---NGUYỄN THỊ THU HẰNG DẠY HỌC TÍCH HỢP CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Giáo dục Tiểu học NGƯỜI HƯ
Trang 1-NGUYỄN THỊ THU HẰNG
DẠY HỌC TÍCH HỢP CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2021
Trang 2-NGUYỄN THỊ THU HẰNG
DẠY HỌC TÍCH HỢP CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Bùi Thị Thu Thủy
Phú Thọ, 2021
Trang 3Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS.Bùi Thị Thu Thủy, người đã quan tâm, hướng dẫn và động viên em trong suốtquá trình nghiên cứu để có được những kết quả trong đề tài khoá luận này.
Và cuối cùng, em xin cảm ơn Ban lãnh đạo trường Tiểu học Tiên Cát, cùngvới sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong trường đã tạo điều kiện thuận lợinhất cho em trong suốt thời gian tiến hành thực nghiệm tại nhà trường
Do điều kiện thời gian, cùng với kinh nghiệm có hạn, luận văn không thểtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến nhận xét,những đóng góp của thầy cô và các bạn để em có cơ hội hoàn thiện luận văn tốthơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 5 năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là củariêng tôi và hoàn toàn trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luậnnày đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khoá luận dã đƣợc chỉ rõràng, đồng thời đƣợc phép công bố
Phú Thọ, tháng 5 năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5Lời cảm ơn ……… i
Mục lục ……… iii
Danh mục bảng biểu ……… v
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài ……… 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……… 3
3 Mục tiêu nghiên cứu ……… ………… 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 5
6 Phương pháp nghiên cứu……… 5
7 Cấu trúc khoá luận ……… 7
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN … 8
1.1 Cơ sở lí luận …… ………. 8
1.1.1 Lí luận về dạy học tích hợp ……… … 8
1.1.2 Khái lược về phê bình sinh thái ……… 15
1.1.3 Vấn đề sinh thái trong các văn bản thơ thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học ……… 24
1.2 Cơ sở thực tiễn ……… ……….………. 34
1.2.1 Thực trạng dạy học các văn bản thơ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học ……… 34
1.2.2 Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục môi trường ở Tiểu học hiện nay ……… 35
Kết luận chương 1 ……… ……… 39
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC
TÍCH HỢP CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG PHÂN MÔN TIẾNG
VIỆT Ở TIỂU HỌC TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH
Trang 62.1 Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện biện pháp ………… 40
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học ……… 40
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo kích thích hứng thú, sự tích cực trong hoạt động học tập của học sinh ……… 40
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi ……… 41
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ……… 42
2.2 Biện pháp dạy học tích hợp các văn bản thơ trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học từ góc nhìn phê bình sinh thái ……… 42
2.2.1 Dạy học tích hợp trong nội bộ môn Tiếng Việt ………… 42
2.2.2 Tích hợp giáo dục môi trường giữa Tiếng Việt và các môn học khác ……… 48
2.2.3 Tổ chức một số hoạt động trải nghiệm nhằm giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học ……… 53
Kết luận chương 2 ……… ……… 65
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……… 66
3.1 Mục đích thực nghiệm ……… …… 66
3.2 Nội dung thực nghiệm ……… 67
3.3 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm ……… 67
3.4 Tổ chức thực nghiệm ……… ……… 71
3.5 Kết quả thực nghiệm ……… ……… 72
Kết luận chương 3 …… ……… 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… ……… 79
1 Kết luận ……… 79
2 Kiến nghị ……… 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 82
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
trong chương trình Tiếng Việt lớp 2
trong chương trình Tiếng Việt lớp 3
trong chương trình Tiếng Việt lớp 4
trong chương trình Tiếng Việt lớp 5
chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
trình độ nhận thức của học sinh trước khi thực nghiệm
trình độ nhận thức của học sinh sau khi thực nghiệm
lực, trình độ nhận thức của học sinh trước khi thực nghiệm
lực, trình độ nhận thức của học sinh sau khi thực nghiệm
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học –
kĩ thuật, con người ngày càng khai thác tự nhiên một cách quá mức, khiến cho
tự nhiên ngày càng cạn kiệt Thiên nhiên trả thù con người không chỉ bằng cácthảm họa mà đáng sợ hơn là trả thù bằng sự biến mất của chính nó Cái “dâychuyền sống” của tạo hóa đang ngày càng bị phá hủy Môi trường ngày càng bịxâm hại nghiêm trọng và kéo theo đó là hàng loạt những hệ lụy như: hiệu ứngnhà kính, nguồn nước cạn kiệt, môi trường sống
ô nhiễm, loài vật lên tiếng kêu cứu vì nạn săn bắt, mất không gian sống…
Khủng hoảng môi trường đã trở thành một vấn đề toàn cầu
Nhận thức được điều đó, dù là sự “thức tỉnh muộn màng” nhiều ngànhkhoa học nói chung và văn học nói riêng đã và đang “chuộc lỗi” với tự nhiêntheo chính đặc thù của mình Lý thuyết phê bình sinh thái nổi lên khi biến đổikhí hậu, sự xuống cấp về môi trường không chỉ đơn thuần là vấn đề của dân tộchay quốc gia mà đã ảnh hưởng đến toàn bộ sự sống trên Trái Đất Sự xuất hiệncủa văn học sinh thái và phê bình sinh thái không những nhằm cảnh tỉnh thái độứng xử của con người với tự nhiên mà còn mở ra cách tiếp cận mới trongnghiên cứu văn học Từ một phương pháp phê bình được ứng dụng trên toànthế giới, gần đây lý thuyết này cũng bắt đầu được giới nghiên cứu văn học ởViệt Nam áp dụng và đã có những thành tựu khả quan
Xuất phát điểm và đích đến của phê bình sinh thái là ý thức sinh thái Vàsản phẩm của nhà phê bình sinh thái sẽ góp phần khôi phục, xây dựng ý thứcsinh thái, tinh thần sinh thái cho người đọc Do vậy, việc giáo dục nâng cao ýthức về môi trường là vấn đề cấp thiết và cần được quan tâm nhiều hơn
Giáo dục môi trường không phải chỉ tiến hành ngoài xã hội, mà nó phảiđược thực hiện ngay chính trong các trường phổ thông, đặc biệt là ở cấp Tiểuhọc Bởi lẽ “Yêu con từ thuở còn non, dạy con từ thuở hãy còn thơ
Trang 9ngây” Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi mà giáo dục đóng vai trò vô cùngquan trọng, là mấu chốt trong quá trình hình thành nhân cách đạo đức của trẻ.Việc giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu thương loài vật của trẻ thơ ngay từ khiđang còn ngồi trên ghế nhà trường góp phần định hướng cho các em những tìnhcảm tốt đẹp, cao cả hơn Nhất là trong giai đoạn cấp bách hiện nay – khi nhữngvấn đề về môi trường đang ở mức đáng báo động, nếu không được hưởng sựgiáo dục môi trường phù hợp và đúng đắn thì các em sẽ không nhận ra rằng bảnthân mình cần phải làm gì để bảo vệ môi trường, để giữ gìn sự trong lành màthiên nhiên ban tặng Hơn nữa, ở nước ta số lượng học sinh Tiểu học chiếm tỉ lệtương đối lớn (khoảng 10% dân số) Con số này sẽ được nhân lên nhiều lần nếucác em biết và tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho cộng đồng Tiến tớitương lai có cả một thế hệ biết sống hòa hợp với thiên nhiên.
Để thực hiện được mục tiêu đó, trong các trường Tiểu học hiện nay conđường tốt nhất là: tích hợp lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào các mônhọc Trong đổi mới giáo dục, cùng với đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dungSách giáo khoa thì đổi mới phương pháp dạy học cũng đóng vai trò vô cùngquan trọng Phương pháp dạy học góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chấtlượng học tập Hiện nay, đổi mới môn Tiếng Việt nói chung và phương phápdạy môn Tiếng Việt nói riêng là một trong những trọng tâm đổi mới của toàn bộbậc Tiểu học Đặc biệt khi chương trình sách giáo khoa mới được lưu hành trêntoàn quốc
Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp học sinh phát huy tối đa năng lựcbản thân và tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính chủ động, tích cực, sángtạo, gây hứng thú học tập cho các em Theo tư tưởng của định hướng đổi mới:lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo và tổ chức nội dung chươngtrình sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp dạy học, thì môn Tiếng Việtnói chung và môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng còn không xa rời xu thế đổimới chung đó Các quan điểm dạy học tích hợp khác nhau lại
Trang 10có những phương pháp khác nhau, nhưng tất cả đều có một mục tiêu chung làhình thành những kiến thức về vấn đề sinh thái, những năng lực giải quyết vấn
đề về tự nhiên, về môi trường,… cho học sinh Với môn Tiếng việt, thông quacác tác phẩm thơ trong chương trình Tiểu học từ góc nhìn phê bình sinh thái sẽgóp phần giúp các em thêm yêu cỏ cây, hoa lá, yêu vạn vật xung quanh mình,nâng cao ý thức về môi trường cho các em
Là một sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và sẽ là giáo viên Tiểu họctrong tương lai, tôi mong muốn những bài giảng của mình sẽ truyền tải đượcnhững thông điệp bảo vệ môi trường cho các em học sinh Mặt khác, điểm lạicác bài nghiên cứu, tranh luận xung quanh vấn đề sinh thái, tôi nhận thấy đã córất nhiều các nhà phê bình tiến hành nghiên cứu, áp dụng lí thuyết phê bình sinhthái vào tìm hiểu các tác phẩm văn học Song, có thể thấy rằng họ mới chỉ dành
sự quan tâm tới những văn bản nghệ thuật dành cho lứa tuổi người lớn Màchưa có ai thực hiện nghiên cứu các bình diện sinh thái trong các văn bản dànhcho thiếu nhi, cụ thể là các tác phẩm thơ trong chương trình Tiểu học
Xuất phát từ những lí do trên, cùng với sự hiểu biết và nghiên cứu các tàiliệu có liên quan trong khuôn khổ cho phép Tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Dạy học tích hợp các văn bản thơ trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học từ góc nhìn phê bình sinh thái”.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu theo hướng dạy học tích hợp cáctác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ góc nhìn của lí thuyếtphê bình sinh thái Do đó, kết quả nghiên cứu sẽ góp thêm một nét vẽ, một màusắc trong bức tranh đang dần hoàn thiện về dạy học tích hợp ở Tiểu học
Đề tài này còn nghiên cứu các dấu ấn sinh thái và nghệ thuật biểu hiện vấn
đề sinh thái trong các văn bản đã khảo sát Từ đó đề xuất các biện pháp
Trang 11dạy học tích hợp các tác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học đểhình thành ý thức về vấn đề sinh thái, môi trường cho học sinh Tiểu học.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức của con người, nhất là thế hệ mầmnon tương lai của đất nước về thái độ bảo vệ môi trường sinh thái, giáo dục lốisống ứng xử nhân văn với môi trường sống xung quanh
Nếu đề tài hoàn thành sẽ cung cấp tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinhviên ngành Tiểu học, bổ sung thêm những phương pháp dạy học tích hợp chogiáo viên Tiểu học trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt Và đặc biệt thôngqua đó, sẽ góp phần truyền tải thông điệp bảo vệ môi trường cho các em họcsinh Tiểu học, giúp bồi dưỡng ở các em tình yêu thiên nhiên, yêu loài vật và có
ý thức bảo vệ môi trường
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp các văn bản thơ trong phân mônTiếng Việt ở Tiểu học từ góc nhìn phê bình sinh thái
Giáo viên có thêm một cách tiếp cận mới về môi trường, từ đó giáo dụccho học sinh bài học nhận thức, tình cảm và đạo đức với thiên nhiên
Chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục ý thức sinh thái, ý thức bảo vệ môitrường trong trường Tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ các khái niệm lí luận liên quan về phê bình sinh thái
Tìm hiểu về dạy học tích hợp ở Tiểu học và thực tiễn nghiên cứu, hướng đicủa phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam nói chung, cũng như vấn đềnghiên cứu sinh thái trong các tác phẩm thơ trong chương trình Tiếng Việt ởTiểu học
Nghiên cứu nội dung các văn bản thơ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểuhọc để thấy được các khía cạnh sinh thái và khả năng vận dụng lí
Trang 12thuyết phê bình sinh thái vào dạy học, từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp.
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả củacác biện pháp dạy học tích hợp các văn bản thơ trong phân môn Tiếng Việt ởTiểu học từ góc nhìn phê binh sinh thái
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm dạy học tích hợp và các văn bản thơ trong chương trình Tiểuhọc từ góc nhìn phê bình sinh thái
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu của đề tài, tôi chỉ xin được đi sâu nghiên cứu quanđiểm dạy học tích hợp và các văn bản thơ trong chương trình Tiểu học từ gócnhìn phê bình sinh thái được thể hiện trong các văn bản thơ trong chương trìnhsách giáo khoa Tiếng việt lớp 2, 3, 4, 5
Địa bàn thực nghiệm: trường Tiểu học Tiên Cát – thành phố Việt Trì – tỉnhPhú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê để xác định số lượng các tác phẩm thơ có đề cậptới vấn đề sinh thái trong chương trình Tiểu học
Phương pháp này cũng nhằm sắp xếp các biểu hiện của bình diện sinh thái
có trong các văn bản, để có những đánh giá, nhận thức mới phục vụ cho đề tài
6.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp phân tích là phương pháp nghiên cứu đi từ cái chung đến cáiriêng, phân tích đối tượng thành những cái riêng lẻ, cái cụ thể Phát hiện ranhững thuộc tính, những đặc điểm của sự vật, giúp cho việc nghiên cứu
Trang 13trở nên dễ dàng hơn Trên cơ sở phân tích lại tổng hợp kiến thức để tạo ra hệthống, thấy được mối quan hệ tác động biện chứng giữa chúng, từ đó hiểu toàndiện, đầy đủ, sâu sắc lí thuyết.
Đối với đề tài nghiên cứu, việc sử dụng phương pháp phân tích là rất cầnthiết, nó làm nổi bật đặc điểm của các dấu ấn sinh thái và phương thức biểu đạtchúng được xác định trong đề tài, đồng thời nhận thấy được vai trò của dạy họctích hợp trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
6.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:
Đây là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định đánh giá mộtsản phẩm khoa học, bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có sẵn
và có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định Phương pháp này giúp cho ngườinghiên cứu có cái nhìn đa chiều, có những đánh giá cụ thể về công trình nghiêncứu của mình
Đối với đề tài này, chúng tôi thực hiện phương pháp lấy ý kiến chuyên giabằng cách xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn, các giảng viên dạy bộ môn Văntại trường Đại học Hùng Vương, của những thầy cô giáo quan tâm tới quanđiểm dạy học tích hợp và vấn đề phê bình sinh thái
6.4 Phương pháp liên ngành
Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu liên ngành, kết hợp văn họcvới khoa học, phân tích các tác phẩm văn chương để rút ra những cảnh báo môitrường Đề tài vận dụng những kiến thức cơ bản của các ngành khoa học như:sinh thái học, đạo đức, địa lí, để hiểu và phân tích các tác phẩm
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu Đề tài này
đã tiến hành thực nghiệm sư phạm các biện pháp đã đề xuất nhằm dạy học tíchhợp các văn bản thơ trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm phêbình sinh thái Kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của các biện
Trang 14pháp này đối với mục tiêu dạy học trong điều kiện dạy học tại các trường Tiểu học hiện nay.
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp các văn bản thơ
trong phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học từ góc nhìn phê bình sinh thái
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Lí luận về dạy học tích hợp
1.1.1.1 Tích hợp là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, những
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [13].
Ý kiến khác cho rằng: Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.
Trong Tiếng Anh, tích hợp được viết là “intergraytion” một từ gốc Latinh
có nghĩa là “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khácnhau, các thành phần khác nhau của hệ thống để đảm bảo chức năng hài hòa vàhoạt động tiêu chuẩn của hệ thống đó
Nói ngắn gọn tích hợp là một hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ,huy động các yếu tố, nội dung gần và giống nhau, có liên quan tới nhau củanhiều lĩnh vực để giải quyết, làm sáng tỏ vấn đề và cùng một lúc đạt được nhiềumục tiêu khác nhau
1.1.1.2 Bản chất của phương pháp dạy học tích hợp:
Theo từ điển Tiếng Việt: “(Dạy học) tích hợp là hành động liên kết các
vấn đề giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực khác nhau trong một bài học” [13].
Dạy học tích hợp là một phương pháp dạy học nhằm hình thành ở học sinhnhững năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huyđộng nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cũng
có nghĩa là đảm bảo để mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức
Trang 16học được trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ qua đótrở thành một người công dân có trách nghiệm, một người lao động có nănglực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học trong nhà trường phải được gắn với cáctình huống trong đời sống mà sau này học sinh có thể đối mặt vì thế nó trở nên
có ý nghĩa đối với các em Với cách hiểu như vậy, dạy học tích hợp phải đượcthể hiện ở cả nội dung chương trình, phương pháp dạy học, hình thức tổ chứcdạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá
Như vậy, thực hiện dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành vàphát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò của ngườichủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai
Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy học phát huy tínhtích cực của học sinh Học sinh cần huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống, thôngqua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những nănglực cần thiết nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn
Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích hợp đó là:
- Việc thiết lập các mối liên hệ theo một logic nhất định, những kiến thức,
kĩ năng khác nhau đến thực hiện một hoạt động phức hợp
- Lựa chọn thông tin kiến thức, kĩ năng cần cho học sinh thực hiện đượccác hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hằng ngày, làmcho học sinh hòa nhập vào thế giới cuộc sống; làm cho quá trình học tập mangtính mục đích rõ rệt
- Nhà trường không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ màphải hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lí, tổ chức sử dụng kiến thức
để giải quyết vấn đề trong các tình huống có ý nghĩa
Trang 17- Cùng với đó, khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức,
kĩ năng rời rạc làm cho con người trở nên “mù chữ chức năng", nghĩa là có thểnhồi nhét được nhiều thông tin nhưng không dùng được
Như vậy dạy học tích hợp là cách giảm tải kiến thức không thực sự có giátrị sử dụng, những kiến thức trùng lặp, tạo điều kiện để tăng kiến thức mới cóhữu ích hơn Để lựa chọn kiến thức đưa vào chương trình các môn học, trướchết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho học sinh biết huy động, tổnghợp kiến thức vào giải quyết vấn đề Nhờ vậy mà học sinh được bổ sung tri thức
Bước 2: Biên soạn giáo án tích hợp
(1) Xác định mục tiêu của bài học: xác định các chuẩn kiến thức, kỹ năng
và thái độ
(2) Xác định nội dung bài học: dựa vào mục tiêu sẽ chọn lọc nội dungtrình bày ngắn gọn, súc tích, tránh đưa vào bài quá nhiều kiến thức mà khôngphân biệt được kiến thức chính yếu với kiến thức thứ yếu hoặc ngược lại làmbài dạy tích hợp sơ lược, thiếu trọng tâm Ngoài ra, dựa vào mục tiêu để biếtcách sắp xếp, trình bày nội dung kiến thức một cách dễ hiểu, mạch lạc, logic,chặt chẽ, giúp học sinh hiểu bài và ghi bài một cách dễ dàng
- Xác định được các tiểu kỹ năng cần thực hiện trong bài học
- Xác định những kiến thức liên quan đến các tiểu kỹ năng
(3) Xác định các hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh -
Hoạt động dạy học và học tập trung hướng tới mục tiêu
- Học sinh phải hình thành và phát huy năng lực hợp tác
Trang 18- Để học sinh nêu cao trách nhiệm trong quá trình học.
- Học sinh phải tìm kiếm thông tin
- Học sinh bộc lộ năng lực
- Học sinh rèn luyện để hình thành kỹ năng nghề
Từ việc xác định hoạt động dạy học trên thì người giáo viên sẽ lựa chọn được phương pháp học phù hợp cho từng bài dạy
(4) Xác định các phương tiện dạy học sử dụng trong bài dạy: Căn cứ vàonội dung và phương pháp dạy học mà giáo viên lựa chọn các phương
tiện dạy học nhằm tổ chức tốt các hoạt động dạy - học của bài học
(5) Xác định thời gian cho mỗi nội dung của giáo án Trong việc đánh giáthời gian thực hiện giáo án cần chú trọng thời gian dạy - học tiểu kỹ năng
(6) Rút kinh nghiệm sau khi thực hiện giáo án: Công tác chuẩn bị, quátrình thực hiện, kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinhlĩnh hội được
Bước 3: Thực hiện bài dạy tích hợp
Bài dạy tích hợp tương ứng với kỹ năng, kỹ năng là năng lực hay khả năngcủa chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểubiết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi Trong kỹ năngnày thường gồm nhiều tiểu kỹ năng Vì vậy, để thực hiện bài dạy tích hợp, giáoviên cần dạy từng tiểu kỹ năng
Bước 4: Kiểm tra đánh giá
- Học sinh: Thực hiện bài kiểm tra về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mục tiêu bài học đề ra
- Giáo viên: Từ kết quả kiểm tra mà học sinh đạt được, giáo viên sẽ điềuchỉnh nội dung, thay đổi phương pháp dạy học để chất lượng dạy - học
ngày một tốt hơn
Trang 19Kết luận: Trên đây là 4 bước cơ bản để tổ chức dạy học tích hợp Bốnbước này có mối quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau, giúp người giáo viên tổchức dạy học tích hợp thành công.
1.1.1.3 Dạy học tích hợp môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Đáp ứng những thay đổi quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội thì mụctiêu và nhiệm vụ của giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng cũngcần phải thay đổi, và sự thay đổi ấy bắt đầu từ việc đổi mới chương trình vàsách giáo khoa phổ thông
Hiện nay chương trình môn Tiếng Việt Tiểu học 2000 đã được đưa vàogiảng dạy chính thức từ lớp 2 đến lớp 5 Mục tiêu của môn Tiếng Việt Tiểu họcđược nêu rõ:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt vàcung cấp những kiến thức sơ giản, gắn trực tiếp với việc học tiếng Việt nhằmtạo ra ở học sinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập ở Tiểu học và các bậc họccao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
- Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản: phân tích, tổng hợp, phán đoán
- Cung cấp những hiểu biết về xã hội, tự nhiên, con người, vẻ văn hoá vàvăn học của Việt Nam cũng như nước ngoài Từ đó góp phần bồi dưỡng tìnhyêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải hình thành lòng yêu mến, giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt Từ đó góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam: cótri thức, có lối sống lành mạnh và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hộisau này
Quan điểm dạy học tích hợp là điểm khá khác biệt của chương trình vàsách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học mới Tích hợp trong sách giáo khoa TiếngViệt là sự kết hợp hữu cơ, có hệ thống ở từng mức độ khác nhau các kiến thức ởcác phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện,
Trang 20Tập làm văn Văn bản của tiết Tập đọc có thể được sử dụng làm ngữ liệu để viếtchính tả, để kể chuyện, để xây dựng kiến thức mới trong các tiết học Luyện từ
và câu hay được xem như bài văn mẫu để học sinh vận dụng Đồng thời, cáckiến thức và kĩ năng của các phân môn còn lại giúp cho việc đọc, tìm hiểu bài ởcác văn bản Tập đọc có hiệu quả hơn
Về vấn đề này, tôi xin chỉ ra một số điểm khác biệt giữa dạy học tích hợp
và dạy học truyền thống:
Nội dung Dạy học tích hợp Dạy học truyền thống
học hay một bài tập nhiều lĩnh hội tri thức, qua đó hình
Quan niệm mảng kiến thức và kĩ năng thành kiến thức, kĩ năng, kĩ
cường hiệu quả giáo dục, tiếtkiệm thời gian, công sức
Bản chất thức cho học sinh để các em thức của mình cho học sinh
tự tìm ra kiến thức mới
sống thực tế, hoà nhập với xã thức về đời sống xã hội để
Mục tiêu hội, góp phần phát triển cộng các em thích ứng với cuộc
- Quan tâm đồng thời cả kiến - Đề cao việc truyền thụ lý Nội dung thức lý thuyết và kỹ năng thực thuyết kiến thức hơn là vận
Trang 21- Nguồn cung cấp tri thức đa - Nguồn cung cấp tri thức còndạng: sách giáo khoa, đời hạn chế: sách giáo khoa, vở
internet, kinh nghiệm sống,…
- Chú trọng đến sự hiểu biếtcủa học sinh cũng nhƣ vấn đề
mà các em quan tâm
Học sinh tự hoạt động để chép”: học sinh tiếp thu kiến
thức của mình
Phương - Phong phú, hấp dẫn và sinh - Chủ yếu là qua sách giáo
động: giáo án điện tử, tranh khoa
tiện dạy
học
quan,…
Hình thức - Học sinh hoạt động cá nhân, - Đa số học sinh chỉ hoạt
Trang 22Như vậy, dạy học tích hợp giúp học sinh tích cực học tập và linh hoạt vậndụng các kiến thức lí thuyết vào thực hành hơn Dạy học theo quan điểm này tạođiều kiện để phát triển tri thức, kĩ năng tốt Xu hướng tích hợp nhằm rèn luyện
tư duy tổng hợp cho học sinh Đó cũng là con đường hình thành cho các emcách nhìn nhận, khái quát vấn đề tổng hợp nhất
Tuy có những ưu điểm vượt trội như trên, song dạy học tích hợp cũng cómột vài nhược điểm mà chủ yếu là do nó còn mới mẻ nên đã gây ra khó khăntrong việc ứng dụng vào dạy học, cũng như việc hiểu không đầy đủ về xuhướng dạy học này Cụ thể như sau:
- Khi dạy học theo quan điểm tích hợp, người thiết kế kế hoạch giảng dạyphải có suy nghĩ về chương trình, về sách giáo khoa một cách đầy đủ, có cáinhìn tổng hợp để tích hợp đúng mức nội dung, kiến thức, kỹ năng Hơn nữa phải
có sự hiểu biết về cách đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đội ngũ giáo viên chưa được trang bị đầy đủ về cả lý thuyết và kỹ năng giảng dạy nên chưa đáp ứng được các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra
- Ngoài ra, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về chương trình giảng dạy theoquan điểm tích hợp, có ý kiến cho rằng kiến thức và kỹ năng bộ môn khôngđược sâu sắc như khi học các môn riêng lẻ
1.1.2 Khái lược về phê bình sinh thái
1.1.2.1 Khái niệm phê bình sinh thái
Phê bình sinh thái (tên Tiếng anh là Ecocriticism) là ngành nghiên cứu về
văn học và môi trường từ quan điểm liên ngành, ở đó các học giả văn học phântích các văn bản minh họa cho các mối quan tâm về môi trường và khảo sát cáccách thức khác nhau mà qua đó văn học giải quyết chủ đề tự nhiên Một số nhàphê bình sinh thái tập trung hướng đến những cách giải quyết khả hữu dành cho
sự sửa chữa các thực trạng môi trường hiện nay, mặc dù không một nhà phêbình sinh thái nào đồng thuận về mục đích, phương pháp luận và phạm vi củaphê bình sinh thái Ở Mỹ, phê bình sinh
Trang 23thái thường được gắn liền với Hội Nghiên cứu văn học và môi trường (ASLE),đây là nơi gặp gỡ và trao đổi giữa các học giả quan tâm đến các vấn đề về môitrường ở trong văn học.
Phê bình sinh thái là một thuật ngữ không mới trên văn đàn thế giới, nhàphê bình William Rueckert đánh giá sinh thái học như là một khoa học, nhưmột quy tắc, như cơ sở cho tầm nhìn của con người, thích đáng nhất đối vớihiện tại và tương lai của thế giới Nhà phê bình sinh thái hàng đầu Cheryll
Glotfelty cho rằng: Phê bình sinh thái là phê bình bàn về mối quan hệ giữa văn
học và tự nhiên Phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm để nghiên cứu văn học [8] Theo Vương Nặc thì “văn học sinh thái là loại văn học lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy
cơ sinh thái” [9].
Theo những quan điểm đó, phê bình sinh thái là một sự kết hợp giữa vănhọc và khoa học tự nhiên, những vấn đề nhân văn, nghệ thuật với những vấn đềvật lí, sinh học, địa lý Phê bình sinh thái tác động đến nhận thức của con người,thay đổi cách nhìn và ứng xử của chúng ta đối với giới tự nhiên, tất cả vì mộtmôi trường thân thiện, xanh sạch, trong lành Nhiều nước trên thế giới nhưAnh, Mỹ, Úc, Nhật Bản, Trung Quốc đã đón nhận lí thuyết này rất nhiệt tình
vì tính nhân văn của nó Một trong những chủ trương của phê bình sinh thái là:tiến hành đọc lại các tác phẩm trong quá khứ, tìm ra ý nghĩa sinh thái tiềm ẩntrong đó, tất nhiên, cũng bao hàm việc chỉ ra những hạn chế của nó trong tươngquan với chỉnh thể sinh thái Như vậy, sẽ góp phần bổ sung cho những khuyếtthiếu trong lịch sử nghiên cứu văn học n hân loại
Về một số đặc trưng tiêu biểu của phê bình sinh thái, Grey Garrard trong
Phê bình sinh thái (Ecocriticism The New Critical Idiom) đã đề cập đến diễn
ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ các phương diện như: ô
Trang 24nhiễm, nơi chốn, điền viên, hoang dã, tận thế, cư trú, động vật, trái đất Ông cho
rằng: Sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa
học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên, đã dẫn đến nguy cơ sinh thái như thế nào [7].
Từ đây có thể thấy, phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứumang đậm tinh thần phê phán văn hóa Phê bình sinh thái muốn hướng đến cảicách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thứcsản xuất, mô hình phát triển, xây dựng văn minh sinh thái
1.1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của phê bình sinh thái
Đứng trước những vấn nạn về môi trường toàn cầu hiện nay, nhân loại cầndũng cảm thừa nhận một điều rằng: “chúng ta đã bỏ quên mất tự nhiên trong quátrình sinh tồn và phát triển của mình” Từ rất lâu trong tất cả các giáo thuyết tồntại của mọi tôn giáo đều đã đề cập, cũng như nói lên mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên, với “đất mẹ, chúa trời” Thế nhưng, khi tiếp thu những tưtưởng trên, nhân loại lại thiên về vị kỉ hơn là vị tha, nhấn mạnh việc đề cao conngười, giá trị con người mà xem nhẹ thế giới tự nhiên Tự nhiên trở thành đốitượng tiêu dùng của con người Những “thành tích” chế ngự thiên tai, chinhphục tự nhiên giúp loài người viết nên những trang “thần thoại hiện đại” về sứcmạnh con người Từ đó họ kiêu hãnh cho mình là chủ trái đất này, đó là sựthắng thế của chủ nghĩa nhân loại trung tâm
Tuy nhiên, con người là những “ông bà chủ” có quá nhiều tham vọng.Trong “cơn điên tăng trưởng” của thời hiện đại, vì lợi ích của mình, họ khôngdừng ở việc hưởng lợi từ tự nhiên mà còn khai thác tận diện, bóc lột tự nhiên.Hành động đi ngược lại quy luật tự nhiên đã khiến cho người phải trả giá rấtđắt Trong những nỗi bất an, khủng hoảng của con người thời hiện đại khôngchỉ có chiến tranh, khủng bố mà còn có thảm họa môi trường - thảm họa mangtính bất ngờ và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người
Trang 25Trước vấn nạn đó, tất cả các ngành khoa học khác nhau đang hướng sự chú
ý của mình vào môi trường sinh thái, nhằm thức tỉnh nhân loại và ngăn chặn những nguy cơ đe dọa sinh thái
Từ nửa sau thế kỉ 20, nhân loại bắt đầu nhận ra rằng chỉ dựa vào khoa học
-kĩ thuật thì không thể giải quyết được mối quan hệ căng thẳng giữa con người
và tự nhiên, hoặc thay đổi thái độ sống của con người mà cần dựa vào khoa họcnhân văn Các nhà sử học kêu gọi: đừng coi tự nhiên như là sân khấu cho vởdiễn của con người, mà là một diễn viên ngang hàng trong tấn kịch ấy; các nhànhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và địa lí; các nhà tâm lí họcthừa nhận sự bất hòa giữa con người và tự nhiên là nguồn gốc của các căn bệnh
xã hội, bệnh tâm lí; các nhà triết học đề xuất các vấn đề về sinh thái học xã hội,sinh thái học, luân lí học…
Còn văn học thì sao? Văn học từ xưa đến nay ca ngợi bao hành động đều
là khẳng định vị thế chúa tể muôn loài, khát vọng chinh phục tự nhiên Nên vănhọc cũng có lỗi trong việc khiến trái đất ngày càng trở nên kiệt quệ Vậy để
“chuộc lỗi”, văn học và các nhà nghiên cứu văn học đã làm gì?
Theo học giả Kate Rugby, trong tiểu luận Phê bình sinh thái (Ecocricism)
ở chương 7 của công trình giới thiệu phê bình đầu thế kỉ 20 do Julian Wolfreys
chủ biên, các nhà phê bình văn học là những người “phản ứng chậm” [5].Những nghiên cứu văn học thế kỷ 20 vẫn là những mối bận tâm đến con người:phê bình nữ quyền, phê bình phân tâm học,… lí thuyết tiếp nhận mà bỏ ra ngoàimột sự thực: trái đất đang lâm nguy Dù vậy từ những năm 70 của thế kỉ 20 cómột số nhà nghiên cứu văn học và văn hóa đã phát triển lí thuyết và phê bình vềphương diện sinh thái Các nghiên cứu của họ được coi là những “nghiên cứutrước tác về tự nhiên” tản mạn dưới những tên gọi khác nhau như: chủ nghĩađồng quê, sinh thái học con người, chủ nghĩa địa phương, tự nhiên và văn học,
…
Tuy nhiên những năm này đã xuất hiện một số tác phẩm quan trọng đối vớilịch sử của phong trào phê bình sinh thái Năm 1985, Frederick
Trang 26O.Waage biên tập cuốn sách mang tên Giảng dạy văn học môi trường: Tài liệu,
phương pháp và tiềm năng Cuốn sách này có ảnh hưởng rất lớn dến văn học
trong và ngoài nước, kích thích các giáo sư ở Mỹ biên soạn các môn học liên
quan văn học sinh thái và tiến hành nghiên cứu lĩnh vực này Bản tin văn học
Mỹ về đề tài tự nhiên (1989) của Alicia Nitecki, công bố các bài luận vắn tắt,
điểm sách và những thông tin liên quan đến nghiên cứu cách viết về tự nhiên vàmôi trường
Nhưng phải đến mãi những năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự pháttriển Phiên họp đặc biệt nổi tiếng của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại
vào năm 1991 được thành lập bởi Harold Fromm có chủ đề Phê bình sinh thái:
xanh hóa nghiên cứu văn học đã thực sự tạo được tiếng vang và thúc đẩy hưởng
nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ Năm 1994, Kroeber cho xuất bản chuyên
luận Phê bình văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh
thần đề xướng khái niệm “phê bình văn học sinh thái” và “phê bình mang
khuynh hướng sinh thái” [19]
Nếu như phê bình sinh thái Mỹ thiên về ca ngợi thiên nhiên thì phê bìnhsinh thái Anh lại thiên về cảnh báo về môi trường Học giả giữ vai trò tiên
phong trong việc khai phá trào lưu này là Jonathan Bate - tác giả của cuốn Sinh
thái học lãng mạn: truyền thống (văn học) môi trường (1991) Sau đó, có khá
nhiều công trình nghiên cứu về phê bình sinh thái Trong đó, đáng chú ý có:
tuyển tập Phê bình sinh thái và văn học do hai nhà phê bình người Anh R.
Kerridge và N Sammells chủ biên được xuất bản tại Luân Đôn vào năm 1998.Đây là bộ sách tuyển tập phê bình sinh thái đầu tiên tại Anh, gồm 3 phần và 15chương đề cập các nội dung: Lý luận phê bình sinh thái, Lịch sử phê bình sinhthái và Văn học sinh thái đương đại [12]
Sang thế kỉ 21, càng lúc càng có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về phê bình
sinh thái được công bố Tuyển tập Nghiên cứu xanh - từ chủ nghĩa lãng mạn
đến phê bình sinh thái (2000) do Laurence Coupe biên tập chỉ ra sự khác biệt
trong quan điểm giữa phê bình sinh thái Mỹ và Anh Cuốn Lý luận
Trang 27khởi điểm: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa (2002) do Peter Barry
soạn được xuất bản lần thứ 2 ở Nhà xuất bản đại học Manchester, có thêm mộtchương mới là “Phê bình sinh thái” Chương sách giới thiệu một cách toàn diện
sự ra đời, thuật ngữ, hàm nghĩa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinhthái và thực tiễn phê bình sinh thái Một cuốn sách được nhắc đến nhiều gần đây
là Sự mơ hồ sinh thái: Khủng hoảng môi trường văn học các nước phương
Đông Á (2012) của Karen Throber Mở rộng diện quan tâm của phê bình sinh
thái, bà khẳng định rằng tình yêu thiên nhiên trong các văn bản văn chươngĐông Á ẩn dấu những ngộ nhận không nhỏ dẫ n đến những bất công môi trường[15]
Như vậy, trào lưu nghiên cứu phê bình sinh thái từ những nghiên cứuriêng lẻ đã phát triển rộng khắp trên toàn thế giới Phong trào này không chỉđược khởi xướng mà còn khá phát triển ở một số trường đại học và được đưavào chương trình giảng dạy một số nội dung nhất định Từ đây, phê bình sinhthái trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm với nhiều nghiên cứu đượccác học giả lần lượt công bố Hệ thống lý luận về phê bình sinh thái cũng ngàycàng được hoàn thiện: chức năng, nhiệm vụ, các hướng nghiên cứu chính đượcchỉ rõ
Từ đó trong bối cảnh toàn cầu hóa, phê bình sinh thái đã nhanh chóng pháttriển và trở thành chuyên ngành nổi bật của nghiên cứu văn học ngày nay, đồngthời trở thành một hiện tượng phê bình văn học mang tính toàn cầu Đối tượng,phương pháp cũng như trọng tâm nghiên cứu phê bình sinh thái không bất dibất dịch mà ngày càng mở rộng và phức tạp Tuy nhiên, sứ mệnh của nó là bấtbiến: Góp phần thay đổi thái độ của nhân loại với tự nhiên
1.1.2.3 Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam
Có thể không còn gì xa lạ trong nền văn học đương đại thế giới, nhưng
ở Việt Nam phê bình sinh thái là một trong những thuật ngữ và hiện tượng mới
mẻ Ở Việt Nam sau khi đổi mới, giới nghiên cứu văn học khá cởi mở
Trang 28trong việc tiếp thu, giới thiệu các lý thuyết văn học phương Tây đương đại, nhưng lại rất thận trọng đối với phê bình sinh thái.
Trong đời sống văn học thực tế, những tác giả Việt Nam hiện đại chưathực sự có một ý thức rõ ràng trong việc khai thác yếu tố thiên nhiên, mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên để đưa vào những tác phẩm văn học theo đúngtinh thần của phê bình sinh thái Văn học Việt Nam sau năm 1975 mải mê vớihiện thực cõi nhân sinh với những đề tài thời sự: phơi bày những mặt trái củahiện thực, phê phán xã hội, khiến cho tinh thần sinh thái văn học có nguy cơ
xuống dốc Dường như “ít có bóng cây cỏ trên đường đi của lũ nhân vật” (Cây
Hà Nội – Nguyễn Tuân), con người đã bỏ rơi thiên nhiên Sự thiếu văn tự nhiên
khiến cho môi trường văn học trở nên khô khan, ngột ngạt bởi những toan tính,lừa lọc, xảo trá của đời sống cuống quýt, vội vã Nghệ thuật phải thông qua miêu
tả mối quan hệ giữa con người và tự nhiên để tạo nên sức hút, sức sống
Tuy nhiên, văn học Việt Nam hiện đại vẫn có những tác phẩm có khuynh
hướng phê bình sinh thái như Sống mãi với cây xanh (Nguyễn Minh Châu);
Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Cánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy, Nước như nước mắt (Nguyễn Ngọc Tư), Thập giá giữa rừng sâu (Nguyễn Khắc
Phê), Chuyến đi sắn cuối cùng (Sương Nguyệt Minh)
Các tác phẩm này đã có ý tưởng sinh thái và đã rung lên những hồi chuông về
sự khủng hoảng môi trường, những nỗi đau, niềm tuyệt vọng trước cái mongmanh của sự cân bằng tạo hóa và cắt nghĩa căn nguyên của những thảm họa sinhthái [19]
Tháng 3 năm 2011, Viện Văn học tổ chức một hội thảo thuyết trình giớithiệu về vấn đề phê bình sinh thái Trong buổi thuyết trình, có sự đóng góp quan
trọng của Karen Thronber với bài giảng Ecocriticism Nội dung bài giảng giới
thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu vănchương môi trường và 6 điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm Học giảnhấn mạnh: nếu như thời kì đầu phê bình sinh thái chủ
Trang 29yếu tập trung vào “những biểu đạt văn chương về thế giới tự nhiên” thì thời kìthứ hai quan tâm đến vấn đề “công bằng môi trường”, kết nối “những liên hệcấu trúc giữa vấn đề xã hội và vấn đề môi trường”.
Bản dịch của Hải Ngọc “Những tương lai của phê bình sinh thái và văn
học của Karen Thornber” trong tập “Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình các nền văn học, văn hóa và môi trường” [15] đã cung cấp một vài gợi ý về
phong trào này đối với tình hình cụ thể ở Đông Á Theo dịch giả, Karen
Thornber đã sáng tạo ra khái niệm ecoambiguity (mơ hồ sinh thái) - phản ánh
đặc trưng phổ biến của diễn ngôn về môi trường, thiên nhiên trong các nền vănhóa Đông Á Karen Thornber chỉ ra: sự suy thoái môi trường ở Đông Á khôngphải chỉ đến thế kỉ 21 mới xảy ra mà thực chất đã “kế thừa cả hàng ngàn nămmôi trường bị thoái hóa nghiêm trọng” Sự ngộ nhận này đã dẫn đến nhữngnhận thức sai lệch và cách ứng xử chưa phù hợp đối với môi trường của conngười trong khu vực Gợi dẫn của Karen Thornber yêu cầu cần lưu ý đến mốiquan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn học ở các nền văn hóa
Bên cạnh đó, bước đầu đã có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề sinh
thái trong tác phẩm của các nhà văn Việt Nam đương đại Luận văn Cảm quan
sinh thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Thị Thu Giang nghiên
cứu về mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên - một nội dung phản ánh cơ
bản của dòng văn học sinh thái Luận văn Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình
sinh thái (qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Ngọc Tư) của Đặng Thị Thái Hà [5] vận dụng khái niệm “mơ hồ sinh thái” vàonghiên cứu Trong đó, một nội dung được tìm hiểu kĩ là sự gắn kết giữa phêbình sinh thái và phê bình xã hội trên các phương diện: cảm thức hậu chiến, cảmthức tâm linh, ý niệm văn minh và sự mong manh của tồn tại
Luận văn Truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái của
Trịnh Thùy Dương [4] áp dụng lý thuyết phê bình sinh thái vào tìm hiểu
Trang 30truyện ngắn của nhà văn dân tộc Tày Từ đó, đề xuất một hướng “đọc” truyện
ngắn của cây bút này Luận văn Thiên nhiên trong sáng tác của Nguyễn Khuyến
dưới góc nhìn phê bình sinh thái của Đinh Thị Nhàn [12] vận dụng lý thuyết phê
bình sinh thái vào tìm hiểu thiên nhiên như là mộ t biểu tượng, một thực thể vừasong hành vừa phản chiếu bi kịch tinh thần của thi sĩ
Sáng tác và phê bình sinh thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam của Nguyễn Thị Tịnh Thy [17] là một bài viết khá công phu, đề cập một số
nội dung cơ bản như khái niệm, đặc điểm của văn học sinh thái Đồng thời, giớithiệu một số sáng tác mang cảm hứng sinh thái trong văn học Việt Nam hiện đại.Tuy nhiên, tác giả cho rằng: văn học Việt Nam vẫn thiếu những tác phẩm vănhọc sinh thái đích thực và việc vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào nghiêncứu văn học cũng chưa đạt được nhiều thành tựu Đây chính là “tiềm năng” cầnđược tiếp tục khai thác và phát triển của nền văn học dân tộc đương đại
Ngoài ra, một số nghiên cứu: Phóng sự Việt Nam trong môi trường sinh
thái văn hóa thời kì đổi mới (Nguyễn Thị Bích Liên), Tản văn Việt Nam thế kỉ
XX từ cái nhìn thể loại (Lê Trà My) đã tìm hiểu về một số thể loại văn học trên
cơ sở sinh thái văn hóa (culture ecology) và Phê bình sinh thái tinh thần (Trần
Đình Sử), là hướng nghiên cứu rộng của phê bình sinh thái
Tuy nhiên, việc biên dịch các tài liệu lí thuyết liên quan và ứng dụng líthuyết này vào nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn ban đầu Số lượngcác nghiên cứu và bài viết liên quan đến phê bình sinh thái được giới thiệu vàcông bố chưa nhiều và còn tản mạn Nhìn chung còn thiếu những công trìnhnghiên cứu, dịch thuật chuyên sâu hơn về phong trào sinh thái Đây là mộtnhiệm vụ đặt ra cho đội ngũ học giả nghiên cứu văn học nói chung và nhữngnhà văn nói riêng
Trang 311.1.3 Vấn đề sinh thái trong các văn bản thơ thuộc chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
Đặc điểm quá trình tri giác của học sinh Tiểu học: Tri giác của học sinh
tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định,
do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và
có khi còn lẫn lộn [6] Tri giác về thời gian và không gian cũng như ước lượng
về thời gian và không gian của học sinh Tiểu học còn hạn chế
Đặc điểm chú ý của học sinh Tiểu học: Chú ý có chủ định của học sinh
Tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Đếncuối bậc Tiểu học thì các em đã có thể duy trì chú ý có chủ định ngay cả khi chỉ
có động cơ xa (như các em chú ý vào công việc khó khăn nhưng không hứngthú vì biết chờ đợi kết quả trong tương lai) [6]
Chú ý không chủ định của học sinh Tiểu học phát triển nhờ những thứmang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường, dễ lôi cuốn sự chú ý của các
em, không có sự nỗ lực của ý chí Chú ý có chủ định phát triển cùng với sự pháttriển của động cơ học tập, cùng với sự trưởng thành
Đặc điểm trí nhớ của học sinh Tiểu học: Các em có trí nhớ trực quan –
hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì lứa tuổi nàyhoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các em tương đối chiếm ưu thế Các
em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốthơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời [6]
Đặc điểm quá trình tưởng tượng của học sinh Tiểu học: Tưởng tượng là
một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh Tiểu học Tưởngtượng của học sinh Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổimẫu giáo lớn [6] Nó được hình thành và phát triển trong quá trình học tập vàtrong các hoạt động khác của các em Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh Tiểuhọc còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng
Trang 32tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậcTiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn.
Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học: Tư duy của trẻ em mới đến trường
là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiệntượng cụ thể [14] Ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng tư duy trừu tượng kém Phầnlớn các em tư duy phải dựa trên mô hình, vật thật, tranh ảnh
Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học: Những nét tính cách của các
em mới được hình thành, chưa ổn định nên có thể thay đổi dưới tác động củagia đình, nhà trường và xã hội [18]
“… Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên ”
(Hồ Chí Minh)
Những ảnh hưởng của hệ thần kinh cấp cao biểu lộ khá rõ trong hành vicủa học sinh Tiểu học như: tính nhút nhát, tính cô độc (xa lánh mọi người) cóthể là sự biểu hiện trực tiếp của thần kinh yếu; tính nóng nẩy, không bình tĩnh cóthể là sự biểu hiện trực tiếp của quá trình ức chế thần kinh yếu
Ở lứa tuổi này dễ nhận ra tính xung động trong hành vi của các em(khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động ảnh hưởng từ bên trong
và bên ngoài) Do vậy mà hành vi của học sinh Tiểu học dễ có tính tự phát, dễ viphạm nội quy và thường bị xem là vô kỉ luật
Tính cách của học sinh Tiểu học có nhược điểm là bất thường, bướngbỉnh Đó là hình thức độc đáo phản ứng lại yêu cầu của người lớn, những yêucầu mà các em xem là cứng nhắc, để bảo vệ cái mình “muốn” thay cho cái mình
“cần phải”
Học sinh Tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên,ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha Hồn nhiên trong quan hệ với mọingười, thầy cô, với người lớn, với bạn bè Vì hồn nhiên nên trẻ em cả tin, tinvào thầy cô, tin vào sách, tin vào người lớn, và tin vào khả năng của
Trang 33bản thân Niềm tin của học sinh Tiểu học còn cảm tính, chưa có lí trí soi sángdẫn dắt Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục học sinh của mình,nhưng cần luôn nhớ rằng mọi điều đưa đến cho các em phải đúng, chính xác, vìnếu không thì khi trẻ đã có niềm tin vào điều gì đó, khi niềm tin được định hình,khắc sâu thì rất khó thay đổi cho dù điều đó là sai.
Ở lứa tuổi này, tính bắt chước của các em vẫn còn đậm nét Các em bắtchước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người mà các em coi là “thầntượng” , kể cả những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh Tính bắt chướccủa trẻ lợi hại như “con dao” hai lưỡi, cũng có thể tích cực, cũng có thể “lợi bấtcập hại” Chính vì vậy mà giáo viên cần hiểu biết thấu đáo và biết tận dụng tínhbắt chước của trẻ để giáo dục các em có hiệu quả Học
sinh Tiểu học thích hoạt động và thích làm việc gì đó phù hợp với mình, nên cóthể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động: lao động tự phục vụ vàtrợ giúp người lớn những việc phù hợp tâm sinh lí Hoạt động lao động còn hìnhthành cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòisáng tạo, tính tiết kiệm, tình cảm đối với người lao động
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học: Bắt đầu bước vào lứa tuổi học
sinh Tiểu học, nhu cầu nhận thức của trẻ em phát triển và thể hiện rõ nét, đặcbiệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ liênquan [18]
Đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học: Tình cảm là một mặt rất quan
trọng trong đời sống tâm lí, trong nhân cách mỗi người Đối với học sinh Tiểuhọc, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạtđộng của trẻ em Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãmcảm xúc của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trìnhnhận thức: quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy [14] Hoạt động trí tuệ củacác em đượm màu sắc xúc cảm, tình cảm của học sinh Tiểu học còn mongmanh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Các em đang ưa
Trang 34thích đối tượng này, nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì các em dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên đối tượng cũ.
1.1.3.2 Vấn đề sinh thái trong các văn bản thơ thuộc phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Đối với vấn đề này, tôi đã tiến hành khảo sát tất cả các văn bản thơ có trongchương trình Tiếng việt ở Tiểu học, chỉ ra và liệt kê các văn bản có đề cập tớicác khía cạnh sinh thái Từ việc khảo sát chúng tôi có bảng danh sách sau:
Bảng 1.1 Các văn bản thơ có đề cập tới vấn đề sinh thái trong
chương trình Tiếng Việt lớp 2
của học sinh
1 Đàn gà mới nở yêu của những chú gà thương các loài động
(Phạm Hổ) con bên cạnh sự bảo vệ, vật
âu yếm của gà mẹ
- Biết được tên và đặc
2 Vè chim - Tên gọi và đặc điểm điểm một số loại chim
(Vè dân gian) của các loài chim - Giáo dục tình yêu
động vật
Bé nhìn biển - Trong mắt bé: biển to, - Yêu quý vẻ đẹp của
3 (Trần Mạnh rộng mà ngộ nghĩnh như sông biển, vẻ đẹp của
Trang 35- Miêu tả cây dừa giống - Biết đặc điểm của
như con người luôn gắn
bó với đất trời và thiên
nhiên
cối
5 Tiếng chổi tre đường phố sạch đẹp đường phố sạch đẹp
(Tố Hữu) - Lòng biết ơn và quý
trọng của tác giả dànhcho người lao công
Bảng 1.2 Các văn bản thơ có đề cập tới vấn đề sinh thái trong
chương trình Tiếng Việt lớp 3
của học sinh
Mùa thu của em - Tình cảm yêu mến của
(Quang Huy) bạn nhỏ dành cho mùa
thiên nhiênthu
(Đỗ Trung Quân) sắc, đã làm cho ta lớn
- Giáo dục tình yêulên và trưởng thành
quê hương, đất nước
Trang 36- Biết thêm một số câu
Cảnh đẹp non - Sự giàu đẹp của các ca dao về quê hương
Vàm Cỏ Đông Vàm Cỏ Đông - Niềm tự hào, yêu quý
(Hoài Vũ) - Niềm tự hào và tình
giả đối với dòng sông
- Miêu tả Anh Đom
và sinh động
Ngày hội rừng phú, sinh động và đáng loài vật
yêu của các loài vật và
7 Bài hát trồng cây - Cây xanh mang lại cho - Vai trò, ích lợi của
(Bế Kiến Quốc) con người cái đẹp, ích cây xanh
Trang 37lợi và hạnh phúc - Cần phải tích cực
- Biết thêm nhiều loài
Mè hoa lượn sóng vật sống dưới nước - Thêm yêu quý các
8 (Thạch Quỳ) - Đặc điểm của từng loài vật, cần bảo vệ
loài
nhiều loài động vật
rừng cọ
9
(Nguyễn Viết - Tình cảm yêu thương - Yêu quý vẻ đẹp tự
dành cho quê hương
đất nước
Trang 38Bảng 1.3 Các văn bản thơ có đề cập tới vấn đề sinh thái trong
chương trình Tiếng Việt lớp 4
của học sinh
- Tre tượng trưng chocon người Việt Nam
Tre Việt Nam - Ca ngợi những phẩm - Giáo dục tình yêu
1 (Nguyễn Duy) chất tốt đẹp của con thiên nhiên và con
tình yêu, ngay thẳng,chính trực
- Ca ngợi vẻ đẹp thanh
Bè xuôi sông La sông La và thiên nhiên đẹp của quê hương
2 (Vũ Duy Thông) bên bờ sông - Giáo dục tình yêu
dựng quê hương đấtnước trở nên tươi đẹp
- Ca ngợi vẻ đẹp thiên
Đoàn thuyền rộng lớn và sự giàu có ý thức bảo vệ biển
3 đánh cá trù phú của nó - Biết sử dụng các tài
(Huy Cận) - Thể hiện sự hài hòa nguyên của biển một
người lao động
Trang 39- Nỗi thắc mắc của bạnnhỏ về nguồn gốc của
Trăng ơi… từ đâu trăng: từ vườn, từ biển, - Giáo dục tình yêu
từ sân chơi, hay từ lời thiên nhiên, trân trọng
Dòng sông mặc - Ca ngợi vẻ đẹp của - Giáo dục lòng yêu
dòng sông quê hương
Con chim chiền cao vút của chim chiền thiên nhiên: yêu
(Huy Cận)
Trang 40Bảng 1.4 Các văn bản thơ có đề cập tới vấn đề sinh thái trong
chương trình Tiếng Việt lớp 5
của học sinh
- Ca ngợi vẻ đẹp thiên - Giáo dục tình yêu
Trước cổng trời nhiên hoang sơ nơi vùng thiên nhiên
1 (Nguyễn Đình rừng núi sơn cước và - Có những hành động
Tiếng vọng dứt của tác giả vì sự vô
2 (Nguyễn Quang tâm của mình đã gây nên
Thiều) cái chết thương tâm của
loài động vậtchú sẻ nhỏ
Hành trình của - Ca ngợi đàn ong hàng - Giáo dục tình yêu
của đất nước
miền, mọi vùng đất trênquốc
đất nước mình