1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương giới thiệu luật tố tụng hình sự năm 2003

26 619 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật tố tụng hình sự này thay thế Bộ luât tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 09 tháng 6 năm 2000

Trang 1

Bộ T pháp Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật Viện khoa học kiểm sát

Bộ luật tố tụng hình sự đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày

01 tháng 7 năm 2004

Bộ luật tố tụng hình sự này thay thế Bộ luât tố tụng hình sự đợc Quốc hội thôngqua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tốtụng hình sự đợc Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990, ngày 22 tháng 12năm 1992 và ngày 09 tháng 6 năm 2000

- Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 là Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Nhà nớc ta

đ-ợc ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Bộ luật tố tụng hình sự đã gópphần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độxã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích củaNhà nớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc

đổi mới, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

- Trong quá trình thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự đã đợc Quốc hội nớc ta sửa đổi,

bổ sung 3 lần Các lần sửa đổi, bổ sung đã đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thựctiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ và đã từng bớc thể chế hóa một

số quan điểm về cải cách t pháp ở nớc ta

Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X ngày 29 tháng 4 năm 1999, Viện kiểm sátnhân dân tối cao đã thay mặt các cơ quan soạn thảo trình Quốc hội cho ý kiến về dự án

Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), trong đó nêu rõ sự cần thiết phải sửa đổi Bộ luật tốtụng hình sự một cách toàn diện để bảo đảm cho Bộ luật phù hợp với những nội dungcải cách t pháp, với dự kiến sửa đổi Bộ luật hình sự Trong khi chờ Quốc hội xem xét,thông qua Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) thì Bộ luật hình sự mới đã đ ợc Quốc hộikhóa X thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 tại kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực kể từngày 1 tháng 7 năm 2000 Để bảo đảm thi hành một số nội dung mới theo quy định của

Bộ luật hình sự năm 1999, giải quyết một số vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra, Việnkiểm sát nhân dân tối cao đã trình Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Bộ luật tố tụng hình sự vào tháng 6 năm 2000 tại kỳ họp thứ 7

Trang 2

Hiện nay, cùng với công cuộc cải cách kinh tế và cải cách hành chính, cải cách tpháp đang đợc Đảng và Nhà nớc ta tích cực triển khai và coi đây là nhân tố quan trọngthúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phầnlàm cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong bối cảnh đó,Hiến pháp năm 1992 đã đợc sửa đổi Để tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh hơn công cuộccải cách t pháp, ngày 2 tháng 1 năm 2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới Trong Nghịquyết này đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự đòi hỏi phải đợc nghiêncứu, phân tích một cách toàn diện để thể chế hóa thành những quy định của Bộ luật tốtụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lợng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thihành án hình sự Mặt khác, thời gian qua cũng đã có nhiều văn bản pháp luật mới đợcban hành có các nội dung liên quan đến tố tụng hình sự nh Luật tổ chức Tòa án nhândân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002; đồng thời cũng cầnphải tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm1988 cho phùhợp với các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 nhằm bảo đảm tính thống nhất,

đồng bộ giữa các văn bản pháp luật

Vì vậy, việc sửa đổi toàn diện Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cảicách t pháp, đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của côngdân

II Các quan điểm cơ bản chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật

tố tụng hình sự

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự lần này phải quán triệt những quan

điểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, phải thể chế hóa những quan điểm của Đảng, Nhà nớc về cải cách t

pháp, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong tìnhhình mới, tăng cờng khả năng chống bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội, chống làm oanngời vô tội, mọi hành vi phạm tội đều phải đợc phát hiện và xử lý nghiêm minh, chínhxác và kịp thời

Thứ hai, phải bảo đảm tốt hơn các quyền dân chủ của công dân, nâng cao tính an

toàn về mặt pháp lý cho công dân, khắc phục việc bắt, giữ, giam, điều tra, truy tố, xét

xử, oan, sai

Thứ ba, phải bảo đảm các trình tự và các thủ tục tố tụng cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu,

có tính khả thi, tạo điều kiện cho những ngời tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện

đầy đủ quyền và trách nhiệm tố tụng

Thứ t, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và ngời tiến hành tố

tụng, phù hợp với những nội dung cải cách t pháp đợc khẳng định trong các nghị quyếtcủa Đảng; giải quyết đúng đắn vấn đề phân cấp thẩm quyền của các trình tự tố tụnghình sự, chức trách của cơ quan tiến hành tố tụng và trách nhiệm của ng ời tiến hành tố

Trang 3

tụng trong việc làm oan sai, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ t pháp trong sạch, vữngmạnh.

Thứ năm, việc sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự phải đợc tiến hành trên cơ sở tổng

kết thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, kế thừa và phát triển nhữngquy định đã phát huy tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

ở nớc ta; đồng thời nghiên cứu và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm về lập pháp tốtụng hình sự của các nớc trong khu vực và trên thế giới

III Về phạm vi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự:

Phạm vi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự lần này là sửa đổi một cách cơ bản vàtoàn diện, là quá trình rà soát lại toàn bộ Bộ luật, kế thừa và giữ lại những điều luật cònphù hợp, loại bỏ, sửa đổi những quy định không còn phù hợp, bổ sung và xây dựngnhững quy định mới để đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay

IV Cơ cấu cuả Bộ luật tố tụng hình sự :

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm: Lời nói đầu, 7 phần, 32 chơng, 293 điều

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có Lời nói đầu, gồm 8 phần, 37 chơng, 346

điều Nh vậy, so với Bộ luật cũ thì Bộ luật mới đã bổ sung một phần mới (Phần thứ támquy định về hợp tác quốc tế, gồm 2 chơng), bổ sung 5 chơng mới (đó là các chơng: Ch-

ơng I: Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự; Chơng XXXIV: Thủ tục rútgọn ; Chơng XXXV: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự ; Chơng XXXVI: Nhữngquy định chung về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự và Chơng XXXVII:Dẫn độ và chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án) và tăng 53 điều luật

V Nội dung chủ yếu của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đợc xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triểnnhững quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã phát huy tác dụng tích cựctrong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ở nớc ta thời gian qua, do đó trong Bộluật tố tụng hình sự năm 2003 đã giữ lại nhiều nội dung của Bộ luật tố tụng hình sự

năm1988 vẫn còn phù hợp Trong Đề cơng bài giới thiệu này chỉ tập trung nêu những

điểm mới cơ bản đợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chứ không nêu toàn bộ những nội dung chủ yếu của Bộ luật Dới đây là một số điểm mới của Bộ luật:

A phần thứ nhất: những quy định chung

Phần những quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 gồm 6 chơng,

84 điều Phần này của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 gồm 7 chơng, 99 điều (táchChơng I thành 2 chơng: Chơng I quy định nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụnghình sự ; Chơng II quy định những nguyên tắc cơ bản) Nội dung sửa đổi phần này tậptrung vào những vấn đề chính sau:

Trang 4

1 Về nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự

Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự đợc quy định tại Chơng I của

Bộ luật gồm 2 điều

Về nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự, bên cạnh việc bổ sung phạm vi điềuchỉnh của Bộ luật ( quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những ngời tiếnhành tố tụng; quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự) cho đầy đủ, Bộ luật đã

bổ sung một nhiệm vụ rất quan trọng đó là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.

Về hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung cho cụ thể,

rõ ràng và đầy đủ hơn trong đó khẳng định mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổnớc CHXHCN Việt Nam phải đợc tiến hành theo quy định của Bộ luật này, trừ một sốtrờng hợp do luật định thì hoạt động tố tụng hình sự đợc tiến hành theo quy định của

điều ớc quốc tế hoặc vụ án đợc giải quyết bằng con đờng ngoại giao ( Điều 1 BLTTHS)

và giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra cần sửa đổi, bổ sung, xây dựngmới một số nguyên tắc Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung

và xây dựng mới một số nguyên tắc sau đây:

2.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền đợc bồi thờng thiệt hại do ngời có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Thực tiễn giải quyết việc bồi thờng thiệt hại trong tố tụng hình sự hiện nay chothấy đây là vấn đề nổi cộm, bức xúc, kéo dài; khiếu nại của công dân trong lĩnh vựcnày diễn biến phức tạp Một trong những nội dung quan trọng của cải cách t pháp hiệnnay là phải kiên quyết khắc phục các trờng hợp oan, sai và bảo đảm quyền đợc bồi th-ờng thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị yêu cầu: “Khẩn trơng ban hành và tổ chức thực

hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thờng thiệt hại đối với những trờng hợp

bị oan, sai trong hoạt động tố tụng” Ngày 17/3/2003, Uỷ ban Thờng vụ Quốc hội đã ra

Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thờng thiệt hại cho ngời bị oan do

ng-ời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Vì vậy, Bộ luật đã sửa đổi, bổsung khoản 3 Điều 24 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 để quy định thành hai nguyêntắc:

a) Nguyên tắc bảo đảm quyền đợc bồi thờng thiệt hại và phục hồi danh dự,

quyền lợi của ngời bị oan

Trang 5

"Ngời bị oan do ngời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền đợc bồi thờng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thờng thiệt hại và phục hồi danh

dự, quyền lợi cho ngời bị oan, ngời đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền của pháp luật" (Điều 29 BLTTHS).

b) Nguyên tắc bảo đảm quyền đợc bồi thờng của ngời bị thiệt hại do cơ quan

hoặc ngời có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra

"Ngời bị thiệt hại do cơ quan hoặc ngời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền đợc bồi thờng thiệt hại.

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thờng cho ngời

bị thiệt hại; ngời đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Điều 30 BLTTHS).

2.2 Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha quy định nguyên tắc hai cấp xét xử Quántriệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII về việcthực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử và để bảo đảm đồng bộ với Luật tổ chức Toà ánnhân dân năm 2002, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã bổ sung nguyên tắc này nh

sau: Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có

thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ

án phải đợc xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì đợc xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm( Điều 20 BLTTHS).

2.3 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha quy định nguyên tắc chung về việc giảiquyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Thực tiễn cho thấy các cơ quan tiến hành tốtụng thờng giải quyết các vấn đề dân sự gắn liền với việc chứng minh tội phạm nhngviệc thực hiện vấn đề này còn thiếu thống nhất Để tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyếtvấn đề bồi thờng, bồi hoàn trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm bảo đảm việc giảiquyết vụ án hình sự đợc nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi của những ngờitham gia tố tụng, Bộ luật đã bổ sung nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án

hình sự nh sau: việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đợc tiến hành cùng

với việc giải quyết vụ án hình sự Trong trờng hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề

Trang 6

bồi thờng, bồi hoàn mà cha có điều kiện để chứng minh và không ảnh hởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự ( Điều 28 BLTTHS).

2.4 Nguyên tắc về việc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cha có quy định về việc giám sát đối với hoạt

động của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng Nghị quyết số 08- NQ/TW

của Bộ chính trị nêu rõ phải " tăng cờng sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân,

của các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác t pháp" Để tạo cơ sở pháp lý

thực hiện quyền giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và nhân dân đối vớihoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng, góp phần khắcphục việc oan sai, bỏ lọt tội phạm, Bộ luật đã quy định nguyên tắc chung về việc giám

sát là : Cơ quan nhà nớc, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên

của Mặt trận, đại biểu dân cử, có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành

tố tụng, ngời tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng Nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nớc, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị và yêu cầu đó theo quy định của pháp luật

(Điều 32 BLTTHS).

3 Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những ngời tiến hành tố tụng

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã có nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của những ngời tiến hành tố tụng Tuy nhiên các quy định này còn cónhững bất cập, cha phân định đợc rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của các chức danh tố tụng Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung

ơng Đảng khoá VII về việc xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng chức danh

tố tụng, phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng nhằm nâng caotrách nhiệm của những ngời tiến hành tố tụng, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung một số nộidung sau:

3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trởng, Phó Thủ trởng cơ quan

điều tra và Điều tra viên

- Quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trởng Cơ quan điều tra (Điều

34 BLTTHS).

Trang 7

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trởng, Phó thủ ởng Cơ quan điều tra khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự (khoản 2 Điều 34BLTTHS).

tr Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên khi đợcphân công điều tra vụ án hình sự (Điều 35 BLTTHS)

3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trởng, Phó Viện trởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên

- Quy định rõ những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trởng Viện kiểm sát (khoản

1, Điều 36 BLTTHS)

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trởng, Phó viện trởng Việnkiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt

động tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 36 BLTTHS)

- Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên khi đợcphân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm (Điều 40 BLTTHS)

- Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Th ký phiên toà (Điều 41 BLTTHS)

4 Về quyền và nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng

Quyền và nghĩa vụ của những ngời tham gia tố tụng nh bị can, bị cáo, ngời bàochữa, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan đến vụ án, ngời giám định, ngời phiên dịch đợc quy định tại Chơng III Bộ luật tốtụng hình sự năm 1988 Quán triệt Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ Chính trị về vấn

đề tranh tụng tại phiên toà và việc tham gia của ngời bào chữa vào quá trình tố tụng nhtham gia hỏi cung bị can, tranh luận dân chủ tại phiên toà, để bảo đảm thực hiện đầy đủhơn các quyền của họ trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơquan tiến hành tố tụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một sốvấn đề chính sau đây:

- Quy định ngời bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa( các điều 11, 48 BLTTHS)

Trang 8

- Quy định rõ hơn quyền khiếu nại của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo và nhữngngời tham gia tố tụng khác đối với các hành vi và quyết định của cơ quan và ngời cóthẩm quyền tiến hành tố tụng; bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vàngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền phát biểu ý kiến tại phiên toà

để bảo vệ quyền và lợi ích của mình ( các điều 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54 BLTTHS)

- Bổ sung quy định Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viêncủa Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho ngời bị tạm giữ, bịcan, bị cáo là thành viên của tổ chức mình (Điều 57 BLTTHS)

- Mở rộng quyền của ngời bào chữa theo hớng: ngời bào chữa đợc tham gia tốtụng từ khi khởi tố bị can, trong trờng hợp bắt ngời theo quy định tại Điều 81 và Điều

82 Bộ luật tố tụng hình sự thì đợc tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ; đợc

đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữasau khi kết thúc điều tra; xem các biên bản về hoạt động tố tụng khi có mặt của họ vàxem các quyết định tố tụng có liên quan đến ngời mà họ bào chữa; đợc đề nghị cơ quan

điều tra báo trớc về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bịcan; bổ sung quyền của ngời bào chữa đợc thu thập đồ vật, tài liệu, tình tiết liên quan

đến việc bào chữa từ ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời thân thích của những ngời nàycũng nh từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu không thuộc bí mật nhà nớc và bí mậtcông tác (Điều 58 BLTTHS)

Đồng thời cũng quy định rõ trách nhiệm của ngời bào chữa (khoản 3,4 Điều 58)

5 Về những biện pháp ngăn chặn

Những biện pháp ngăn chặn đợc quy định tại Chơng V của Bộ luật tố tụng hình

sự năm1988 gồm có: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiềnhoặc tài sản để bảo đảm Thực tiễn thi hành Bộ luật thời gian qua cho thấy việc áp dụngcác biện pháp ngăn chặn đã phát huy tác dụng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tộiphạm, bảo đảm quyền công dân; tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cònxảy ra những trờng hợp oan, sai Các nghị quyết của Đảng về cải cách t pháp, nhất là

Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ chính trị đã nhấn mạnh phải: "nghiên cứu, đề xuất

các giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can trong một

số loại tội"; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng

các biện pháp ngăn chặn, nhất là trách nhiệm phê chuẩn của Viện kiểm sát

Căn cứ vào tổng kết thực tiễn và để quán triệt các nghị quyết của Đảng, nâng caotrách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác bắt, giam, giữ, Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 đã quy định chặt chẽ hơn việc áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp,tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú , bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm

Cụ thể nh sau:

- Quy định chặt chẽ việc xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp Trong trờng hợp cầnthiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi ngời bị bắt trớc khi xem xét quyết định việcphê chuẩn hoặc không phê chuẩn; thời hạn xét phê chuẩn của Viện kiểm sát là 12 giờ

Trang 9

kể từ khi nhận đợc đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp;trong trờng hợp Viện kiểm sát không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp thì Cơ quan điều traphải trả tự do ngay cho ngời bị bắt (Điều 81 BLTTHS).

- Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận ngời bị bắttheo lệnh truy nã nh sau:

Sau khi bị bắt hoặc nhận ngời bị bắt trong trờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho ngời bị bắt.

Đối với ngời bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận ngời bị bắt.

Sau khi nhận ngời bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết

định đình nã Trong trờng hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định không thể đến nhận ngay ngời bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết.

Sau khi nhận đợc thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt

để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã đợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt Sau khi nhận đợc lệnh tạm giam, Cơ quan điều tra nhận ngời bị bắt có trách nhiệm giải ngay ngời đó đến trại tạm giam nơi gần nhất (Điều 83 BLTTHS)

- Quy định bổ sung đối tợng bị áp dụng biện pháp tạm giữ, thẩm quyền ra lệnhtạm giữ, thời hạn gia hạn tạm giữ của Viện kiểm sát, cụ thể là:

Thời hạn tạm giữ không đợc quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận ngời

bị bắt.

Trong trờng hợp cần thiết, ngời ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ,

nh-ng khônh-ng quá ba nh-ngày Tronh-ng trờnh-ng hợp đặc biệt, nh-ngời ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhng không quá ba ngày Mọi trờng hợp gia hạn tạm giữ đều phải đợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận đợc

đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho ngời bị tạm giữ.

Thời gian tạm giữ đợc trừ vào thời hạn tạm giam Một ngày tạm giữ đợc tính bằng một ngày tạm giam (Điều 87 BLTTHS).

- Quy định chặt chẽ và rõ ràng hơn về những trờng hợp có thể áp dụng biện pháptạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con d ới 36 tháng tuổi,

là ngời già yếu, ngời bị bệnh nặng mà nơi c trú rõ ràng:

Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dới ba mơi sáu tháng tuổi, là ngời già yếu ngời bị bệnh nặng mà nơi c trú rõ ràng thì không tạm giam

mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trờng hợp sau đây:

a Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

Trang 10

b Bị can, bị cáo đợc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây ra ngay hại đến an ninh quốc gia ( Điều 88 K2).

- Quy định rõ những ngời có thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Thủ ởng, Phó thủ trởng Cơ quan điều tra; Viện trởng, Phó Viện trởng Viện kiểm sát; Chánh

tr-án, Phó chánh án Toà án các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó chánh toàToà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng xét xử

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về cácbiện pháp ngăn chặn khác nh cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản đểbảo đảm, cụ thể nh sau:

+ Cấm đi khỏi nơi c trú là biện pháp ngăn chặn đợc quy định tại Điều 74 Bộ luật

tố tụng hình sự năm1988 Thực tiễn hoạt động tố tụng cho thấy việc áp dụng biện phápnày còn có những hạn chế vì điều luật quy định cha rõ điều kiện, cơ chế bảo đảm việc

áp dụng biện pháp này Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định: cấm đikhỏi nơi c trú là biện pháp ngăn chặn có thể đợc áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi ctrú rõ ràng; chính quyền xã, phờng, thị trấn có trách nhiệm quản lý ngời đợc áp dụngbiện pháp ngăn chặn này (Điều 91 BLTTHS)

+ Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn đợc quy định tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình

sự 1988.Thực tiễn cho thấy việc áp dụng biện pháp này còn gặp nhiều khó khăn, vớngmắc vì điều luật cha quy định rõ trách nhiệm của tổ chức hoặc cá nhân đứng ra bảolĩnh, nhiều bị can, bị cáo sau khi đợc bảo lĩnh đã không có mặt khi cơ quan tiến hành tốtụng triệu tập, tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy

tố, xét xử Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi quy định về biện phápnày theo hớng:

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can,

bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định cho họ đợc bảo lĩnh.

Cá nhân có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là ngời thân thích của họ Trong trờng hợp này thì ít nhất phải có hai ngời Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự

có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh đợc thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

Những ngời quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán đợc phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh.

Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là ngời có t cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền

Trang 11

địa phơng nơi ngời đó c trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi ngời đó làm việc Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của ngời đứng đầu tổ chức.

Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trờng hợp này bị can, bị cáo đợc nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (Điều 92 BLTTHS).

Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định đặt tiền hoặc tài sản đểbảo đảm là biện pháp ngăn chặn chỉ có thể đợc áp dụng đối với bị can, bị cáo là ngời n-

ớc ngoài Để thực hiện chủ trơng hạn chế các trờng hợp tạm giam theo Nghị quyết số08-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều ý kiến đề nghị cần quy định áp dụng biện pháp đặttiền hoặc tài sản để bảo đảm đối với cả bị can, bị cáo là ngời Việt Nam Thực tiễn hiệnnay cho thấy có những trờng hợp có thể áp dụng biện pháp này mà không cần thiết phải

áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ Vì vậy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đãsửa đổi và quy định theo hớng:

Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo

sự có mặt của họ theo giấy triệu tập.

Những ngời quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán đợc phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm Quyết định của những ngời quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải đợc Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trớc khi thi hành

Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lợng tiền, tên và tình trạng tài sản đã đợc đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản.

Trong trờng hợp bị can, bị cáo đã đợc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nớc và trong trờng hợp này bị can, bị cáo sẽ áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Trong trờng hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt.

Trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt đợc thực hiện theo quy định của pháp luật (Điều 93 BLTTHS).

Trang 12

B phần thứ hai : khởi tố và điều tra vụ án hình sự

Phần những quy định về khởi tố điều tra vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988 gồm 8 chơng 64 điều Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định phầnnày gồm 8 chơng, 70 điều Nội dung sửa đổi tập trung vào những vấn đề chính sau đây:

1 Về các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Các nghị quyết của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan điềutra, đặc biệt là những nội dung đợc đề cập trong Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ

Chính trị đã chỉ rõ: Nâng cao chất lợng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp

nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, tăng cờng phối hợp giữa cơ quan điều tra chuyên trách với các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để phục vụ tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; sắp xếp, củng cố lại cơ quan điều tra; quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Thủ trởng cơ quan điều tra và

điều tra viên; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra và trinh sát Để thực hiện các

nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi , bổ sung một sốvấn đề sau đây:

a) Về cơ quan điều tra

Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định các cơ quan điều tra gồm có:cơ quan điều tra của lực lợng Cảnh sát nhân dân, cơ quan điều tra của lực lợng An ninhnhân dân, cơ quan điều tra trong Quân đội và cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhândân

Quán triệt chủ trơng thu gọn đầu mối cơ quan điều tra theo tinh thần các nghịquyết của Đảng về cải cách t pháp, để nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác điều tra,phân định thẩm quyền điều tra của các cơ quan điều tra ở từng ngành và giữa các cấp

điều tra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ quan

điều tra nh sau:

- Cơ quan điều tra gồm có: cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, cơ quan

điều tra trong Quân đội nhân dân và cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tốicao

- Quy định thẩm quyền điều tra của từng hệ thống cơ quan điều tra thuộc mỗi

Bộ, ngành: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừnhững tội phạm do cơ quan điều tra trong Quân đội và những vụ án do Cơ quan điều traViện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra; cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điềutra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; Cơ quan điều tra củaViện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động t pháp màngời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan t pháp

- Quy định nguyên tắc chung là cơ quan điều tra cấp nào thì điều tra những vụ ánthuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp đó; cơ quan điều tra cấp bộ trong Công annhân dân và Quân đội nhân dân điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc

Trang 13

biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp dới

nh-ng xét thấy cần trực tiếp điều tra

Đồng thời Bộ luật cũng quy định: tổ chức bộ máy và thẩm quyền cụ thể của cáccơ quan điều tra sẽ do Uỷ ban thờng vụ Quốc hội quy định (Điều 110 BLTTHS)

b) Các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng hình sự 1988, các cơ quan khác đợcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là Bộ đội Biên phòng, Hải quan,Kiểm lâm và các cơ quan khác của lực lợng Cảnh sát nhân dân, lực lợng An ninh nhândân, Quân đội nhân dân

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm của cáccơ quan điều tra và qua khảo sát tại các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểmlâm, Cảnh sát biển cho thấy hoạt động của các cơ quan này đã góp phần tích cực vàocuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn và trong lĩnh vực mà họ quản lý.Trên tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung các quy định

về thẩm quyền của các cơ quan đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tratheo hớng:

Tiếp tục quy định: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm và bổ sung thêmCảnh sát biển (do tính chất hoạt động quản lý của Cảnh sát biển có nhiều điểm giống

nh Bộ đội biên phòng) đợc tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội ít nghiêmtrọng trong trờng hợp phạm pháp quả tang, chứng cứ rõ ràng, ngời phạm tội có lai lịch

rõ ràng, hoàn thành hồ sơ chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 20ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Đối với các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và tội ítnghiêm trọng nhng phức tạp thì đợc khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều traban đầu và chuyển cho cơ quan điều tra trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết địnhkhởi tố vụ án (Điều 111 BLTTHS)

c) Về trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và khởi tố vụ án

Trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạmkhởi tố vụ án đợc quy định tại các điều 86, 87, 90 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Thựctiễn cho thấy cơ quan điều tra khởi tố khoảng 95-97% tổng số vụ án đ ợc khởi tố, Việnkiểm sát chỉ khởi tố khoảng 2-3%, còn lại là các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra thực hiện Do Bộ luật tố tụng hình sự cha phân định rõràng việc nào thì Viện kiểm sát khởi tố, việc nào thì cơ quan điều tra khởi tố, nên có tr -ờng hợp Viện kiểm sát hoặc cơ quan điều tra đều kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết

định việc khởi tố trong cùng một vụ việc hoặc dẫn tới bỏ lọt tội phạm và ngời phạm tội

Để bảo đảm"tăng cờng sự phối hợp giữa các cơ quan t pháp trong hoạt động tố tụngtrên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, khônghữu khuynh hoặc đùn đẩy trách nhiệm" theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của

Ngày đăng: 26/03/2015, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w