Ủng hộ tư tưởng phải tăng cường sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh tế có tính chiến lược dài hạn Các nhà kinh tế học Tây Đức đã từ chối mô hình kinh tế chỉ huy, nhưng cũng không chấp nhận mô hình chủ nghĩa tự do cổ điển. Từ đó lý thuyết nền kinh tế xã hội ra đời
Trang 1TƯ TƯỞNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ
Trang 21 Quan điểm của J.M.Keynes về vai trò của nhà nước
* Cơ sở để J.M.Keynes đưa ra quan điểm nhà nước phải quản lý
vĩ mô nền kinh tế
J.M Keynes
cho rằng
nền kinh tế
chịu tác
động bởi
tổng lượng
tổng lượng
lớn là
Đại lượng xuất phát
Đại lượng này là đại lượng ít thay đổi hay thay đổi chậm Nó bao gồm: TLSX, số lượng SLĐ, trình
độ chuyên môn của người lao động, cơ cấu, thể chế kinh tếĐại lượng khả biến độc lập Đại lượng khả biến độc lập
Đại lượng này biến đổi tương đối độc lập với các yếu tố khác, như:
Khuynh hướng tiêu dùng, đầu tư, lãi suất, ưa chuộng tiền mặt
Đại lượng khả biến phụ thuộc
Đại lượng này phản ánh tình trạng của nền kinh tế như: khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân Đại lượng này thay đổi trước sự tác động của các biến
số khả biến độc lập
Trang 3Theo
Keynes
Trong nền kinh tế: Sản lượng (Q) được chia
thành tiêu dùng (C) và đầu tư (I)
Q = C + I
Q = C + I
Trong nền kinh tế: Sản lượng (Q) bằng thu
nhập (R): Q = R
Mỗi người nhận được thu nhập sẽ dành cho tiêu dùng và tiết kiệm (S): R = C + S
Trong đó, khuynh hướng gia tăng tiết kiệm (dS) thường lớn hơn gia tăng thu nhập (dR), làm cho gia tăng tiêu dùng (dC) chậm hơn gia tăng thu nhập (dR), dẫn đến tổng cầu suy giảm, khủng
hoảng kinh tế và thất nghiệp nổ ra
Từ phân tích trên, J.M Keynes mất lòng tin vào
cơ chế thị trường Theo Ông, để có cân bằng nền
KT, khắc phục khủng hoảng và thất nghiệp, thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết,
mà phải có sự can thiệp của nhà nước vào KT
Trang 4* Nội dung của lý thuyết về điều tiết kinh tế của nhà nước của Keynes
Theo
Keynes
Muốn có cân bằng kinh tế, nhà nước phải can thiệp vào kinh tế, qua đó khuyến khích các khuynh hướng tâm lý của con người như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng đầu tư
khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng đầu tư
Nhằm kích thích được tổng cầu (bao gồm cả cầu đầu tư và cầu tiêu dùng), thực hiện toàn dụng nhân công, tạo ra cân đối kinh tế ổn định
và bảo đảm tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở đó, sẽ khắc phục được khủng hoảng, thất nghiệp và tạo nên sự ổn định chính trị - xã hội
Các
giải
pháp
Đầu tư nhà nước:
Đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, du lịch và các công trình đầu tư lớn
Tăng thêm đơn đặt hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ
Sử dụng hệ thống tín dụng và tiền tệ để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực của nhà
kinh doanh
kinh doanh
Giảm lãi xuất, tăng thêm số lượng tiền tệ vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay Thực hiện “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá cả hàng hoá một
cách vừa phải
Sử dụng công cụ tài chính để điều tiết kinh tế
J.M Keynes đánh giá cao công
cụ thuế và công trái nhà nước
Theo Ông việc sử dụng công cụ thuế không chỉ đơn thuần là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn có tác dụng điều tiết, kích thích nền kinh tế
Trang 5Các
giải
pháp
Nâng cao tổng cầu và việc làm bằng cách mở rộng nhiều hình thức đầu tư, kể cả đầu tư vào
các hoạt động ăn bám
các hoạt động ăn bám
Theo Keynes, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, kể cả các lĩnh vực phi sản xuất và không có
lợi cho xã hội Khuyến khích tiêu dùng cá nhân của người giàu
cũng như người nghèo
Keynes cho rằng, để nâng cao cầu tiêu dùng cần phải thực hiện các biện pháp khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với
các tầng lớp dân cư
Thực
tiễn
Lý thuyết của J.M Keynes đã giữ vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng KT tư sản những năm cuối của thế kỷ XIX và ba thập kỷ đầu của thế kỷ XX
Được vận dụng vào điều chỉnh nền kinh tế ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đã mang lại hiệu quả
không nhỏ
không nhỏ
Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế của J.M Keynes quá đề cao vai trò kinh tế của nhà nước, xem nhẹ các quy
luật kinh tế khách quan
Các biện pháp can thiệt của nhà nước, nhất là chính sách thuế còn bộ lộ nhiều mâu thuẫn: (tăng thuế thu nhập đối với dân cư thì sẽ hạn chế cầu tiêu dùng))
Vì vậy, khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến mức độ nhất định, thì các giải pháp dựa trên lý thuyết J.M Keynes tỏ ra không còn hiệu quả
Từ đó, các nhà kinh tế học tư sản đã tiếp tục kế thừa
có phê phán, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes
và hình thành nên trường phái Keynes mới
và hình thành nên trường phái Keynes mới
Trang 6* Sự kế thừa, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes
Một là, Phát triển những tư tưởng của Keynes về lý luận như: tiêu dùng, tiết kiệm, lãi suất, tiền công, giá
cả, tổng cung, tổng cầu
cả, tổng cung, tổng cầu
bổ sung thêm so với Keynes về khuynh hướng tiêu dùng giới
hạn ngắn và dài hạn
hạn ngắn và dài hạn
Cho rằng, tỷ lệ tiết kiệm sẽ không nhất thiết tăng thêm cùng với sự nâng cao của tổng thu
nhập
Hai nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi tỷ lệ tiết kiệm là
tỷ lệ lãi suất và quan hệ giữa thu nhập tương lai và thu nhập
hiện tại
Hai là Bổ sung thêm về nguyên nhân chu kỳ kinh doanh và bổ sung thêm nguyên tắc “gia tốc” cho nguyên
lý số nhân đầu tư
lý số nhân đầu tư
Bổ sung nguyên nhân các động lực phát triển kinh tế bị yếu đi do
sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: dân số tăng lên chậm chạp, không còn các vùng đất “tự do” Từ đó, họ đưa ra lý thuyết
về chu kỳ kinh doanh chính trị
Họ cho rằng nguyên nhân bên trong của chu kỳ kinh tế là “mất dần chi phí” hay “tăng dần tiết kiệm” là nhân tố bên trong của chu kỳ Từ đó, họ đưa ra nguyên tắc “gia tốc” để bổ sung cho nguyên lý số nhân đầu tư của
Keynes
Ba là Sửa đổi, bổ sung lý thuyết Keynes về vai trò của
nhà nước và cơ chế thị trường
Giải thích rõ hơn về tầm quan trọng của cơ chế thị trường và khả năng tự điều chỉnh trong
ngắn hạn
Làm rõ thêm vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các công cụ như chính sách tài chính, kế hoạch hoá
Sử dụng công cụ kế hoạch hoá
để điều chỉnh kinh tế nhằm bảo đảm sự thay đổi cơ cấu kinh tế
và nhịp độ phát triển của nền kinh tế một cách thích hợp
Bốn là Áp dụng các quan điểm hệ thống kinh tế - xã hội
vào nghiên cứu kinh tế
vào nghiên cứu kinh tế
Họ cho rằng, nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập quốc dân, phụ thuộc vào mối liên hệ giữa lượng thu nhập và lượng
tiết kiệm
Ủng hộ tư tưởng phải tăng cường sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh
tế có tính chiến lược dài hạn
Trang 72 Quan điểm của chủ nghĩa tự do mới về vai trò của nhà nước
Nền kinh kế thị trường xã hội ở Cộng hoà Liên bang Đức
Hoàn
cảnh
xuất
hiện,
Sau chiến tranh, nền kinh tế Tây Đức bị tàn phá nghiêm trọng Kinh tế kế hoạch thống trị, cơ chế thị trường, quyền tự do cơ bản về kinh tế bị tước bỏ
Sở hữu TLSX về hình thức nằm trong tay tư nhân, nhưng chính phủ Quốc xã lại xoá bỏ quyền tự do sử dụng của các doanh nghiệp, xoá bỏ cơ chế hình
thành giá tự do
Việc khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh đặt ra nhu cầu bức thiết tìm kiếm một mô hình lý thuyết
thích hợp
Các nhà kinh tế học Tây Đức đã từ chối mô hình kinh tế chỉ huy, nhưng cũng không chấp nhận mô hình chủ nghĩa tự do cổ điển Từ đó lý thuyết nền
kinh tế xã hội ra đời
Trang 8Cơ sở
lý
luận
Bắt nguồn từ tư tưởng kinh tế tự
do mới của phái Phơ-ran-phuốc
Phái này vừa phê phán lối quản lý tập trung, vừa không tán thành mô hình kinh tế thị trường tự do vô chính phủ của kinh tế học cổ điển
Họ chủ trương: phát triển một nền kinh tế hoạt động tự
do nhưng có trật tự, trong đó mỗi người dân đều có phần đóng góp tích cực của mình đóng góp tích cực của mình
Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường xã hội
Nếu nền KT thị trường
tự do không thừa nhận
vai trò của nhà nước
trong điều tiết KT
Thì nền “KT thị trường xã hội” cần có vai trò của chính phủ mạnh, nhưng chỉ cần thiết ở những nơi không có cạnh tranh hoặc cạnh tranh không hiệu quả
Những nơi cần phải bảo vệ cạnh tranh, cần kích thích những nguyên tắc cơ bản của “kinh tế thị trường xã hội” mà không thể
trao vào tay tư nhân
Tuy nhiên, sự can thiệp của chính phủ cũng chỉ ở mức độ hợp lý, tuân theo hai nguyên tắc:
hỗ trợ và tương hợp thị trường
Trang 93 Lý thuyết về vai trò nhà nước của trường phái tự do mới ở Mỹ
3.1 Lý thuyết của trường phái “Trọng tiền” hiện đại ở Mỹ
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế được trình bày tập trung ở lý thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân của M.Friedman
đến việc tăng sản lượng quốc gia
Dựa vào công thức của I Fisher
M V = P Q (M: mức cung tiền tệ; V: số vòng
quay của đồng tiền; P: giá cả; Q:
sản lượng; P Q = GDP)
* Nội dung cơ bản gồm hai vấn đề
Họ cho rằng, V ổn định nên các biến số của kinh tế vĩ
mô như giá cả, sản lượng, việc làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ
mức cung tiền tệ
Trang 10Nếu mức cung tiền
tệ tăng thì sản
lượng quốc gia,
việc làm cũng
tăng vì:
tăng vì:
Tăng mức cung tiền, lãi xuất cho vay giảm xuống, đầu tư tăng lên, tăng việc làm, tăng sức cầu, tăng giá cả, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp
nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Trong khi đó, mức
cung tiền có tính chất
không ổn định vì
Nó phụ thuộc vào các quyết định chủ quan của các cơ quan quản lý tiền tệ, của hệ thống dự trữ liên bang (FED)
của hệ thống dự trữ liên bang (FED)
Vì vậy, nếu FED phát hành ra quá nhiều hay quá ít tiền tệ, sẽ dẫn đến lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế
phát hoặc khủng hoảng kinh tế
Từ phân tích trên
M Friedman cho
rằng
Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ 1929 - 1933 có nguyên nhân do FED phát hành khối lượng tiền ít hơn so với mức cầu nên không đủ để mua hàng Từ đó, Ông đề nghị phải chủ
Theo Ông nhìn chung tiền tệ phải được điều tiết theo một tỷ lệ tăng ổn định từ 3 - 4% trong một năm
Trang 11Thứ hai, quan hệ giữa khối lượng tiền cung ứng và lạm phát
Xuất phát từ công thức
M V = P Q
M.Friedman suy ra
M.Friedman suy ra M =
P.Q V
Vì đã giả
định
V: ổn định; Q: không phụ thuộc hoặc phụ thuộc rất ít vào M, nên sự thay đổi
M sẽ làm thay đổi P
Nếu mức cung tiền tệ M (dù là tiền giấy hay tiền vàng) tăng sẽ làm cho giá
cả tăng theo, gây nên lạm phát
Từ đó họ
cho rằng
cho rằng
Lạm phát là căn bệnh nan giải của xã hội
tư bản, là căn bệnh nguy hiểm nhất, thất nghiệp là hiện tượng bình thường trong
nền kinh tế thị trường
Lạm phát là một nhân tố mất ổn định chung, ảnh hưởng đến giá cả và sinh ra thất nghiệp Vì vậy, điều quan trọng là phải có biện pháp chống lạm phát
Trang 123.2 Lý thuyết về vai trò nhà nước của trường phái “Trọng cung” ở Mỹ
Xuất hiện ở Mỹ vào năm
1980 do yêu cầu tìm kiếm
con đường tăng trưởng
kinh tế và duy trì năng
suất lao động
Đại biểu của trường phái này là Arthur Laffer, Jede Winniski, Norman Ture
Đối lập với trường phái
“Trọng cầu”, trường phái
“trọng cung” cho rằng:
Để cho nền kinh tế ổn định nhịp độ tăng trưởng phải kích thích tăng cung
Dựa trên lý thuyết của J.B.Say: Cung đẻ
ra cầu, cung mới tạo
ra cầu mới, sẽ không
Arthur Laffer cho rằng, để kích thích tăng cung nhà nước cần có chính sách kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nhân tăng đầu tư;
Áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng năng xuất lao động, tạo ra sản phẩm mới, kích thích sức cầu
tăng lên
tăng lên
Trang 13Đối lập với J.M.Keynes,
Arthur Laffer cho rằng
Muốn mở rộng đầu tư phải tiết kiệm, tiết kiệm trong hiện tại, tương lai sẽ có thu nhập
Chỉ có bộ phận thu nhập quốc dân dành cho tiết kiệm mới có thể đảm bảo cho đầu tư và bù đắp thâm hụt ngân sách
Để kích
thích tăng
cung Ông đề
nghị cắt
giảm thuế
giảm thuế
Phê phán chính sách thuế cao của J Keynes trường phái “Trọng cung” cho rằng, thuế xuất cao sẽ làm giảm
mức độ và qui mô tiết kiệm
Do đó cần phải giảm thuế, áp dụng chính sách thuế thấp chứ không phải là chính sách thuế cao
Trang 144 Lý thuyết của P.A Samuelson về vai trò kinh tế của nhà nước
Từ thành công và hạn chế của
trường phái cổ điển và tân cổ điển
với việc tuyệt đối hoá vai trò tự
điều tiết của cơ chế thị trường
Trường phái Keynes đề cao vai
trò điều tiết kinh tế của nhà nước
(bàn tay hữu hình)
P.A.Samuelson
đã đưa ra lý thuyết kết hợp
cả hai bàn tay trong quản lý nền kinh tế
Ông cho rằng
“cả thị trường
và Chính phủ đều cần thiết cho một nền kinh tế vận hành lành mạnh”
Trang 15Khi phân tích vai trò của thị trường, Samuelson cũng chỉ rõ: Bàn tay vô hình đôi khi cũng đưa nền kinh tế đến những sai lầm
Đó là những
khuyết tật
của hệ thống
kinh tế thị
trường
Do tác động bên ngoài gây nên như ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp không phải trả
giá
Thất bại do tình trạng độc quyền phá hoại tự
do cạnh tranh, hoặc là khủng hoảng, thất
nghiệp
Cuối cùng là sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
Để đối phó phải phối hợp bàn tay
vô hình với bàn tay hữu hình như thuế khoá, luật lệ và chi tiêu chính
phủ
Trang 16Thứ nhất:
Thiết lập
khuôn khổ
pháp luật
CP đề ra quy tắc trò chơi KT mà các DN, người tiêu dùng, CP phải tuân thủ:
Bao gồm: Quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động
KD, các luật lệ để xác định môi trường kinh
tế
chữa thất bại
của thị
trường để thị
trường hoạt
động có hiệu
quả
Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế độc quyền làm cho cạnh tranh không hoàn
hảo
Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế tác động bên ngoài như doanh nghiệp tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khác
mà họ không được nhận đúng phần được
trả
Chính phủ đảm nhận sản xuất hàng hoá
công cộng
Thuế: Chi phí của chính phủ được thực hiện bằng tiền thuế Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế và được hưởng hàng hóa công cộng do chính phủ
cấp
Theo P.A.Samuelson, vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế
thị trường đ ược thể hiện thông qua bốn chức năng chính
thị trường đ ược thể hiện thông qua bốn chức năng chính
Trang 17Thứ ba: Đảm
bảo sự công
bằng
Đánh thuế lũy tiến, thanh toán chuyển nhượng để trợ cấp cho người cao tuổi, người tàn tật, người không có việc làm
Trong điều kiện hoạt động hoàn hảo nhất vẫn
có sự phân hóa, bất bình đẳng
định kinh tế
vĩ mô
Từ khi ra đời nền kinh tế TBCN gặp nhiều thăng trầm chu kỳ như lạm phát, suy thoái
Nhà nước thực hiện chức năng này bằng ba công cụ
Thuế: Thông qua thuế, nhà nước điều tiết tiêu dùng, đầu tư
Chi tiêu chính phủ: Thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất hàng
hoá, dịch vụ
Lãi xuất thành toán chuyển nhượng, khối lượng tiền tệ và qui định hay kiểm soát
Chính phủ thông qua những chính sách để phân phối thu nhập:
Trang 18Khi thực
hiện chức
năng kinh tế
Sự lựa chọn công cộng
là một tập hợp ý kiến
cá nhân Theo qui tắc tất cả phải được nhất trí
thông qua
Chính phủ phải đưa ra quyết định
về phương án lựa chọn Từ đó hình thành nên lý thuyết lựa chọn công cộng
Công cụ của sự lựa chọn là đường giới hạn khả năng – giá trị sử
dụng
Cũng như “bàn
tay vô hình”,
“bàn tay hữu
hình” cũng có
khuyết tật
Có những quyết định không được nhất
trí tuyệt đối
Hoạt động phân phối lại thu nhập có thể
dẫn tới không công bằng
Chính phủ tài trợ cho 1 chương trình
quá lớn trong thời gian dài
Vì vậy, cần kết hợp cơ chế thị trường
với vai trò của chính phủ