1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG điện tử KINH tế CHÍNH TRỊ tư TƯỞNG về VAI TRÒ của NHÀ nước TRONG LỊCH sử các học THUYẾT KINH tế

18 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Về Vai Trò Của Nhà Nước Trong Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 622 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ủng hộ tư tưởng phải tăng cường sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh tế có tính chiến lược dài hạn Các nhà kinh tế học Tây Đức đã từ chối mô hình kinh tế chỉ huy, nhưng cũng không chấp nhận mô hình chủ nghĩa tự do cổ điển. Từ đó lý thuyết nền kinh tế xã hội ra đời

Trang 1

TƯ TƯỞNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC

TRONG NỀN KINH TẾ

Trang 2

1 Quan điểm của J.M.Keynes về vai trò của nhà nước

* Cơ sở để J.M.Keynes đưa ra quan điểm nhà nước phải quản lý

vĩ mô nền kinh tế

J.M Keynes

cho rằng

nền kinh tế

chịu tác

động bởi

tổng lượng

tổng lượng

lớn là

Đại lượng xuất phát

Đại lượng này là đại lượng ít thay đổi hay thay đổi chậm Nó bao gồm: TLSX, số lượng SLĐ, trình

độ chuyên môn của người lao động, cơ cấu, thể chế kinh tếĐại lượng khả biến độc lập Đại lượng khả biến độc lập

Đại lượng này biến đổi tương đối độc lập với các yếu tố khác, như:

Khuynh hướng tiêu dùng, đầu tư, lãi suất, ưa chuộng tiền mặt

Đại lượng khả biến phụ thuộc

Đại lượng này phản ánh tình trạng của nền kinh tế như: khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân Đại lượng này thay đổi trước sự tác động của các biến

số khả biến độc lập

Trang 3

Theo

Keynes

Trong nền kinh tế: Sản lượng (Q) được chia

thành tiêu dùng (C) và đầu tư (I)

Q = C + I

Q = C + I

Trong nền kinh tế: Sản lượng (Q) bằng thu

nhập (R): Q = R

Mỗi người nhận được thu nhập sẽ dành cho tiêu dùng và tiết kiệm (S): R = C + S

Trong đó, khuynh hướng gia tăng tiết kiệm (dS) thường lớn hơn gia tăng thu nhập (dR), làm cho gia tăng tiêu dùng (dC) chậm hơn gia tăng thu nhập (dR), dẫn đến tổng cầu suy giảm, khủng

hoảng kinh tế và thất nghiệp nổ ra

Từ phân tích trên, J.M Keynes mất lòng tin vào

cơ chế thị trường Theo Ông, để có cân bằng nền

KT, khắc phục khủng hoảng và thất nghiệp, thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết,

mà phải có sự can thiệp của nhà nước vào KT

Trang 4

* Nội dung của lý thuyết về điều tiết kinh tế của nhà nước của Keynes

Theo

Keynes

Muốn có cân bằng kinh tế, nhà nước phải can thiệp vào kinh tế, qua đó khuyến khích các khuynh hướng tâm lý của con người như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng đầu tư

khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng đầu tư

Nhằm kích thích được tổng cầu (bao gồm cả cầu đầu tư và cầu tiêu dùng), thực hiện toàn dụng nhân công, tạo ra cân đối kinh tế ổn định

và bảo đảm tăng trưởng kinh tế

Trên cơ sở đó, sẽ khắc phục được khủng hoảng, thất nghiệp và tạo nên sự ổn định chính trị - xã hội

Các

giải

pháp

Đầu tư nhà nước:

Đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, du lịch và các công trình đầu tư lớn

Tăng thêm đơn đặt hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ

Sử dụng hệ thống tín dụng và tiền tệ để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực của nhà

kinh doanh

kinh doanh

Giảm lãi xuất, tăng thêm số lượng tiền tệ vào lưu thông để giảm lãi suất cho vay Thực hiện “lạm phát có kiểm soát” để làm tăng giá cả hàng hoá một

cách vừa phải

Sử dụng công cụ tài chính để điều tiết kinh tế

J.M Keynes đánh giá cao công

cụ thuế và công trái nhà nước

Theo Ông việc sử dụng công cụ thuế không chỉ đơn thuần là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mà còn có tác dụng điều tiết, kích thích nền kinh tế

Trang 5

Các

giải

pháp

Nâng cao tổng cầu và việc làm bằng cách mở rộng nhiều hình thức đầu tư, kể cả đầu tư vào

các hoạt động ăn bám

các hoạt động ăn bám

Theo Keynes, đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, kể cả các lĩnh vực phi sản xuất và không có

lợi cho xã hội Khuyến khích tiêu dùng cá nhân của người giàu

cũng như người nghèo

Keynes cho rằng, để nâng cao cầu tiêu dùng cần phải thực hiện các biện pháp khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với

các tầng lớp dân cư

Thực

tiễn

Lý thuyết của J.M Keynes đã giữ vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng KT tư sản những năm cuối của thế kỷ XIX và ba thập kỷ đầu của thế kỷ XX

Được vận dụng vào điều chỉnh nền kinh tế ở hầu hết các nước tư bản phát triển và đã mang lại hiệu quả

không nhỏ

không nhỏ

Tuy nhiên, lý thuyết kinh tế của J.M Keynes quá đề cao vai trò kinh tế của nhà nước, xem nhẹ các quy

luật kinh tế khách quan

Các biện pháp can thiệt của nhà nước, nhất là chính sách thuế còn bộ lộ nhiều mâu thuẫn: (tăng thuế thu nhập đối với dân cư thì sẽ hạn chế cầu tiêu dùng))

Vì vậy, khi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến mức độ nhất định, thì các giải pháp dựa trên lý thuyết J.M Keynes tỏ ra không còn hiệu quả

Từ đó, các nhà kinh tế học tư sản đã tiếp tục kế thừa

có phê phán, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes

và hình thành nên trường phái Keynes mới

và hình thành nên trường phái Keynes mới

Trang 6

* Sự kế thừa, bổ sung và phát triển lý thuyết Keynes

Một là, Phát triển những tư tưởng của Keynes về lý luận như: tiêu dùng, tiết kiệm, lãi suất, tiền công, giá

cả, tổng cung, tổng cầu

cả, tổng cung, tổng cầu

bổ sung thêm so với Keynes về khuynh hướng tiêu dùng giới

hạn ngắn và dài hạn

hạn ngắn và dài hạn

Cho rằng, tỷ lệ tiết kiệm sẽ không nhất thiết tăng thêm cùng với sự nâng cao của tổng thu

nhập

Hai nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi tỷ lệ tiết kiệm là

tỷ lệ lãi suất và quan hệ giữa thu nhập tương lai và thu nhập

hiện tại

Hai là Bổ sung thêm về nguyên nhân chu kỳ kinh doanh và bổ sung thêm nguyên tắc “gia tốc” cho nguyên

lý số nhân đầu tư

lý số nhân đầu tư

Bổ sung nguyên nhân các động lực phát triển kinh tế bị yếu đi do

sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: dân số tăng lên chậm chạp, không còn các vùng đất “tự do” Từ đó, họ đưa ra lý thuyết

về chu kỳ kinh doanh chính trị

Họ cho rằng nguyên nhân bên trong của chu kỳ kinh tế là “mất dần chi phí” hay “tăng dần tiết kiệm” là nhân tố bên trong của chu kỳ Từ đó, họ đưa ra nguyên tắc “gia tốc” để bổ sung cho nguyên lý số nhân đầu tư của

Keynes

Ba là Sửa đổi, bổ sung lý thuyết Keynes về vai trò của

nhà nước và cơ chế thị trường

Giải thích rõ hơn về tầm quan trọng của cơ chế thị trường và khả năng tự điều chỉnh trong

ngắn hạn

Làm rõ thêm vai trò điều tiết của nhà nước thông qua các công cụ như chính sách tài chính, kế hoạch hoá

Sử dụng công cụ kế hoạch hoá

để điều chỉnh kinh tế nhằm bảo đảm sự thay đổi cơ cấu kinh tế

và nhịp độ phát triển của nền kinh tế một cách thích hợp

Bốn là Áp dụng các quan điểm hệ thống kinh tế - xã hội

vào nghiên cứu kinh tế

vào nghiên cứu kinh tế

Họ cho rằng, nhịp độ tăng trưởng sản xuất phụ thuộc vào việc phân phối thu nhập quốc dân, phụ thuộc vào mối liên hệ giữa lượng thu nhập và lượng

tiết kiệm

Ủng hộ tư tưởng phải tăng cường sự điều chỉnh kinh tế của nhà nước, thực hiện tập trung hoá và xác định các kế hoạch, các chương trình phát triển kinh

tế có tính chiến lược dài hạn

Trang 7

2 Quan điểm của chủ nghĩa tự do mới về vai trò của nhà nước

Nền kinh kế thị trường xã hội ở Cộng hoà Liên bang Đức

Hoàn

cảnh

xuất

hiện,

Sau chiến tranh, nền kinh tế Tây Đức bị tàn phá nghiêm trọng Kinh tế kế hoạch thống trị, cơ chế thị trường, quyền tự do cơ bản về kinh tế bị tước bỏ

Sở hữu TLSX về hình thức nằm trong tay tư nhân, nhưng chính phủ Quốc xã lại xoá bỏ quyền tự do sử dụng của các doanh nghiệp, xoá bỏ cơ chế hình

thành giá tự do

Việc khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh đặt ra nhu cầu bức thiết tìm kiếm một mô hình lý thuyết

thích hợp

Các nhà kinh tế học Tây Đức đã từ chối mô hình kinh tế chỉ huy, nhưng cũng không chấp nhận mô hình chủ nghĩa tự do cổ điển Từ đó lý thuyết nền

kinh tế xã hội ra đời

Trang 8

Cơ sở

luận

Bắt nguồn từ tư tưởng kinh tế tự

do mới của phái Phơ-ran-phuốc

Phái này vừa phê phán lối quản lý tập trung, vừa không tán thành mô hình kinh tế thị trường tự do vô chính phủ của kinh tế học cổ điển

Họ chủ trương: phát triển một nền kinh tế hoạt động tự

do nhưng có trật tự, trong đó mỗi người dân đều có phần đóng góp tích cực của mình đóng góp tích cực của mình

Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường xã hội

Nếu nền KT thị trường

tự do không thừa nhận

vai trò của nhà nước

trong điều tiết KT

Thì nền “KT thị trường xã hội” cần có vai trò của chính phủ mạnh, nhưng chỉ cần thiết ở những nơi không có cạnh tranh hoặc cạnh tranh không hiệu quả

Những nơi cần phải bảo vệ cạnh tranh, cần kích thích những nguyên tắc cơ bản của “kinh tế thị trường xã hội” mà không thể

trao vào tay tư nhân

Tuy nhiên, sự can thiệp của chính phủ cũng chỉ ở mức độ hợp lý, tuân theo hai nguyên tắc:

hỗ trợ và tương hợp thị trường

Trang 9

3 Lý thuyết về vai trò nhà nước của trường phái tự do mới ở Mỹ

3.1 Lý thuyết của trường phái “Trọng tiền” hiện đại ở Mỹ

Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế được trình bày tập trung ở lý thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân của M.Friedman

đến việc tăng sản lượng quốc gia

Dựa vào công thức của I Fisher

M V = P Q (M: mức cung tiền tệ; V: số vòng

quay của đồng tiền; P: giá cả; Q:

sản lượng; P Q = GDP)

* Nội dung cơ bản gồm hai vấn đề

Họ cho rằng, V ổn định nên các biến số của kinh tế vĩ

mô như giá cả, sản lượng, việc làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ

mức cung tiền tệ

Trang 10

Nếu mức cung tiền

tệ tăng thì sản

lượng quốc gia,

việc làm cũng

tăng vì:

tăng vì:

Tăng mức cung tiền, lãi xuất cho vay giảm xuống, đầu tư tăng lên, tăng việc làm, tăng sức cầu, tăng giá cả, tăng thu nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp

nhập, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Trong khi đó, mức

cung tiền có tính chất

không ổn định vì

Nó phụ thuộc vào các quyết định chủ quan của các cơ quan quản lý tiền tệ, của hệ thống dự trữ liên bang (FED)

của hệ thống dự trữ liên bang (FED)

Vì vậy, nếu FED phát hành ra quá nhiều hay quá ít tiền tệ, sẽ dẫn đến lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế

phát hoặc khủng hoảng kinh tế

Từ phân tích trên

M Friedman cho

rằng

Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ 1929 - 1933 có nguyên nhân do FED phát hành khối lượng tiền ít hơn so với mức cầu nên không đủ để mua hàng Từ đó, Ông đề nghị phải chủ

Theo Ông nhìn chung tiền tệ phải được điều tiết theo một tỷ lệ tăng ổn định từ 3 - 4% trong một năm

Trang 11

Thứ hai, quan hệ giữa khối lượng tiền cung ứng và lạm phát

Xuất phát từ công thức

M V = P Q

M.Friedman suy ra

M.Friedman suy ra M =

P.Q V

Vì đã giả

định

V: ổn định; Q: không phụ thuộc hoặc phụ thuộc rất ít vào M, nên sự thay đổi

M sẽ làm thay đổi P

Nếu mức cung tiền tệ M (dù là tiền giấy hay tiền vàng) tăng sẽ làm cho giá

cả tăng theo, gây nên lạm phát

Từ đó họ

cho rằng

cho rằng

Lạm phát là căn bệnh nan giải của xã hội

tư bản, là căn bệnh nguy hiểm nhất, thất nghiệp là hiện tượng bình thường trong

nền kinh tế thị trường

Lạm phát là một nhân tố mất ổn định chung, ảnh hưởng đến giá cả và sinh ra thất nghiệp Vì vậy, điều quan trọng là phải có biện pháp chống lạm phát

Trang 12

3.2 Lý thuyết về vai trò nhà nước của trường phái “Trọng cung” ở Mỹ

Xuất hiện ở Mỹ vào năm

1980 do yêu cầu tìm kiếm

con đường tăng trưởng

kinh tế và duy trì năng

suất lao động

Đại biểu của trường phái này là Arthur Laffer, Jede Winniski, Norman Ture

Đối lập với trường phái

“Trọng cầu”, trường phái

“trọng cung” cho rằng:

Để cho nền kinh tế ổn định nhịp độ tăng trưởng phải kích thích tăng cung

Dựa trên lý thuyết của J.B.Say: Cung đẻ

ra cầu, cung mới tạo

ra cầu mới, sẽ không

Arthur Laffer cho rằng, để kích thích tăng cung nhà nước cần có chính sách kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nhân tăng đầu tư;

Áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng năng xuất lao động, tạo ra sản phẩm mới, kích thích sức cầu

tăng lên

tăng lên

Trang 13

Đối lập với J.M.Keynes,

Arthur Laffer cho rằng

Muốn mở rộng đầu tư phải tiết kiệm, tiết kiệm trong hiện tại, tương lai sẽ có thu nhập

Chỉ có bộ phận thu nhập quốc dân dành cho tiết kiệm mới có thể đảm bảo cho đầu tư và bù đắp thâm hụt ngân sách

Để kích

thích tăng

cung Ông đề

nghị cắt

giảm thuế

giảm thuế

Phê phán chính sách thuế cao của J Keynes trường phái “Trọng cung” cho rằng, thuế xuất cao sẽ làm giảm

mức độ và qui mô tiết kiệm

Do đó cần phải giảm thuế, áp dụng chính sách thuế thấp chứ không phải là chính sách thuế cao

Trang 14

4 Lý thuyết của P.A Samuelson về vai trò kinh tế của nhà nước

Từ thành công và hạn chế của

trường phái cổ điển và tân cổ điển

với việc tuyệt đối hoá vai trò tự

điều tiết của cơ chế thị trường

Trường phái Keynes đề cao vai

trò điều tiết kinh tế của nhà nước

(bàn tay hữu hình)

P.A.Samuelson

đã đưa ra lý thuyết kết hợp

cả hai bàn tay trong quản lý nền kinh tế

Ông cho rằng

“cả thị trường

và Chính phủ đều cần thiết cho một nền kinh tế vận hành lành mạnh”

Trang 15

Khi phân tích vai trò của thị trường, Samuelson cũng chỉ rõ: Bàn tay vô hình đôi khi cũng đưa nền kinh tế đến những sai lầm

Đó là những

khuyết tật

của hệ thống

kinh tế thị

trường

Do tác động bên ngoài gây nên như ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp không phải trả

giá

Thất bại do tình trạng độc quyền phá hoại tự

do cạnh tranh, hoặc là khủng hoảng, thất

nghiệp

Cuối cùng là sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Để đối phó phải phối hợp bàn tay

vô hình với bàn tay hữu hình như thuế khoá, luật lệ và chi tiêu chính

phủ

Trang 16

Thứ nhất:

Thiết lập

khuôn khổ

pháp luật

CP đề ra quy tắc trò chơi KT mà các DN, người tiêu dùng, CP phải tuân thủ:

Bao gồm: Quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động

KD, các luật lệ để xác định môi trường kinh

tế

chữa thất bại

của thị

trường để thị

trường hoạt

động có hiệu

quả

Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế độc quyền làm cho cạnh tranh không hoàn

hảo

Nhà nước can thiệp nhằm hạn chế tác động bên ngoài như doanh nghiệp tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khác

mà họ không được nhận đúng phần được

trả

Chính phủ đảm nhận sản xuất hàng hoá

công cộng

Thuế: Chi phí của chính phủ được thực hiện bằng tiền thuế Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế và được hưởng hàng hóa công cộng do chính phủ

cấp

Theo P.A.Samuelson, vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế

thị trường đ ược thể hiện thông qua bốn chức năng chính

thị trường đ ược thể hiện thông qua bốn chức năng chính

Trang 17

Thứ ba: Đảm

bảo sự công

bằng

Đánh thuế lũy tiến, thanh toán chuyển nhượng để trợ cấp cho người cao tuổi, người tàn tật, người không có việc làm

Trong điều kiện hoạt động hoàn hảo nhất vẫn

có sự phân hóa, bất bình đẳng

định kinh tế

vĩ mô

Từ khi ra đời nền kinh tế TBCN gặp nhiều thăng trầm chu kỳ như lạm phát, suy thoái

Nhà nước thực hiện chức năng này bằng ba công cụ

Thuế: Thông qua thuế, nhà nước điều tiết tiêu dùng, đầu tư

Chi tiêu chính phủ: Thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất hàng

hoá, dịch vụ

Lãi xuất thành toán chuyển nhượng, khối lượng tiền tệ và qui định hay kiểm soát

Chính phủ thông qua những chính sách để phân phối thu nhập:

Trang 18

Khi thực

hiện chức

năng kinh tế

Sự lựa chọn công cộng

là một tập hợp ý kiến

cá nhân Theo qui tắc tất cả phải được nhất trí

thông qua

Chính phủ phải đưa ra quyết định

về phương án lựa chọn Từ đó hình thành nên lý thuyết lựa chọn công cộng

Công cụ của sự lựa chọn là đường giới hạn khả năng – giá trị sử

dụng

Cũng như “bàn

tay vô hình”,

“bàn tay hữu

hình” cũng có

khuyết tật

Có những quyết định không được nhất

trí tuyệt đối

Hoạt động phân phối lại thu nhập có thể

dẫn tới không công bằng

Chính phủ tài trợ cho 1 chương trình

quá lớn trong thời gian dài

Vì vậy, cần kết hợp cơ chế thị trường

với vai trò của chính phủ

Ngày đăng: 16/11/2017, 19:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình chủ nghĩa tự do cổ điển. Từ đó lý thuyết nền - BÀI GIẢNG điện tử KINH tế CHÍNH TRỊ   tư TƯỞNG về VAI TRÒ của NHÀ nước TRONG LỊCH sử các học THUYẾT KINH tế
Hình ch ủ nghĩa tự do cổ điển. Từ đó lý thuyết nền (Trang 7)
Hình đôi khi cũng đưa nền  kinh tế đến những sai lầmkinh tế đến những sai lầm - BÀI GIẢNG điện tử KINH tế CHÍNH TRỊ   tư TƯỞNG về VAI TRÒ của NHÀ nước TRONG LỊCH sử các học THUYẾT KINH tế
nh đôi khi cũng đưa nền kinh tế đến những sai lầmkinh tế đến những sai lầm (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w