cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra ngay từ khi 2 trường phái này xuất hiện trong lịch sử, cho đến nay, cuộc đấu tranh này vẫn chưa hề có dấu hiệu "nguôi ngoai". trong phạm vi bài giảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tôi xin đưa ra quan điểm, cách nhìn nhận cuộc đấu tranh của 2 trường phái này theo chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 2Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới Triết học ra đời
từ rất lâu đời qua một quá trình lịch sử rất lâu dài Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử triết học nói chung thì vấn đề cơ bản nhất của lịch sử triết học đó là cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT Vấn đề này được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học Cuộc đấu tranh này cũng chính là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng
Trang 3- Tùy thuộc vào lập trường và cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học mà trong LS phân thành 2 khuynh hướng triết học đối lập nhau Những người cho rằng VC, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định YT của con người được gọi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phát khác nhau của CNDV Ngược lại, những người cho rằng YT, tinh thần là cái có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ hợp thành các môn phái khác nhau của CNDT.
Trang 4a CNDV:
* Quan điểm chung: Là 1 trong 2 trường phái cơ bản của triết học, CNDV đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại, khi triết học
mới hình thành Nó đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi VC là cái có trước và quyết định YT, đều xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới.
Trang 5Hêraclít cho rằng thế giới VC là do chính
VC sinh ra, mà dạng VC đầu tiên sinh ra
các dạng VC khác đó là lửa Theo ông,
lửa là bản nguyên VC, là nguyên tố VC
đầu tiên của mọi dạng VC
Trang 6Đêmôcrít cho rằng: tất cả mọi vật đều
được hình thành từ những nguyên tử, đó
là phần tử VC bé nhỏ, cơ sở của mọi vật
và không phân chia được nữa
Trang 7- CNDV máy móc, siêu hình: thế kỷ XVII – XVIII Họ xem xét giới tự nhiên và con người chỉ như hệ thống máy móc phức tạp khác
nhau mà thôi Họ siêu hình vì họ chỉ nhìn thấy sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, không vận động, không phát triển
Trang 8- CNDVBC:
Quan điểm cơ bản khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, đó là sự khẳng định vật chất có trước, quy ết định ý thức Thế giới
vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người Còn ý thức, tinh thần chỉ là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người
Trang 9- Ngoài các hình thái cơ bản trên còn 1 số dạng khác như:
+ CNDV tầm thường: với các đại biểu như Buykhơnơ, Phôgtơ… Không thấy sự khác biệt giữa VC và YT, xem YT cũng chỉ là 1 dạng
VC, coi “tư tưởng đối với óc gần giống như mật đối với gan hay nước tiểu đối với thận”.
Trang 10+ CNDV kinh tế ở cuối TK.XIX: coi KT là cái quyết định duy nhất cho sự phát triển của XH (thực ra kinh tế chỉ quyết định sự phát
triển của XH khi xét đến cùng và cũng không phải là nhân tố quyết định duy nhất)
Trang 11b CNDT:
* Các hình thái của CNDT:
Cũng xuất hiện từ thời cổ đại và tồn tại dưới 2 dạng chủ yếu: CNDT KQ và CNDT CQ
Trang 12- CNDT KQ:
+ Các đại biểu nổi tiếng: Platôn, Hêghen…
+ Quan điểm của CNDT KQ: cho rằng có 1 thực thể tinh thần không những tồn tại trước, tồn tại ở bên ngoài, độc lập với con người
và với thế giới VC mà còn sản sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của thế giới VC
Trang 13Ví dụ: Hêghen cho rằng: Khởi nguyên của thế giới không phải là VC mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Tính phong
phú đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của “ý niệm tuyệt đối” “ý niệm tuyệt đối” là cái có
trước VC, tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào con người giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại của “ý niệm tuyệt đối”
Trang 14- CNDT CQ:
+ Các đại biểu nổi tiếng: Béccli, Hium, Phíchtơ.
+ Quan điểm của CNDT CQ: cho rằng cảm giác, ý thức là cái có trước và tồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức, còn các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp của các cảm giác ấy
Trang 15Ví dụ: Béccli cho rằng: tồn tại tức là được tri giác Mọi vật chỉ tồn tại trong chừng mực người ta cảm giác được, không có chủ thể
thì không có khách thể
Trang 16* Quan điểm chung:
Tuy có sự khác nhau trong quan niệm cụ thể về cái có trước và về sự có trước nhưng cả 2 dạng của CNDT đều thống nhất với nhau
ở chỗ: coi YT, tinh thần là cái có trước, là cái sản sinh ra VC và quyết định VC.
Trang 17- Sự ra đời và tồn tại của CNDT bắt nguồn từ nguồn gốc nhận thức luận và nguồn gốc xã hội:
+ Nguồn gốc nhận thức luận: xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính
biện chứng của con người
Trang 18Chẳng hạn: chúng ta biết rằng tư duy con người có khả năng sáng tạo đặc biệt; thông qua thực tiễn mà từ những mô hình trong
đầu óc, con người sáng tạo ra cả 1 thế giới các sự vật, một “thiên nhiên thứ hai” cần thiết cho mình; sự biến đổi của XH cũng được con người thực hiện theo những tư tưởng nhất định
Trang 19Những sáng tạo, những hiểu biết đó của con người đều bắt nguồn từ cảm giác Song, nếu từ đó cho rằng sự vật bên ngoài chỉ là
“phức hợp của cảm giác”, cảm giác là cái có trước sinh ra sự vật thì là sai lầm
Trang 20+ Nguồn gốc xã hội: Là do sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao động trí óc đối với lao động
chân tay trong xã hội đã tạo ra quan niệm về vai trò quyết định của nhân tố tư tưởng, tinh thần
Trang 21c Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT với tính cách là 2 đảng phái chính trong triết học.
- Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình lịch sử triết học cho đến ngày nay.
Trang 22- Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT trong lịch sử triết học đã tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học
Đồng thời, cuộc đấu tranh này cũng biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh hệ tư tưởng của các giai cấp đối địch trong xã hội
Trang 23+ CNDV là thế giới quan của giai cấp, của lực lượng XH tiến bộ, cách mạng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội Trong lịch sử, CNDV đã đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh của chủ nô dân chủ chống chủ nô quý tộc ở Hy lạp thời cổ đại, trong cuộc đấu tranh của GCTS chống giai cấp phong kiến ở các nước phương Tây thời cận đại
Trang 24+ Ngược lại, CNDT được sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho giai cấp thống trị lỗi thời, lạc hậu, phản động.
- Thông qua cuộc đấu tranh các học thuyết triết học mới bộc lộ tư tưởng tích cực, tiêu cực
- Cuộc đấu tranh này vẫn diễn ra quyết liệt
Trang 26- Tóm lại, CNDV và CNDT là cơ sở lý luận của 2 thế giới
quan cơ bản đối lập nhau, chúng đóng vai trò là nền
tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập Do đó,
cần có quan điểm nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy
tâm) trong xem xét 1 vấn đề cụ thể
Trang 27- Nhận thức rõ và kiên định thế giới quan duy vật và
phương pháp tư duy biện chứng Chống chủ nghĩa siêu
hình, triết chung, chủ quan, duy ý chí
Trang 28Triết học Mác - Lênin ra đời là kết quả của sự kế thừa và phát triển những
thành tựu của tư duy triết học nhân loại Đồng thời, là kết quả của sự khái
quát hoá những thành tựu quan trọng nhất của khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội và thực tiễn xã hội Chính vì vậy, triết học Mác - Lênin trở thành thế
giới quan và phương pháp luận khoa học của lực lượng vật chất - xã hội năng
động và cách mạng nhất tiêu biểu cho thời đại ngày nay là giai cấp công nhân
để nhận thức và cải tạo xã hội.
Trang 29Trong thời đại ngày nay, triết học Mác - Lênin đang đứng ở đỉnh cao
của tư duy triết học nhân loại, là hình thức phát triển cao nhất của các
hình thức triết học trong lịch sử Triết học Mác - Lênin là học thuyết về
sự phát triển thế giới, đã và đang phát triển giữa dòng văn minh nhân
loại Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây
dựng CNXH trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN
ở VN.