- Luận án góp phần đúc kết những kinh nghiệm lịch sử giúp Đảng bộ và các cấp ủy, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn…trong tỉnh có thêm nguồn t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Hiền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với thầy giáo hướng dẫn là PGS.TS HOÀNG HỒNG đã tâ ̣n tình giúp đỡ và hướng dẫn nhiều ý tưởng khoa ho ̣c có giá tri ̣ giúp cho tác giả hoàn thành bản luâ ̣n án này Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự động viên , khuyến khích và những kiến thức khoa ho ̣c mà thầy giáo đ ã chia sẻ cho tác giả trong nhiều năm qua , giúp cho tác giả nâng cao nhận thức và năng lực khoa học
Tác giả xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp , những nhâ ̣n xét hết sức quý báu chân tình của các thầy giáo , các nhà kho a ho ̣c giúp tác giả hoàn thành bản luận án của mình
Cuối cùng tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình , bạn bè, đồng nghiê ̣p đã thông cảm , đô ̣ng viên và chia sẻ khó khăn với tác giả trong suốt thời gian làm luâ ̣n án
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Hiền
Trang 4Chương 2 : ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006 26
2.2.1
2.2.2
Chủ trương và quá trình chỉ đạo dồn điền đổi thửa của Đảng bộ
Chủ trương dồn điền đổi thửa của Đảng bộ Quá trình chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi thửa và những kết quả đạt được
47
47
54
Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
THỰC HIỆN DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TỪ NĂM 2006 ĐẾN
Trang 53.1.2 Chủ trương đẩy mạnh thực hiện dồn điền đổi thửa của Đảng bộ 85 3.2
3.2.1
3.2.2
Tăng cường chỉ đạo thực hiện và kết quả đạt được
Tăng cường các biện pháp thực hiện dồn điền đổi thửa Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa
148
151
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban Chấp hành BCT : Bộ Chính trị CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CCKT : Cơ cấu kinh tế
DĐĐT : Dồn điền đổi thửa HĐND : Hội đồng nhân dân GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất KH-CN : Khoa học công nghệ
KT- XH : Kinh tế - xã hội QLĐĐ : Quản lý đất đai TTCP : Thủ tướng Chính phủ UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 7PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết quả đổi điền dồn thửa lần thứ nhất
Phụ lục 2: Kết quả khảo sát tại các xã đã đổi điền dồn thửa lần 2
Phụ lục 3: Kết quả khảo sát tại các xã đổi điền dồn thửa lần 2 (tiếp theo)
Phụ lục 4: Tổng hợp kết quả dồn điền đổi thửa tính đến năm 2012
Phụ lục 5: Một số văn bản pháp luật liên quan đến đất nông nghiệp kể từ sau luật
đất đai 1993
Phụ lục 6: Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các loại đất lần đầu cho
hộ gia đình và cá nhân đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Phụ lục 7: Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
lần đầu cho hộ gia đình và cá nhân đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 trên địa bàn tỉnh
Phụ lục 8: Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp lần
đầu cho hộ gia đình và cá nhân đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 trên địa bàn tỉnh
Phụ lục 9: Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trang trại lần đầu cho hộ
gia đình và cá nhân đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 trên địa bàn tỉnh
Phụ lục 10: Kết quả giao đất lâu dài theo nghị định số 64/CP ngày 19/7/1993
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dồn điền đổi thửa (DĐĐT) là tiền đề, cơ sở góp phần thúc đẩy nông nghiệp
và nông thôn ở nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Chủ trương DĐĐT theo hướng tăng quy mô, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là một nội dung quan trọng trong đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, nhằm khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, nhỏ lẻ, tạo điều kiện cho hộ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồng thời, quy hoạch kiến thiết lại đồng ruộng, xây dựng các vùng chuyên canh, kiên cố kênh mương, giao thông nội đồng để chủ động tưới tiêu, đi lại, chăm sóc, thu hoạch sản phẩm, từng bước tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đưa công tác quản lý ruộng đất, chỉ đạo sản xuất vào nề nếp Qua đó, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều hòa nguồn nhân
lực, phát huy lợi thế của mỗi vùng, miền
DĐĐT là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm hướng đến một nền nông nghiệp hàng hóa phát triển với quy mô lớn Chủ trương đó phù hợp với xu thế chung của thời đại và hoàn cảnh thực tiễn của nền nông nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện chủ trương DĐĐT, mục tiêu cuối cùng của DĐĐT vẫn chưa đạt được, nền nông nghiệp Việt Nam vẫn
“dậm chân tại chỗ”, chưa có nhiều biến chuyển so với trước DĐĐT, nông nghiệp chưa tạo ra các sản phẩm đủ sức cạnh tranh với thị trường thế giới Sở dĩ như vậy
là do Đảng và Nhà nước chưa giải quyết triệt để, đồng bộ các giải pháp song song với việc DĐDT như vấn đề việc làm, phương thức tổ chức canh tác, ứng dụng khoa học kỹ thuật, DĐĐT mới dừng lại ở việc tập trung ruộng đất ở quy mô hộ gia đình, mà chưa hướng đến việc tập trung ruộng đất ở quy mô lớn trên một đơn
vị sản xuất Vì vậy, xu hướng tiếp theo của chính sách đất nông nghiệp là hướng đến việc tích tụ và tập trung ruộng đất bằng các hình thức như liên doanh, hợp tác,
cổ phần góp vốn bằng đất giữa các hộ nông dân để nâng cao hiệu quả sản xuất
Trang 9nông nghiệp, có như vậy thì mục tiêu của DĐĐT về phát triển kinh tế hàng hóa theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn mới có thể đạt được
Quán triệt, vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong những năm 1996 đến năm 2013 đã lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc vận động DĐĐT trên quy mô toàn tỉnh và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng
Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn, nhất là những khó khăn của địa hình ruộng đất phức tạp, dân số đông, nền kinh tế thuần nông, công nghiệp phát triển chậm, điểm xuất phát thấp, nên quá trình lãnh đạo DĐĐT theo hướng CNH, HĐH của Đảng bộ còn có nhiều bất cập, tiến độ thực hiện chậm chưa đạt được mục tiêu, hiệu quả kinh tế chưa cao
Vì vậy, việc nghiên cứu, tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo thực hiện chủ trương của Đảng về DĐĐT theo hướng CNH, HĐH không chỉ góp phần đúc rút những kinh nghiệm mà còn cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc giải quyết những vẫn đề về nhận thức lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh hiện nay
Với ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn đề tài Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện dồn điền đổi thửa từ năm 1996 đến năm 2013 để làm luận án tiến sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện chủ trương của Đảng về DĐĐT tại địa phương từ năm 1996 đến năm 2013; trên cơ sở đó, chỉ rõ
ưu điểm, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm cho hoạt động DĐĐT hiện tại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các yếu tố tác động và chi phối công tác DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa
- Trình bày chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 1996 đến 2013 theo một hệ thống có tính lịch sử
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT
Trang 10- Đúc rút kinh nghiệm từ quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chủ trương và các biện pháp chỉ đạo của Đảng bộ Thanh Hóa trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác DĐĐT
- Các hoạt động thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa
+ Luận án tập trung cơ bản vào hoạt động DĐĐT, tuy nhiên ruộng đất là
tư liệu sản xuất gắn bó mật thiết với người nông dân và liên quan đến mọi hoạt động trong nông nghiệp và nông thôn Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu luận
án, tác giả có những điểm mở rộng để làm sáng tỏ hơn chủ đề của luận án như chính sách ruộng đất, đất nông nghiệp, tích tụ và tập trung ruộng đất
- Về thời gian: Luận án lấy mốc thời gian từ năm 1996 đến năm 2013 Năm
1996 là thời điểm Đảng bộ bắt đầu nhắc đến chủ trương DĐĐT tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV và thực hiện thí điểm cuộc vận động DĐĐT tại một số địa phương Năm 2013 là mốc thời gian Đảng và Nhà nước thông qua Luật sửa đổi đất đai
- Về không gian: Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
+ Các văn kiện Đảng và Nhà nước Việt Nam liên quan đến chính sách ruộng đất và công tác DĐĐT
+ Các văn bản tài liệu (nghị quyết, chỉ thị, quyết định, thông tư…), các chương trình kế hoạch, các báo cáo của BCH Đảng bộ, Ban Thường vụ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Thanh Hóa liên quan đến công tác DĐĐT
Trang 11+ Tài liệu của các ban, các cấp, các ngành, các huyện trong tỉnh Thanh Hóa về thực hiện DĐĐT
+ Các sách đã xuất bản, các đề tài nghiên cứu khoa học, đề án, bài báo, tạp chí, luận văn, luận án có liên quan đến đề tài
- Nguồn tài liệu khảo sát thực tế ở địa phương, phỏng vấn các cán bộ, đảng
viên, quần chúng nhân dân đã trực tiếp tham gia thực hiện hoặc chứng kiến quá trình triển khai DĐĐT
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic nhằm trình bày một cách khách quan, khoa học chủ trương, đường lối lãnh đạo DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; từ đó khái quát, rút ra những kết luận về ưu điểm, hạn chế và một số bài học kinh nghiệm lịch sử
- Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để làm rõ quá trình lãnh đạo DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
5 Đóng góp khoa học của Luận án
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa về DĐĐT từ năm 1996 đến năm 2013
- Khôi phục chân thực quá trình tổ chức chỉ đạo và kết quả thực hiện
DĐĐT từ năm 1996 đến năm 2013 của Đảng bộ
- Làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn qua các giai đoạn 1996-2006, 2006-2013; góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu lịch sử, được xây dựng từ các nguồn tư liệu phong phú và qua các kết quả sưu tầm điều tra, khảo sát, thực địa tại Thanh
Trang 12Hóa Bằng nhiều luận cứ khoa học, tác giả đã tập trung phân tích, lý giải và đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ địa phương có nhiều tiềm năng, nhưng cũng không ít những khó khăn và thách thức
- Luận án góp phần đúc kết những kinh nghiệm lịch sử giúp Đảng bộ và các cấp ủy, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn…trong tỉnh có thêm nguồn tư liệu tham khảo trong quá trình tổng kết thực tiễn và xây dựng chủ trương, chính sách, biện pháp để lãnh đạo thực hiện chủ trương DĐĐT và những định hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo
- Luận án là nguồn tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Đảng bộ tỉnh, lịch sử Đảng bộ ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, lịch sử Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án được chia thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện dồn điền đổi thửa từ năm 1996 đến năm 2006
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện dồn điền đổi thửa từ năm 2006 đến năm 2013
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
DĐĐT là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm làm thay đổi cung cách sử dụng đất nông nghiệp, thói quen, tập quán làm ăn nhỏ lẻ, manh mún của người nông dân, đưa người nông dân gần hơn với nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, một trong những bước quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Chính vì vậy, việc nghiên cứu chủ trương DĐĐT trở thành đề tài hấp dẫn, được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu ở các góc độ lịch sử, kinh tế, xã hội học Kết quả các công trình đã được các nhà khoa học nghiên cứu có thể khái quát và phân thành một số nhóm sau:
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách ruộng đất của Đảng trong thời kỳ đổi mới có liên quan đến dồn điền đổi thửa
Sau gần 30 năm đổi mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách ruộng đất Kết quả của các công trình nghiên cứu đó đã rút ra những luận
cứ khoa học quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, là cơ sở giúp cho Đảng và cấp ủy cũng như chính quyền các cấp hoạch định đúng đắn chủ trương, chính sách DĐĐT một cách có hiệu quả, góp phần đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn hiện nay
Đề tài cấp Bộ năm 2004 - 2005 về “Chính sách đất nông nghiệp ở nước
ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp” của Trần Thị Minh Châu (Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) Đề tài đã trình bày cơ sở
lý luận của chính sách quản lý đất đai trong nông nghiệp phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nêu lên một số kinh nghiệm thi hành chính sách đất đai nông nghiệp hiệu quả; làm rõ thực trạng chính sách đất đai nông nghiệp Việt Nam; qua đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới Đặc biệt, đề
Trang 14tài cũng đã đề cập trực tiếp đến vấn đề cần thiết phải thực hiện DĐĐT và tích
tụ ruộng đất nhằm hướng đến sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Đề tài cấp bộ "Nghiên cứu thực trạng, đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai về quản lý và sử dụng đất của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa trong giai đoạn hiện nay" năm 2012 của Bùi Sỹ Dũng (Viện Nghiên cứu quản
lý đất đai) Đề tài đã đánh giá thực trạng thực hiện các quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp Đề xuất các giải pháp để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và người sử dụng đất
Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá tiềm năng đất đai nhằm góp phần sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam” năm 2011 của Bùi Văn Sỹ (Viện Nghiên cứu
quản lý đất đai) Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá tiềm năng đất đai Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai nhằm sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất phục vụ phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Đề tài cấp bộ “Nghiên cứu quá trình hình thành của một số chính sách đổi mới đột phá trong nông nghiệp, nông thôn” do Viện Chính sách và Phát triển nông
nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện năm 2005-
2006; đề tài cấp bộ "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất" năm 2007 của Đào Đức Mẫn
(Viện Nghiên cứu quản lý đất đai)… Các đề tài đã khái quát về chính sách ruộng đất, nêu lên thực trạng và giải pháp để nhằm hoàn thiện chính sách ruộng đất, đồng thời đề xuất các mô hình sử dụng đất bền vững phục vụ cho quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn hiện nay Đây cũng chính là nguồn tư liệu quý giá tạo tiền đề cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận, giúp cho tác giả hoàn thành luận án nghiên cứu của mình
Trang 15Luận án tiến sỹ năm 1994 của Vũ Văn Châu về “chính sách ruộng đất của Đảng cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới (1986-1993)” đã hệ thống
chính sách ruộng đất của Đảng từ sau cách mạng tháng 8/1945; phân tích những nội dung cơ bản của chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới Qua đó nêu bật được việc giải quyết vấn đề ruộng đất theo hướng giao các quyền tự chủ và sử dụng cho từng hộ gia đình nông dân là một trong những nội dung cơ bản nhất của đường lối đổi mới của Đảng; bước đầu dự báo kết quả của mối quan hệ giữa phân tán và tập trung ruộng đất sau khi ruộng đất được Nhà nước trực tiếp giao cho từng hộ gia đình nông dân tự chủ thực hiện
Luận án tiến sỹ năm 2004 của Đào Xuân Mùi về “Nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về đất đai ở ngoại thành Hà Nội” đã hệ thống những vấn đề cơ bản
về vai trò, đặc điểm của đất đai trong nông nghiệp và trong phát triển kinh tế xã hội; đánh giá thực trạng, đề ra những quan điểm giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất đai ở ngoại thành Hà Nội
Luận án tiến sỹ năm 2015 của Bùi Minh Hồng về “Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc”, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh Luận án đánh giá, phân tích thực trạng thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở Vĩnh Phúc, chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế tiêu cực cũng như những yếu kém, bất cập của thị trường này và nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế, bất cập từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp tạo môi trường thông thoáng cho thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp phát triển linh hoạt nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ tốt cho CNH, HĐH Đồng thời, luận
án cũng đề xuất giải pháp phát triển thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc và kiến nghị với Trung ương, các bộ ngành có liên quan và địa phương tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình vận hành thị trường này
Trang 16Ngoài các đề tài nghiên cứu khoa học và luận án tiến sỹ nêu trên, một
số cuốn sách cũng đã đề cập đến quá trình đổi mới chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước, cụ thể như sau:
Cuốn sách Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam của Hoàng Việt, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
1999, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề: vai trò của sở hữu ruộng đất đối với phát triển nông nghiệp, sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực trạng sở hữu và quản lý ruộng đất, sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện quan hệ sở hữu và quản lý ruộng đất ở Việt Nam Tác giả kiến nghị: cụ thể hóa hơn nữa quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng bằng các văn bản pháp quy thích hợp
Cuốn sách Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai
ở Việt Nam của Nguyễn Đình Kháng, NXB Lao động, Hà Nội, năm 2008, đã
nghiên cứu sâu sắc về nội dung cơ bản của lý luận Mác - Lênin về quan hệ đất đai Qua đó, nghiên cứu thực trạng vận dụng quan hệ đất đai qua các giai đoạn lịch sử
ở Việt Nam, đánh giá mức độ vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác về quan hệ đất đai thông qua việc xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật đất đai ở Việt Nam
Cuốn sách Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu, vấn đề và triển vọng của Nguyễn Văn Bích, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
1994, tác giả đã phân tích những nội dung, thành tựu và những vấn đề cần tiếp tục của công cuộc đổi mới quản lý nông nghiệp Về giải pháp của chính sách ruộng đất, tác giả kiến nghị: Các quyền năng đối với người được giao ruộng đất phải rõ ràng và thể chế hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ sản xuất nong nghiệp cần được giao sớm và đầy đủ Khuyến khích quá trình tích tụ ruộng thông qua quyền chuyển đổi và chuyển nhượng Tổ chức nghiên cứu sớm các khung pháp luật, chính sách mới đối với “thị trường đất”
ở Việt Nam
Trang 17Cuốn sách Ruộng đất, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thời kỳ cận - hiện đại của Nguyễn Văn Khánh, NXB Thế giới, Hà Nội, năm 2013 Tác giả đã
tập trung tìm hiểu và làm sáng tỏ tình hình cùng những chuyển biến trong cơ cấu, quyền sử dụng ruộng đất, nhất là những chuyển biến của năng suất và sản lượng lúa qua các thời kỳ Đồng thời trên một mức độ nhất định, cuốn sách cũng đề cập
và phân tích về những thay đổi trong đời sống của nông dân và nông thôn nước ta trong một số làng xã và địa phương tiêu biểu về loại hình ở miền Bắc trong những năm đổi mới chính sách ruộng đất nông nghiệp
Cuốn sách Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (Qua khảo sát một số làng xã) của Nguyễn
Văn Khánh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2001 Cuốn sách cung cấp tư liệu và cơ sở thực tiễn cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp và nông thôn, góp phần hiểu rõ hơn về tình hình kinh tế nông nghiệp và nông thôn vùng châu thổ sông Hồng Đặc biệt tác giả đã đề cập đến những vấn đề nảy sinh trong việc giải quyết mối quan hệ
sở hữu - sử dụng ruộng đất trong nông thôn Việt Nam như: tình trạng ruộng đất manh mún sẽ gây khó khăn cho việc lập sơ đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công tác quản lý đất đai Nó làm cho việc quy hoạch lại đồng ruộng không thể thực hiện triệt để và toàn diện
Trong số những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khá trực tiếp và sâu sắc đến tình trạng manh mún, những chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng manh mún về ruộng đất và tác động của nó đến nông nghiệp Việt Nam cụ thể như sau:
Cuốn Phát triển nông nghiệp và những chính sách đất đai ở Việt Nam của
các tác giả Sally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng - Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Ôx-trây-lia và Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội, năm 2007 Các tác giả đã phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra của quá trình manh mún ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam Qua đó các tác giả đề nghị một số chính
Trang 18sách về khắc phục sự manh mún ruộng đất nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian
tới như: thứ nhất, tập trung đất đai có thể sẽ có lợi cho nông dân trong ngắn hạn
nếu xem xét dưới góc độ năng suất cây trồng nhưng nó cũng có thể tạo thêm chi phí nếu xét đến khả năng giảm rủi ro và một số lợi ích riêng khác của việc có
nhiều mảnh, đặc biệt là trong bối cảnh nền nông nghiệp còn tự cung, tự cấp; thứ hai, những chính sách tập trung đất đai theo định hướng của Chính phủ cần phải
được thực hiện với sự chú ý và cẩn thận hơn Ở một vài nơi, manh mún đất đai có thể có lợi ích, nhất là ở những vùng miền núi hay những nơi có mức độ rủi ro về
hạn hán và lụt lội cục bộ thường xảy ra cao hơn; thứ ba, những chính sách của
Chính phủ nhằm tăng cơ hội tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông nghiệp sẽ làm cho chi phí cơ hội của lao động nông thôn tăng lên và nó sẽ thúc đẩy động cơ hay tăng cường khả năng tập trung đất đai
Cuốn Đất đai trong thời kỳ đổi mới, cải cách và nghèo đói của nông thôn Việt Nam của Martin Ravallion và Dominique van de Walle, NXB Văn hóa thông tin,
Hà Nội, năm 2008 Dưới góc nhìn của những nhà nghiên cứu nước ngoài, chủ trương DĐĐT được xem như một giải pháp hữu hiệu cho quá trình giảm thiểu manh mún, tập trung diện tích đất nông nghiệp lớn, khắc phục đói nghèo và kích thích nông nghiệp Việt Nam phát triển Các tác giả đã có những đánh giá khá thuyết phục về tác động của chính sách DĐĐT đến tập quán sản xuất của người nông dân Việt Nam và những biến đổi trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam
Thomas Mark Ussen, Finn Tarp, Đỗ Huy Thiệp, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn trong
Phân mảnh đất đai hộ và giữa các hộ nông nghiệp ở Việt Nam, Trường Đại học
Cophenhagen (UoC), UNU - WIDER Helsinki, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn (IPSARD) Các tác giả đã cho rằng phân mảnh đất đai ở Việt Nam theo hai cách: phân mảnh đất đai trong hộ xảy ra khi một hộ nông dân được chia nhiều mảnh đất, và phân mảnh đất đai giữa các hộ nông dân nhỏ hơn Vấn đề này đang găy gắt ở Việt Nam do sự kết hợp của việc tăng trưởng dân số, với một truyền thống văn há về quyền thừa kế đất đai bình đẳng cho các con và chính sách tái phân chia đất đai một cách công bằng trong suốt giai đoạn phi tập
Trang 19thể hóa Cả hai loại phân mảnh của đất đai đều làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp do chúng ngăn cản việc sử dụng máy móc hiện đại vào trong sản xuất nông nghiệp DĐĐT có vai trò lớn đối với tương lai của nông nghiệp Việt Nam bằng việc giải phóng lao động sang hoạt động cho các ngành công nghiệp hiện đại và đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu ở Việt Nam
Bên cạnh đó, vấn đề đổi mới chính sách ruộng đất đã được phản ánh khá
nhiều trong các tạp chí như: Đường lối đổi mới của Đảng đối với vấn đề ruộng đất nông nghiệp, Trương Thị Tiến, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1 năm 1995; Những bất cập hiện nay của chính sách đất đai và thách thức đối với phát triển tam nông ở Việt Nam, Nguyễn Tấn Phát, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 11 năm 2008; Vấn đề đất đai ở nông thôn Việt Nam, Lê Du Phong, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 355 năm 2007; Đổi mới chính sách ruộng đất ở Việt Nam và vấn đề ruộng đất của kinh tế hộ nông dân, Trương Thị Tiến, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5-2004; Quan hệ ruộng đất ở nông thôn, thực trạng và giải pháp, Nguyễn Hữu Đạt, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4/1990; Sở hữu ruộng đất nhìn từ thực tiễn, Nguyễn Văn Quy, Tạp
chí nghiên cứu kinh tế, số 193/1993
Những công trình nghiên cứu trên đã trình bày có hệ thống quá trình đổi mới tư duy về đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất Qua đó, các tác giả đã phần nào nêu được thực trạng về tình hình sử dụng ruộng đất của Việt Nam và của các tỉnh (ở thời điểm nghiên cứu) và những đóng góp của việc thực hiện chính sách ruộng đất trong nền kinh tế của đất nước và của mỗi địa phương; góp phần vào sự hình thành chủ trương mới của Đảng về chính sách ruộng đất
Mặc dù các công trình khoa học trên chỉ đề cập về chính sách ruộng đất,
mà không đi sâu vào phân tích trực tiếp nội dung chính của đề tài nghiên cứu là vấn đề về DĐĐT Nhưng những kết quả nghiên cứu đó, đã gợi mở cho tác giả hướng nghiên cứu, tiếp cận nguồn tư liệu và những luận cứ khoa học có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp tác giả hoàn thành luận án của mình
Trang 201.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa
ở các địa phương
Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả đã được đọc một số luận văn có nội dung liên quan đến vấn đề DĐĐT ở các địa phương khác nhau thuộc các chuyên ngành: Lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, kinh tế, triết học cụ thể như sau:
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Mỹ về “Biến đổi cơ cấu kinh tế- xã hội ở Văn Giang (Hưng Yên) sau quá trình dồn điền đổi thửa từ năm 1999 - 2008” góp phần tìm hiểu những tác động của chủ trương DĐĐT đến sự thay đổi
cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội trong phạm vi của một huyện thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng - huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên Từ đó thấy được những thay đổi cơ bản của kinh tế- xã hội của địa phương này sau khoảng 10 năm từ thực hiện chủ trương DĐĐT; đồng thời đánh giá sự phù hợp của chủ trương này đối với điều kiện và thực trạng nền nông nghiệp của huyện và tỉnh, chỉ ra những hạn chế
và đề xuất một số kiến nghị cho công tác DĐĐT và phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương trong thời gian tới
Luận văn thạc sỹ của Chu Mạnh Tuấn (Đại học Nông nghiệp Hà Nội)
“Nghiên cứu ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân ở huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây” Luận văn đã nghiên cứu hệ thống
chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích dồn điền đổi thửa tạo các “thửa lớn”; Đánh giá chính sách dồn điền đổi thửa ở huyện đến quản lý đất đai
và hiệu quả sử dụng đất của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây
Luận văn thạc sỹ của Bùi Minh Hồng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh) về “Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” góp
phần hệ thống hóa và luận giải sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần thiết của việc DĐĐT đất nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Đánh giá thực trạng quá trình DĐĐT đất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc dưới góc độ kết quả đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân; trình bày quan điểm và
Trang 21những giải pháp cơ bản để thực hiện DĐĐT ở Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Luận văn thạc sĩ của Phạm Tô Huyền (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn) về “Quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã Phù Lưu Tế - Huyện Mỹ Đức- Tỉnh Hà Tây (1993-2008)” đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình DĐĐT và tích tụ ruộng đất của địa phương; đánh giá thực trạng tích tụ ruộng đất của xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Tây; tìm hiểu những tác động của tích tụ ruộng đất đến tình hình kinh tế của địa phương Trên cơ sở đó nghiên cứu thực tiễn, đưa ra những kiến nghị, đề xuất các giải pháp để tích tụ ruộng đất thực sự có hiệu quả
Luận văn thạc sỹ của Võ Tá Đinh (Đại học Nông nghiệp Hà Nội) về “Thực trạng và hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa ở tỉnh Hà Tĩnh” đã làm rõ
quá trình thực hiện và kết quả đạt được của công tác DĐĐT, hiệu quả sử dụng đất sản xuất sau khi thực hiện DĐĐT ở tỉnh Hà Tĩnh Qua đó tác giả đề xuất các giải pháp và bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi DĐĐT ở tỉnh
Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Thanh Xuân (Đại học Nông nghiệp Hà Nội)
về “Đánh giá tác động cả chính sách dồn điền đổi thửa đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” Luận văn đã nghiên cứu, đánh
giá tác động của chính sách DĐĐT đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH, HĐH nông nghiệp trên địa bàn huyện Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác DĐĐT
Luận văn thạc sỹ của Lê Hồng Thanh (Đại học Nông nghiêp Hà Nội) về
“Đánh giá ảnh hưởng của tác động dồn diền đổi thửa đến sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân huyện Thanh Thủy, Phú Thọ giai đoạn 2005 -2010”
đánh giá tác động của công tác DĐĐT đến sử dụng đất canh tác trên địa bàn huyện Thanh Thủy và rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng cho các địa phương có điều kiện tương tự
Trang 22Luận án tiến sĩ của Trần Anh Tuấn (Đại học Kansai) về “Biến đổi nông thôn Đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam - Nghiên cứu so sánh tại 2 xã ven biển tỉnh Thái Bình” năm 2005 Đặc biệt tác giả luận án đã dành hẳn một chương
nghiên cứu về quá trình DĐĐT ở Đồng bằng Sông Hồng Tác giả đã phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra và quá trình thực hiện DĐĐT tại hai xã nghiên cứu điển hình (xã Vân Trường và Đông Long, Tiền Hải, Thái Bình), đồng thời tác giả đã phân tích những tác động của quá trình DĐĐT đến hộ gia đình và quá trình tổ chức quản lý ruộng đất ở địa phương nghiên cứu Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế tồn tại
Cuốn sách Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm sau đổi mới của Đặng
Kim Sơn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2006, đã nhìn nhận, đánh giá về nông nghiệp Việt Nam những năm trước và sau đổi mới Tác giả có đề cập đến những Nghị quyết của Trung ương về vấn đề DĐĐT và tác động của chủ trương này đến nông nghiệp Việt Nam cho tới năm 2005 Những phân tích của Đặng Kim Sơn về tính chất manh mún của ruộng đất, đặc biệt ở khu vực ĐBSH và kết quả trước mắt của công tác DĐĐT đã khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam và thế giới
Cuốn sách Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam của Nguyễn
Hữu Tiến, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008 đã dành một phần tập trung đánh giá tình hình tích tụ và tập trung đất nông nghiệp ở Việt Nam Trong đó tác giả đã có những phân tích cụ thể về thực trạng manh mún đất đai của ĐBSH, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng này và phân tích các hình thức tập trung và tích tụ ruộng đất, trong đó có chủ trương về DĐĐT Tuy nhiên tác giả cũng chỉ mới đề cập đến kết quả sơ bộ của chính sách này mà chưa đi sâu phân tích những tác động đến sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung
Cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Vấn
đề và giải pháp của Lê Quốc Lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2012
Tác giả cuốn sách đã giành cả một chương để nói về vấn đề DĐĐT phục vụ
Trang 23công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc, cụ thể đã nêu lên xu hướng tự phát DĐĐT trong các hộ nông dân ở tỉnh Vĩnh Phúc; kết quả DĐĐT của các huyện trong tỉnh hiện nay; tác dụng bước đầu của việc DĐĐT đất nông nghiệp
ở Vĩnh phúc Đồng thời tác giả cũng nêu lên tác động xã hội của quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khung cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Cuốn sách Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ (Qua khảo sát các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh) của Mai Thị Thanh
Xuân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004, đã nêu lên những thuận lợi
và khó khăn, những thành tựu và hạn chế trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đồng thời tổng kết quá trình DĐĐT và chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp của 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh qua đó phân tích những hiệu quả của chủ trương này và những hạn chế cần được xem xét, những kinh nghiệm rút ra cho công tác chuyển đổi ruộng đất
Cuốn sách Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và đô thị hoá của Vũ Hào Quang, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2013 Cuốn sách này đã vận dụng nghiên cứu liên ngành để giải thích
sự kiện biến đổi xã hội ở nông thôn Hải Dương nói riêng, ở Việt Nam nói chung Dưới tác động của DĐĐT và tích tụ ruộng đất nhiều mô hình kinh tế mới ở nông thôn đã xuất hiện Các mô hình kinh tế mới vẫn đang hình thành và phát triển dưới tác động của nhiều nhân tố, đặc biệt là các nhân tố đô thị hoá, tích tụ ruộng đất và DĐĐT đối với việc hình thành các mô hình kinh tế mới ở nông thôn (Qua khảo sát ở tỉnh Hải Dương) Những nhân tố tác động đó đã ảnh hưởng đến việc biến đổi cơ cấu xã hội và lối sống cũng như hệ giá trị của người nông dân hiện nay
Nguyễn Trung Kiên trong Tập trung ruộng đất ở Việt Nam: thực trạng và gợi ý chính sách, Trung tâm tư vấn chính sách nông nghiệp (CAP), Hà Nội năm
2013 Dựa trên những số liệu khảo sát cụ thể, tác giả đã phân tích thực trạng sử dụng ruộng đất ở Việt Nam và khẳng định có tình trạng sử dụng đất manh mún,
Trang 24thiếu tập trung Năm 2013, cả nước có 70 triệu mảnh ruộng, bình quân mỗi mảnh 300-400 m2, mỗi hộ có trung bình 7 - 10 mảnh Mức độ manh mún không đồng đều giữa các vùng, trong đó Miền Bắc manh mún hơn Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long Nguyên nhân của hiện tượng trên là do những yếu
tố như địa hình, mật độ dân số Các hình thức tập trung đất đai đã và đang diễn ra
là hình thức tập trung đất đai thông qua doanh nghiệp, doanh nghiệp thuê đất của nông dân, doanh nghiệp mua lại hoặc được nhà nước giao từ thu hồi đất của nông dân hoặc nông lâm trường quốc doanh
Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu thực tiễn dồn điền, đổi thửa ở một số tỉnh và đề xuất chính sách khuyến khích dồn điền đổi thửa nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở đồng bằng Sông Hồng” năm 2004 của Đào Thế Anh (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn) Tác giả đã phân tích thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún ở đồng bằng Sông Hồng và qua đó đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm đẩy mạnh thực hiện dồn điền, đổi thửa nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng
Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất với góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ, Nguyễn Tuấn Anh và Thomese Fluer,
Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 4 năm 2007 Bài viết nghiên cứu về quan
hệ họ hàng dưới góc nhìn dòng họ và góc nhìn mạng lưới họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm trong việc DĐĐT và sử dụng ruộng đất Với cách tiếp cận xã hội học, hai tác giả đã chỉ ra rằng người nông dân đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội – với biểu hiện cụ thể là tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng, để nhận chung ruộng cùng nhau khi DĐĐT ở làng Quỳnh Đôi, xã Quỳnh Lưu, Nghệ An
Chuyển đổi ruộng đất ở 3 tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh của Mai Thị Thanh
Xuân, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2 năm 2003, đã tổng kết quá trình DĐĐT
và chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp của 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh qua đó phân tích những hiệu quả của chủ trương này và những hạn chế cần được xem xét, những kinh nghiệm rút ra cho công tác chuyển đổi ruộng đất
Trang 25Ngoài ra, còn có một số bài viết, tạp chí đề cập trực tiếp đến vấn đề
DĐĐT như: Các hình thức tập trung ruộng đất hợp lý để CNH nông nghiệp, Lê Trọng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 8 năm 2010; DĐĐT tốn tiền tỷ vẫn manh mún, Nông thôn mới số 227 kỳ 2 tháng 7/2008; Phú Vang với cuộc vận động DĐĐT , nông thôn mới số 187 kỳ 2 tháng 7/2006; Hiệu quả chuyển đổi ruộng đất liền vùng liền thửa ở Phong Hải, Nông thôn mới số 186 kỳ 1 tháng 10/2006; Nhờ DĐĐT đã đánh thức tiềm năng vùng đất trũng, Nông thôn mới
số 187 kỳ 2 tháng 10/2006…
Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về DĐĐT và tích tụ ruộng đất, xác định rõ những nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm; đồng thời, đề xuất những kiến nghị giải pháp nhằm tiếp tục đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển lên trình độ cao hơn Những công trình nghiên cứu đó là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp cho tác giả không chỉ tiếp thu thêm được nguồn tư liệu để bổ sung, đối chiếu, so sánh mà còn học hỏi được phương pháp luận và cách tiếp cận vấn đề trong khi nghiên cứu đề tài
1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách ruộng đất và chủ trương Dồn điền đổi thửa ở tỉnh Thanh Hoá
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo một số luận án, luận văn liên quan đến vấn đề chính sách ruộng đất và DĐĐT ở tỉnh Thanh Hoá cụ thể như sau:
Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Hiền về Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Thanh Hoá trong những năm 1988 - 2006, đã tái hiện lại gần
20 năm thực hiện đổi mới chính sách ruộng đất của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, trong đó đã làm rõ các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá cùng hoạt động cụ thể trong toàn tỉnh nhằm thực hiện thành công chính sách ruộng đất quan trọng của Đảng và Nhà nước Đặc biệt chương 3 tác giả luận văn đã khái quát quá trình lãnh đạo thực hiện chủ trương DĐĐT của Đảng bộ Thanh Hoá trong 10 năm đầu thực hiện từ năm 1996 đến năm 2006
Luận văn thạc sĩ của Phùng Bá Văn (Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí
Minh) về “Quản lý sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Thanh Hoá - Thực trạng và giải pháp” Luận văn đã khái quát thực trạng về quản lý sử dụng đất nông - lâm
Trang 26nghiệp ở tỉnh Thanh Hoá Qua đó đưa ra các giải pháp và định hướng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nông - lâm nghiệp ở Thanh Hoá
Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Huyền (Đại học Nông nghiệp Hà
Nội) về “Đánh giá ảnh hưởng của công tác chuyển đổi ruộng đất đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Hà Trung - Thanh Hoá” đã nghiên cứu
ảnh hưởng của công tác chuyển đổi ruộng đất đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sau khi thực hiện
công tác chuyển đổi ruộng đất
Luận văn thạc sĩ của Đào Ngọc Đức (Đại học Nông nghiệp Hà Nội) về
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá” Luận văn đã đánh giá hiện trạng các loại hình sử dụng đất
nhằm qua đó đề xuất các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và rút ra những bài học kinh nghiệm về sử dụng đất tại huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Bích Lân (Đại học Kinh doanh và Công
nghệ Hà Nội) về “Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” Luận văn đã đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về đất
đai và quản lý đất đai trong nội bộ một số tổ chức kinh tế được Nhà nước giao quyền sử dụng đất ở tỉnh Thanh Hoá, luận văn đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Tùng (Đại học Nông nghiệp Hà Nội)
về Đánh giá hiê ̣u quả và đề xuất sử dụng đất nông nghiê ̣p theo hướng phát triển bền vững tại huyện Yên Định , tỉnh Thanh Hoá Đánh giá hiệu quả kinh tế
sử dụng đất nông nghiệp nhằm góp phần giúp người dân lựa chọn phương thức
sử dụng đất phù hợp trong điều kiện cụ thể của huyện Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững
Luận án tiến sỹ năm 2010 của Nguyễn Văn Vinh về “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1986 đến 2005” đã tái
hiện 20 năm (1986-2005) đổi mới của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) trên lĩnh vực nông nghiệp Hệ thống hóa
Trang 27những kết quả đạt được và đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp của Đảng bộ Thanh Hóa theo hướng CNH, HĐH và phát triển bền vững
Về các bài tạp chí: Có một số bài viết về chính sách ruộng đất và chủ
trương DĐĐT của tỉnh Thanh Hóa trên các tạp chí, cụ thể như sau:
“Một số kinh nghiệm về lãnh đạo thực hiện dồn điền đổi thửa (Qua thực
tế Huyện Yên Định, Thanh Hóa)” của Hoàng Cao Thắng, Tạp chí Lịch sử
Đảng, số 1 năm 2008 Tác giả đã phân tích những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa, từ đó tác giả đúc rút một số bài
học kinh nghiệm như: thứ nhất, phải có sự lãnh đạo tập trung của các cấp uỷ Đảng,
sự chỉ đạo sát sao của chính quyền từ tỉnh xuống cơ sở; thứ hai, phải thực hiện công khai dân chủ để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong công tác DĐĐT; thứ
ba, phải có sự chỉ đạo giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ của các ngành có liên quan; thứ tư, phải có sự hỗ trợ đầu tư kinh phí của Nhà nước vào công tác DĐĐT để thực
hiện một số khâu công việc mà địa phương không thể thực hiện được như đo đạc,
chỉnh lý bản đồ, sổ sách ; thứ năm, kết hợp giữa DĐĐT với xây dựng cơ sở hạ tầng
“Dồn diền đổi thửa nhìn từ thực tiễn Thanh Hóa” của Bùi Đức Hòa,
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7 năm 2013 Tác giả đã phân tích tình hình DĐĐT
và những hạn chế, khó khăn trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa Đặc biệt từ những khó khăn đó tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn trên như: một là, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền vận động để người dân nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác đổi điền, dồn thửa từ đó tích cực hưởng
ứng, tham gia; hai là, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ kinh phí để nông dân cải tạo ruộng; ba là, các địa
phương phải làm tốt công tác quy hoạch để hình thành những vùng sản
xuất theo từng cây, con ổn định, lâu; bốn là, phải thực hiện nguyên tắc
công khai, dân chủ, công bằng, bình đẳng và tự nguyện, trong đó, đội
Trang 28ngũ, cán bộ đảng viên ở các xã phải là những người tiền phong gương
mẫu đi trước trong thực hiện đổi điền, dồn thửa; năm là, tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện dồn điền, đổi thửa ở các địa phương
“Tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai ở tỉnh Thanh Hóa” của Lê
Đình Thắng, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 12 năm 1999;…tác giả đã đề cập đến vấn đề sau khi DĐĐT, quy hoạch lại ruộng đất thì công tác quản lý ruộng đất cũng phải được Đảng bộ tỉnh quan tâm và giám sát chặt chẽ
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận án cũng quan tâm và chú trọng tìm hiểu mảng sách đã được công bố của Thanh Hóa có liên quan đến đề tài
luận án, tiêu biểu như: cuốn Thanh Hóa - thiên nhiên, xã hội, con người, Nxb Thanh Hóa, năm 1986, do Tỉnh ủy, UBND tỉnh ấn hành; các cuốn Địa chí Thanh Hóa tập 1: phần địa lý và lịch sử, Nxb Văn hóa thông tin; tập 2: phần văn hóa xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2004, do Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ấn hành; cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1975 - 2005, Nxb
Thanh Hóa, 2009 Đây là những cuốn sách có các nội dung liên quan đến đề tài của luận án, nhất là phần tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa - Những nhân tố quan trọng tác động đến quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ tỉnh
Đặc biệt cuốn sách Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Thanh Hóa giai đoạn 1930 -1992 đã tập trung làm rõ vai trò nòng cốt của Hội nông dân
Thanh Hóa trong việc vận động và tổ chức các phong trào của quần chúng thực hiện cuộc vận động DĐĐT: Nông dân ngày càng mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, phát triển vật nuôi, cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa Phong trào nông dân sản xuất giỏi đã góp phần giải quyết nhiều khó khăn ở nông thôn, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn, mở rộng việc áp dụng tiến bộ
kỹ thuật vào sản xuất Nông dân Thanh Hóa đã phát huy năng lực sáng tạo của mình trong cơ chế quản lý mới sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế mùa vụ, cây trồng, vật nuôi theo các chủ trương đổi mới của Đảng
Trang 29Nhờ đó nhiều tiềm năng quý giá của đất đai, rừng, biển bị bỏ phí hoặc lãng quên, nay được hàng chục vạn gia đình nông dân đầu tư công sức, vốn liếng, kỹ thuật
để khai thác làm tăng thêm nguồn của cải đáng kể cho họ và cho toàn xã hội Cũng từ đó xuất hiện các mô hình sản xuất giỏi, rõ nét nhất là nông trại, cho phép phát huy cao độ sức lao động sáng tạo của nông dân và tìm hướng đi lên của nông nghiệp và nông thôn theo định hướng XHCN
Đề án Chuyển đổi ruộng đất trong nông nghiệp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của sở Địa chính năm 1998, đã phân tích mục đích và nguyên
tắc cần thiết phải thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hóa Về yêu cầu DĐĐT đề án nêu lên đất nông nghiệp phải quy hoạch, kiến thiết lại đồng ruộng, đảm bảo tạo thành vùng chuyên canh lớn, quy hoạch các đường giao thông nội đồng, mương tưới, tiêu, thuận lợi cho đi lại, canh tác, chăm sóc và thu hoạch sản phẩm Về phương án chuyển đổi ruộng đất phải căn cứ vào diện tích, loại ruộng của từng hộ theo Nghị định 64 CP, ưu tiên các hộ gia đình chính sách, neo đơn nhận ruộng gần, ruộng tốt, Sau khi DĐĐT phải chỉnh lý, biên vẽ lại bản đồ, lập lại
sổ mục kê theo bản đồ chỉnh lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
cơ sở hướng dẫn cụ thể đó, đề án đã tiến hành triển khai làm thí điểm ở một số thôn, xã, từ đó đúc rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình đó
Tại tỉnh Thanh Hoá để thực hiện chủ trương của Đảng đề ra tại Hội nghị lần thứ
hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về “Nhiệm vụ và giải pháp ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trong những năm 1992 - 1995 Tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hoá tổ chức Hội thảo khoa học về “Định hướng đổi mới kinh tế - xã hội nông thôn Thanh Hoá”, đề cập nhiều vấn đề bức xúc về kinh tế hợp tác xã nông nghiệp, về kinh tế hộ,
quản lý, sử dụng ruộng đất, cơ chế quản lý kinh tế… Qua hội thảo Tỉnh uỷ đã ra chỉ thị
07 về “Giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân, đổi mới cơ chế quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp”, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội nông
thôn và rút kinh nghiệm bổ ích cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đổi mới chính sách ruộng đất sau này
Tháng 10/2004, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã tổ chức hội thảo khoa học “Thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới”, tại buổi Hội thảo đồng
Trang 30chí Nguyễn Văn Tiếu, Giám đốc Sở Tài Nguyên và Môi trường đã trình bày
tham luận về “Quy hoạch sử dụng đất góp phần thúc đẩy chuyển dịch chuyển dịch cơ cầu tỉnh Thanh Hoá” nhằm nêu lên quá trình quy hoạch và thực hiện
quy hoạch sử dụng đất đã hình thành các vùng kinh tế trọng tâm, sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp đã làm cho giá trị quyền sử dụng đất tăng nhanh
Nhìn chung, các hoạt động nghiên cứu về quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hoá cũng chỉ mới dừng lại ở khuôn khổ các hội nghị, hội thảo khoa học, các đề án, báo cáo, tạp chí mà chưa có công trình nào nghiên cứu tổng kết, đánh giá sâu và toàn diện về công tác lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ dưới góc độ Lịch sử Đảng Các luận văn, luận án khi viết về vấn đề chính sách ruộng đất, kinh tế nông nghiệp ở Thanh Hoá cũng mới chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó của công tác DĐĐT mà chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống về quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá Tuy nhiên, các công trình khoa học đó là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, lãnh đạo thực hiện DĐĐT của địa phương theo hướng CNH, HĐH
1.2 Những vấn đề các công trình nghiên cứu đã đề cập đến
Qua khảo sát và hệ thống hoá các nhóm công trình nghiên cứu về chính sách đất nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và DĐĐT nói riêng, tác giả luận án đã rút ra một số nội dung chính mà các công trình nghiên cứu đã đề cập đến, cụ thể như sau:
Thứ nhất, các công trình đã đề cập đến quá trình lịch sử lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện chủ trương về chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước từ Chỉ thị
100 (năm 1981), Nghị quyết 10 (năm1988), Nghị định 64 CP (năm 1994) và hiện nay là chủ trương về DĐĐT, mỗi một giai đoạn lịch sử Đảng và Nhà nước đã đề
ra chủ trương về chính sách ruộng đất phù hợp Điều này giúp tác giả luận án khái quát được quá trình đổi mới chính sách ruộng đất của Đảng và lý giải tại sao giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta nói chung và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nói riêng cần phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện DĐĐT
Trang 31Thứ hai, các công trình cũng đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước khi đề ra chủ trương về DĐĐT là đúng đắn, khoa học và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước Đặc biệt một số công trình đã đề cập tới vai trò của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở một số tỉnh cụ thể (Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Tĩnh, Hà Tây ) Các công trình đó, giúp cho tác giả phương pháp tiếp cận để thấy được quá trình nhận thức của Đảng bộ Thanh Hoá trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT từ năm 1996-2013 là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn của địa phương
Thứ ba, những công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của
DĐĐT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác động lớn đến đời sống của người dân ở nông thôn Việt Nam Khẳng định tính tất yếu khách quan phải DĐĐT để tập trung và quy hoạch lại ruộng đất, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Thứ tư, các nhóm công trình cũng đã phân tích thực trạng và những khó
khăn, bất cập trong quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở một số địa phương trong
cả nước Qua đó giúp tác giả luận án có căn cứ để đối chiếu, so sánh quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hoá với các địa phương khác và đúc rút những bài học kinh nghiệm
1.3 Những vấn đề đề tài luận án tập trung nghiên cứu
Có thể khẳng định, quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong những công trình, bài viết đã công bố, quá trình thực hiện chủ trương DĐĐT trên phạm vi toàn quốc và các địa phương
cụ thể đã được đề cập đến nhiều khía cạnh, được phản ánh ở nhiều mức độ Tuy nhiên, dưới góc độ lịch sử Đảng, các công trình nghiên cứu khoa học trên mới chỉ đề cập đến những nội dung liên quan đến đề tài ở từng phần riêng, ở một khía cạnh nào đó mà chưa đề cập đến một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống quá trình lãnh đạo thực hiện DĐĐT ở tỉnh Thanh Hoá Do đó, để giải quyết vấn đề này, tác giả luận án tập trung nghiên cứu, giải quyết những vấn đề sau:
Trang 32- Phân tích một cách hệ thống và toàn diện về chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện DĐĐT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá từ năm 1996 đến năm 2013
- Phân tích kết quả lãnh đạo DĐĐT theo hướng CNH, HĐH, những thành tựu, hạn chế, giải pháp trong lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hoá
- Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm làm cơ sở khoa học cho việc lãnh đạo DĐĐT của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân
Tiểu kết chương 1
Các công trình nghiên cứu đã được công bố rất phong phú và đa dạng, chứa đựng nhiều yếu tố khoa học mang nội hàm về đổi mới chính sách ruộng đất của Đảng, góp phần khẳng định đúng đắn trong đường lối đổi mới toàn diện của Đảng trên lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH; đồng thời, khẳng định tính tất yếu khách quan phải thực hiện chủ trương DĐĐT để đưa nền nông nghiệp vốn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, kém hiệu quả sang nền kinh tế hàng hoá với quy mô lớn, hàng hoá chất lượng đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại Đây là cơ sở quan trọng để tác giả luận án
kế thừa, tiếp cận nguồn tư liệu và các sự kiện lịch sử, đồng thời học hỏi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đối với vấn đề thực hiện DĐĐT dưới góc độ lịch sử Đảng vẫn là khoảng trống Đến nay tác giả luận án chưa tìm thấy một công trình nào thuộc mã số Lịch sử Đảng trùng với tên của đề tài Những lý luận, thực tiễn đặt ra trong các công trình khoa học đã công bố sẽ được tác giả luận án kế thừa, sử dụng, vận dụng và phát triển trong công trình nghiên cứu của mình, giúp cho tác giả có thêm cơ sở khoa học, thêm các căn cứ lý luận, thực tiễn để luận giải và làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án
Trang 33Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006
2.1 Những yếu tố tác động và chi phối đến sự lãnh đạo thực hiện dồn điền đổi thửa của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
2.1.1 Chủ trương của Đảng
Dồn điền đổi thửa là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chính sách ruộng đất hiện nay Bản chất của dồn điền đổi thửa là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sắp xếp quy hoạch lại đồng ruộng, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết kế lại đồng ruộng nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân theo hướng CNH, HĐH phù
hợp với xu thế phát triển của thực tiễn
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 10 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (thường gọi là khoán 10) [39; tr.23] Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có một bước đột phá trong tư duy quản lý kinh tế khi lần đầu tiên thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ khi người nông dân được trao quyền sử dụng đất và mức khoán lâu dài Tiếp đó, ngày 27/9/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP “về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” Chủ trương của Nghị định 64/CP là chia bình quân ruộng đất theo nguyên tắc xấu có, tốt có cho các gia đình, các cá nhân
sử dụng đất nông nghiệp Có thể nói rằng: Nghị quyết 10, Nghị định 64/CP phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ruộng đất Việt Nam lúc bấy giờ Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết
10, Nghị định 64/CP đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập và không còn phù hợp Cách khoán theo Nghị quyết 10 và chia đều ruộng đất cho các hộ gia đình theo Nghị định 64/CP đã dẫn tới việc chia nhỏ quỹ đất ở nông thôn, quy mô ruộng đất sản xuất manh mún, đơn vị sản xuất trong nông nghiệp chủ yếu là
Trang 34hộ gia đình nông dân, tính chất sản xuất phân tán, công cụ sản xuất lạc hậu Chính những hạn chế này cũng đã cản trở đến việc tổ chức sản xuất theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Sự manh mún có thể còn gây khó khăn cho việc quy hoạch đồng ruộng, chi phí sản xuất lớn, giá thành tăng cao trong khi chất lượng sản phẩm thấp, dẫn đến thiếu khả năng cạnh tranh Thực trạng đặt ra yêu cầu phải thực hiện DĐĐT để tập trung lại đất nông nghiệp đối với mỗi hộ sản xuất, giảm số thửa và tăng quy mô mỗi thửa ở từng hộ để tạo
ra diện tích đất tập trung, để tăng hiệu quả sản xuất mà vẫn đảm bảo tính công bằng cho người nông dân, đặc biệt là khi chuyển sang sản xuất theo hướng cung cấp hàng hoá, người sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc giảm các
chi phí sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế
Trên cơ sở phân tích thực tiễn tác động của manh mún ruộng đất, bài học từ DĐĐT và tích tụ ruộng đất của các nước khác, ngày 20/2/1998, Thủ tướng chính
phủ đã ra Chỉ thị số 10/1998/CT-Tgg “về việc đẩy mạnh và hoàn thiện việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp”, Chỉ thị đề ra
chủ trương “khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi ruộng đất cho nhau để khắc phục tình trạng phân tán, manh mún hiện nay ngay trong quá trình thực hiện phương án giao đất theo Nghị định 64/CP” Mặc dù chỉ thị không đề cập trực tiếp đến vấn đề DĐĐT, nhưng về bản chất chỉ thị khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất cho nhau giữa các hộ, mục đích là tập trung ruộng đất, tăng quy mô, hiệu quả sử dụng đất, quy hoạch và kiến thiết lại đồng ruộng
Tại Hội nghị lần thứ 4 BCH Trung ương Khoá VIII khi thảo luận về vấn đề nông nghiệp, nông dân, Đảng và Nhà nước đã khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của vấn đề tích tụ ruộng đất: “Quá trình đổi mới cơ cấu kinh
tế và phân công lại lao động ở nông thôn gắn với quá trình chuyển nhượng và tích tụ ruộng đất Đó là một xu thế hợp quy luật Nhưng sự tích tụ ruộng đất chỉ có ý nghĩa tích cực khi nó đi liền với sự phát triển ngành nghề, tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn cho dân cư nông thôn, không làm bần cùng hoá nông dân” [49; tr 38] Như vậy, Hội nghị đã chỉ rõ rằng tích tụ ruộng đất là cần
Trang 35thiết và hợp quy luật, tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo thực hiện Đảng và Nhà nước phải tiến hành đồng bộ các biện pháp
Để bước đầu tổng kết kinh nghiệm về chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng phân tán, manh mún trong sản xuất Được phép của Thủ tướng Chính phủ, sau khi thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngày 26/8/1998, Tổng cục Địa chính đã ban hành công văn số
1551/1998/CV-TCĐC về việc tổ chức Hội nghị chuyên đề “Chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp khắc phục tình trạng manh mún, phân tán trong sản xuất” Mặc
dù đây không phải là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhưng Hội nghị đã tổng kết tình hình chuyển đổi ruộng đất và đang đặt ra yêu cầu cấp bách tại thực tiễn các địa phương đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải đề ra chủ trương, đường lối DĐĐT
Tiếp đó, tháng 11 năm 1998, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng
đã thông qua Nghị quyết 06-NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông
thôn Nghị quyết đã xác định: “việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tích tụ và tập trung đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá lớn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động xã hội trong quá trình CNH, HĐH đất nước” [48;tr.39]
Nghị quyết 06-NQ/TW cũng cho rằng: “việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước” [48; tr.39] Tuy nhiên việc quản lý, kiểm soát đó phải: phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trình độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ, từng bước chuyển dần lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ và xu hướng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, không để quá trình này diễn ra tự phát làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hoá Bằng nhiều biện pháp thiết thực tạo điều kiện để mọi người nông dân chủ yếu sống bằng nghề nông có đất để sản xuất [48; tr.39] Sau khi DĐĐT phải tạo ra những “cánh đồng rộng lớn”,
Trang 36phù hợp với sản xuất hàng hoá, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Điều này đồng nghĩa với việc một lực lượng lớn lao động vốn dĩ sống bằng nghề nông không có công ăn việc làm, thất nghiệp Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải có những giải pháp thích hợp để chuyển dịch dần lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác nhằm ổn đình và phát triển đời sống của nông dân như: Khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống, xây dựng các khu công nghiệp thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng các khu chế xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ…
Về vấn đề giao đất, sử dụng đất trống đồi trọc và đất rừng Nghị quyết NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Ban chấp hành TW cũng đã nêu lên:
06-Đẩy mạnh việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho nông dân, giải quyết những tranh chấp và khiếu kiện về đất đai; đảm bảo mỗi khoảnh đất, khoảnh rừng đều có chủ quản lý hợp pháp, cụ thể…Nhà nước hỗ trợ
và giao đất để đồng bào định canh định cư có thể sinh sống bằng nghề nông, nghề rừng và cho các nhà đầu tư thuê để kinh doanh theo quy định của pháp luật, trong đó có hình thức trang trại lớn Khuyến khích mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư thuê đất theo dự án sản xuất kinh doanh để khai thác sử dụng đất vào mục đích phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với nhiều hình thức (vườn đồi, vườn rừng, VAC, hùn vốn phát triển công nghiệp chế biến…) [48; tr.45]
Nghị định số 17/1999/ NĐ - CP của Chính phủ ngày 29/3/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất cũng đã quy định: “Hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở được chuyển đổi quyền
sử dụng đất cho nhau khi có đủ các điều kiện sau đây: “1 Thuận tiện cho sản xuất và đời sống; 2 Sau khi chuyển đổi quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đó đúng mục đích, đúng thời hạn được quy định khi Nhà nước giao đất” Ngoài ra, Nghị định cũng đã đề cập đến vấn đề góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất: “Hộ gia đình, cá nhân được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản
Trang 37xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân trong nước khi có một trong các điều kiện sau đây:1 Ðất được Nhà nước giao; 2 Đất do nhận quyền sử dụng đất hợp pháp;
3 Đất được Nhà nước cho thuê mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 05 năm” [20; tr4] Như vậy, với những quy định về chuyển đổi quyền
sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, đã tạo điều kiện cho nông dân thực hiện DĐĐT tạo ra những vùng sản xuất với quy mô lớn, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển theo hướng CNH, HĐH
Để làm cơ sở cho các địa phương có căn cứ hướng dẫn các hộ nông dân DĐĐT đất nông nghiệp, trong Văn kiện Đại hội IX (2001) phần định hướng phát triển các ngành và vùng đối với nông nghiệp, nông thôn đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và sinh thái từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút lao động ở nông thôn” [53;tr.168]
Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khoá IX đã
thông qua Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể cũng đã đề cập đến vấn đề DĐĐT: “Khuyến khích tạo điều kiện cho kinh
tế hộ nông dân dồn điền đổi thửa, tập trung ruộng đất theo chính sách của nông nghiệp để phát triển sản xuất hàng hoá, mở mang ngành nghề” [54; tr.34]
Đối với vùng nông thôn, sau khi DĐĐT, tích tụ ruộng đất, phải hình thành các vùng chuyên canh, tạo ra các sản phẩm đủ lớn, đảm bảo chất lượng đủ sức cạnh tranh với thị trường thế giới Và việc hình thành các vùng chuyên canh đó phải phù hợp với thực tiễn của từng địa phương Đúng như trong phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001- 2005, Đảng đã nêu rõ: “chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh phù hợp với tiềm năng lợi thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương” [53; tr.16]
Trang 38Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá
IX) ra Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Nghị quyết cũng chỉ ra những chủ
trương, biện pháp, chính sách nhằm thúc đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong đó có vấn đề là về ruộng đất Để khuyến khích nông dân thực hiện DĐĐT “nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất đai; khuyến khích nông dân thực hiện dồn điền đổi thửa trên cơ sở tự nguyện; nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết…” [55; tr.2] Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch và chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Khẩn trương tổng kết tình hình quản lý, sử dụng đất nông, lâm, ngư nghiệp làm cơ sở bổ sung, sửa đổi Luật đất đai và sớm thể chế hoá thành các quy định cụ thể để thực hiện một cách chặt chẽ
Khi nhận định về cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta trong giai đoạn này, Nghị quyết cũng đã nhận định: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta chuyển dịch chậm, chưa theo sát với thị trường, sản xuất nông nghiệp nhiều nơi còn phân tán, manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất chậm, trình độ khoa học công nghệ của sản xuất nhiều mặt còn lạc hậu nên năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp còn thấp, kém hiệu quả và thiếu bền vững [55; tr.3]
Nghị quyết nêu rõ nội dung của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam là: “quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn liền với công nghiệp cơ bản và thị trường, thực hiện
cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường” [55;tr.3] DĐĐT tạo điều kiện cho việc quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sở cho việc hoạch định chính
Trang 39sách đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng đầu tư các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao thông nội đồng, cứng hoá hệ thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên canh, khai thác thế mạnh của từng vùng đất khác nhau
Tiếp đó, Đại hội Đảng khoá X (2006), đã được chính thức đưa vấn đề DĐĐT vào văn kiện một cách cụ thể: “sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất” [60; tr.89] Như vậy, chủ trương Đại hội Đảng lần này, ngoài việc khuyến khích các hộ nông dân thực hiện DĐĐT, Đảng đã khuyến khích chủ trương tích tụ ruộng đất tức là quá trình DĐĐT không chỉ diễn ra trong nội bộ từng hộ nông dân mà giữa các hộ đã chuyển đổi, tích tụ và tập trung ruộng đất với nhau bằng các hình thức cho thuê, góp vốn bằng đất, liên kết, hợp tác nhằm “phát triển các khu công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao” [60; tr 89]
Tóm lại, mặc dù trong giai đoạn 1996 đến 2006, Đảng và Nhà nước chưa đề ra Nghị quyết, Chỉ thị riêng về vấn đề DĐĐT Tuy nhiên chủ trương về DĐĐT đã được Đảng và Nhà nước bàn bạc, thảo luận rất cụ thể trong các kỳ Đại hội, Hội nghị, các Nghị quyết, Chỉ thị khi bàn về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Và chủ trương DĐĐT của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về cơ bản là bám sát với thực tế vận động và phát triển của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam DĐĐT đã và đang trở thành động lực thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nâng cao đời sống nông dân ở nông thôn Tuy nhiên DĐĐT còn bộc lộ nhiều tồn tại, chưa theo kịp
sự phát triển của thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực quy hoạch, sử dụng, quản lý đất sau khi DĐĐT Do đó chủ trương về DĐĐT cần tiếp tục bổ sung hoàn thiện, đồng thời với việc hoàn thiện hệ thống các chính sách kinh tế khác có liên quan nhằm thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 402.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá
Điều kiện tự nhiên
Thanh Hoá là một tỉnh “đất rộng người đông”, tài nguyên, thiên nhiên phong phú và đa dạng; có truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời - một vùng “địa linh nhân kiệt”, một địa bàn chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá xưa - nay của cả nước
Trải qua gần 30 năm đổi mới, Thanh Hoá vẫn còn rất nhiều khó khăn, với điểm xuất phát thấp, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã phát huy lợi thế, khai thác hợp lý tiềm năng đất đai, điều kiện tự nhiên và lao động, tập trung phát triển nông nghiệp, tạo ra thế ổn định để từng bước phát triển toàn diện nền KT-
XH, xây dựng quê hương Thanh Hoá giàu mạnh
Tỉnh Thanh Hoá là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng của cả nước Là tỉnh nối 2 đầu Bắc bộ và Bắc Trung bộ, phía Bắc giáp 3 tỉnh: Lạng Sơn, Hoà Bình, Ninh Bình; phía nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào); phía Đông là biển Đông (Xem phụ lục bản đồ)
Toàn tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị; trong đó có 11 huyện miền núi, 13 huyện đồng bằng ven biển, 2 thị xã và một thành phố là trung tâm tỉnh lỵ, với tổng
số 627 phường xã, thị trấn
Thanh Hoá có đầy đủ các vùng sinh thái: trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển và thềm lục địa Ở mỗi vùng đều có thế mạnh liên kết để phát triển một nền kinh tế toàn diện, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp
Từ điều kiện tự nhiên, Thanh Hoá đã hình thành rõ nét các vùng nông nghiệp như sau: