1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn thơ hàn mặc tử từ góc nhìn phê bình sinh thái

119 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 869,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong buổi thuyết trình, Karen Thronber đã giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích sáu điểm cơ bản phê b

Trang 1

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

-š: š: -

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

THƠ HÀN MẶC TỬ

TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 8 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kiều Anh

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả luận văn xin được chân thành cảm ơn BGH trường Đại học

Sư phạm Hà Nội 2, khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2, cùng các thầy, cô giáo, cán bộ giảng viên đã giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tác giả

Xin cảm ơn sự giúp đỡ và ủng hộ của Ban giám hiệu, các cán bộ giáo viên của trường THPT Đồng Đậu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS

Nguyễn Thị Kiều Anh - người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ

tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo và các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 07 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi - Nguyễn Thị Ngọc Lan là học viên lớp cao học khóa 20, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi trình bày trong luận văn là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân trong suốt quá trình học tập và công tác Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên

Hà Nội, tháng 07 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Lan

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Giả thuyết khoa học 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁIVÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ CỦA HÀN MẶC TỬ 9

1.1 Khái lược về phê bình sinh thái 9

1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái 9

1.1.2 Đặc trưng của phê bình sinh thái 11

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và sinh thái 15

1.2 Thơ Hàn Mặc Tử - từ cuộc đời ánh lên những trang thơ 19

1.2.1 Hàn Mặc Tử - thi sĩ của những đau thương trong cuộc đời trần thế 20 1.2.2 Thơ Hàn Mặc Tử - lạ lẫm và bi thương 22

1.2.3 Những dấu ấn sinh thái trong thơ Hàn Mặc Tử 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 SINH THÁI TỰ NHIÊN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 30

2.1 Sinh thái tự nhiên trong văn chương 30

2.2 Sinh thái tự nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử 31

2.2.1 Cảnh sắc mang vẻ đẹp của từng vùng miền 32

2.2.1.1 Xứ Huế - một cõi đi về của hồn thơ Tử 32

2.2.1.2 Một Quảng Bình - hồn của quê mình 40

Trang 6

2.2.1.3 Một “Đà Lạt trăng mờ” trong hư ảo 42

2.2.1.4 Một Phan Thiết - nơi in dấu tình yêu 2.2.2 Thiên nhiên của trăng mộng, xuân tình 47

2.2.2.1 Trăng mộng - niềm thương quyến luyến 48

2.2.2.2 Xuân tình - nỗi tha thiết khôn nguôi 57

2.2.3 Niềm khát khao giao cảm với thiên nhiên 70

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 SINH THÁI XÃ HỘI TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ 79

3.1 Sinh thái xã hội trong văn chương 79

3.2 Sinh thái xã hội trong thơ Hàn Mặc Tử 81

3.2.1 Sự đối lập giữa hai thế cực trong thơ Hàn Mặc Tử 82

3.2.1.1 “Ở đây” - thế giới của đau thương và quằn quại 82

3.2.1.2 “Ngoài kia”- cõi đời nhộn nhịp và xuyến xao 88

3.2.2 Tôn giáo - niềm tin và điểm tựa trong thơ Hàn Mặc Tử 92

3.2.3 Nỗi khát vọng hòa nhập với xã hội của một tâm hồn đầy tuyệt vọng 98 3.2.3.1 Những yêu thương“vớt vát” gửi cho đời của hồn thơ“đau nỗi đau tận cùng nhân thế” 99

3.2.3.2 Những mộng tình hon héo gửi mê say 102

Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cuối thế kỷ XX, môi trường sinh thái bị con người lạm dụng, tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng phục vụ cho sự văn minh, phát triển Ngôi nhà chung của nhân loại đứng trước nhiều nguy cơ, cần phải được mọi người chung tay bảo vệ Nhiều ngành khoa học và nhân văn đã hưởng ứng tinh thần sinh thái này, trong đó có văn học Theo nhà phê bình sinh thái Mĩ Cheryll Glotfelty thì “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên”, mang đến một cách tiếp cận lấy trái đất làm trung tâm trong nghiên cứu văn học

1.2 Phê bình sinh thái là một khuynh hướng phê bình đang phát triển sôi nổi khắp nơi, đặc biệt là ở Anh, Mĩ nhưng hiện nay vẫn chưa được giới nghiên cứu nước ta chú ý nhiều Phê bình sinh thái là một lí thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác, giữa phân tích văn chương

và rút ra những cảnh báo về môi trường “Nó có thể không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những ngộ nhận về môi trường, để từ đó, có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững Đồng thời, xa hơn và quan trọng hơn cả, phê bình sinh thái hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó” [35] Phê bình sinh thái là phương thức lí luận phê bình văn nghệ thâm nhập vào vấn đề sinh thái từ góc

độ phê bình văn học Một mặt muốn giải quyết vấn đề quan hệ tầng sâu giữa văn học và môi trường tự nhiên, mặt khác muốn chú ý đến quan hệ bên trong giữa văn học nghệ thuật và sinh thái xã hội, sinh thái văn hóa, sinh thái tinh thần

Trang 8

1.3 Trong nền văn học nước nhà hiện nay, chúng ta luôn nhận thấy sự tôn vinh, phản ánh những vấn đề về tự nhiên, sinh thái, đặc biệt là mối quan

hệ giữa con người với thế giới tự nhiên Xã hội phát triển không ngừng và đi liền với nó là hệ sinh thái bị phá huỷ nghiêm trọng nên văn chương ngoài việc miêu tả thiên nhiên còn cần nêu ra cách ứng xử của văn chương với các hệ sinh thái bị phá huỷ

1.4 “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Chế Lan Viên) Hàn Mặc Tử - vị chúa của

“Trường thơ loạn”, người có cuộc đời đau khổ và bất hạnh nhất, nhưng ông lại có tài năng thơ kì diệu được các nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học cùng thời khâm phục, ngợi ca Con người ấy chỉ sống trên cõi đời vẻn vẹn 28 năm nhưng ông đã để lại một vườn thơ đầy màu sắc Với thi sĩ, tuổi trẻ của chàng không phải là hiện tại tươi đẹp với những dự tính về tương lai rực rỡ mà hiện tại là những chuỗi ngày đau đớn trong bệnh tật, trong sự xa lánh hắt hủi của tình đời Tuy nhiên, từ trong đau khổ tuyệt vọng, linh hồn ấy vẫn khao khát được sống, được yêu, được sẻ chia và vẫn không thôi sáng tạo trước bờ vực của cái chết Thơ Hàn Mặc Tử luôn tràn đầy cảnh sắc thiên nhiên cũng như những trăn trở về cuộc đời, về xã hội Trong mỗi bức tranh phong cảnh, ta luôn nhận thấy một tâm hồn khao khát sống, khát vọng giao hòa cùng thiên nhiên đất trời của hồn thơ đầy đau đớn

Chính bởi những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài Thơ Hàn Mặc Tử từ

góc nhìn phê bình sinh thái

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về phê bình sinh thái trong văn học

Được khởi phát từ Anh, Mĩ, phê bình sinh thái trên thế giới đang là một trào lưu phê bình năng động, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phương Tây Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phê bình sinh thái xuất hiện

Trang 9

từ những năm 70 của thế kỉ XX khi những cảnh báo về sự khủng hoảng môi trường ngàycàng trầm trọng Trước bối cảnh khủng hoảng môi trường, để thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái, thức tỉnh con người trước nguy cơ khủng hoảng môi trường, nhiều ngành khoa học nhân văn đã “nghiên cứu xanh” Các nhà sử học thì kêu gọi đừng coi tự nhiên như sân khấu cho vở diễn của con người, các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hoá và địa lý Chỉ có văn học vốn được coi đã “phản ứng chậm” trước những nguy cơ

về môi trường sống

Lý thuyết phê bình sinh thái còn khá mới mẻ ở Việt Nam Năm 2011, Viện văn học tổ chức buổi thuyết trình về phê bình sinh thái Trong buổi thuyết trình, Karen Thronber đã giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích sáu điểm cơ bản phê bình sinh thái quan tâm

Bài “Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu mang tính cách tân” (2012), Đỗ Văn Hiểu đã chỉ ra điểm mới trong tư tưởng nòng cốt của phê bình sinh thái từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang tư tưởng “sinh thái trung tâm luận”

Trong bài viết “Phê bình sinh thái - nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc” (2013) đã thể hiện quan điểm phê binh sinh thái chủ trương “tái thiết môi trường”, “góp phần ngăn chặn văn học phản sinh thái, thông qua cải tạo văn học, cải tạo quan niệm để chuộc lỗi với tự nhiên” Trong bài “Cần tìm hiểu về

sự chuyển hướng của phê bình sinh thái” (2015), Phương Lựu đã đưa phê bình sinh thái vào tư tưởng học thuật của mình

Ngoài ra, có một số bài báo nghiên cứu từ việc vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái như: “Phê bình sinh thái ở Việt Nam từ góc nhìn văn hoá” (Nguyễn Thuỳ Trang - Đại học khoa học, Đại học Huế, 2016), “Văn xuôi Việt Nam sau đổi mới từ gợi dẫn của phê bình sinh thái nữ quyền” (Trần Thị Ánh

Trang 10

Nguyệt, 2016)… Trên các trang mạng cũng có một số bài nghiên cứu về phê bình sinh thái khá độc đáo Trong bài “Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay” của thầy Trần Đình Sử có khẳng định “Phê bình sinh thái tinh thần đòi hỏi xem tinh thần như một yếu tố quan trọng hang đầu trong toàn bộ hệ thống sinh thái xã hội, trong đó tinh thần vừa là môi trường nuôi dưỡng mọi sáng tạo vật chất và tinh thần, lại vừa là sản phẩm của chính môi trường văn hóa tinh thần do con người tạo ra” [35]

2.2 Một số công trình nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử

Năm1941, công trình nghiên cứu của Trần Thanh Mại: “Hàn Mặc Tử thân thế và thi văn” Đây là một công trình có quy mô và chuyên biệt đầu tiên viết về Hàn Mặc Tử Trần Thanh Mại đã đi sâu nghiên cứu theo một hướng mới là tiếp cận nghiên cứu số phận đời tư đau khổ, bệnh hoạn, những mối tình dở, những đêm trăng sáng, màu trắng tinh khiết đến hãi hùng của dòng sông, của lấp loáng bờ cát trắng trải dài Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của ông vẫn mang những trăn trở mà chính ông cũng không thể lí giải hết được Với tác giả thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân thực

sự đã rất nhạy cảm tinh tế khi đi vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử: “Ngót một tháng trời, tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử Tôi đã đi theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ “Quần tiên hội” Và tôi đã mệt lả… chính những lời Hàn Mặc Tử nói trong tựa “Thơ điên”: “Vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh”

Ta có thể nhìn lại bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử theo những khuynh hướng sau:

Thứ nhất là nhóm các bài viết theo lối phê bình khách quan:

Những công trình nghiên cứu theo hướng này chủ yếu thiên về đời tư với căn bệnh hoạn của Hàn Mặc Tử và những mối tình chớm nở của thi sĩ mà rất ít nói đến sự nghiệp văn chương tiêu biểu là những công trình nghiên cứu

Trang 11

của Hoàng Trọng Miên: Những ngày sống chung với Hàn Mặc Tử ở Sài Gòn, Ngọc Sương với Tưởng niệm Hàn Mặc Tử, Phan Công Thiện với Một định

mệnh đeo riết bên mình Hàn Mặc Tử và Xin chút lòng để lại lối xưa của Đào

Trường Phúc…

Thứ hai là nhóm các bài viết về Hàn Mặc Tử trong mối quan hệ với một số tôn giáo như Thiên Chúa giáo, đạo Phật, đạo Giáo Về phương diện này đã gây ra nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề “chất Đạo” và “chất Đời” trong thơ Hàn Mặc Tử Những công trình nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở mức đặt ra vấn đề đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử mà chưa thể lí giải được vì sao lại

có sự hài hòa giữa một bên là yêu cầu đức tin tuyệt đối và một bên là sự phóng túng của tâm hồn thi sĩ khát khao giao cảm với cuộc đời

Bước sang thập kỉ 80, không khí của thời kì đổi mới như đem một luồng sinh khí mới mạnh mẽ và khoáng đạt hơn so với thời kì trước Lê Đình

Kị cho rằng trong Thơ điên có nỗi đau của riêng Hàn Mặc Tử hòa vào nỗi đau chung của đất nước Đây thực sự là một cái nhìn hết sức mới mẻ về Hàn Mặc

Tử và Thơ điên

Khuynh hướng nghiên cứu theo kiểu sưu tầm tư liệu về cuộc đời cũng như thơ ca Hàn MặcTử là khuynh hướng tiêu biểu Với công trình nghiên cứu của Phạm Xuân Tuyển: Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử (1997) Sau bao tháng ngày tìm về với lối xưa, chốn cũ đi theo những dấu chân, những con đường

mà nhà thơ đã đi qua tác giả Phạm Xuân Tuyển đã thu nhặt tập hợp những thi liệu quý giá ấy để làm nên công trình tương đối trọn vẹn về bức chân dung cuộc đời Hàn Mặc Tử Có thể nói, đây là một tài liệu rất quý phục vụ cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về tác giả Hàn Mặc Tử

Trang 12

Ngoài ra, còn một số bài viết rất có ý nghĩa cần nói tới như: Hàn Mặc

Tử, hương thơm và mật đắng của Trần Thị Huyền Trang (1991), Hàn Mặc

Tử, thi sĩ đồng trinh của Nguyễn Thụy Kha (1993)…

- Củng cố kĩ năng phân tích, giúp mọi người có thêm nhiều kiến thức

về nhà thơ Hàn Mặc Tử và tác phẩm của ông

- Nghiên cứu đề tài cũng phục vụ tôi trong công tác học tập, giảng dạy được tốt hơn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về phê bình sinh thái như khái niệm, đặc trưng

- Nghiên cứu những khía cạnh sinh thái trong thơ Hàn Mặc Tử gồm: + Sinh thái tự nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử

+ Sinh thái xã hội trong thơ Hàn Mặc Tử

- Đánh giá những đóng góp quan trọng của Hàn Mặc Tử trong văn chương nước nhà

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1.Đối tượng nghiên cứu

Luận văn hướng trọng tâm tìm hiểu Thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn phê

bình sinh thái

Trang 13

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Sinh thái là vấn đề rộng Phạm vi nghiên cứu của luận văn đi sâu vào hai phương diện chính là biểu hiện của sinh thái môi trường và sinh thái xã hội trong thơ của Hàn Mặc Tử

Các tác phẩm được khảo sát bao gồm:

6 Giả thuyết khoa học

Luận văn này tập trung tìm hiểu Thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn phê bình

và sinh thái trong sáng tác của Hàn Mặc Tử Tính đến thời điểm luận văn này được tiến hành thì chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào về đề tài này ra đời Do đó, tôi rất hy vọng đề tài nghiên cứu này như là một phát hiện thú vị trong sáng tác của ông nhằm khẳng định sự phong phú và giá trị to lớn của thơ ca Hàn Mặc Tử để lại cho hậu thế

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

- Phương pháp so sánh

Trang 14

- Phương pháp liên ngành: văn học - sinh thái học

- Phương pháp loại hình

Trang 15

1.1 Khái lƣợc về phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái vốn là một khuynh hướng nghiên cứu đa dạng trong văn chương thế giới cũng như ở Việt Nam Đó là hướng nghiên cứu giàu tiềm năng bởi trong khung cảnh toàn cầu hiện nay vấn đề môi trường đang diễn ra

vô cùng phức tạp Phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn chương và môi trường tự nhiên, xã hội, tăng cường mối liên hệ giữa văn chương và hiện thực đang diễn ra xung quanh chúng ta

1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái

Phê bình sinh thái thường được định nghĩa khá rộng Scott Slovic xem

đó là khuynh hướng phê bình “Khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trường sinh thái và quan hệ giữa con người - tự nhiên trong bất kỳ văn bản văn chương nào, kể cả những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý gì đến thế giới không con người (non - human world)” Nhiều nhà nghiên cứu trong giới phê bình có ý kiến cho rằng vận mệnh của phê bình sinh thái trong tương lai được thể hiện ở chỗ nó có làm rõ được mối quan tâm của văn học về tình trạng của môi trường hay không

Trang 16

Đã có rất nhiều người định nghĩa về phê bình sinh thái nhưng có lẽ định nghĩa được nhiều người tiếp nhận và công nhận nhất là của Cheryll Glotfelty Ông từng cho rằng: “Phê bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên” Phê bình sinh thái thường hướng con người đến cách tiếp cận coi trái đất là trung tâm để nghiên cứu văn học

Phê bình sinh thái hay còn gọi là Chủ nghĩa Ecocritism Hướng nghiên cứu ấy là nghiên cứu về văn học và môi trường theo quan điểm liên ngành, trong đó các nhà nghiên cứu văn học phân tích các văn bản minh hoạ các mối quan tâm về môi trường và nghiên cứu các cách khác nhau về văn học đối xử với chủ đề tự nhiên Chủ nghĩa Ecocritism là một phương pháp tiếp cận có chủ ý rộng rãi được biết đến bởi một số các tên gọi khác như “nghiên cứu văn hoá xanh”, “ecopoetics” và “phê bình văn học về môi trường” và thường được các lĩnh vực khác như sinh thái, thiết kế bền vững, biopolitics, lịch sử môi trường, môi trường và sinh thái xã hội

Thực chất, phê bình sinh thái không bao giờ đơn thuần chỉ “vì chính nó”, bởi vì mọi vấn đề liên quan đến môi trường bao giờ cũng liên đới đến các lĩnh vực chính trị, văn hóa, tôn giáo, kinh tế Sinh thái văn hoá là nghiên cứu thích ứng của con người với môi trường xã hội và thể chất Sự thích ứng của con người đề cập đến cả quá trình sinh học và văn hoá cho phép một dân số tồn tại và sinh sản trong một môi trường nhất định hoặc thay đổi Phê bình sinh thái có lập luận trung tâm là môi trường tự nhiên, trong các xã hội quy

mô nhỏ hoặc sống phụ thuộc một phần vào nó, là một đóng góp lớn cho tổ chức xã hội và các tổ chức con người khác Trong lĩnh vực học thuật, khi kết hợp với nghiên cứu kinh tế chính trị, nghiên cứu về các nền kinh tế như chính trị, nó trở thành sinh thái chính trị, một trường đại học khác Các nhà phê bình sinh thái khám phá thế giới tự nhiên và thế giới tự nhiên được tưởng tượng thông qua các văn bản văn học như thế nào Giống như việc thay đổi nhận

Trang 17

thức giới tính, những biểu hiện văn chương như vậy không chỉ được tạo ra bởi các nền văn hoá đặc biệt mà còn có vai trò quan trọng trong việc tạo ra những nền văn hoá đó

1.1.2 Đặc trưng của phê bình sinh thái

Định nghĩa “Phê bình sinh thái” có rất nhiều, mỗi người một kiểu nên rất khó định luận, mỗi cá nhân mỗi nhà nghiên cứu lại có mối xem xét riêng

về phê bình sinh thái trong các mối quan hệ tổng quan của nó Nhưng dù theo hướng nào thì phê bình sinh thái không chỉ là một cách thức phân tích tự nhiên trong văn học, nó còn là hướng tới thế giới quan sinh vật trung tâm hơn, hướng tới một sự mở rộng luân lí học, mở rộng quan niệm có tính nhân loại

về thể chung toàn cầu Phê bình sinh thái thông thường là sự khai mở trong tinh thần thực tiễn của phong trào môi trường Nói một cách khác, các nhà phê bình sinh thái không chỉ coi mình là người theo đuổi hoạt động học thuật Phê bình sinh thái là khoa học liên ngành Phê bình sinh thái là phương thức lí luận phê bình văn nghệ thâm nhập vào vấn đề sinh thái từ tóc độ phê bình văn học Vấn đề cốt lõi của phê bình sinh thái là muốn giải quyết vấn đề quan hệ tầng sâu giữa văn học và môi trường tự nhiên, mặt khác muốn chú ý đến quan

hệ bên trong giữa văn học nghệ thuật và sinh thái xã hội, sinh thái văn hóa, sinh thái tinh thần Phê bình sinh thái vận dụng quan điểm sinh thái học hiện đại khảo sát quan hệ giữa văn học nghệ thuật và tự nhiên, xã hội và trạng thái tinh thần con người, đồng thời vận dụng biện pháp tự sự như tưởng tượng văn học thấu thị văn hóa sinh thái Chính bởi vậy, phê bình sinh thái có một số đặc trưng nhất định, riêng biệt

Trước tiên, phê bình sinh thái lấy vấn đề sinh thái tự nhiên và sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học làm chủ Muốn trong tác phẩm thể hiện mối quan hệ phức tạp của con người và thế giới tự nhiên, quan hệ tương tác

Trang 18

giữa văn học và môi trường tự nhiên nên phê bình sinh thái luôn cố gắng chỉ

ra những vấn đề tồn tại trong tương quan giữa văn học và môi trường sống

Tiếp theo, phê bình sinh thái thường xây dựng lại mối quan hệ thẩm mĩ giữa con người và tự ngã, con người và người khác, con người và xã hội, con người và tự nhiên, con người và trái đất

Phê bình sinh thái chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất từ tư tưởng triết học

của các trường phái luân lí học môi trường phương Tây hiện đại như: Luân lí

học trái đất (Land Ethics), Sinh thái học bề sâu (Deep ecology)….Triết lý sinh thái và môi trường hiện đại tôn trọng sự tồn tại bình đẳng của tạo vật

Thứ ba, phê bình sinh thái đối với vấn đề tính chủ thể của con người trong sáng tác nghệ thuật bảo giữ lập trường “chính trị chính xác” - vừa không thể có lập trường chủ nghĩa nhân loại trung tâm, vừa không thể là lập trường chủ nghĩa tự nhiên tuyệt đối, mà là chú trọng quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, chủ trương nhân loại chuyển biến từ “ý thức tự ngã” sang

“ý thức sinh thái” Con người và trái đất có quan hệ hòa hợp sinh mệnh cùng tồn vong, nhân loại không thể là chúa tể của muôn loài nữa, mà là một thành viên trong muôn loài trên trái đất, cùng sinh tử với các thành viên khác trong thế giới tự nhiên

Phê bình sinh thái liên kết nghiên cứu văn học và khoa học sinh mệnh

Từ hai lĩnh vực nghiên cứu văn học và tự nhiên, phê bình sinh thái chú trọng

từ góc độ phát triển xã hội loài người và biến đổi môi trường sinh thái thâm nhập vào tầng diện văn học, từ đó làm cho phê bình sinh thái có đặc tính liên ngành văn học

Văn học sinh thái kiếm tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái Vì vậy, phê phán mặt trái văn minh cũng là một đặc điểm nổi bật của dòng văn học này Rất nhiều tác giả tuyên chiến với chủ nghĩa nhân loại trung tâm, nhị nguyên luận, các quan điểm chinh phục và thống trị tự nhiên, quan điểm sức

Trang 19

mạnh của dục vọng, phát triển là trên hết, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng, cải tạo tự nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái… Ngoài ra, bằng sức tưởng tượng và sự nhạy cảm của nhà văn, những tác phẩm viễn tưởng còn có thể dự báo những thảm họa sinh thái, cảnh báo nhân loại về các nguy cơ sinh thái

Nội dung của phê bình sinh thái luôn nhìn nhận con người trong mối quan hệ với trái đất tự nhiên, khảo sát trạng thái tồn tại quá khứ và tương lai của con người Phê bình sinh thái nhấn mạnh trách nhiệm xã hội qua luận thuyết tự nhiên là một tồn tại và không thể phủ định sự tồn tại đó, đồng thời thể hiện các phương diện chính trị mà nó quan tâm Trên lập trường chính trị

cụ thể, các nhà phê bình sinh thái đương đại phương Tây chọn ra bốn phương diện sau: sinh thái học độ sâu (deep ecology - cho rằng nguồn gốc của nguy cơ sinh thái là do con người và tự nhiên bị phân làm hai), sinh thái chủ nghĩa nữ quyền (eco - feminism - cho rằng thảm họa sinh thái xuất phát từ “chủ nghĩa nam giới trung tâm”), sinh thái học xã hội (social ecology) và sinh thái chủ nghĩa Marx (eco - marxism - cho rằng nguồn gốc của mọi đổ vỡ của giới tự nhiên là do các vấn đề chính trị có liên quan đến thể chế của tư bản chủ nghĩa)

Tuy nhiên, lấy lợi ích sinh thái làm giá trị cao nhất không có nghĩa là văn học sinh thái coi thường nhân loại hoặc phản nhân loại, bởi vì lợi ích của sinh thái suy cho cùng chính là lợi ích căn bản và bền vững của nhân loại Nguy cơ sinh thái không đơn thuần là nguy cơ của tự nhiên, của từng địa phương, từng quốc gia mà còn là nguy cơ chung của nhân loại Sự áp bức của con người đối với tự nhiên bao giờ cũng liên quan và đi kèm với sự áp bức của con người đối với con người trong xã hội Vì vậy, đảm bảo sự cân bằng đối với tự nhiên cũng chính là đảm bảo cân bằng xã hội Đồng thời, trong văn học sinh thái, những vấn đề về môi trường còn được tích hợp với những vấn

đề xã hội mang tính toàn cầu như giới tính, chủng tộc và giai cấp

Trang 20

Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phê bình sinh thái có nhiệm vụ chủ yếu mang giá trị đặc thù và đặc trưng bản thể luận của

nó Đó là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành nghiên cứu, phê phán những tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người làm ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tự nhiên, dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái Phê bình sinh thái còn thể hiện thái độ của người nghiên cứu về văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên Thái độ đó thể hiện trên nhiều phương diện,

đó có thể là sự bất bình đối với các thái độ, hành vi coi thường tự nhiên, hủy hoại tự nhiên; có thể là sự ngợi ca vẻ đẹp, sự hữu ích của tự nhiên đối với đời sống nhân loại; có thể là sự cảnh báo về sự trả giá của con người từ những sai lầm đối với tự nhiên do họ gây ra Ngoài việc chỉ ra những hậu quả của văn minh công nghiệp, của chủ nghĩa nhân loại trung tâm cực đoan, chủ nghĩa chinh phục tự nhiên, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa hưởng lạc…

Phê bình sinh thái còn chủ trương tái thiết môi trường Sự tái thiết đó phải diễn ra trên phương thức tư duy hệ thống, tư duy khoa học liên ngành, quan niệm giá trị đa nguyên, tinh thần nhân văn… Sự tái thiết liên quan đến trách nhiệm của nhà văn, nhà phê bình trước nguy cơ sinh thái

Tóm lại, phê bình sinh thái coi quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên là lĩnh vực nghiên cứu của mình, một mặt nó buộc phải nghiên cứu

“tính văn học”, mặc khác lại phải tiếp cận vấn đề “tính sinh thái” Sự chỉnh hợp giữa “tính văn học” và “tính sinh thái” khác với phê bình văn học hoặc lí luận văn học khác Phê bình sinh thái tràn dầy hi vọng đối với tương lai nhân loại, và không ngừng hô hào thái độ sinh tồn lạc quan, loại bỏ “sự tuyệt vọng

về tương lai”, từ đó làm rõ đặc điểm tinh thần lạc quan chủ nghĩa của phê bình sinh thái Có thể nói, từ phê bình sinh thái có thể thay đổi thái độ của nhân loại với tự nhiên thông qua hệ thống lý thuyết của mình

Trang 21

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và sinh thái

Ngay từ những năm 70 của thế kỉ XX, văn chương thế giới đã có hàng loạt tác phẩm đề cập đến nguy cơ sinh thái Phải đến đầu thập niên 90, từ Mĩ lan rộng ra nhiều nước trên các châu lục, các hoạt động văn học gắn kết với môi trường như tổ chức hội thảo “Phê bình sinh thái: Làm xanh lại nghiên cứu văn học” (1991), thành lập “Hội nghiên cứu văn học và môi trường” (1992), xuất bản công trình “Nghiên cứu liên ngành về văn học và môi trường” (1993)… liên tục diễn ra đã khiến phê bình sinh thái trở thành một phong trào có tiếng tăm trong giới học thuật

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, phê bình sinh thái nhanh chóng lan truyền khắp thế giới Mối quan hệ giữa con người và môi trường, con người và tự nhiên đã được đề cập đến trong văn chương từ thời cổ đại Trong tâm thức của nhân loại nói chung, người phương Đông và đặc biệt là giới tao nhân mặc khách nói riêng, thiên nhiên là người bạn lớn, người mẹ vĩ đại luôn tương giao, tương thông, tương cảm với con người, là bến bờ nương tựa và gột rửa linh hồn, là nơi lánh ẩn và di dưỡng tinh thần của họ Thi hào Tagore từng nói: “Nghệ sĩ là người tình của thiên nhiên” Hồ Chí Minh cũng từng khái quát: “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ” Việc thiên nhiên, môi trường, tự nhiên tồn tại trong đời sống văn học một cách lâu dài, bền bỉ như thế, hẳn đã tạo nên một nền văn học sinh thái? Không phải như thế Trong văn học quá khứ, dù nhà văn có trân trọng, có yêu thiên nhiên thiết tha đến mấy, miêu tả thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng và hùng vĩ đến mấy cũng chỉ để tỏ cái tình, cái tài, cái trí, cái chí của người cầm bút Thiên nhiên chỉ là khách thể của văn chương, là phương tiện nghệ thuật để nhà văn “tải đạo”, “ngôn chí” Đặc trưng hạt nhân của văn học sinh thái là kiên quyết bài trừ những thái độ công cụ hóa và phương pháp hóa đối với tự nhiên Điều này giúp chúng ta có thể vạch một ranh giới rõ ràng trong việc miêu tả tự nhiên giữa tác phẩm văn học sinh thái

và tác phẩm văn học phi sinh thái

Trang 22

Trong văn học đương đại Việt Nam, trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, vấn đề con người trong mối quan hệ với tự nhiên đã được chú ý từ lâu Trong văn học dân gian, mọi người thường kính nể, tôn sùng tự nhiên qua những kích thước thân thể khổng lồ, những hành động như vá trời, lấp bể trong thần thoại, sử thi Trong văn học trung đại, đó là việc coi thiên nhiên là nơi lánh trú của tâm hồn, lí tưởng hoá mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đến văn học 1930 - 1945, các tác giả cũng đã quan tâm đến mối quan

hệ giữa con người và thiên nhiên nhưng đa số chú ý tối sự mất dần những giá trị cổ truyền đã bị xâm lấn do quá trình đô thị hoá trong thơ của Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân Đến thập niên 80, 90 của thế kỉ trước đã có các tác phẩm mang

tư tưởng sinh thái như: Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Kiến

và người, Mối và người, Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên… Đặc biệt,

tiểu thuyết “Trăm năm còn lại” được Hoàng Phủ Ngọc Tường đánh giá “Là cuốn tiểu thuyết dữ dội nhất của văn học Việt Nam dẫn dắt chúng ta vào tận thế giới bên trong chứa đầy sức bạo liệt của rừng” Đó là những tác phẩm thể hiện sự yêu thương, tôn trọng của con người đối với tự nhiên, chống lại sự lợi dụng, chinh phục, khống chế, cải tạo, tước đoạt và tàn phá tự nhiên của con người Gần đây nhất, trong truyện ngắn Khói trời lộng lẫy (2010), Nguyễn Ngọc Tư cũng bộc lộ tư duy sinh thái khi đan lồng vào câu chuyện tình yêu, thù hận muôn thuở của con người nỗi day dứt vì cái đẹp hoang sơ, chân chất của tự nhiên đang một đi không trở lại

Ngoài ra, những sáng tác thuộc dòng “Văn học da cam” cũng đã có sự giao thoa với văn học sinh thái khi đề cập nhiều đến sự tàn phá môi trường của chất độc dioxin với những khu rừng xác xơ trụi lá, những mái đầu rụng hết tóc của các nữ thanh niên xung phong, những đứa con không rõ hình hài của các cựu chiến binh… Rõ ràng, sự hủy diệt môi trường đã trở thành một nội dung lớn (dù không phải là nội dung chính) song hành bên cạnh nội dung

Trang 23

thể hiện tội ác của chiến tranh, nỗi đau thời hậu chiến Ở các tác phẩm phản ánh đời sống đương đại, những đề tài xoáy vào đời sống mạo hiểm của “xã hội đen” như một dạng “Tiểu thuyết đường rừng”, vào chiến công và sự hi sinh của những anh hùng thời bình trong cuộc chiến bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hay sự tương tác giữa tính cách con người và môi trường sống… cũng đã chạm đến lãnh địa của văn học sinh thái Tuy nhiên, mục đích hướng đến của các nhà văn “Gần với văn học sinh thái” là thể hiện nỗi nhọc nhằn, sự tàn khốc của cuộc mưu sinh “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt” và

sự đa diện, phức tạp của con người cá nhân trong đời sống đương đại Nghĩa

là tôn chỉ sáng tác của họ vẫn là “Nhân loại trung tâm” Như thế, dù vấn đề thuộc về sinh thái luôn hiện diện trong các trang viết nhưng chúng ta vẫn rất thiếu những tác phẩm văn học sinh thái đích thực, thiếu sáng tác tự nhiên, văn học sinh thái Văn học Việt Nam phản ánh những vấn đề sinh thái vẫn còn chậm hơn so với các nước Âu - Mĩ trong khi đó, Việt Nam chúng ta lại là một quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường Hiện nay, vấn đề tự nhiên sinh thái ở nước ta luôn được quan tâm sát sao không những trong văn chương phản ánh mà trong các lĩnh vực khác cũng đề cập rất nhiều

So với các nước Âu - Mĩ và các nước trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc thì các nhà văn Việt Nam vẫn “phản ứng chậm” hơn “Mặt trái của văn minh đô thị, của sự phát triển nóng với bao bộn bề, ngổn ngang, mất mát và tổn hại như hiệu ứng nhà kính, chất thải công nghiệp, lạm dụng khai thác thủy điện, đánh bắt hủy diệt, lâm tặc, thiếc tặc, vàng tặc… cùng với đó là

hệ quả của sinh thái hậu thuộc địa, môi trường hậu chiến tranh… đang đẩy xã hội vào quỹ đạo của sự phát triển không bền vững Ngoài nỗi đau da cam đã được chà đi xát lại trong thơ văn, còn rất nhiều vấn nạn của môi trường vẫn đang diễn ra hàng ngày rất cần sự lưu tâm của nhà văn” [41] Sếu đầu đỏ bỏ

Trang 24

miền Tây Nam Bộ thiên di sang những cánh đồng Campuchia không có cạm bẫy Các loài động vật đi vào sách đỏ vẫn tiếp tục bị săn bắt, những con sông dòng thác đẹp như mơ bị bức tử Đặc biệt những người dân sống ở vùng có đập thủy điện luôn hoang mang giữa đi hay ở và ngủ hay thức; chỉ trong phút chốc thôi mà bao nhiêu tài sản và sinh mạng vùi sâu trong bùn lũ, chỉ trong giây lát thôi mà cả thành phố sầm uất trở nên đổ nát điêu tàn… Tất cả những điều đó khiến con người cảm thấy tiếc nuối, đau đớn, bất an, mong manh hơn trước cuộc sống này Chúng đều có thể trở thành những đề tài lớn của văn học, hình thành nên cảm thức sinh thái, tư tưởng sinh thái trong các nhà văn

Ở văn chương thế giới, mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên đã được các nhà văn phản ánh rất đậm nét Trong Ông già và biển cả của Hemingway, biểu hiện nhân loại trung tâm chủ nghĩa vô cùng rõ ràng: sự đối lập giữa “người” và “tự nhiên” là động cơ và tuyến cơ bản của câu chuyện, mấu chốt của tầng thứ này cho thấy sát hại và đấu tranh là quy luật căn bản của vũ trụ Trong nước biển, con sứa bị rùa biển ăn, mà sứa cũng có thể phun chất độc bắt chiến lợi phẩm của mình; trên mặt biển, ông lão bắt, nhưng cá mập cũng có thể biến ông lão thành chiến lợi phẩm, ông lão dùng hết sức để chiến đấu Hemingway thông qua đối lập giữa người và không phải người, chỉ

ra quan hệ giữa hiện tực và tự nhiên, con người và con vật là quan hệ tàn sát lẫn nhau, không có người mạnh, cũng không có cái gọi là mục đích Nhưng đến cuối cùng, con cá mà ông lão dùng cả sinh mệnh để đổi lấy, biến thành một bộ xương trắng, trở thành rác trôi lềnh phềnh, điều này đã tuyên bố sự thất bại của ông lão Bất luận con người đã bỏ ra sự nỗ lực kinh thiên động địa thế nào, trong quy luật của vũ trụ vẫn vô cùng bé nhỏ và không đáng nhắc đến, hơn nữa, trong làn sóng thủy triều (ẩn dụ thời gian), tất cả đều mất hết dấu vết Hemingway một lần nữa làm rõ, “tinh thần Mĩ” cuối cùng của chủ nghĩa nhân loại trung tâm - con người chân chính là không thể bị hủy diệt,

Trang 25

cho dù hành động của anh ta đã thất bại, nhưng về tinh thần vẫn bảo giữ được

sự hoàn chỉnh nhân cách, vẫn vĩnh viễn không thất bại

Phê bình văn học từ góc nhìn sinh thái đang ngày càng tạo cho mình một diện mạo mới Cùng với việc hướng văn chương tới thế giới tự nhiên, phê bình sinh thái cũng góp phần nhìn nhận mỗi tác phẩm trong chỉnh thể tổng hợp giữa tự nhiên và xã hội

“Đối tượng của phê bình sinh thái không phải chỉ là văn học sinh thái, không phải chỉ là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên Có miêu tả tự nhiên hay không không phải là điều kiện tất yếu để triển khai phê bình sinh thái Chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, thậm chí, tác phẩm văn học cho dù hoàn toàn không đả động gì đến cảnh vật tự nhiên, mà chỉ bàn đến chính sách phá hoại sinh thái, bàn đến một phương thức sống của xã hội tiêu dùng, một sự kiện ô nhiễm môi trường… đều có thể trở thành đối tượng quan tâm của phê bình sinh thái” [35] Từ những ý nghĩa trên, nhìn văn học từ góc nhìn sinh thái có thể có những đánh giá chính xác văn học Đông Tây kim cổ, tiêu biểu là những tác phẩm có ảnh hưởng lớn đến nền văn chương thế giới

1.2 Thơ Hàn Mặc Tử - từ cuộc đời ánh lên những trang thơ

Phong trào Thơ mới 1930 - 1945 là một trào lưu văn học lãng mạn với những tên tuổi lừng lẫy: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,… Cho đến nay, những “tòa tháp hùng vĩ” ấy đã dần dần được các nhà nghiên cứu văn học khai hóa và chinh phục Nhưng Hàn Mặc Tử hẳn là tòa tháp bướng bỉnh nhất Đã có rất nhiều ý kiến trái chiều về nhà thơ Hàn Mặc Tử nhưng vườn thơ của Hàn vẫn mãi có một sức lôi cuốn kì diệu với trái tim bạn đọc Thơ Hàn Mặc Tử như những con chữ lạ lùng, nó tạo cho người ta cảm giác quen thuộc, bình dị nhưng không hiểu sao mỗi lần đọc lên, người đọc lại lâng lâng một cảm xúc khó tả,

Trang 26

mơ hồ, khó nắm bắt Câu hỏi Hàn Mặc Tử - anh là ai ? vẫn còn đó Như một

thách đố và một lời mời gọi…

1.2.1 Hàn Mặc Tử - thi sĩ của những đau thương trong cuộc đời trần thế

Hàn Mặc Tử khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 mất ngày 11-11-1940 Hàn Mặc Tử sinh ra tại Đồng Hới - Quảng Bình trong một gia đình công giáo nghèo Có lẽ cuộc đời của Hàn gắn liền với 4 chữ Bình như: Sinh tại Quảng Bình, làm báo ở Tân Bình, yêu người ở Bình Thuận và sau này mất tại Bình Định Từ nhỏ, Hàn Mặc Tử đã nổi tiếng là một thần đồng thơ ca Ông làm thơ khá sớm từ những năm 14 tuổi với nhiều bút danh như Phong Trần, Lệ Thanh Trong cuộc đời mình, Hàn đã từng gặp gỡ với Phan Bội Châu và cũng có nhiều ảnh hưởng của vị chí sĩ này Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền

Ở Sài Gòn, Hàn có làm phóng viên phụ trách cho tờ báo “Công luận” Lúc bấy giờ ở Phan Thiết, Mộng Cầm cũng hay làm thơ và gửi lên báo nên tình yêu của hai người nhen nhóm Hàn quyết định ra Phan Thiết để gặp gỡ Mộng Cầm

Mãi đến đầu năm 1935, mọi người trong gia đình Hàn Mặc tử mới phát hiện ra dấu hiệu của căn bệnh phong trên cơ thể của ông Lúc đầu, Hàn không mấy quan tâm vì coi đó là bệnh ngoài da không đáng quan ngại Cho đến năm

1936, khi ấy Hàn được mời làm chủ bút cho một tờ báo, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình Tuy nhiên, Hàn chưa bao giờ có ý nghĩ ông sẽ mắc một chứng bệnh nan y bởi đơn giản ông chỉ nghĩ mình đang mắc chứng

“phong ngứa” Khoảng 1938 - 1939, Hàn Mặc Tử có những cơn đau dữ dội nên ông đã quyết định vào Quy Hoà chữa bệnh Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: “Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô Toàn thân khô cứng”

Trang 27

Do quan niệm cổ hủ trước đây, bệnh phong cùi là bệnh truyền nhiễm nên những người bị mắc bệnh thường bị hắt hủi và Hàn Mặc Tử không nằm ngoại lệ trong những người trên Hàn đã phải chịu đựng những năm tháng bị

người đời xa lánh, bị ngược đãi giữa nhân tình thế thái Gia đình đã phải đưa Hàn Mặc Tử đi trốn nhiều nơi Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này khi mới bước sang tuổi 28

Có thể thấy rằng, trong số các thi nhân thuộc phong trào Thơ mới 1930

- 1945, có lẽ không mấy người mang số phận ai oán, nghiệt ngã như Hàn Mặc

Tử Vận mệnh cay đắng của thi sĩ như được tiên báo trước qua ý nghĩa từng bút danh Phong Trần (gió bụi), Lệ Thanh (tiếng của nước mắt), Hàn Mặc Tử (chàng trai bút mực) Ra đi khi mới 28 tuổi - cái tuổi con người ta trưởng thành nhất, sung sức nhất thì khi đó, Hàn Mặc Tử đã trở về với cát bụi, bỏ lại mối tình còn dang dở, một sự nghiệp thơ ca đang sắp sửa đơm hoa kết trái Mặc dầu cuộc sống của Hàn Mặc Tử phải trải qua biết bao đắng cay, thăng trầm, nhưng ông đã đón nhận những đau khổ đó trong niềm tin yêu, phó thác

và cậy trông Hoàn cảnh ấy đã tôi đúc nên một Hàn Mặc Tử đau thương, quằn quại nhưng không hề mất đi sức sống, mà ngược lại, những trang thơ của ông vẫn luôn là những khát khao tột cùng được yêu và được sống Có ý kiến cho rằng: “Nghịch cảnh mà thành tài, nếu ngày đó Nguyễn Trọng Trí không có căn bệnh phong cùi thì chúng ta chưa chắc có một Hàn Mặc Tử như ngày hôm nay” Phải chăng, nỗi băn khoăn trăn trở của Nguyễn Du hơn hai trăm năm trước cũng đúng với cuộc đời nhà thơ Hàn Mặc Tử:

“Anh hoa phát tiết ra ngoài Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa?”

Trang 28

1.2.2 Thơ Hàn Mặc Tử - lạ lẫm và bi thương

Cuộc sống vất vả, lam lũ đã tôi đúc nên con người Hàn Mặc Tử, một con người tài năng, giàu ý chí và nghị lực sống Tính cách và con người ông được in đậm qua từng trang thơ của người

Trước hết, chúng ta có thể thấy được Hàn Mặc Tử là một tài năng hiếm

có Vốn là người gầy yếu, hiền lành như con gái, Trí thường bị các bạn gọi là

“thằng nghiện sách” Khi mới mười bốn, mười lăm tuổi, ông đã trở thành một thần đồng thơ nổi tiếng Sau khi cha mất, gánh nặng gia đình dồn lên đôi vai người mẹ đảm đang, hiền thục Do hoàn cảnh cảnh quá khó khăn, ông buộc phải thôi học Nhưng hoàn cảnh ấy không làm giảm đi sự say mê văn chương của cậu học trò hiếu học này

Hàn Mặc Tử là một con người tài năng, tài năng ấy sinh ra là vì

“nghịch cảnh thành tài” Những năm tháng cùng chung sống với bệnh nan y, Hàn Mặc Tử đau đớn, quằn quại không chỉ vì nỗi đau bệnh tật mà còn bởi nỗi buồn cô đơn, lạc lõng Dường như, hoàn cảnh đã thôi thúc Hàn cầm bút lên và viết, mỗi trang thơ lại phơi bày một nỗi niềm riêng, một tâm sự riêng trong ngần ấy năm trời ông chung sống với bệnh tật Và thế là, tài năng văn chương của người được bộc lộ:

“Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả Trơ vơ buồn mà không biết kêu ai Bức thư kia sao chẳng viết cho dài

Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa” [23,Tr45]

Cũng giống như bao thi nhân nổi tiếng khác, Hàn Mặc Tử luôn mang trong mình những nét độc đáo Cuộc đời đầy đau đớn không thể khiến chàng thi sĩ ấy gục ngă, ngược lại chính từ đau thương đã đưa Hàn bay cao hơn Ở Hàn Mặc Tử, thể xác đau đớn ê chề nhưng tâm hồn thì thăng hoa trong sáng nhờ có ý chí mạnh mẽ và khát vọng sống phi thường Tưởng như hoàn cảnh

Trang 29

nghiệt ngã ấy như cướp lấy sự sống của Hàn Mặc Tử: “Tôi nghĩ đến người đã

sống trong một túp lều tranh phải lấy ra bì thư và giấy nhật trình che mái nhà cho đỡ dột Mỗi bữa cơm đưa đế người không sao nuốt được vì ăn khổ quá

Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy Sau cùng, người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích Tôi nghĩ đến bao nhiêu

năm người bó tay nhìn cả thế phách lẫn tâm hồn cùng tan rã…” [18,Tr34]

Nhưng, Hàn Mặc Tử không chấp nhận buông tay đầu hàng số phận, trong tiềm thức của ông vẫn len lỏi đâu đó một chút ánh sáng hi vọng, mộng ước Nếu như Xuân Diệu tự coi mình là “Con chim đến từ núi lạ”, Huy Cận tự khắc họa hình ảnh của mình “là chàng trai gối mộng trên trang sách” thì Hàn Mặc Tử lại coi mình là “người trong mộng” Thân xác càng đau đớn, cái chết càng tới gần thì mộng ước lại càng cháy bỏng Vì sao Hàn Mặc Tử lại hay mơ ước như vậy? Phải chăng, mơ ước đã tiếp thêm động lực cho Hàn Mặc Tử tiếp tục sống, tiếp tục níu giữ nơi trần gian tươi đẹp này? Dù thơ ông là thơ của một con người ý thức rõ cái chết đang đến gần, nhưng nó không gợi lên cảm giác bi quan tối tăm như thơ Vũ Hoàng Chương mà ngược lại, nó mang một sức sống mãnh liệt như cây non bị gieo trồng nơi bóng tối đang dần dần, dần dần vươn mình lên cao tiếp lấy ánh sáng mặt trời Khát vọng sống trong con người Hàn Mặc Tử cứ âm ỉ cháy như thế mà không bao giờ lụi tắt, chờ cơ hội, nó lại vụt sáng như những ngọn lửa huy hoàng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Không chỉ là một con người với những khát khao sống, nghị lực sống mãnh liệt mà Hàn Mặc Tử còn là một chàng trai lãng mạn Cũng như bao chàng trai khác, Hàn Mặc Tử cũng có những cuộc tình chớm nở nhưng sớm

Trang 30

tàn Mối tình đầu của Hàn là với cô hàng xóm đài các Hoàng Thị Kim Cúc

Là con gái Huế, Hoàng Cúc theo cha vào Quy Nhơn từ nhỏ Vốn gần nhà nhau nhưng hai người vẫn cách xa nhau như hai thế giới hoàn toàn cách biệt bởi “Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng”(Thư của Hoàng Cúc gửi cho Quách Tấn ngày 19/04/1971) Nhưng tiếc thay, đó chỉ là một tình yêu thầm lặng lẽ, đơn phương

Hàn Mặc Tử là thế, kín đáo và lãng mạn, chàng trai trẻ ấy yêu hết mình, yêu bằng cả trái tim và tâm hồn mình vậy mà, cuộc tình thứ hai của Hàn cũng tan vỡ nhưng bọt nước mỏng manh Tình yêu với Mộng Cầm - cháu gái của nhà thơ Bích Khê đã gây cho thi sĩ một vết thương nhỏ máu không bao giờ hàn gắn được Mộng Cầm, người yêu Hàn tha thiết đã rời bỏ ông khi biết ông bị bệnh hiểm nghèo Nhưng mối tình đau khổ ấy lại là chất men cho tài năng sáng tạo của người, y như vết thương lòng con trai tạo nên hạt ngọc

Đọc thơ Hàn Mặc Tử, độc giả không chỉ đau đớn, xót xa trước cuộc đời đầy bi kịch của nhà thơ mà mỗi chúng ta còn thấy được ở người là một nhân cách cao quý Cho dù hoàn cảnh có nghiệt ngã đến đâu, dù cuộc sống xung quanh ông đều là bóng tối thì Hàn Mặc Tử vẫn như cây cổ thụ bám rễ sâu xuống mảnh đất cuộc đời Tài năng và tâm hồn cộng hưởng lại, tạo nên một hồn thơ Hàn Mặc Tử mang phong cách độc đáo

Hàn Mặc Tử được coi là một trong những thi sĩ đặc biệt nhất của nền thi ca hiện đại Việt Nam Cuộc đời nhà thơ với những thăng trầm dù chỉ mấy chục xuân xanh nhưng tất cả làm nên những giai thoại, những câu chuyện đầy

bi thương Từ khi xuất hiện đến nay, trải qua những sóng gió thời gian, thơ Hàn vẫn lấp lánh những ánh hào quang sáng chói, vẫn mang những nét hấp dẫn riêng không trộn lẫn Mỗi vần thơ của Hàn Mặc Tử khiến người đọc đương thời luôn tìm thấy niềm đồng vọng thiêng liêng cùng những xót xa không sao kể xiết cho thân phận một thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh

Trang 31

1.2.3 Những dấu ấn sinh thái trong thơ Hàn Mặc Tử

“Dòng thơ của Hàn Mặc Tử thì say sưa vô tận, bay từ trần thế đến thiên cung, bay từ một tạo vật bé nhỏ bệnh tật đến Chúa Trời sáng láng và Chí Thánh, bay từ hữu hạn đến vô hạn, bay từ khi thiên địa mới “Ra đời” đến ngày chung thẩm” [21,Tr17]

Có lẽ hiếm có người nào mà hai chữ “thơ” và “đời” gắn chặt với nhau, ràng buộc một cách khăng khít như nhà thơ Hàn Mặc Tử Thơ ông không chỉ đơn thuần là những sáng tác, những câu chữ đầy tính nghệ thuật, mà đó còn chính là con người ông, cuộc sống của ông, tâm hồn của ông Mỗi bài thơ, dù ngắn hay dài, dù nói về chủ đề gì đều rất chân thật, giản dị nhưng tinh tế một cách khác biệt, vượt xa nhiều tên tuổi văn chương khác của nền văn học nước nhà Mỗi bài thơ đều mang một màu sắc riêng biệt, lúc ngây thơ, lúc yêu đời, nhưng cũng có lúc đau đớn, ma mị, dị biệt Nhưng tất cả đều là những bài thơ

có giá trị, những khúc ca về con người và cuộc sống mà thông điệp của nó đến ngày nay vẫn còn được lưu giữ Người đọc thế hệ mới khi đến với những bài thơ của Hàn Mặc Tử, chắc chắn sẽ tìm thấy một sự đồng cảm nào đó thật sâu sắc

Thơ phải bắt rễ từ cuộc đời, có lẽ cuộc đời quá nhiều bất hạnh, đau đớn của ông đã khiến những vần thơ của ông tuy có lúc ngông cuồng, đậm chất điên, nhưng lại nhuộm đen một màu buồn vô hạn, chất chứa bao nỗi niềm từ tận đáy tim ông Có lẽ vì vậy mà cũng dễ đi vào lòng người hơn

“Đọc thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp cuộc đời bằng một con mắt khác, đẹp tinh tế và trọn vẹn , để cùng gió, trăng chìm trong ảo mộng, một thế giới hoàn toàn khác và lôi cuốn chúng ta khám phá Mạnh mẽ hơn, đọc thơ Hàn Mặc Tử, tự đâu đó sâu thẳm trong trái tim mình, con người ta thấy yêu cuộc sống nhiều ý nghĩa này hơn và sống có ích từng phút giây hơn” [23,Tr163] Yếu tố sinh thái khá đậm nét trong thơ Hàn Mặc

Trang 32

Tử Đặc biệt là sinh thái thiên nhiên bởi mỗi trang thơ của Hàn luôn là mối quan hệ khăng khít giữa con người và vũ trụ Không những là mây, gió, trăng, hoa, đó còn là sương, là mây, là những hình ảnh thiên nhiên vừa thân thuộc

nhưng cũng vừa mang những nét kì bí, siêu hình Mỗi hình tượng thiên nhiên trong thơ Hàn đều nhuốm màu tâm trạng, nó giống như hàng ngàn sợi dây tình cảm đang rung lên hoà nhịp cùng sự vận hành của con người và vũ trụ Thiên nhiên trong thơ Hàn khiến hồn người đắm đuối, mê say Có những khi thiên nhiên như rũ bỏ cả sinh mệnh mình để đau nỗi đau cho cuộc đời của con người Thiên nhiên trong thơ Mới nói chùng và thơ Hàn Mặc Tử nói riêng là thiên nhiên của những gì tươi đẹp và gần gũi nhất Lúc này thiên nhiên và tình yêu thiên nhiên được các thi sĩ mới say sưa ca ngợi Thế Lữ đưa ta đến với cái núi rừng hùng vĩ, cao cả, với Hồ Xuân và thiếu nữ Với những bến sông văng vẳng khúc hát, những bài biển lọng gió … Lưu trọng Lư lại dẫn ta vào khu rừng thu xào xạc lá vàng khô, có con nai vàng ngơ ngác, vào những suối mây, hoa cỏ của những mối tình thầm kín, mơ mộng Hồn thơ Lưu Trọng Lư dường như để dung động với những cái gì đó mờ ảo, xa xăm, lúc ẩn, lúc hiện, không sắc nét không hình khối rõ ràng Trong hồi chập chững của thơ mới, bằng những vần thơ trong sáng đượm buồn mang nhạc điệu vấn vương, êm đềm thi sĩ này đã góp phần làm nên chiến thắng của phong trào Nhưng khác với những thi sĩ cùng thời, Hàn Mặc Tử cũng viết về thiên nhiên, ngợi ca cảnh sắc non sông nhưng cảnh sắc trong thơ Hàn mang đậm tâm tình của một thi nhân đang khát khao giao cảm với tình đời trong nhân thế Thơ Hàn viết

về những vùng đất nơi mình từng gắn bó, yêu thương như Huế thương, Phan Thiết mơ màng, Đà Lạt trăng mờ…… Thế giới thiên nhiên của trăng, sao, hoa, lá được thi nhân nhuốm màu tâm trạng nhưng ta vẫn thấy nổi bật nhất trong thơ Hàn là thế giới của trăng và mùa xuân Trăng hư hao nhưng trăng là

Trang 33

tri kỉ, xuân mơ màng nhưng xuân mãi xanh tươi Đó là cảm nhận về thiên nhiên của Hàn Mặc Tử trong cảm thức của một thi sĩ sắp từ giã cõi đời

Phê bình sinh thái tinh thần đặt ở một bình diện khác: nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường tinh thần xã hội đối với đời sống tinh thần, với sáng tác văn học, tác động của văn học đối với môi trường tinh thần của con người.Cùng với những yếu tố thiên nhiên, sinh thái xã hội cũng được phản ánh trong thơ Hàn Đó là cuộc sống hiện tại với tất cả những đớn đau do bệnh tật hành hạ, những dằn vặt trăn trở về nhân tình thế thái Hay một quá khứ với tất cả những gì tươi đẹp nhất Xã hội trong thơ Hàn là cuộc đời rộng lớn ngoài kia với bao xuyến xao, nhộn nhịp, là cõi đời đầy những yêu thương Nhưng xã hội trong thế giới của Hàn là xã hội của đau thương, bi lụy, của sự xa cách mà người đời dành cho Ông khát khao bấu víu, mong mỏi chút ít tình thương của nhân thế nhưng rồi lại tuyệt vọng trong chính niềm hi vọng mỏng manh của mình Hàn Mặc Tử tìm đến tâm linh để tâm hồn thanh thản Ông coi tôn giáo

là điểm tựa cho cuộc đời mình, là chỗ dựa duy nhất cho tâm hồn được thảnh thơi sau những bão giông giữa tình đời bạc bẽo

Hồn thơ Hàn Mặc Tử không những khát khao hoà nhập với thiên nhiên, gắn bó với tự nhiên mà Hàn còn tự tạo lập riêng cho mình một thế giới của những cuồng say, đớn đau và khát khao mãnh liệt Những dấu ấn sinh thái trong thơ Hàn cả tự nhiên và nhân văn đều khá đậm nét, đồng thời cũng có những nét chuyển giao lẫn nhau, hoà nhập vào nhau

Trang 34

Tiểu kết chương 1

Có thể nói rằng, nghiên cứu sinh thái văn chương là một vấn đề khá mới mẻ và lí thú của phê bình văn học ngày nay Nghiên cứu sinh thái văn chương cần cái nhìn toàn diện và tổng thể về sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội Sau những bước phát triển ở Mỹ và phương Tây, sinh thái học và nghiên cứu văn học sinh thái đang mở rộng đến nhiều khu vực của châu Á, trong đó

có Đông Nam Á Ở Việt Nam hiện nay, sinh thái học nói chung và phê bình văn học sinh thái đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Một

số công trình nghiên cứu, các bài báo, hội thảo bắt đầu tập trung vào phê bình sinh thái học song sự phức tạp, đa dạng và những bước chuyển của phê bình sinh thái vẫn cần được khám phá và đi sâu nghiên cứu, khai mở ở nhiều nhánh khác nữa Bởi lẽ, việc nhìn nhận văn học dưới lăng kính sinh thái sẽ đem lại những phát hiện mới mẻ và hữu ích, góp phần giải quyết những vấn nạn môi trường hiện nay do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gây nên Trong điều kiện môi sinh ở Việt Nam đang có những biến đổi đáng lo ngại, việc dẫn nhập phê bình sinh thái nói chung và phê bình văn học sinh thái nói riêng mới chỉ ở mức khiêm tốn, mối quan tâm đến vấn đề này từ giới học thuật, giới sáng tác và giáo dục cũng chưa nhiều

Nhìn nhận thơ văn Hàn Mặc Tử từ góc nhìn sinh thái là một hướng đi mới cần sự cặn kẽ, thấu đáo Hàn Mặc Tử với sự phong phú và phức tạp của hồn thơ khiến người đọc tới nay vẫn còn đầy những bỡ ngỡ, hoài nghi nhưng cũng vô cùng thích thú Mối quan hệ giữa sinh thái tự nhiên và thơ Hàn là mối quan hệ gắn bó khăng khít của một tâm hồn thi nhân yêu thiên nhiên đến tha thiết, khát khao được hoà nhập cùng cảnh sắc của non sông

Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật rộng mở, vượt qua những giới hạn

và quy phạm nghệ thuật thông thường, kể cả mĩ học của thơ ca hiện đại, Hàn Mặc Tử không những làm mới lạ thơ mình mà ông còn bắt mạch rất trúng

Trang 35

tinh huyết của Bích Khê hay của Chế Lan Viên, Quách Tấn… Hàn Mặc Tử cho rằng: “Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ao ước trở lại với trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt” Hàn Mặc Tử sống giữa cuộc đời trần thế chẳng trọn vẹn bao lâu nhưng cái tâm tình của người thi sĩ ấy dường như vẫn mãi còn bất tận Đọc thơ Hàn, ta yêu thêm cảnh sắc non sông, ta yêu thêm cả những ước ao của hồn thơ mộng mị, ta biết lắng lòng mình nghe những thổn thức của một trái tim yêu

Trang 36

Chương 2 SINH THÁI TỰ NHIÊN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

Văn chương luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường đặc biệt là môi trường tự nhiên Trong những năm gần đây, văn chương được nhìn nhận trong tương quan với văn hoá sinh thái Con người cũng như toàn xã hội luôn

là sản phẩm của tự nhiên nên muốn hay không muốn, con người cũng không thể tách rời ra khỏi thế giới của tự nhiên, của hệ sinh thái đang tồn tại xung quanh Chính bởi vậy, con người cũng nhận ra sự liên hệ giữa mỗi tác phẩm văn chương là môi trường sinh thái

2.1 Sinh thái tự nhiên trong văn chương

“Sinh thái học là khoa học nghiên cứu mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh nó, hay nói một cách bao quát và chính xác hơn là mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa các hệ thống vật chất sống ở cấp độ cơ thể là trên cơ thể với môi trường sống” [2,Tr11] Nghiên cứu sinh thái học nhằm nắm bắt được những quy luật sinh thái để vận dụng những quy luật này trong hoạt động thực tiễn của con người, đảm bảo sự hài hoà và bền vững giữa xã hội và môi trường sinh thái Không chỉ có văn chương mà tất cả các ngành nghệ thuật cũng như kinh tế đều có nghiên cứu về sinh thái học

Ở các nước phương Tây, các nhà nghiên cứu tập trung dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn chương, khẳng định vai trò của tự nhiên trong mối tương giao với văn chương nghệ thuật Tự nhiên vốn dĩ là vật chất, con người

là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, xã hội cũng là bộ phận đặc thù của tự nhiên Như vậy, ba yếu tố tự nhiên - con người - xã hội thống nhất trong cùng một hệ thống lao động sáng tạo nên đã tác động trở lại tự nhiên theo những mục đích của mình Bản chất của vấn đề sinh thái là bàn về mối quan hệ giữa:

tự nhiên - con người - xã hội, tiêu biểu trong đó là mối quan hệ với thế giới tự

Trang 37

nhiên Sinh thái tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất với tất cả sự đa dạng muôn vẻ, luôn vận động và biến đổi, tồn tại khách quan đối với con người Sinh thái tự nhiên ở đây trước tiên được hiểu là núi, sông, cỏ, cây, hoa, lá, đất đai, bờ bãi….trong giới tự nhiên Tự nhiên đem lại không gian sống và sinh hoạt cho con người

Văn chương được nảy sinh trong những điều kiện lịch sử nhất định, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ, tôn giáo, trí thức Nhưng dù trong hoàn cảnh nào văn chương đều có mối quan hệ gắn bó với thế giới tự nhiên Trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, vấn đề con người với giới tự nhiên cũng được các nhà văn, nhà thơ chú ý từ lâu Tuy nhiên, khi nhìn nhận văn chương với sinh thái tự nhiên thì có sự thay đổi quan niệm về tự nhiên Các ước lệ về tự nhiên bị phá

vỡ thay vào đó là quan niệm về một tự nhiên tự trị, tồn tại bên ngoài con người, tự nhiên có một sinh mệnh độc lập

Trong văn chương phương Đông của chúng ta, thiên nhiên được coi như một vũ trụ Con người chú ý tới thiên nhiên như một phút lặng, phút hồi tưởng, phút lãng quên mọi ưu tư trong nhịp sống ồn ào, vội vã của dòng chảy cuộc đời, để hướng tới cái đẹp, cái tinh khiết, cái chất thơ của đời sống Chú ý tới thiên nhiên cũng là quay trở về với tình cảm quê hương đất nước

Như vậy, sinh thái tự nhiên trong văn chương thực chất là nghiên cứu những yếu tố tự nhiên như đất đai, hương, hoa, cây, cỏ…trong những sáng tác văn chương, được đặt trong mối quan hệ mật thiết với con người

2.2 Sinh thái tự nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử

Văn chương xưa nay luôn là sự “cứu cánh” của tâm hồn Đi vào thế giới của văn chương là đi vào với thế giới của cảm xúc, đặc biệt là tình yêu với thiên nhiên đất nước của thi nhân Từ văn học cổ đại, thông qua những tác phẩm văn chương người đọc như được sống giữa thế giới tạo vật thiên nhiên non nước hữu tình vừa tĩnh lặng vừa hoành tráng Hàn Mặc Tử - thi sĩ với cái

Trang 38

“điên cuồng” trong những vần thơ Chính vì thế, thiên nhiên trong thơ Hàn cũng có những thần sắc riêng không thể trộn lẫn Thơ Hàn Mặc Tử như những con chữ lạ lùng, nó tạo cho người ta cảm giác quen thuộc, bình dị nhưng không hiểu sao mỗi lần đọc lên, người đọc lại lâng lâng một cảm xúc khó tả,

mơ hồ, khó nắm bắt Câu hỏi Hàn Mặc Tử - anh là ai? vẫn còn đó như một

thách đố và một lời mời gọi Và những cảnh sắc thiên nhiên trong thơ Hàn cũng mang lại nhiều dư vị trong tâm hồn bạn đọc

2.2.1 Cảnh sắc mang vẻ đẹp của từng vùng miền

Tồn tại hơi thở của sự sống chỉ vọn vẹn 28 năm cuộc đời nhưng Hàn Mặc Tử đã từng in dấu trên nhiều vùng đất khác nhau Đó là quê hương sinh thành, là nơi công tác trong bao năm hay là mảnh đất gắn bó trong những hơi thở cuối cùng của đời mình Thăng trầm, di chuyển và nhớ thương với những vùng đất mình từng qua, từng ở, từng gắn bó nên thơ Hàn tràn ngập những cảnh sắc thiên nhiên của mỗi vùng miền

2.2.1.1 Xứ Huế - một cõi đi về của hồn thơ Tử

Chế Lan Viên khi lên Tây Bắc đã từng thốt lên “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn” (Tiếng hát con tàu) Với mỗi tâm hồn thi nhân, một mảnh đất mình từng qua, từng vùng miền nơi mình sống, tất cả đều

in dấu tâm hồn Huế mộng mơ không phải quê hương của Tử nhưng con người ấy đã dành trọn cuộc đời mình, dành cả trái tim mình để thương Huế biết bao

Xứ Huế đã trở thành niềm yêu, nỗi nhớ của bao thi nhân Bùi Giáng từng thiết tha “Dạ thưa xứ Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương” hay Quỳnh Dao yêu Huế bởi “Một hàng Tôn nữ cười trong nón/ Sông mở lòng ra đón bóng yêu” Mỗi nhà thơ, bằng vốn sống và cảm nhận của riêng mình đã thổi hồn vào cảnh vật và con người xứ Huế, đem lại cho nó những vẻ đẹp lung linh, nhiều màu sắc Thiên nhiên và nỗi niềm xứ Huế đã

Trang 39

trở thành nguồn cảm hứng cho bao người.Trong những mảnh đất in dấu tâm hồn thi nhân thì có lẽ Huế là nơi để lại nhiều cảm xúc, dư âm trong lòng Hàn Mặc Tử nhất

Không phải là người con của Huế cũng không miêu tả từng ngóc ngách của Huế, thiên nhiên xứ Huế trong thơ Hàn không cụ thể với sông, núi, cỏ, cây, trời, đất, chùa chiền, thành quách cùng với con người Huế, tâm hồn Huế,

nghệ thuật dân gian Huế như thơ Nam Trân: “Huế tôi, cảnh đẹp như mơ/ Đế

đô là một bài thơ muôn vần” Với Hàn Mặc Tử, Huế là nơi chứa đựng một

mối tình đã làm nên trang thơ Đây thôn Vĩ Dạ một trong hai bài thơ hay và trong sáng nhất trong cuộc đời chàng thi sĩ này

“Nếu nhân loại không còn khao khát nữa

Và nhà thơ - nghề chẳng kẻ nào yêu Người - Thi sĩ - cuối cùng vẫn là Hàn Mặc Tử Vẫn hiện lên ở đáy vực đợi chờ”

(Trần Ninh Hồ) Hàn Mặc Tử xưa nay vẫn được coi là chàng thi sĩ của “những mối tình khuấy mãi không thành khối” Đó không chỉ là những khối tình trong trẻo với những người con gái thân thương mà phải chăng đó còn là mối tình với những vùng đất ông yêu và gắn bó Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” viết về xứ Huế mộng

mơ đã để lại cho ta biết bao hoài niệm đẹp về phong cảnh hữu tình xứ Huế,

con người Huế và đặc biệt hơn là sự lãng mạn của một đời thơ, một đời người

Trang 40

nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Dạ Đọc bài thơ này, người vô tâm đến mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

ai mướt quá, xanh như ngọc” Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá Màu xanh

mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mướt quá” một màu xanh như ngọc bích Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, con người cần

cù chăm bón mới có “màu xanh ngọc” ấy Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống Cũng nói về mùa xanh ngọc bích, trước đó (1938), Xuân Diệu

đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá ” (Thơ duyên) Hai chữ “vườn

ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác Câu thứ tư tả thiếu nữ với vườn xuân: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Mặt trái xoan, mặt hoa da phấn mới đẹp Mặt chữ điền, gương mặt đầy đặn, phúc hậu “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín

Ngày đăng: 13/06/2019, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w