá trị tổng hợp khác

- Ở Việt Nam :+ Vịnh Cam Ranh: 7.920.000 USD

+ Phá Tam Giang - Cầu Hai: 1.628.000 USD

+ Bãi Bổn ở đảo Phú Quốc: 481.202 USD v.v

- Cỏ biển còn được sử dụng làm giấy viết, hóa chất, thuốc nổ, chất cách âmcách nhiệt, làm thuốc chữa bệnh, thực phẩm, thủ công mĩ nghệ, phân bón, thức ăn gia súc

- Làm giảm tác động cơ học của sóng biển, gió để bảo vệ bờ biển tiếp giápvới vùng ngập mặn, chống xói lỡ, bảo biển làm lắng trầm tích, làm nước biển trong hơn

- Lọc sinh học khổng lồ, hấp thu rất nhanh những kim loại nặng từ môitrường biển giống như một nhu cầu sinh lí của cỏ biển, đó chính là tác dụng xử lí môi trường

- Nguồn lợi sinh vật là nơi ở nơi cư trú của tất cả các loài sinh vật

- Vùng có cỏ biển thì đa dạng sinh vật rất cao

- Là nơi nuôi các sinh vật non

- Là nguồn thức ăn cho những loài cá: cá dìa, đồi mồi, bò biển, rùa biển 5.3 Rong biển và vai trò của rong biển

Trang 14

- Rong biển không được coi là một hệ sinh thái riêng mà chỉ được coi là hệsinh thái đi theo hệ sinh thái cỏ biển.

- Rong biển có khoảng 700 loài có giá trị kinh tế cao Rong biển có 3 vai tròchính:

+ Làm thực phẩm, dược liệu+ Cung cấp nguyên liệu dùng trong công nghiệp: chế xuất agar (làmthạch chủ yếu là công nghệ sản xuất rau câu; chế biến axinat: chất keo enzim từ rong nâu,rong mơ; chế xuất caragen dùng trong công nghiệp mĩ phẩm

- Ngoài ra rong biển còn có tác dụng:

+ Làm sạch nước

+ Phát triển bền vững trong nuôi trồng thuỷ sản

+ Nâng cao chất lượng môi trường

- Một trong số loài rong biển có ý nghĩa quan trọng là rong nho Loài rongnày đã được nuôi trồng thành công ở Viện Hải Dương học Nha Trang và được phát triển đạitrà Đây là nguồn thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao, có thể thay cho rau xanh Hiện nay,rong nho là thực phẩm xuất khẩu rất có giá trị ở nước ta

6 Các đặc tính động học của nước

6.1

Độ sóng đập : + Năng lượng sóng đổ vào bờ khác nhau tùy địa hình bờ biển

+ Phân chia vùng triều

1 Vùng trên triều: có giới hạn dưới bởi mực triều cao nhất

Ngày đăng: 27/06/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w