Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp được kết hợp với hoàn thành cải cách ruộng đất và vận động nông dân đổi công, giúp đỡ nhau sản xuất.. Nhiệm vụ cụ thể lúc này là tiến hành cải tạo xã h
Trang 1Đảng thực hiện chuyển giai đoạn cách mạng -Chặng đầu thời kỳ quá
độ lên CNXH
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta đã xác định cách mạng nước ta phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa
Nhất quán theo phương hướng chiến lược trên, Đảng ta luôn khẳng định sau khi hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ sẽ dần dần chuyển lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn lịch sử gần 40 nǎm thực hiện từng bước chuyển sang giai đoạn cách mạng mới, bước đầu rút ra những kinh nghiệm thành công và chưa thành công trong chặng đầu thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
I- THỰC HIỆN CHUYỂN GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG TRÊN MIỀN BẮC (1954-1975)
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II) (tháng 8-1955) đã xác định: "Đường lối xây dựng miền Bắc là củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"
1- Ba nǎm khôi phục kinh tế (1954-1957)
Ba nǎm khôi phục kinh tế (1954-1957) đã hoàn thành cơ bản những nhiệm
vụ còn lại của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và tạo những tiền đề ban đầu từng bước chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Cụ thể là:
Hoàn thành cải cách ruộng đất, xoá bỏ triệt để sự chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, đưa lại ruộng đất cho nông dân, sửa chữa, khắc phục những hậu quả sai lầm trong tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Những sai lầm, khuyết điểm trên tuy có làm hạn chế sự phấn khởi trong một
bộ phận nông dân, nhưng không thể làm giảm ý nghĩa chiến lược của việc đưa lại ruộng đất cho nông dân Nó không chỉ hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ là: "Dân tộc độc lập" và
"Người cày có ruộng", mà còn có ý nghĩa tạo ra những tiền đề kinh tế - xã hội để tiến lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tiếp quản các thành thị và vùng nông thôn mới giải phóng, đồng thời đấu tranh chống địch phản tuyên truyền, dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân di cư vào các tỉnh phía Nam còn dưới sự kiểm soát của Mỹ - Diệm Đặc biệt là việc tiếp quản nhanh chóng hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng, bảo vệ được nhiều tài sản, những xí nghiệp sản xuất hàng thiết yếu cho đời sống nhân dân, tạo không khí phấn khởi, giữ vững an ninh, trật tự Nhanh chóng ổn định và đưa các mặt hoạt động trở lại bình thường
Khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh với
Trang 2yêu cầu phấn đấu sau 3 nǎm đạt mức sản xuất trước chiến tranh (1939) Khôi phục sản xuất nông nghiệp được đặt là nhiệm vụ hàng đầu, đặc biệt là sản xuất lương thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và phát triển công thương nghiệp
Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp được kết hợp với hoàn thành cải cách ruộng đất và vận động nông dân đổi công, giúp đỡ nhau sản xuất Sửa chữa sáu hệ thống thuỷ nông lớn và xây dựng hàng chục công trình thuỷ lợi hạng vừa
Kết quả đến hết nǎm 1957, các chỉ tiêu chủ yếu về sản xuất nông nghiệp đều vượt mức nǎm 1939, là nǎm đạt cao nhất trước chiến tranh
1939 - 1957
Thóc 2.407.000 tấn 3.948.000 tấn
Trâu 788.000 con 1.238.000 con
Bò 563.000 con 902.000 con
Lợn 2.255.000 con 2.950.000 con
Để khôi phục thủ công nghiệp và công nghiệp trước hết phải khôi phục những cơ sở sẵn có, những ngành phục vụ đời sống và sản xuất ở thành thị
và nông thôn Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được nâng từ 8,4% (1955) lên 68,8% (nǎm 1957), nhanh chóng ổn định và góp phần cải thiện đời sống nhân dân
Giao thông vận tải được xem là điều kiện không thể thiếu trong việc phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế, làm cho việc giao lưu hàng hoá giữa thành thị và nông thôn được hình thành Bốn tuyến đường sắt nối liền thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc đã nhanh chóng được xây dựng lại Các tuyến đường bộ, đường thuỷ đều được khôi phục
Cùng với khôi phục kinh tế, Đảng và Nhà nước coi trọng việc khôi phục, phát triển vǎn hoá, giáo dục Sau ba nǎm đã có hơn một triệu người thoát nạn mù chữ Tổng số học sinh phổ thông lên tới trên 1 triệu Số học sinh trung học chuyên nghiệp là 7.783 người Số sinh viên đại học lên tới 3.664 người, gấp hơn 6 lần số sinh viên thời kỳ trước chiến tranh (nǎm học
1939-1940 chỉ có 582 sinh viên), gần 2.000 học sinh được gửi đi học ở các nước
2- Ba nǎm phát triển kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960)
Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá II) (tháng 11-1958) xác định: "Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức củng
cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhà trên
cơ sở độc lập và dân chủ" Nhiệm vụ cụ thể lúc này là tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời phát triển thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Trang 3Cải tạo thành phần kinh tế cá thể của nông dân và thợ thủ công bằng hình thức hợp tác xã theo nguyên tắc "tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ" Hình thức, bước đi phải từ thấp lên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen dần với lối làm ǎn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, tiến lên hợp tác xã bậc cao Quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn Mùa thu nǎm
1958 làm thí điểm ở 134 hợp tác xã, đến cuối nǎm 1960 lên tới 41.401 hợp tác xã với 86% số hộ nông dân và 76% diện tích canh tác Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp trong những nǎm đầu (1958-1960) có tác dụng tích cực: sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển với mức tǎng trưởng bình quân 5,6%, đưa tổng sản lượng lương thực lên mức cao vào nǎm 1959 là 5,15 triệu tấn; đời sống vật chất và vǎn hoá của nông dân và nhân dân nói chung được ổn định và cải thiện một bước
Nhưng nhìn chung các hợp tác xã còn nhiều khó khǎn, lúng túng trong việc
tổ chức lao động, sản xuất và quản lý, phân phối Một số hợp tác xã sản xuất sút kém, có những biểu hiện tiêu cực như nông dân chặt phá cây lưu niên, giết trâu bò trước khi vào hợp tác xã, một số cán bộ quản lý hợp tác xã tham
ô, lạm dụng của công v.v , làm cho xã viên thiếu phấn khởi, thiếu tin tưởng
và đã có hộ xin ra hợp tác xã
Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh bằng phương pháp hoà bình Thực hiện chính sách chuộc lại những tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, biến chế độ sở hữu và kinh doanh tư bản chủ nghĩa thành công tư hợp
doanh, cải tạo dần dần người tư sản thành người lao động, nhằm từng bước hạn chế đi tới xoá bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Về chính trị, tiếp tục coi tư sản dân tộc là thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam Đến tháng 11-1960 đã cải tạo 2.097 cơ sở công thương nghiệp tư bản tư doanh với tổng số vốn 25 triệu đồng, 500 người trong gia đình tư sản được sắp xếp việc làm, trong đó có 119 người được bố trí vào các ban giám đốc xí nghiệp Sau khi đưa vốn, tư liệu sản xuất vào hợp doanh, hàng nǎm, họ được trả lãi 471.277 đồng
Đi đôi với cải tạo các thành phần kinh tế trên, Nhà nước đã tǎng cường đầu
tư, phát triển kinh tế Từ nǎm 1958 đến nǎm 1960 đã xây dựng 130 công trình công nghiệp trên hạn ngạch như gang thép Thái Nguyên, súppe phốt phát Lâm Thao với tổng số vốn là 3.481 triệu đồng và đã đưa được 86 nhà máy, xí nghiệp vào sản xuất Tổng số công nhân từ 46.340 người (1957) đã tǎng lên 108.941 người (1960)
3- Nǎm nǎm phát triển kinh tế - vǎn hoá (1961-1965)
Kế hoạch nǎm nǎm phát triển kinh tế - vǎn hoá (1961-1965) nhằm củng cố quan hệ sản xuất mới và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
Cuối nǎm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, kế
Trang 4hoạch 5 nǎm mới thực hiện được 4 nǎm nhưng đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn:
- Về nông nghiệp: 88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, trong đó có 71,7% số hộ lên hợp tác xã bậc cao Sản xuất nông nghiệp có những tiến bộ mới cả về trồng trọt và chǎn nuôi Phong trào thâm canh ở những vùng trọng điểm lúa đã có nhiều điển hình tốt Nǎm 1965 có 9 huyện và 125 xã đạt nǎng suất bình quân cả nǎm từ 5 tấn thóc trở lên trên 1 hécta gieo trồng hai vụ Nhiều công trình thuỷ lợi lớn đã được xây dựng, tưới tiêu cho hơn nửa triệu hécta ruộng đất, phân bón các loại và công cụ cải tiến được đẩy mạnh phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Về công nghiệp: bước đầu xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, những cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng đã đưa vào sản xuất Nǎm 1954 chỉ có 45 nhà máy, đến nǎm 1964 đã có 1000 nhà máy (trong đó có 217 nhà máy lớn) Công nghiệp nhẹ và thủ công
nghiệp cũng phát triển mạnh, đã sản xuất được 12.000 mặt hàng, bảo đảm được một phần quan trọng hàng tiêu dùng của xã hội mà phần lớn trước đây phải nhập khẩu
Về vǎn hoá, giáo dục đào tạo và khoa học - kỹ thuật: đã có bước phát triển mạnh Hầu hết các xã có trường phổ thông cấp I, cấp II, huyện có trường phổ thông cấp III Nǎm 1960 có 9 trường đại học với 8.100 sinh viên, đến nǎm 1965 đã có 18 trường với 26.100 sinh viên; đã có 21.332 cán bộ tốt nghiệp đại học và 55.000 cán bộ tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp
Về y tế, bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh phòng bệnh: được coi trọng Đến nǎm
1965, 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xã đồng bằng và 78% số xã miền núi có trạm y tế Số bác sĩ, y sĩ, dược sĩ từ nǎm 1960 đến nǎm 1965 tǎng 5 lần (nǎm 1965 có 1.525 bác sĩ và 8.043 y sĩ, trong đó có 3.220 y sĩ phục vụ ở xã)
Đời sống nhân dân: được nâng lên rõ rệt Bình quân thu nhập quốc dân nói chung tǎng lên 6,1% và bình quân theo đầu người tǎng 3,4%
Tại Hội nghị chính trị đặc biệt (tháng 3-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận: "Trong 10 nǎm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới"
4- Chuyển hướng xây dựng kinh tế, đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn, cùng miền Nam đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai
Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành trương ương Đảng (khoá III) (tháng 3-1965) chủ trương "chuyển hướng xây dựng kinh tế phù hợp với tình hình cả nước đang có chiến tranh với đế quốc Mỹ", theo phương châm "vừa xây
Trang 5dựng kinh tế, vừa chiến đấu bảo vệ" Cụ thể là:
Điều chỉnh lại các công trình xây dựng cơ bản, chú trọng xây dựng những xí nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp được chú trọng phát triển vừa đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong thời chiến, vừa đảm bảo hậu cần tại chỗ, phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của địch
Sản xuất công nghiệp được đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh thâm canh tǎng nǎng suất cây trồng và vật nuôi Chú trọng cải tiến công cụ và trang bị cơ khí nhỏ cho các khâu lao động trồng trọt và chǎn nuôi Đã có 4.655 hợp tác
xã được trang bị cơ khí nhỏ, bao gồm 6.356 máy phát lực và 9.372 máy công tác như bơm nước, tuốt lúa, máy xát, nghiền hạt, v.v
Những nhu cầu thiết yếu nhất của sản xuất và chiến đấu được bảo đảm, đời sống nhân dân trong chiến tranh cǎn bản được ổn định Hoạt động về vǎn hoá, giáo dục và y tế phát triển hơn trước Học sinh phổ thông tǎng 130%, học sinh đại học và trung học chuyên nghiệp tǎng 400% Hệ thống bệnh viện, bệnh xá, trạm xá từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng đều khắp, bảo đảm chǎn lo sức khoẻ cho nhân dân, phòng tránh các dịch bệnh
5- Khôi phục kinh tế sau hai lần đánh thắng chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ (1969-1975)
Khác với khôi phục kinh tế trong những nǎm 1955-1957, thời kỳ này Đảng chủ trương vừa khôi phục, vừa phát triển kinh tế, vừa khôi phục cơ sở cũ, vừa mở rộng quy mô và tǎng cường trang thiết bị, đồng thời, cải tiến một bước về quản lý kinh tế, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất, củng cố quan hệ sản xuất đi đôi với phát triển lực lượng sản xuất
Trong nông nghiệp, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chǎn nuôi, chính sách ổn định nghĩa vụ lương thực đối với hợp tác
xã, chính sách khuyến khích cây công nghiệp v.v Phong trào phấn đấu giành "ba mục tiêu": 5 tấn, 2 con lợn, 1 lao động làm 1 hécta gieo trồng được đẩy mạnh trong các hợp tác xã Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao
do Chủ tịch Hồ chí Minh đề tựa và Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua có tác dụng củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, khắc phục những
khuyết điểm, lệch lạc về quản lý lao động, sản xuất và phân phối trong hợp tác xã
Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp bị đánh phá đều được sửa chữa và sắp xếp lại dây chuyền sản xuất Giá trị sản lượng các sản phẩm chủ yếu trong công nghiệp nặng như điện, than, xi mǎng và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như vải, giấy v.v đều tǎng hơn trước Nhà nước và nhân dân
đã có những nỗ lực cao trong việc khôi phục hệ thống đường giao thông, cầu phà, bến bãi, xây dựng thêm cầu đường mới để bảo đảm yêu cầu vận chuyển
Trang 6hàng hoá, nhất là hàng hoá chiến lược phục vụ chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai
Bên cạnh những kết quả và những chuyển biến tích cực trên đây, công cuộc khôi phục kinh tế thời kỳ này cũng gặp nhiều khó khǎn và bộc lộ nhiều yếu kém, tiêu cực như: sản xuất không đủ tiêu dùng, tình trạng mất cân đối vốn
có của nền kinh tế càng nghiêm trọng hơn: lao động, vật tư, tiền vốn bị lãng phí nhiều, nǎng suất lao động xã hội giảm sút; bộ máy hành chính quá lớn trong khi lực lượng lao động trực tiếp sản xuất giảm đi Tình trạng này đã ảnh hưởng không tốt đến nhiệm vụ khôi phục kinh tế và xây dựng miền Bắc vững mạnh
Hội nghị lần thứ 19 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) (tháng 1-1971) đã nhấn mạnh: phải nghiêm khắc với những khuyết điểm chủ quan trên đây, ra sức cải tiến quản lý kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ khôi phục và phát triển kinh tế Bộ Chính trị ra nghị quyết về đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực nhằm chấm dứt những hành động làm ǎn phi pháp, lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tǎng cường quản lý lao động, quản lý thị trường, giữ gìn trật tự trị an Nhà nước ban hành các pháp lệnh trừng trị những tội phạm
và hành vi phi pháp trên
Tóm lại, hơn hai mươi nǎm phấn đấu bền bỉ và kiên cường trong tình hình đất nước có nhiều khó khǎn và biến động phức tạp, từ chiến tranh sang hoà bình xây dựng, không bao lâu lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ, trong thế đan xen giữa những nhiệm vụ xây dựng kinh tế với chiến đấu bảo vệ, nhưng chúng ta đã đảm bảo được các nhiệm vụ đặt ra, vừa củng cố, xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa làm tròn nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và giúp đỡ cách mạng hai nước bạn Lào và Campuchia, vừa nhanh chóng hoàn thành những nhiệm
vụ còn lại của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, vừa mở đầu những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa
Về cách mạng xã hội chủ nghĩa, tuy mới chỉ là sự mở đầu nhưng chúng ta đã làm được nhiều việc có kết quả, đời sống kinh tế, xã hội và vǎn hoá thật sự
có nhiều đổi mới và tiến bộ rõ rệt Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: " Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh nǎm mà vẫn quanh nǎm đói rách Lang xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ǎn tập thể Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ"
Nhưng nhìn chung, nền kinh tế miền Bắc còn nặng tính chất sản xuất nhỏ,
cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thấp kém Những ngành công nghiệp then chốt còn nhỏ bé, chưa đủ sức làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân Quan hệ sản xuất hợp tác xã chưa được củng cố vững chắc Nông nghiệp chưa đáp ứng
Trang 7được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp Lao động thủ công còn chiếm 80% lực lượng lao động xã hội Nǎng suất lao động xã hội rất thấp Lực lượng lao động còn lớn chưa được
sử dụng Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được các nhu cầu của đời sống nhân dân
Nguyên nhân khách quan là do chính sách khai thác và kìm hãm của chủ nghĩa thực dân Pháp hàng trǎm nǎm và sự lỗi thời của chế độ phong kiến đè nặng gây nên tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, lại bị các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề Về chủ quan, Đảng và Nhà nước ta đã mắc những sai lầm, khuyết điểm về chủ trương, chính sách cụ thể và chậm được phát hiện, sửa chữa, cùng sự yếu kém về quản lý kinh tế - xã hội Các hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 19, lần thứ 22 và 23 đã kiểm điểm, tự phê bình Nhưng thực tế không được khắc phục, sửa chữa kịp thời nên đã tiếp tục ảnh hưởng không tốt cho thời kỳ thực hiện chuyển giai đoạn cách mạng trên cả nước sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
II- THỰC HIỆN CHUYỂN GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG TRÊN CẢ NƯỚC (1976-1986)
Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn thành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân
cả nước tiến lên giai đoạn cách mạng mới - xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đã xác định và
cụ thể hoá đường lối chung và đường lối kinh tế trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta với đặc điểm xuất phát từ một nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ và hậu quả chiến tranh tàn phá nặng nề trên khắp mọi miền đất nước
1- Những thành tựu bước đầu về kinh tế - xã hội
Trải qua 10 nǎm phấn đấu, vượt qua nhiều khó khǎn, thử thách, nhân dân ta
đã đạt được thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc, cùng thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia anh em
Về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, Nhà nước đã bắt đầu xây dựng và lần lượt hoàn thành mấy trǎm công trình lớn và hàng ngàn công trình vừa và nhỏ, trong đó có những cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi mǎng, cơ khí, dệt, thuỷ lợi, giao thông vận tải v.v Sản xuất công nghiệp tǎng bình quân hàng nǎm 9,5% trong những nǎm 1981-1985
Sản xuất nông nghiệp đã đạt nhịp độ tǎng bình quân hàng nǎm là 4,9% trong những nǎm 1981-1985, chặn được sự giảm sút của những nǎm 1979-1980 sản lượng lương thực, đưa mức bình quân hàng nǎm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 lên 17 triệu tấn trong thời kỳ 1981-1985 Cùng với việc
Trang 8áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, việc đổi mới cơ chế quản lý theo phương thức khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động trong nông nghiệp đã góp phần quan trọng tạo nên bước phát triển mới của sản xuất nông nghiệp, mở ra phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ sản xuất trong hợp tác xã nông nghiệp
Sự nghiệp vǎn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, vǎn học, nghệ thuật, đã
có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Các hoạt động khoa học- kỹ thuật được triển khai rộng rãi, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp
2- Thực trạng yếu kém tồn tại
Tuy đạt được những thành tựu bước đầu kể trên, sau hơn mười nǎm xây dựng đất nước ở chặng đầu thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, "chúng
ta chưa tiến xa được mấy so với điểm xuất phát quá thấp", nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khǎn, phức tạp, "chưa thực hiện được mục tiêu do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế -
xã hội, ổn định đời sống của nhân dân"
Sản xuất tuy có phát triển nhưng tǎng chậm so với khả nǎng và công sức bỏ
ra, so với yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân và có tích luỹ
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân để công nghiệp hoá và củng cố quốc phòng Nhiều chỉ tiêu quan trọng về sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu , thường không đạt đã ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh tế và khó khǎn, cǎng thẳng trong đời sống nhân dân lao động
Hiệu quả đầu tư và sản xuất thấp Các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụng được khoảng một nửa công suất, nǎng suất lao động giảm, chất lượng sản phẩm sút kém
Tài nguyên đất nước chưa được khai thác tốt, sử dụng lãng phí, nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng Theo số liệu thống kê được trong 5 nǎm (1981-1985), diện tích đất canh tác cả nước bị thu hẹp mất 350.000 hécta (riêng đồng bằng sông Cửu Long mất 250.000 hécta) tương đương diện tích trồng lúa của sáu tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
Lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren, vật giá tǎng nhanh, đã tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố Vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh suy yếu do hoạt động sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả Các thành phần kinh tế khác nhau chưa được sử dụng và cải tạo tốt, không những không góp phần phát triển kinh tế, giải quyết công ǎn việc làm,
mà còn gây thêm khó khǎn, tiêu cực, nhất là trong hoạt động lưu thông phân phối
Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm,
Trang 9pháp luật, kỷ cương không nghiêm Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hành động của bọn làm ǎn phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời
Thực trạng kinh tế - xã hội trên đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành, quản lý của Nhà nước
3- Nguyên nhân
Với tư duy mới, nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ tính chất nghiêm trọng trên và phân tích nguyên nhân của thực trạng đó
Về mặt chủ quan, Đại hội đã nêu rõ những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài
về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện
Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, đánh giá không sát tình hình các mặt kinh tế
-xã hội của đất nước, nên đã đề ra mục tiêu quá cao, muốn đi lên nhanh, bỏ qua những bước đi tuần tự thích hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta khi bắt đầu thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Trên thực tế, trong những nǎm 1976-1980, chúng ta đã đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có
đủ các tiền đề cần thiết Đại hội lần thứ V của Đảng đã bước đầu thấy được những sai lầm trên và có những sửa đổi, bổ sung một số chính sách lớn về kinh tế- xã hội, như chính sách sử dụng kinh tế nhiều thành phần, ưu tiên hơn nữa cho sản xuất nông nghiệp và ổn định đời sống nhân dân v.v
Nhưng trong chỉ đạo thực hiện đã không quán triệt, chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội, thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu đầu
tư, về cải tạo xã hội chủ nghĩa các thành phần kinh tế
Về cơ cấu nền kinh tế, không kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý Chưa coi trọng đúng mức và đặt đúng
vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta ở chặng đầu thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong 5 nǎm 1976-1980 đã đặt những chỉ tiêu kế hoạch quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất, không coi trọng đúng mức việc khôi phục và sắp xếp lại nền kinh tế, thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả rất thấp, dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế không sao tránh khỏi
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, đã nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh Đối với các thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, có xu hướng muốn tổ chức thành các hợp tác xã quy mô lớn, không tính đến khả nǎng về cơ sở vật chất, kỹ thuật, trình độ quản lý và nǎng lực cán bộ Nội dung cải tạo thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, mà không coi trọng các mặt tổ chức, quản lý sản xuất và chế độ phân
Trang 10phối Cách làm thường theo kiểu chiến dịch, gò ép, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng và hiệu quả Do đó, nhiều tổ chức kinh tế được coi là công tư hợp doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất chỉ là hình thức, không phải là thực chất của quan hệ sản xuất mới
Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng chủ trương sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Nhưng, trong nhận thức cũng như hành động chưa thật sự được thừa nhận và thể hiện trong thực tiễn, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Về cơ chế quản lý kinh tế, từ sau Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá IV) nǎm 1979, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết định
về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; đặc biệt là Nghị quyết 8 của Trung ương Đảng (khoá V) và Nghị quyết 306 (dự thảo) của Bộ Chính trị có ý nghĩa đổi mới sâu sắc, nhằm
mở ra cách làm ǎn mới, động viên, khai thác mọi khả nǎng tiềm tàng của nền kinh tế để phát triển sản xuất, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân Song, trên thực tế, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về cơ bản vẫn chưa bị xoá
bỏ Nhiều chính sách, thể chế đã lỗi thời, gây cản trở cho sản xuất, lưu thông Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời nảy sinh nhiều hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật
Về phân phối lưu thông, đã không thật sự quán triệt và kiên quyết thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, gây hậu quả xấu kéo dài là không khuyến khích phát triển tài nǎng, sức lực vào việc đẩy mạnh sản xuất, tǎng nǎng suất lao động Không điều tiết hợp lý, đúng mức thu nhập của các cá nhân và thành phần kinh tế, không kiên quyết thực hiện sự tước đoạt cần thiết những thu nhập bất chính, không bảo vệ tốt tài sản quốc gia Chậm có chính sách cơ bản về tài chính quốc gia gắn liền với những chính sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng, tiền lương Không tập trung được những nguồn thu quan trọng vào ngân sách nhà nước Các khoản chi của ngân sách mang nặng tính bao cấp, gây tình trạng bội chi kéo dài, thâm hụt ngân sách ngày càng tǎng, dẫn đến lạm phát trầm trọng, làm cho lĩnh vực phân phối lưu thông luôn luôn cǎng thẳng và rối ren
Về mặt tổ chức thực tiễn, chưa tạo được sự hoạt động đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị - xã hội Chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống các cơ quan chức nǎng chuyên chính và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thiết lập và giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội để cho pháp luật nhà nước bị vi phạm ngày càng phổ biến Công tác quản lý kinh tế
- xã hội và chỉ đạo đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, chống những
âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch thiếu sắc bén, kém hiệu