1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề đô thị hóa và phụ nữ trong truyện ngắn của đỗ phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái

109 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT PHẠM THỊ AN VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ BÌNH DƯƠNG- Năm

Trang 1

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

PHẠM THỊ AN

VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN

TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƯƠNG- Năm 2018

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

PHẠM THỊ AN

VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN

TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM PHƯƠNG CHI

BÌNH DƯƠNG- Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Vấn đề đô thị hóa và phụ

nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất kì ai Mọi nguồn thông tin được

sử dụng trong luận văn được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình

Bình Dương, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Thị An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin cảm ơn TS Phạm Phương Chi (Viện Văn học – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã hướng dẫn tận tình, sát sao, động viên, khích lệ và tin tưởng tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi vô cùng cảm ơn các thầy cô giảng dạy tại khoa Ngữ Văn- trường Đại học Thủ Dầu Một, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học

Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn sự động viên, tạo điều kiện thuận lợi của gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp và người thân!

Bình Dương, tháng 12 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Thị An

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

2.1 Những nghiên cứu chung về Đỗ Phấn 4

2.2 Những nghiên cứu về Đỗ Phấn dưới góc nhìn phê bình sinh thái 5

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Đối tượng nghiên cứu 8

3.3 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN 10

1.1 Giới thuyết chung về phê bình sinh thái 10

1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái 10

1.1.2 Vấn đề đô thị hóa trong phê bình sinh thái 14

1.1.3 Vấn đề phụ nữ trong phê bình sinh thái 18

1.1.3.1.Lịch sử hình thành của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái 18

1.1.3.2 Phụ nữ với việc bảo vệ môi sinh- môi trường 20

1.2 Truyện ngắn của nhà văn Đỗ Phấn 22

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp 22

1.2.2 Đôi nét về truyện ngắn của Đỗ Phấn 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỰ NHIÊN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN 29

2.1 Sự bành trướng lấn át của không gian đô thị 31

Trang 6

2.1.1 Không gian đô thị lấn át không gian làng quê và không gian hoang dã

31

2.1.2 Nguyên nhân gây nên lực át của không gian đô thị 34

2.2 Những tác nhân lên môi trường tự nhiên để phục vụ cho đời sống đô thị 37

2.2.1 Đánh bắt động vật tự nhiên 37

2.2.2 Ảo tưởng du lịch sinh thái 42

2.3 Ý thức nơi chốn và vấn đề người nhập cư 46

2.3.1 Từ làng lên phố: niềm mong mỏi 47

2.3.2 Từ phố về làng: bất đắc dĩ 51

2.4 Đô thị hóa và những chấn thương sinh thái 55

2.4.1 Ô nhiễm môi trường- hệ thống loài bị tổn thương 56

2.4.1.1.Con người: Nỗi đau tâm hồn và thể xác 56

2.4.1.2 Thiên nhiên bị bức tử 61

2.4.2 Ngập lụt, rác thải, kẹt xe, tai nạn- Nỗi ám ảnh thường nhật của người dân phố thị 62

2.4.3 Kiến trúc đô thị- vách ngăn con người và thiên nhiên, tình người với nhau 69

2.4.3.1 Kiến trúc đô thị- vách ngăn con người với thiên nhiên 69

2.4.3.2 Kiến trúc đô thị- vách ngăn tình người 71

Tiểu kết chương 2 75

Chương 3: PHỤ NỮ VÀ TỰ NHIÊN VỚI QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN 76

3.1 Phụ nữ và tự nhiên trong nghiên cứu phê bình sinh thái 76

3.2 Phụ nữ và tự nhiên trong truyện ngắn của Đỗ Phấn 78

3.2.1 Phụ nữ và tự nhiên - Đối tượng bị thống trị, xem thường 78

3.2.2 Phụ nữ bị bóc lột sức lao động 79

3.2.3 Phụ nữ bị áp bức về tình dục 82

3.3 Vai trò của người phụ nữ với môi trường tự nhiên 87

3.3.1 Bảo vệ giống loài tự nhiên 87

3.3.2 Gắn kết nam giới với tự nhiên 88

Tiểu kết chương 3 94

Trang 7

KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lí thuyết phê bình sinh thái xuất hiện từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX, khởi nguồn từ nước Mỹ rồi đến nước Anh và ảnh hưởng đến toàn bộ các nước Phương Tây Tuy nhiên, vấn đề sinh thái không chỉ là vấn đề được quan tâm ở các nước Tây Âu, bởi vì vấn đề khủng hoảng môi trường sinh thái không chỉ diễn

ra ở một quốc gia, một vùng hay một khu vực nào đó mà nó diễn ra trên toàn cầu

Và vì thế, trào lưu phê bình sinh thái lan sang cả châu Á, trong đó có Việt Nam Vấn đề sinh thái, môi trường trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi lĩnh vực, kể

cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI- thế kỉ của nền văn minh hiện đại Nền văn minh hiện đại đem đến cho cuộc sống của con người rất nhiều tiện nghi và thuận lợi Nhưng để có được những thuận lợi tiện nghi đó thì con người can thiệp quá sâu vào môi trường tự nhiên dẫn đến quá nhiều hậu quả thảm hại như: khói bụi, lũ lụt, sạt lở, hạn hán, rừng khô, suối cạn, biển độc; bên cạnh đó là sự suy thoái về đạo đức, hay con người mắc phải những chứng bệnh lạ…Nói một cách khác, nền văn minh hiện đại có tác động tiêu cực không nhỏ đến sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội và sinh thái văn hóa Trước vấn đề mang tính cấp thiết toàn cầu như thế, liệu văn học có đứng ngoài cuộc không? Karen Laura Thornber

đã đặt ra câu hỏi kích thích giới làm văn học không nên thờ ơ trước vấn nạn nguy

cơ sinh thái: “Điều quan trọng và thực sự cấp thiết, là phải phân tích xem văn học, trong ý nghĩa là một dạng thức diễn ngôn, đã có sự giải quyết như thế nào trước những nguyên nhân và hậu quả của quá trình phá hủy sinh thái một cách thản nhiên” (Thornber, 2017b, tr.275) Phê bình sinh thái trở thành hướng nghiên cứu liên ngành, là hướng nghiên cứu mới trong văn học cũng như các sản phẩm văn hóa Nhưng có một nghịch lí, mặc dù phê bình sinh thái ra đời khá lâu (từ những năm 70 của thế kỷ XX), có nhiều diễn văn, tổ chức, hoạt động hô hào bảo

vệ môi trường, giữ cân bằng sinh thái nhưng thực tế ngày hôm nay thậm chí cả

Trang 9

tương lai, con người vẫn phải đang gánh chịu những thực trạng thảm họa môi trường Nghịch lý này vẫn tồn tại đến mức coi như chuyện đương nhiên

Từ năm 1986, Việt Nam bước vào thời kì đổi mới trên mọi lĩnh vực đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể Quá trình “Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa” đất nước làm cho đất nước trở thành một trong những nước phát triển ở khu vực và có vị thế tiếng nói trên trường quốc tế Nhưng bên cạnh đó, con người Việt Nam cũng phải gánh chịu những hậu quả của quá trình “Công nghiệp hóa- hiện đại hóa”: những cánh đồng, những khu rừng phải nhường chỗ cho các khu công nghiệp; những dòng sông, những tài nguyên khoáng sản phải phục vụ cho nhu cầu lưới điện quốc gia, con người luôn bị hít phải bầu không khí ô nhiễm, ăn phải những thức ăn còn dư lượng chất độc, sinh vật chết hàng loạt, Nhìn chung, có nhiều hệ lụy của một quá trình phát triển quá nhanh và ồ ạt Và đó cũng là vấn đề nóng trong những sáng tác của các nhà văn gần đây như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Việt Hà, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Phấn, Trần Duy Phiên, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,…

Với sự băn khoăn trăn trở của mình, Đỗ Phấn trong nhiều tác phẩm đã nhận thức sâu sắc hơn những nguy cơ đối với sự sinh tồn của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội suy thoái, bày tỏ mối quan tâm, nỗi lo âu và sự phản tỉnh về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trong những sáng tác của mình, từ tiểu thuyết đến truyện ngắn hay tản văn, Đỗ Phấn thường tập trung vào vấn đề đô thị và con người, ý thức nơi chốn và vấn đề người nhập cư Trong truyện ngắn của mình, Đỗ Phấn cũng chỉ ra đối tượng bị ảnh hưởng, tác động nhiều nhất của nguy cơ sinh thái đô thị chính là môi trường tự nhiên và người phụ nữ Tự nhiên và người phụ nữ có mối liên hệ mật thiết với nhau, đều là những đối tượng bị xâm hại, bị bóc lột, bị thiệt thòi nhất của quá trình phát triển

đô thị Môi trường tự nhiên thì bị xâm chiếm, lấn át, bức tử, còn người phụ nữ thì

bị bóc lột, cưỡng bức về sức lao động, thể xác, tâm hồn và cả tình dục Tất cả đều chịu hậu quả nặng nề là những chấn thương sinh thái Nhưng tự nhiên và phụ nữ

Trang 10

không chịu lặng im trước tác động xâm hại môi trường của con người Tự nhiên

đã quay trở lại trả thù con người bằng những cơn đại hồng thủy hay sự nóng lên của trái đất… làm cho đời sống của con người nhất là người dân phố thị phải khốn đốn Không như tự nhiên, với vai trò và thiên tính của mình, người phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn đã có những hành động bảo vệ môi trường tự nhiên, kéo con người (đặc biệt là nam giới) vào mối quan hệ sống hài hòa gần gũi với tự nhiên, xóa bỏ tư tưởng nhân loại trung tâm, nam giới trung tâm Như vậy, đọc truyện ngắn của Đỗ Phấn, ta thấy cảm quan sinh thái xuyên suốt mọi sáng tác của ông

Là một người sinh ra và lớn lên ở đất Hà Nội, Đỗ Phấn gắn bó, yêu quý thành phố Hà Nội đồng thời ông cũng nhận ra những nguy cơ sinh thái tiềm ẩn trong đời sống đô thị Vấn đề nguy cơ sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn không chỉ diễn ra ở thành phố Hà Nội mà đó là vấn đề mà tất cả các thành phố trong cả nước đang phải đối mặt Mặc dù bước vào làng văn khá muộn màng và

là bước rẽ sang ngang trong nghệ thuật nhưng sáng tác của Đỗ Phấn chứa đựng rất nhiều giá trị tư tưởng của thời đại, vì thế mà tác phẩm của ông được đón nhận một cách nồng nhiệt Trong những sáng tác của mình, Đỗ Phấn đã cho thấy ý thức trách nhiệm của một người dân thành phố, của một người làm nghệ thuật nói riêng và của một công dân nói chung về vấn đề sinh thái môi trường

Những vấn đề đặt ra trong sáng tác của Đỗ Phấn mang tính thời sự, nói đến vấn đề mà toàn nhân loại đang quan tâm, và cùng với xu hướng nghiên cứu mới trong văn học hiện nay, tôi chọn đề tài “Vấn đề đô thị hóa và phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái” để đánh giá giá trị của tác phẩm từ góc nhìn phê bình sinh thái

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước khi đến với làng văn, Đỗ Phấn từng là một họa sĩ có tiếng, một thầy giáo dạy mĩ thuật ở một trường Đại học Dù đến với văn chương khá muộn mằn nhưng ông là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào Ông liên tiếp cho ra đời hàng loạt những tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa và tản văn Và những sáng tác của ông được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt và được giới phê bình nghiên cứu văn chương quan tâm Thực tế là có nhiều bài báo viết về ông, về sáng tác của ông liên tiếp xuất hiện trên các báo, và có nhiều luận văn, luận án của các nghiên cứu sinh về văn học lấy sáng tác của ông làm đề tài nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu chung về Đỗ Phấn

Nguyễn Tham Thiện Kế (2010) có nhận xét: “Tôi thấy Phấn là một trong những họa sĩ có khả năng diễn được tư duy của mình, không chỉ trong nghề hội họa mà trong cả văn chương thuần túy Anh viết như một nhà văn chân chính thực sự hành xác với ngôn từ” Đoàn Ánh Dương (2011) cũng nhận xét như sau:

“Trong mấy năm trở lại đây, từ hội họa chuyển sang lĩnh vực văn chương, Đỗ Phấn đã nhanh chóng khẳng định được bút lực của mình Trong sáng tác của anh, đời sống đô thị hiện đại luôn hiện ra với nhiều dáng vẻ, khiến người đọc khó mà không suy ngẫm về nó” Hai nhận xét này đã đánh giá rất cao khả năng viết văn của nhà văn Đỗ Phấn ngoài lĩnh vực hội họa

Sáng tác của Đỗ Phấn cũng được sinh viên các trường Đại học nghiên cứu chuyên sâu Võ Hùng (2015), trong luận văn của mình, tác giả đã nghiên cứu về đặc điểm nhân vật, cấu trúc nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật và nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Với luận văn này, tác giả Võ Hùng phân tích cho người đọc thấy được hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn nhưng chủ yếu khai thác về tuyến nhân vật người đàn ông Tác giả phân tích rằng

đó là những người đàn ông cảm thấy mình cô đơn, cảm thấy nhỏ bé, tự ti mặc cảm, vô dụng, hay đôi khi là những người đàn ông tha hóa Nhưng tất cả những người đàn ông trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn là những người không thờ ơ, không bàng quan trước những vấn đề của cuộc sống đang diễn ra Khi làm luận văn thạc

Trang 12

sĩ, Tăng Thị Thúy Tiền (2015) đã làm đề tài: Cảm thức hiện sinh trong tiểu

thuyết của Đỗ Phấn Trong luận văn này, tác giả phân tích rằng: con người trong

tiểu thuyết của Đỗ Phấn là những con người hiện hữu, con người hiện tại Những con người này dù là vong thân hay lưu đày, dù có rơi vào nghịch cảnh nào thì cũng là những con người khao khát được sống là chính mình, sống đúng với bản chất của con người là khát vọng và là quyền cơ bản nhất của con người Những luận văn trên đây chủ yếu khai thác thế giới nhân vật trong sáng tác của Đỗ Phấn

2.2 Những nghiên cứu về Đỗ Phấn dưới góc nhìn phê bình sinh thái

Nguyễn Thị Hương (2014) khi làm luận văn thạc sĩ đã làm Đề tài đô thị

trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích

không gian đô thị, thời gian đô thị và con người đô thị; ba yếu tố này có tác động qua lại với nhau Đọc “Đề tài đô thị trong tiểu thuyết của Đỗ Phấn”, tác giả cho

ta thấy được bức tranh cuộc sống con người ở đô thị một cách toàn vẹn nhưng tác giả vẫn chưa chỉ ra được những hậu quả sinh thái mà người dân phố thị phải gánh chịu

Đặng Thị Thái Hà trong bài viết Vấn đề sinh thái- đô thị trong văn xuôi

Việt Nam thời kì đổi mới đã chỉ ra sự chuyển hướng trong sáng tác văn xuôi thời

kì đổi mới của một số nhà văn, trong đó có Đỗ Phấn Soi chiếu vào sáng tác của

Đỗ Phấn dưới góc nhìn phê bình sinh thái, tác giả Đặng Thị Thái Hà (2015) cho rằng: “Những câu chuyện của ông trở đi trở lại mô-tip giã từ thành thị” Những nhân vật trong sáng tác của Đỗ Phấn “chạy trốn đô thị” để “xoa dịu mọi chấn thương tâm lí” do đời sống đô thị văn minh gây ra cho con người

Trong khi đó, Lê Hương Thủy khi nghiên cứu những sáng tác của Đỗ Phấn đã chỉ ra được những tác động của quá trình đô thị hóa mang đến những hệ lụy cho con người, đó là con người bị chấn thương sinh thái: “Trong các sáng tác của Đỗ Phấn, luôn hiện hữu hình ảnh của một đô thị Hà Nội đang trong quá trình biến chuyển với vỏ bọc hào nhoáng nhưng cũng ẩn chứa những vết thương thành thị, những đứt gãy với truyền thống” (Lê Hương Thủy, 2017)

Trang 13

Nguyễn Thùy Trang trong bài “Tính đối thoại- phương thức kết nối với thế

giới tự nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại” đã nêu lên mối quan hệ giữa

con người với với tự nhiên trong quá trình đô thị hóa trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại Trong đó tác giả nhấn mạnh đến những tiểu thuyết của Đỗ Phấn

và nhận định: “Đỗ Phấn thẳng thắn trải lòng những bất công mà tự nhiên phải hứng chịu” (Nguyễn Thùy Trang, 2017a).Và tác giả bài viết cũng thấy rằng những nhân vật trong sáng tác của Đỗ Phấn cũng chịu những thảm cảnh do chính mình tạo ra trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa một cách ồ ạt

Nhìn chung, những sáng tác của Đỗ Phấn đã gây sự chú ý, quan tâm đến người đọc và giới phê bình nghiên cứu Tôi thấy đó chính là thành công của một nhà văn Nhưng những bài nghiên cứu phê bình về sáng tác của Đỗ Phấn chỉ tập trung khai thác về mảng tiểu thuyết của Đỗ Phấn Ngay trong đề tài “Cảm quan sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn” thì khi khai thác tác phẩm, Lê Hương Thủy

cũng chỉ lấy dẫn chứng trong năm cuốn tiểu thuyết của Đỗ Phấn (Vết gió, Vắng

mặt, Rụng xuống ngày hư ảo, Dằng dặc miền sông mưa, chảy qua bóng tối) chứ

chưa hề đề cập đến truyện ngắn hay tản văn của ông Và đề tài khai thác chủ yếu

là đô thị chứ chưa đề cập đến vấn đề người phụ nữ trong sáng tác Đỗ Phấn

Cho mãi đến năm 2016, nhà văn Nguyễn Việt Hà khi viết lời tựa cho cuốn

truyện ngắn Thác hoa- Nxb Trẻ năm 2016- mới đề cập đến người phụ nữ trong

sáng tác của Đỗ Phấn nhưng ở cái nhìn hệ thống nhân vật chứ chưa phải là cái nhìn sinh thái: “Bao trùm lên trên của tất cả những đô thị những đàn bà những công chức là một tâm cảm xót xa được viết điêu luyện bằng chất văn cố dìm đi day dứt” (Đỗ Phấn, 2016) Nhà văn Lê Minh Hà cũng có lời nhận xét được in

trên bìa cuối cuốn truyện ngắn Thác hoa như sau: “Đỗ Phấn là người viết truyện

không có chuyện, một lối viết tưởng bâng quơ bạ gì cũng nói mà khó vô chừng,

vì người viết giữ bạn đọc không phải bằng nhân vật, bằng những bổng trầm số phận, mà giản dị bằng chính họ, lịch duyệt, vi tế, trước đời sống, rộng ra là thế thời” (Đỗ Phấn, 2016) Những nhận định, đánh giá của một số tác giả trên về

Trang 14

truyện ngắn của Đỗ Phấn thường tập trung vào hệ thống nhân vật hay nghệ thuật viết mà chưa chú ý đến góc độ sinh thái mà những truyện ngắn của ông gợi ra

Qua khảo sát của người viết thì rất ít thậm chí chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về thể loại truyện ngắn cũng như vấn đề phụ nữ và vấn đề sinh thái trong truyện ngắn của Đỗ Phấn Những suy tư trăn trở của Đỗ Phấn về mối quan hệ giữa con người với môi trường, sinh thái, đô thị… không chỉ được đề cập trong tiểu thuyết mà còn được đề cập trong truyện ngắn của ông Khai thác mảng truyện ngắn của Đỗ Phấn bên cạnh thể loại tiểu thuyết, người đọc sẽ hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về con người cũng như tư tưởng nghệ thuật của ông Xuất phát từ lí do này cùng với sự yêu mến ngưỡng mộ nhà văn Đỗ Phấn và thích thú những vấn đề gợi ra trong mảng truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái,

tôi nghiên cứu “Vấn đề đô thị hóa và phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn

từ góc nhìn phê bình sinh thái”

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Người nghiên cứu muốn khẳng định đề tài nghiên cứu đô thị và cảm quan sinh thái được thể hiện trong mọi sáng tác của Đỗ Phấn, không chỉ ở thể loại tiểu thuyết mà còn ở thể loại truyện ngắn

- Người nghiên cứu đưa ra một đề tài cần khai thác, làm sáng tỏ thêm trong sáng tác của Đỗ Phấn, đó là vấn đề phụ nữ trong quá trình đô thị hóa

- Nghiên cứu “Vấn đề đô thị hóa và phụ nữ truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái” để góp thêm tiếng nói vào việc đánh giá đầy đủ, toàn diện giá trị tư tưởng sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn

Trang 15

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Người viết nghiên cứu một số truyện ngắn được in trong ba tập truyện

ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn phê bình sinh thái Cụ thể là tập truyện ngắn Kiến

đi đằng kiến (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2009), tập truyện ngắn Đêm tiền sử (Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội, 2010), tập truyện ngắn Thác hoa (Nxb Trẻ năm 2016)

Cụ thể: người viết đã nghiên cứu và lấy dẫn chứng của 10/15 truyện ngắn

trong tập truyện ngắn Kiến đi đằng kiến, 15/19 truyện ngắn trong tập truyện ngắn

Đêm tiền sử và 18/18 truyện ngắn trong tập truyện ngắn Thác hoa Sở dĩ tôi chọn

43/52 truyện ngắn của Đỗ Phấn để làm đối tượng nghiên cứu là vì những truyện ngắn này mang đậm dấu ấn sinh thái

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu lí thuyết phê bình sinh thái, từ đó ứng dụng lí thuyết phê bình sinh thái vào việc tìm hiểu những vấn đề đô thị và phụ nữ ở góc độ sinh thái môi trường mà nhà văn Đỗ Phấn đề cập trong truyện ngắn của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: người viết phân tích truyện ngắn Đỗ Phấn trong

mối liên hệ với các điều kiện lịch sử xã hội tương quan Cụ thể hơn, các vấn đề

về đô thị và phụ nữ từ góc nhìn sinh thái trong tác phẩm của Đỗ Phấn sẽ được người viết phân tích trong tương quan với các tài liệu hành chính về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh: vận dụng phương pháp so sánh để chỉ ra những

điểm tương đồng và khác biệt trong cách thể hiện vấn đề đô thị và phụ nữ từ góc nhìn phê bình sinh thái của nhà văn Đỗ Phấn so với các nhà văn khác

- Người viết cũng vận dụng "cảm quan nhìn lại" của phê bình sinh thái

làm tiền đề để nhận thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên xung quanh như một thực thể của chỉnh thể sinh thái

- Phương pháp liên ngành: Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu

liên ngành, kết hợp văn học với khoa học, phân tích tác phẩm văn chương để rút

Trang 16

ra những cảnh báo môi trường Luận văn vận dụng những kiến thức của các ngành khoa học (sinh thái học, dân tộc học, sử học)

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã được vận

dụng để nhận diện khuynh hướng văn xuôi mang cảm thức sinh thái qua cấu trúc, giọng điệu,

5 Đóng góp của luận văn

- Vấn đề đô thị hay cảm quan sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn đã được một số người nghiên cứu nhưng chỉ nghiên cứu ở thể loại tiểu thuyết Trong khi đó, vấn đề này còn thể hiện rất rõ trong thể loại truyện ngắn của ông Tìm hiểu vấn đề đô thị hóa trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên trong truyện ngắn của Đỗ Phấn sẽ giúp chúng ta đánh giá một cách tổng quan, khách quan hơn về mảng đề tài đô thị hóa trong sáng tác của ông

- Vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Đỗ Phấn chưa có ai nghiên cứu đến,

mà đây là đối tượng nổi bật trong mọi sáng tác của ông Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi chỉ nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái để làm bật hơn mối quan hệ, vị trí, vai trò của người phụ nữ với tự nhiên trong quá trình đô thị hóa

- Luận văn cũng sẽ là một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về sáng tác của Đỗ Phấn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Giới thuyết chung về phê bình sinh thái và truyện ngắn của Đỗ Phấn

Chương 2: Vấn đề đô thị hóa và tự nhiên trong truyện ngắn của Đỗ Phấn Chương 3: Phụ nữ và tự nhiên với quá trình đô thị hóa trong truyện ngắn của Đỗ Phấn

Trang 17

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ

TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN

1.1 Giới thuyết chung về phê bình sinh thái

1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái

Thứ nhất về thuật ngữ “Phê bình sinh thái”- Ecocriticism Có nhiều thuật

ngữ tương đương khác cũng được dùng để gọi về Phê bình sinh thái như: nghiên cứu văn học và môi trường, sinh thái văn học, thi pháp sinh thái, phê bình văn học môi trường, phê bình xanh, phê bình văn hóa xanh…Nhưng thuật ngữ được nhiều học giả sử dụng nhiều nhất đó là Phê bình sinh thái Cụ thể là ở Việt Nam những năm gần đây, giới nghiên cứu phê bình văn học chủ yếu dùng thuật ngữ Phê bình sinh thái Năm 2017, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã cho ra đời cuốn sách và

đặt tên sách cũng có cụm từ phê bình sinh thái: “Rừng khô, suối cạn, biển độc…

và văn chương- Phê bình sinh thái”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 3/2017

Nhóm tác giả dịch thuật những tài liệu nghiên cứu về phê bình sinh thái do Hoàng Tố Mai chủ biên đã in thành sách lấy tên “Phê bình sinh thái là gì?”, nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 10/2017 Trên trang web http://dovanhieu.wordpress.com của riêng mình, Đỗ Văn Hiểu có một chuyên luận về văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái Trong lần tổ chức hội thảo quốc tế gần đây nhất về phê bình sinh thái, Viện Văn Học Việt Nam đã đặt tên cho buổi hội thảo là “Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu”, Hà Nội, 12/2017

Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, bao gồm Oikos (chỉ nơi sinh sống) và Logos (học thuyết) Theo đó, sinh thái học là bộ môn nghiên cứu về nơi sinh sống của các sinh vật, đối tượng của nó là toàn bộ mối quan hệ giữa các loài sinh vật với môi trường Trong cái nhìn của sinh thái học, giữa các loài sinh vật và môi trường sống luôn có mối quan hệ chặt chẽ, một khi sinh thái bị đảo lộn, sự sống của muôn loài cũng chấm dứt Trong thế giới sinh vật, con người được coi là sinh vật phát triển cao nhất, bởi thế, từ chỗ tập trung nghiên cứu mối quan hệ “cơ thể - môi trường”, sinh thái học dần chuyển

Trang 18

sang nghiên cứu mối quan hệ “con người - tự nhiên”, “xã hội - sinh quyển” Cùng với những chuyển dịch theo hướng mở rộng, sinh thái học đã vượt ra khỏi

“phạm vi sinh vật học thuần túy, tiếp cận với những vấn đề triết học” Cái mà phê bình sinh thái hấp thu không phải là thành quả nghiên cứu cụ thể của khoa học tự nhiên mà là tư tưởng cơ bản của sinh thái học, hoặc nói cách khác đó là tư tưởng triết học sinh thái Tư tưởng triết học sinh thái là khởi điểm lí luận và căn cứ của Phê bình sinh thái Vì thế, vào cuối thế kỉ XIX, nhiều ngành nghiên cứu khoa học

xã hội liên quan đến môi trường sinh thái đã xuất hiện với những cái tên như: triết học sinh thái, mỹ học sinh thái, sinh thái văn học… Những nghiên cứu liên quan đến môi trường này đều thể hiện mối quan tâm trước vấn nạn môi trường bị

ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái; truy vấn về hành động bức tử môi trường thiên nhiên của con người; đồng thời lên tiếng kêu gọi sự bảo vệ môi trường sinh thái Phê bình sinh thái được coi là hướng nghiên cứu liên ngành, vì thế từ phê bình sinh thái xuất hiện rất nhiều nhánh nghiên cứu khác như: nữ quyền sinh thái, hậu hiện đại sinh thái, hậu thực dân sinh thái,… Và Phê bình sinh thái được coi là một môn khoa học mới xuất hiện, được xếp vào vị trí giao thoa giữa hai ngành: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn

Thứ hai về khái niệm Phê bình sinh thái: Có rất nhiều khái niệm về Phê bình sinh thái Giáo sư Cheryll Glotfelty- người khởi xướng nghiên cứu về Phê bình sinh thái ở Mỹ cho rằng “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn học gắn liền với chủ đề môi trường” (Cheryll Glotfelty, 1996) Theo định nghĩa của giáo sư Glotfelty thì Phê bình sinh thái có mối quan hệ mật thiết với văn học Phê bình sinh thái thẩm định lại văn hóa nhân loại, nguy cơ sinh thái, nguồn gốc của văn hóa tư tưởng thông qua văn học Khi nghiên cứu văn học thì lấy đối tượng môi trường trái đất làm trung tâm “Phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm” Điểm chính trong khái niệm về Phê bình sinh thái của Glotfelty là thúc đẩy mối quan hệ hài hòa giữa con người

và môi trường tạo nên sự cân bằng của hệ thống sinh thái Thế nhưng, để có thể

áp dụng được lí thuyết phê binh sinh thái trong việc đọc văn bản, hay để có thể

Trang 19

đọc văn bản văn học từ lăng kính của phê bình sinh thái, cần có những định nghĩa mang tính diễn giải và chỉ dẫn cụ thể hơn

Cùng quan điểm về Phê bình sinh thái với Cheryll Glotfelty khi nói về mối quan hệ giữa văn học và môi trường, Giáo sư Lawrence Buell đã đưa ra định nghĩa về Phê bình sinh thái như sau: “Từ tinh thần thực tiễn bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” (Lawrence Buell, 1996) Nhưng cả hai định nghĩa có một hạn chế là chỉ chú trọng đến nội dung tư tưởng, đề tài sinh thái, môi trường trong tác phẩm văn học mà chưa chú ý đến giá trị thẩm mĩ, nghệ thuật ngôn từ của tác phẩm văn học Thấy được điểm hạn chế trong định nghĩa về phê bình sinh thái của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, học giả người Trung Quốc là Vương Nặc đã đưa ra một định nghĩa về phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan

hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái Nó phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mỹ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Vương Nặc, 2010, tr.69) Định nghĩa của Vương Nặc đã bổ sung đầy đủ hơn về khiếm khuyết trong hai định nghĩa về phê bình sinh thái của Cheryll Glotfelty và Lawrence Buell, đồng thời chỉ rõ đặc trưng, mục đích , nhiệm vụ, giới hạn phạm

vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của phê bình sinh thái

Từ sự nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các định nghĩa về phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu Phê bình sinh thái của Tây Âu và Đông Á, nhà nghiên cứu nữ của Việt Nam về phê bình sinh thái là Nguyễn Thị Tịnh Thy có phát biểu như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan

hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mỹ sinh thái

và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b,

tr.157)

Trang 20

Nói chung, có rất nhiều khái niệm về phê bình sinh thái, nhưng theo tôi khái niệm của Cheryll Glotfelty là ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu hơn cả: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường” Định nghĩa của Cheryll Glotfelty được nhiều người đồng thuận hơn cả và thường mượn định nghĩa này trong định nghĩa của mình về phê bình sinh thái, chỉ có điều họ giải thích là làm rõ hơn Tuy nhiên, như đã nói ở trên, khái niệm của Cheryll Glotfelty còn bỏ sót tính chất nghệ thuật của phê bình văn học Vì vậy,

“Để hiểu đúng, vận dụng đúng yêu cầu của cả tôn chỉ phê bình sinh thái lẫn nghệ thuật văn chương thì người nghiên cứu phải sử dụng lời giải nghĩa cho định nghĩa chứ không phải sử dụng định nghĩa của Cheryll Glotfelty” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b, tr.154)

Trên cơ sở đọc, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp những ý kiến định nghĩa về Phê bình sinh thái của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tôi hiểu Phê bình sinh thái là phương pháp nghiên cứu văn học, nghiên cứu mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên trong một chỉnh thể sinh thái, vừa đảm bảo lợi ích của con người vừa đảm bảo lợi ích sinh thái, vừa đảm bảo tính thực tiễn vừa đảm bảo tính thẩm mỹ

Như vậy, có nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái với nhiều cách diễn đạt và sự nhấn mạnh khác nhau Từ những khái quát này, chúng ta có thể hình

dung ra hai công việc cơ bản mà người nghiên cứu cần tiến hành khi tiếp cận văn

bản văn học, hiện tượng văn học, truyền thống văn học từ góc độ phê bình sinh

thái Thứ nhất, đó là phân tích cách biểu đạt và nội dung về sinh thái, về mối

quan hệ giữa con người và tự nhiên, về các bài học đạo đức liên quan đến sinh

thái, quá trình nhận thức về sinh thái trong trong tác phẩm văn học Thứ hai, đó

là phân tích nội dung đó và cách biểu đạt đó có thể có ảnh hưởng gì trong việc hình thành ý thức về sinh thái và môi trường trong người đọc và có ảnh hưởng gì đến chính hiện thực tự nhiên và môi trường

Trang 21

1.1.2 Vấn đề đô thị hóa trong phê bình sinh thái

Đô thị là một danh từ, Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, nxb Hà Nội,

1995, đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp Theo thông tư 31/TTLĐ ngày 20/11/1990 của Bộ Xây dựng và Ban Tổ Chức Cán bộ Chính phủ (1990) thì

Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động công nghiệp,

có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tập trung chuyên ngành hay trung chuyển, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội của cả nước hay của một vùng miền Khi nói đến đô thị thì nó thường có những đặc điểm sau: vấn đề môi trường,vấn đề dân số, vấn đề tổ chức không gian và môi trường, về kinh tế,

về lao động, về chất lượng cuộc sống có sự cách biệt với nông thôn…

Đô thị hóa thuộc từ loại động từ Đô thị hóa là một quá trình phát triển rộng rãi lối sống thành thị qua các mặt như dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, kinh tế, cơ sở hạ tầng… Do quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên những công ty, xí nghiệp, nhà máy đã mở rộng, dịch chuyển về các vùng nông thôn Vì thế đã hình thành nên các khu công nghiệp mới, khu đô thị mới tập trung nhiều dân cư và lao động phi nông nghiệp Từ đó nông thôn hóa thành thị hay còn gọi là đô thị hóa

Quá trình đô thị hóa đã tác động làm thay đổi lớn đến đời sống, lối sống, tâm lí, văn hóa, kinh tế, sinh thái môi trường của vùng miền Đô thị hóa vừa mang lại những giá trị tích cực nhưng cũng mang đến những hạn chế tiêu cực Mặt tích cực của đô thị hóa là góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tao

ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động,… Nhưng bên cạnh

đó, quá trình đô thị hóa cũng có nhiều mặt hạn chế tiêu cực Do sự thu hút lao động ở những đô thị nên lao động nông thôn đã chuyển về các đô thị khiến cho sản xuất nông nghiệp bị đình trệ Sự bùng nổ quá trình đô thị hóa khiến cho các khu đô thị luôn phải chịu áp lực về cơ sở hạ tầng, giao thông, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội gia tăng,…

Trang 22

Trong lịch sử phát triển của phê bình sinh thái, các nhà nghiên cứu sinh thái chia phê bình sinh thái làm hai giai đoạn Giai đoạn đầu, phê bình sinh thái chủ yếu dựa vào thuyết sinh thái học chiều sâu Karen Laura Thornber trong bài phát biểu tại Viện Văn học cho rằng “Phê bình sinh thái giai đoạn đầu gắn giá trị đặc biệt với mỹ học và quy tắc về sự gắn kết nơi chốn ở quy mô địa phương hay vùng miền” (Karen Laura Thornber, 2011) Và các văn bản văn học thường viết

về tự nhiên Nhưng đến giai đoạn sau, nhất là từ thế kỉ XX đến nay, phê bình sinh thái gắn với nhân học và văn hóa học, đặt bình diện xã hội làm trung tâm, đặc

biệt là quan tâm đến vấn đề đô thị hóa và công lý môi trường Trong bài Những

tương lai của phê bình sinh thái và văn học, Karen Laura Thornber cũng đã nói:

“Bước sang thế kỉ 21, phê bình sinh thái bắt đầu hướng theo một quan điểm thiên

về tính chất nhân chủng học và đặt bình diện xã hội làm trung tâm, giờ đây giới nghiên cứu lại tập trung vào mảng văn học về thành phố và quá trình công nghiệp hóa cũng như vấn đề công bằng/ bất công bằng môi trường… Theo đó, nó dịch chuyển mối quan tâm về nơi chốn từ phạm vi địa phương sang phạm vi xuyên quốc gia hay toàn cầu” (Karen Laura Thornber, 2017a, tr.317) Tại sao ở giai đoạn đầu của phê bình sinh thái các sáng tác văn học thường viết về đề tài thiên nhiên mà sang giai đoạn sau lại viết về đề tài đô thị hóa Bởi vì trong thực tế, trong nhiều báo cáo về môi trường, người ta đã quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, mực nước biển dâng lên, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, mức độ Carbon dioxide trong khí quyển cao, hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm môi trường… Người ta cũng chỉ ra nguyên nhân chủ yếu là do quá trình đô thị hóa diễn ra ồ ạt Và mọi hoạt động xâm hại tự nhiên cũng nhằm phục vụ cho quá trình đô thị hóa ấy Nhận ra những hiểm họa môi trường đó, mọi ngành, mọi người đều bắt tay vào cuộc bảo vệ môi trường Các nhà khoa học theo chủ nghĩa môi trường cũng kêu gọi cộng đồng bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả cũng không như mong muốn, môi trường tiếp tục bị bức tử Trước thực trạng ấy, văn học sinh thái và phê bình sinh thái vào cuộc như một cam kết tự nguyện về trách nhiệm của nhà văn, nhà phê bình văn học về môi trường: “Tôi sớm nhận ra rằng, điều quan trọng và thực sự cấp thiết, là phải phân tích xem văn học, trong ý nghĩa

Trang 23

là một dạng thức diễn ngôn, đã có những giải quyết như thế nào trước những nguyên nhân và hậu quả của quá trình phá hủy hệ sinh thái một cách thản nhiên” (Karen Laura Thornber, 2017b, tr.275)

Không thể phủ nhận những lợi ích, giá trị mà quá trình đô thị hóa mang lại cho đời sống của con người nhưng những nhà văn, bằng sự cảm nhận của mình,

họ đã chỉ ra mặt trái của quá trình đô thị hóa, văn minh đô thị Họ đã có những sáng tác văn chương cảnh báo về sự tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến sinh thái môi trường

Các nước Tây Âu là những nước đầu tiên phát triển nhanh chóng quá trình

đô thị hóa Nền sản xuất chủ yếu của các nước phương Tây là nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa Những cánh đồng, những thảo nguyên, những dòng sông nhường chỗ cho các nhà máy xí nghiệp, những công trình thủy lợi Điều đó gợi cảm hứng cho các nhà văn khi họ dự cảm thấy được những hệ lụy, tiêu cực từ quá trình sản xuất công nghiệp, đô thị hóa trong tương lai Chính vì thế đã có hàng loạt những tác phẩm văn học sinh thái ra đời Có thể kể đến những tác phẩm sau:

Frankenstein (1818) của nữ nhà văn người Anh Mary Sheley, Walden (1854) của

Henry David Thoreau, Cư dân của tuần lộc (1952) của Farley Mowat, Cội rễ của

bầu trời (1956) của Romain Gary, Mùa xuân im lặng (1962) của Carson, Sa mạc Solitarie (1968) của Edward Abbey, Đoạn đầu đài (1986) của Chyngyz

Aitmatov, Linh Dương và Gà Nước(2003) của Margaret Atwood…Trong những

sáng tác kinh điển ấy, một số tác phẩm nói về mối quan hệ gắn kết hài hòa giữa con người và tự nhiên, một số tác phẩm lại lên án phản đối những phát minh khoa học đã làm thay đổi hệ sinh thái môi trường, tàn sát thiên nhiên Các nhà văn cũng cảnh báo rằng, nạn nhân của những hậu quả đó không ai khác chính là loài người Như vậy, từ góc nhìn cân bằng sinh thái, các nhà văn đã phản đối văn minh đô thị ồn ào, tán dương thế giới tự nhiên, kêu gọi mọi người bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường sống của tất cả các loài trên trái đất, tạo mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên

Trang 24

Ở Việt Nam, từ sau năm 1975, đặc biệt là từ sau 1986, khi đất nước bước vào thời kì đổi mới , kinh tế thị trường cùng quá trình đô thị hóa tăng nhanh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề bức thiết trong xã hội Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng kinh tế cùng gia tăng dân số có tác động tiêu cực không nhỏ đến môi trường sinh thái Điều đó khiến cho văn học nước nhà có nhiều mối quan tâm thay đổi so với thời kì trước Từ góc nhìn sinh thái, một số nhà văn Việt Nam đã phản ánh trong trang viết của mình những dự cảm, những suy tư trăn trở về môi trường, về con người, về xã hội… dưới tác động của quá trình đô thị hóa Những tác phẩm mang đậm dấu ấn sinh thái không thể không kể đến đó

là: Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, Mối và người, Kiến và người của

Trần Duy Phiên, … và đặc biệt không thể không nhắc đến đó là những sáng tác của nhà văn Đỗ Phấn Nguyễn Minh Châu được coi là nhà văn tiên phong trong phong trào sáng tác về văn học sinh thái Ông là người rất giỏi khi có những dự cảm đầy lo âu về tương lai đô thị Từ góc nhìn sinh thái của mình, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Trần Duy Phiên đã nói lên quan điểm của mình là trong thời đại ngày nay thì con người không còn vị trí trung tâm, con người cũng chỉ là

thành viên trong thế giới tự nhiên Trong Muối của rừng, con người đứng giữa

thiên nhiên cảm thấy mình thật nhỏ bé Chính cỏ cây, con vật đã làm cho con

người phải suy nghĩ lại hành động của mình Trong truyện ngắn Kiến và người,

Mối và người, Nhện và người, con người tưởng mình là chủ nhân của vũ trụ nên

tự cho mình cái quyền sinh quyền sát với tự nhiên nhưng không ngờ có ngày chính tự nhiên đã quay trở lại trả thù con người, và con người lâm vào cảnh đáng thương, dở khóc dở cười Như vậy, đằng sau cuộc chiến sinh tử giữa loài người

và loài vật là lời cảnh tỉnh của nhà văn đối với con người và xã hội khi phá hoại môi trường sống của muôn loài trên núi rừng, cánh đồng hay tiến hành đô thị hóa một cách tràn lan khắp nơi Nếu như nhà văn Nguyễn Minh Châu có những sáng tác dự báo, phản ánh sự bắt đầu manh nha của quá trình đô thị hóa lấn dần về các đồng quê, núi rừng thì nhà văn Đỗ Phấn đã phản ánh trong sáng tác của mình những tác động sâu rộng, mạnh bạo của quá trình đô thị hóa làm thay đổi đời

Trang 25

sống tự nhiên cũng như đời sống xã hội của con người, đó là thiên nhiên, khí hậu thay đổi giữa các vùng miền, sự tận diệt của một số loài động vật, lối sống văn hóa có chiều đi xuống, mối quan hệ giữa con người với con người cũng trở nên lỏng lẻo mờ nhạt,…

Có thể nói, sự hình thành dòng văn học viết về đô thị là mảng sáng tác mang lại cho người đọc những nhận thức sâu sắc về mặt trái của văn minh Các nhà văn đã chỉ rõ đô thị cùng với quá trình công nghiệp hóa là một trong những nguyên nhân làm gia tăng suy thái môi trường, tách biệt con người ra khỏi tự nhiên và rơi vào khủng hoảng nhân tính

1.1.3 Vấn đề phụ nữ trong phê bình sinh thái

1.1.3.1.Lịch sử hình thành của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái

Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) là một phong trào chính trị

xã hội ra đời ở phương Tây cuối thập niên 70 và phát triển mạnh vào thập niên

90 của thế kỉ XX Phụ nữ tham gia vào các phong trào môi trường, đặc biệt bảo

vệ và bảo tồn Bắt đầu từ cuối thế kỷ XX, phụ nữ đã nỗ lực bảo vệ động vật hoang dã, thực phẩm, không khí và nước Những nỗ lực này phụ thuộc phần lớn vào những phát triển mới trong phong trào môi trường từ các nhà văn có ảnh hưởng, như Henry David Thoreau, Aldo Leopold, John Muir và Rachel Carson Các ví dụ cơ bản về những nỗ lực của phụ nữ trong thế kỷ 20 là những cuốn sách

Mùa xuân im lặng của Rachel Carson và Refuge của Terry Tempest Williams

Những tác phẩm này thực sự đã làm cho người Mỹ thấy được những tác hại môi trường mà họ đã gây ra, và tạo ra một nền tảng cho sự thay đổi

Trong quá trình hình thành và phát triển ý thức nữ quyền thì nữ quyền sinh thái được xem là một nhân tố chủ chốt tạo nên một bước ngoặt của phê bình

nữ quyền Francoise d’Eaubonne – nữ học giả người Pháp- trong cuốn Chủ nghĩa

nữ quyền hay là chết (1974) đã đề cập đến thuật ngữ “chủ nghĩa nữ quyền sinh

thái” Trong cuốn sách này, bà nêu lên mối tương đồng giữa phụ nữ và tự nhiên, bởi phụ nữ và tự nhiên đều chịu sự đàn áp, bóc lột, thống trị của một nền tảng xã

Trang 26

hội gia trưởng phương Tây Bà cho rằng việc áp bức phụ nữ có quan hệ trực tiếp đến việc áp bức tự nhiên Từ đó bà kêu gọi phụ nữ tham gia đấu tranh bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái cũng như xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa con người và tự nhiên, nam và nữ cũng như khẳng định tầm quan trọng, khả năng, vai trò của nữ giới trong việc giải quyết các vấn đề nguy cơ sinh thái

Trong công trình Duy trì sự sống: phụ nữ, sinh thái và phát triển của

mình, bà Shiva Vandana (1988) đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm tự nhiên với sự bóc lột đối với nữ giới và đề ra giải pháp cho sự giải phóng cho tự nhiên và phụ nữ là con đường sinh thái hài hòa, bền vững và đa dạng Karen

Thornber trong bài Phê bình sinh thái (Ecocriticism), tài liệu thuyết trình tại Viện

Văn học, cho rằng : “cuộc chiến cho sự sống còn của sinh thái về bản chất hòa quyện với cuộc chiến giải phóng phụ nữ” (Karen Thornber, 2011)

Cheryll Glotfelty trong bài Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng

hoảng môi trường chỉ rõ sự giống nhau logic trong việc áp bức đối với phụ nữ và

tự nhiên do xuất phát từ tư tưởng phụ quyền, coi nam giới là trung tâm Đồng thời, tác giả cũng khẳng định chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là cái mốc quan trọng trong sinh thái học: “Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một diễn ngôn lý thuyết Tiền đề của nó là nối kết sự áp bức phụ nữ và sự thống trị tự nhiên của chế độ

phụ quyền” (Cheryll Glotfelty, 2014) Karen J.Warren trong bài viết Tự nhiên

như là một vấn đề nữ quyền cho rằng có mối liên hệ giữa sự chiếm hữu bất công,

sự đàn áp, sự hạ thấp hay sự thống trị vô lý đối với phụ nữ và sự chiếm hữu bất công đối với tự nhiên Ông khẳng định: “Tự nhiên là một vấn đề nữ quyền- có thể được coi như là khẩu hiệu của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái” (Karen J.Warren, 2017, tr.140) Karen J Warren dẫn chứng rằng trong thực tế hoạt động, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái đã có những kết hợp giữa phong trào phụ nữ với phong trào sinh thái Đó là vào năm 1974, ở miền Bắc Ấn Độ, 27 phụ nữ Reni đã đứng lên phản đối việc chặt phá cây rừng một cách bừa bãi Họ có hành động là

ôm chặt cây nếu như kẻ chặt cây cố tình chặt Hành động của những người phụ

nữ này được rất nhiều phụ nữ khắp nơi ủng hộ và tham gia, nhanh chóng phát

Trang 27

triển thành một phong trào với tên gọi phong trào Chipko (trong tiếng Hindi nghĩa là “ôm”), đã cứu được 12.000km vuông lưu vực sông vốn đang trong tình trạng dễ bị phá hủy bởi những tác động của ngoại cảnh Và khẩu hiệu của phong trào này là “Đất, nước và ôxi” Khẩu hiệu hành động của những người phụ nữ này cho thấy ý thức sinh thái của họ, họ đấu tranh không phải chỉ vì lợi ích trước mắt là gỗ, thức ăn, hay công việc mà là “Đất, nước và ôxi” Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái cho rằng phụ nữ gần gũi với tự nhiên còn nam giới thì coi thiên nhiên là

kẻ thù Vì thế nam giới có hành động áp bức phụ nữ cũng đồng nghĩa với việc áp bức thiên nhiên

Qua một số luận điểm nêu trên, ta thấy rằng cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội Sự tích hợp giữa vấn đề môi trường sinh thái và vấn đề

nữ quyền là sự tất yếu xuất phát từ mối liên hệ nội tại giữa giới nữ và giới tự nhiên

1.1.3.2 Phụ nữ với việc bảo vệ môi sinh- môi trường

Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái dùng phương pháp phê bình nữ quyền để khám phá các mối quan hệ giữa tự nhiên và phụ nữ trong lĩnh vực văn học từ góc nhìn tự nhiên và nữ giới Khuynh hướng của nữ quyền luận sinh thái dựa trên sự phê phán chủ nghĩa nhị nguyên: chủ nghĩa nhân loại trung tâm và chủ nghĩa nam giới trung tâm, phản đối sự áp bức song trùng đối với tự nhiên và phụ nữ, đồng thời khẳng định vai trò, chức năng của phụ nữ trong việc duy trì sự phát triển bền vững, cải thiện môi trường và giảm áp lực khai thác lên môi trường tự nhiên

Ban đầu, các nhà phê bình sinh thái theo xu hướng nữ quyền (ecofeminists) cho rằng “Trong hoạt động thực tiễn, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xem vấn đề môi trường là vấn đề phụ nữ (…) Người phụ nữ mang trong mình thiên tính giữ gìn và bảo vệ sự sống nên thường có thái độ chăm sóc, nâng đỡ, chở che cho mọi sinh linh, trong khi đàn ông thường đối xử một cách độc đoán, chuyên quyền với tự nhiên và phụ nữ” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b, tr.508) Các nhà nữ quyền sinh thái văn hóa cho rằng chu kì kinh nguyệt khiến phụ nữ có thể duy trì mối quan hệ thường xuyên, có tính quy luật với thế giới tự nhiên (như

Trang 28

quy luật trăng tròn trăng khuyết), từ đó phụ nữ có thể kết nối mối quan hệ giữa những người khác trong xã hội với tự nhiên Từ góc độ sinh lý nữ và thiên tính chăm sóc, bảo bọc con cái và gia đình, phụ nữ cũng có bản năng chăm sóc, chở che vạn vật trong tự nhiên Bản năng đó có thể nâng lên thành “luân lý chở che” (ethic of care) Luân lý ấy là nguyên tắc rất quan trọng đối với việc xây dựng lại khái niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Vì vậy, theo nhiều nhà khoa học nói chung và nữ quyền sinh thái nói riêng, “phụ nữ là người làm cho xã hội “xanh tươi” và cải thiện môi trường, chủ yếu từ phạm vi riêng tư”, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển bền vững Phụ nữ sống hài hòa với tự nhiên, phần lớn họ là những người chăm sóc đồng ruộng, trang trại, rừng ở khu vực nông thôn trong các nước đang phát triển Họ cũng là người trực tiếp thực hiện chính sách dân số để giảm áp lực tiêu dùng và khai thác lên môi trường tự nhiên” (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017b, tr.508)

Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xem vấn đề môi trường là vấn đề phụ nữ nên họ hô hào, kêu gọi, đấu tranh giải phóng phụ nữ Họ đề cao vai trò, vị trí, tiếng nói của người phụ nữ trong việc bảo vệ môi trường

Tóm lại, nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết, tương đồng giữa phụ nữ và tự nhiên, các nhà nghiên cứu nữ quyền sinh thái cho rằng người phụ nữ và tự nhiên đều là những đối tượng chịu sự đàn áp, bóc lột, thống trị của nền tảng xã hội gia trưởng Một số sáng tác đã nêu lên sự tác động có hại của con người không chỉ đối với môi trường tự nhiên mà còn tác động ngược lại đến đời sống của con người, nhưng đối tượng chịu thiệt thòi nhiều nhất vẫn là người phụ nữ Nhưng thấy được vai trò to lớn của người phụ nữ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái

tự nhiên, các nhà văn, các nhà nghiên cứu đã ca ngợi và kêu gọi phụ nữ hãy tham gia vào việc đấu tranh bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như xây dựng mối quan

hệ bình đẳng giữa con người với thế giới tự nhiên, giữa nam và nữ Ngoài ra, mục đích của những sáng tác và nghiên cứu của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là kêu gọi mọi người biết tôn trọng, yêu thương, bảo vệ môi trường tự nhiên và người phụ nữ

Trang 29

1.2 Truyện ngắn của nhà văn Đỗ Phấn

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Đỗ Phấn là dân gốc ba đời ở thủ đô Hà Nội Gia đình của Đỗ Phấn xưa kia sống ở phố Hàng Khay- một phố cổ sát với Hồ Gươm Như vậy, ngay từ nhỏ

Đỗ Phấn đã được hưởng thụ đầy đủ một không gian văn hóa tinh hoa của mọi miền hội tụ ở thủ đô Bản thân lớn lên, sinh sống và làm việc ở thủ đô Hà Nội nên Đỗ Phấn đã chứng kiến sự đổi thay của một đô thị chuyển mình từ xã hội thực dân phong kiến sang thời kì đổi mới và phát triển như ngày nay Mỗi sự thay đổi, dịch chuyển của phố phường, đô thị đều để lại những kí ức, dấu ấn khó phai trong tình cảm của ông Và Đỗ Phấn đã trải lòng mình trên những trang viết

về vấn đề đô thị một cách phong phú, sống động và chân thực của “Một đô thị đang biến đổi từng ngày, trong vỏ bọc hào nhoáng hơn và có thể là nhôm nhoam hơn Một đô thị mà rất nhiều giá trị có thể đã bị mất đi, bị vùi lấp, như không thể nào tìm lại được.” (Bình Nguyên Trang, 2014) Trước khi đến với làng văn, Đỗ Phấn từng làm giảng viên ở Khoa Kiến trúc trường Đại học Xây dựng Hà Nội từ

1980 đến 1989, và là một họa sĩ chuyên nghiệp Ông đạt nhiều giải thưởng trong lĩnh vực mĩ thuật: Huy chương bạc Triển lãm Mĩ thuật toàn quốc năm 2000

Trang 30

(Không có huy chương vàng), giải B Hội Mĩ thuật Việt Nam năm 1999 và 2003, giải C và nhiều tặng thưởng nhiều năm của Hội Mĩ thuật Việt Nam Đỗ Phấn vẽ tranh rất nhiều, khi chuyển sang viết văn nhưng ông vẫn thường xuyên vẽ tranh Ông thường vẽ tranh về đề tài tết mỗi dịp xuân về Trong những cuốn sách đã được in của Đỗ Phấn, thi thoảng nhà xuất bản cũng in những tranh vẽ của ông làm cho cuốn sách thêm sinh động Đỗ Phấn còn vinh dự được trang mạng nico-paris.com dành cho nguyên một trang riêng trong chuyên mục nhà văn Trong trang mục này in rất nhiều tranh và những sáng tác văn của ông (chủ yếu là truyện ngắn và tản văn) Bên cạnh đó có rất nhiều bài viết của các nhà báo, nhà nghiên cứu về nhà văn Đỗ Phấn

Ông đến với làng văn khá muộn màng Năm 2005, người ta mới biết đến

Đỗ Phấn qua một tập tản văn Tự nhận xét về mình, Đỗ Phấn đã nói "Tôi trót mang tình đầu “tay ba” với văn chương và hội họa” Nói về việc “sang ngang”

trong lĩnh vực nghệ thuật, Đỗ Phấn trả lời phỏng vấn trong bài báo Họa sĩ Đỗ

Phấn: Hội họa hay văn chương đều để lay động lòng người của Nguyễn Quỳnh

Trang in trên báo Online Đại Đoàn Kết ra ngày 25/01/2018 đã chia sẻ “Đơn giản

vì tôi là chủ nhân của một quỹ thời gian khổng lồ Nghỉ việc dạy học từ 1989 đến nay cũng gần 30 năm rồi Ngần ấy thời gian chỉ dành cho việc vẽ thôi là quá dư thừa và lãng phí Ngần ấy năm tích lũy chiêm nghiệm đời sống thị dân cũng đến lúc phải viết nó ra Và mỗi loại hình có ngôn ngữ và thế mạnh riêng của nó Tôi không thể vẽ một bức tranh kể về một chuyện tình hay cũng không thể viết một cuốn tiểu thuyết về nhan sắc của một hoa hậu Văn chương có thế mạnh ở chỗ tinh vi gợi mở cũng giống như hội họa” (Nguyễn Quỳnh Trang, 2018)

Trang 31

- Chuyện vãn trước gương- Nxb Hội nhà văn, 2005

- Ông ngoại hay cười (tản văn mới)- Nxb Lao Động, 4/2011

- Hà Nội thì không có tuyết – Nxb Trẻ, 10/2013

- Ngồi lê đôi mách với Hà Nội- Nxb Trẻ, 3/2015

- 152 bài in trên trang van -phiem-dam-trang-1.vhtm ( chƣa in thành sách)

Đỗ Phấn có một sức sáng tạo dồi dào, chƣa đầy 10 năm sáng tác mà số lƣợng đầu sách của ông cũng làm cho một nhà văn chuyên nghiệp lâu năm trong ngành phải phải nể phục Năm 2005 Đỗ Phấn xuất hiện ở làng văn với tập tản

Trang 32

văn Chuyện vãn trước gương Nhưng đến năm 2016, Đỗ Phấn đã cho xuất bản 8

quyển tiểu thuyết, 4 tập tản văn, 3 tập truyện ngắn, chưa kể đến 152 bài tản văn chưa in thành sách nhưng được đưa trên trang online http://nico-paris.com Điều đặc biệt là có những năm, cùng một lúc Đỗ Phấn cho ra đời 3 tiểu thuyết và 1 tập truyện ngắn- đó là năm 2016 Nhìn vào năm xuất bản của những cuốn sách của

Đỗ Phấn, chúng ta thấy bút lực của ông ngày càng dồi dào, bất tận

1.2.2 Đôi nét về truyện ngắn của Đỗ Phấn

Đọc truyện ngắn của Đỗ Phấn, người đọc bắt gặp mọi vấn đề của xã hội được trải dài trên trang viết của ông Chuyện từ nhà ra phố, từ làng lên phố, rồi từ phố về làng về biển về rừng núi… Không gian trong truyện ngắn của Đỗ Phấn trải dài khắp mọi vùng miền nhưng tựu trung nổi bật nhất là không gian thành thị Không gian thành thị được Đỗ Phấn miêu tả có sức mạnh vô hạn, nó vươn vòi lấn át mọi không gian khác

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Đỗ Phấn rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau: từ những cô gái ở tỉnh lẻ lên phố đi buôn bán ve chai, là

ca ve cho đến những cô sinh viên, người mẫu khỏa thân, họa sĩ, nhà văn, kĩ sư, doanh nhân, thầy giáo, nhà nghiên cứu… Và các nhân vật này thường không được đặt tên riêng Nhà văn thường gọi tên các nhân vật của mình bằng các đại

từ thay thế: hắn, tôi, mi, nàng, chàng, chàng trai, cô gái, anh, em,… Cách gọi tên các nhân vật như thế khiến cho người đọc có cảm tưởng như thấy mình, những người xung quanh mình đang trên trang viết của Đỗ Phấn

Chủ đề tình dục xuất hiện hầu hết trong mỗi truyện ngắn của Đỗ Phấn Chuyện giường chiếu được Đỗ Phấn miêu tả rất cụ thể, chi tiết nhưng không có

sự lặp lại trong cách miêu tả Dù là cách diễn đạt, miêu tả khác nhau trong quan

hệ tình dục nam nữ nhưng điểm giống nhau là các nhân vật trong truyện của Đỗ Phấn đều đạt đến tuyệt đỉnh của cảm xúc thăng hoa Và nhà văn thường tô đậm nhân vật nữ hơn Với vẻ đẹp tự nhiên vừa săn chắc, nóng bỏng vừa mềm mại, ngọt ngào quyến rũ; người phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn được miêu tả

Trang 33

là đối tượng chủ động trong quan hệ tình dục, thậm chí có vai trò quan trọng trong việc đánh thức bản năng sinh dục của người đàn ông đã bị ngủ quên Với cách viết khéo léo, tài hoa, làm chủ được cảm xúc, những trang viết về tình dục của Đỗ Phấn khiến cho người đọc không hề cảm thấy dung tục, thô thiển, đồi trụy, phản cảm mà cảm nhận được sự thẩm mĩ nghệ thuật Người phụ nữ trong truyện ngắn của Đỗ Phấn được miêu tả là người phụ nữ hiện đại trong xu thế đô thị hóa, toàn cầu hóa Họ vừa xinh đẹp, giỏi giang, tự tin, bản lĩnh, chủ động trong mọi lĩnh vực Họ làm chủ cuộc sống của mình, không dựa dẫm vào đàn ông

Nhưng vấn đề nổi bật nhất trong truyện ngắn của Đỗ Phấn là vấn đề sinh thái đô thị Bằng vốn sống, trải nghiệm của một người sinh ra và lớn lên ở thành thị, Đỗ Phấn đã vạch trần mặt trái của văn minh đô thị hóa: rác thải, ngập lụt, khói bụi, nhà cao tầng, kẹt xe, tai nạn giao thông,… đã làm ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sức khỏe, tinh thần của con người và hệ thống loài tự nhiên Những trang viết của Đỗ Phấn về vấn đề này khiến cho người đọc phải tự suy ngẫm lại những suy nghĩ, những việc làm của mình trong mối quan

hệ với những người xung quanh, với môi trường tự nhiên Như một thông điệp

mà nhà văn muốn gửi đến người đọc qua vấn đề này là: bảo vệ môi trường tự nhiên là bảo vệ chính mình

Người đọc cũng dễ nhận ra giọng điệu của nhà văn Đỗ Phấn thông qua ba tập truyện ngắn của ông: giọng điệu mỉa mai, châm biếm, phê phán Giọng điệu

ấy được thể hiện qua cách nói đối lập, nói mỉa, dùng hàng loạt câu hỏi tu từ, câu đặc biệt: “Không còn phân biệt được cái ngành học của mình là cải tạo hay phá hoại môi trường nữa? Môi trường nếu không vì tham vọng xâm lăng của con người thì nó có cần phải cải tạo? Và con người? Đang ngày ngày tìm ra các giải pháp biện minh cho những hành vi phản tự nhiên của mình? Để nhận lấy những nỗi buồn Rất có thể là mười năm nữa, nỗi buồn cũng có thể làm bằng nhựa? Như niềm vui đã từng được làm ra như thế Những chiếc huy chương bằng nhựa mạ kim nhũ lấp lánh sáng…” (Đỗ Phấn, 2009, tr.58) Nhưng ẩn sau những câu văn

Trang 34

ấy chính là sự day dứt, trăn trở, đau xót của nhà văn khi những giá trị về văn hóa, vật chất, tinh thần của con người và cảnh quan thiên nhiên ngày một mai một, đi xuống thậm chí là mất đi Đúng như những gì nhà văn Nguyễn Việt Hà nhận xét truyện ngắn của Đỗ Phấn: “Bao trùm lên tất cả những đô thị những đàn bà những công chức là một tâm cảm xót xa được viết bằng chất văn cố dìm đi day dứt”

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Phê bình sinh thái “ra đời trong nỗi lo âu, sự tự vấn và mặc cảm tội lỗi

của con người trước hành động của chính mình”, hình thành và phát triển trong

bối cảnh những nguy cơ sinh thái đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đáng báo động Vấn đề sinh thái là vấn đề của toàn nhân loại, không phân chia biên giới nên mức độ ảnh hưởng và cần được quan tâm của nó cũng vì thế mà rộng lớn hơn bao giờ hết Nhờ sự quan tâm sâu rộng đó, trong quá trình hình thành và phát triển, khuynh hướng nghiên cứu phê bình sinh thái ghi nhận nhiều đóng góp có giá trị, giúp thúc đẩy mạnh mẽ, kích thích sự nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế giới Việc xây dựng nền tảng lí thuyết cho vấn đề là một việc làm tất yếu, nhằm xác lập những ranh giới rõ ràng nhất để phân cách với các hướng nghiên cứu khác Trong lịch sử phát triển của phê bình sinh thái từ sau thế kỉ XX đến nay thì phê bình sinh thái gắn với nhân học và văn hóa học, đặt bình diện xã hội làm trung tâm, đặc biệt là quan tâm đến vấn đề đô thị hóa và công lý môi trường Sự hình thành dòng văn học viết về đô thị là mảng sáng tác mang lại cho người đọc những nhận thức sâu sắc về mặt trái của văn minh Các nhà văn đã chỉ

rõ đô thị cùng với quá trình công nghiệp hóa là một trong những nguyên nhân làm gia tăng suy thái môi trường, tách biệt con người ra khỏi tự nhiên và rơi vào khủng hoảng nhân tính Theo các nhà nghiên cứu về phê bình sinh thái thì phụ nữ

và tự nhiên là những đối tượng chịu thiệt thòi nhất của quá trình suy thoái môi trường Nhưng người phụ nữ đã thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ môi trường, họ đã lên án đấu tranh trước những hành động phá hủy môi trường Nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Phấn từ góc nhìn sinh thái sẽ giúp chúng ta hiểu căn nguyên của sự suy thoái sinh thái đô thị cũng như cái nhìn của ông về vai trò của người phụ nữ trong việc gắn kết con người với tự nhiên

Trang 36

Chương 2 VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỰ NHIÊN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ PHẤN

Karen Laura Thornber trong bài Những tương lai của phê bình sinh thái

và văn học đã chỉ ra hướng nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu phê bình sinh thái

trong giai đoạn hiện nay là: “tập trung vào mảng văn học về thành phố và quá trình công nghiệp hoá cũng như vấn đề công bằng/bất công môi trường cùng những vấn đề xã hội liên đới” (Karen Laura Thornber, 2017a) Từ điểm nhìn này,

đô thị hoá hay sự kiến tạo thành thị trong thời đại công nghiệp đã trở thành vấn

đề trọng tâm của phê bình sinh thái những năm gần đây Các nhà lí thuyết xanh chất vấn lại những không gian thành phố/đô thị và cả những không gian đang bị chuyển-hoá thành đô thị Phê bình sinh thái, theo đó, kiếm tìm trong văn học những cách thể hiện, trình bày, phơi lộ, phản ứng lại, trước mọi quan hệ quyền lực bên trong môi trường đô thị giữa con người với con người và với môi trường sống xung quanh; đồng thời, xem xét những mối quan hệ liên vùng giữa các không gian đô thị - đang đô thị hoá – và không/chưa đô thị hoá Mối lưu tâm đến không gian thành phố và tiến trình đô thị hoá cũng đã đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng trong lí thuyết phê bình sinh thái

Khi nói đến đô thị là nói đến một vùng có nền kinh tế phát triển, dân cư đông đúc, đời sống no đủ, vui tươi, rất hiện đại và tiện nghi Hướng đến một cuộc sống văn minh, hiện đại, tiện nghi là mục tiêu của loài người Chính vì thế mà con người ra sức xây dựng các khu đô thị để phục vụ cuộc sống của con người

Có một thực tế không thể chối bỏ là Việt Nam, bắt đầu từ những năm 1990, đã thực sự bước vào vòng xoáy khó kiểm soát của tiến trình đô thị hoá Giống như những gì Karen Thornber nhận định về các quốc gia Châu Á khác, suốt một thời gian dài, hình ảnh những ống khói nhà máy được coi như là “dấu hiệu biểu thị

sự thịnh vượng quốc gia”, và “công nghiệp hoá” mà đi kèm với nó là đô thị hoá

và phát triển kinh tế đã trở thành một huyền thoại được ca tụng

Vậy cách tiếp cận vấn đề đô thị hóa trong phê bình sinh thái là gì? Điều

mà Lawrance Buell (1996), hơn hai mươi năm trước trong bài Tưởng tượng môi

Trang 37

trường: Thoreau, sáng tác tự nhiên và sự hình thành văn hóa Mỹ, gọi là “sự nổi

dậy của phê bình sinh thái” trong nghiên cứu văn học và văn hóa đã nở rộ thành một nhánh của phê bình và lí luận văn học Và mặc dù phê bình sinh thái đang ngày càng được thừa nhận trong các cuộc tranh luận học thuật, nó vẫn đang vạch

ra những ranh giới nghiên cứu của riêng nó Khởi đầu bằng việc xem xét vai trò của tự nhiên và thiên nhiên với quá trình tạo nghĩa của con người và bằng những phân tích phản biện về vai trò của văn học và văn hóa trong sự tương tác với môi trường không thuộc thế giới con người (non-human), phê bình sinh thái đã trở thành một ngành mới trong phê bình văn học với những câu hỏi mới, những chủ

đề mới Và một trong những chủ đề xuất hiện gần đây trong phê bình sinh thái đó

là phê bình sinh thái đô thị (urban ecocriticism) Với sự chú ý vào môi trường của con người và trầm tư mặc tưởng mang tính văn hóa về ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới môi trường, phê bình sinh thái đô thị được xem như là một sự phát triển trên phương diện lí thuyết của phê bình sinh thái Mặc dù các nhà phê bình sinh thái đã từ lâu nhấn mạnh sự cần thiết của việc đưa các hệ thống đô thị vào trong nghiên cứu của mình, nhưng có rất ít nghiên cứu tập trung vào chủ đề này; phê bình sinh thái vẫn tập trung vào những khái niệm như “cái hoang dã” hay những khung cảnh đồng quê vốn được xem như là chưa có ảnh hưởng của

con người Phải đến cuốn Tự nhiên của các thành phố: Phê bình sinh thái và Môi

trường đô thị (The Nature of Cities: Ecocriticism and Urban Environments) của

Michael Bennet và David W Teague (1999) và cuốn Viết cho một thế giới đang

có nguy cơ tuyệt chủng (Writing for an Endangered World) của Lawrence Buell ,

các nhà phê bình sinh thái mới chỉ ra sự thiếu vắng cả không gian đô thị trong các nghiên cứu về thiên nhiên, văn hóa và môi trường Các nhà phê bình sinh thái đến lúc này khẳng định “sự cần thiết phải nhắc các công dân thành phố vị trí của

họ trong phạm vi các hệ thống sinh thái và tầm quan trọng của điều này đối với đời sống đô thị và văn hóa” (Bennet and Teague, 1999) Cũng như thế Buell kêu gọi sự chuyển hướng tập trung vào “sự phụ thuộc lẫn nhau giữa phong cảnh đô thị và khu rừng rú hẻo lánh” (Lawrence Buell, 2003, Writing for an Endangered World, tr 8) Nghiên cứu không gian đô thị trong phê bình sinh thái truy tìm

Trang 38

những cơ sở vật chất của thế giới đô thị và những ảnh hưởng của chúng với môi trường trên cơ sở phân tích sự phát triển và biểu hiện diễn ngôn của chúng trong

văn hóa, văn học (Schliephake, Urban Ecologies) Đề tài này tiếp nối cách tiếp

cận vấn đề đô thị và đô thị hóa trong phê bình sinh thái bằng việc phân tích chủ

đề này trong truyện ngắn Đỗ Phấn

2.1 Sự bành trướng lấn át của không gian đô thị

2.1.1 Không gian đô thị lấn át không gian làng quê và không gian hoang dã

Đô thị và sinh thái đô thị là vấn đề trở đi trở lại trong truyện ngắn Đỗ Phấn Nói cách khác, Đỗ Phấn dường như ám ảnh với sự phát triển và lan tỏa của

đô thị như là một lực lấn át che lấp làng quê và không gian thiên nhiên Nói về tốc độ phát triển của quá trình đô thị hóa, Đỗ Phấn đã viết “Thành phố mấy năm nay phát triển với tốc độ cuồng nộ Nó ngốn sâu vào các làng mạc xung quanh không mệt mỏi Bộ mặt huênh hoang đắc thắng của nó còn lấp ló cả ở những vùng đồi trung du với những biệt thự kín cổng cao tường” (Đỗ Phấn, 2016, tr.117) Nhận định của nhà văn Đỗ Phấn cho thấy sự bành trướng lấn át của không gian đô thị đối với không gian nông thôn và hoang dã Hình ảnh thành phố hiện lên trên trang viết của Đỗ Phấn rất ấn tượng: thành phố xuất hiện với “bộ mặt huênh hoang đắc thắng” Trong cái nhìn của Đỗ Phấn, thành phố như một con quái vật có sức mạnh tàn phá mọi thứ khi nó đi qua Đỗ Phấn đã dùng một loạt các động từ kết hợp với các tính từ chỉ mức độ để nói về sức mạnh ghê gớm

của cái mang tên thành phố: phát triển với tốc độ cuồng nộ, ngốn sâu, lấp ló

Thành phố- đô thị xuất hiện vừa công khai với sức mạnh kinh hoàng của nó, vừa

âm thầm lặng lẽ tiến sâu vào các không gian nông thôn và hoang dã để rồi nó bùng phát xóa tan mọi sự tồn tại ở những nơi ấy

Trong cái nhìn của phê bình sinh thái, đô thị hóa bị coi là “cơn ác mộng”,

“một cơn ác mộng đô thị” (Verderame, 2010) Các nhà phê bình sinh thái đọc tiểu thuyết viết về đô thị như là những khắc họa về môi trường trong đó không có con người do bệnh tật, để cho thấy sự phá hủy mà đô thị có thể gây ra cho con

Trang 39

người và môi trường Với Đỗ Phấn, sự hình thành các khu đô thị đã làm thay đổi, tác động lớn đến đời sống văn hóa kinh tế xã hội của các vùng quê được lựa chọn

để phát triển thành đô thị, nó xóa sạch dấu vết của không gian làng quê đã tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử Ông viết: “Đã từng có một ngôi làng châu thổ nghìn năm? Đã từng có một vườn đào bát ngát mấy trăm năm? Dù gì đi nữa thì bây giờ cũng chẳng còn vết tích nào cả Cái thành phố tham lam này cứ rộng dài

ra mãi Chẳng biết đâu là điểm dừng Bước chân của nó xóa sạch mấy nghìn năm chỉ trong chốc lát” (Đỗ Phấn, 2009, tr.196) Một đặc điểm dễ nhận thấy là trong các sáng tác của Đỗ Phấn, từ điểm nhìn của các nhân vật, luôn tồn tại cảm giác về

sự đổi thay, trong tương quan giữa quá khứ và hiện tại, luôn có sự đối sánh xưa và

nay với điệp khúc Đã từng Nghệ thuật điệp cấu trúc câu: “Đã từng có…nghìn

năm, trăm năm” như một lời khẳng định về sự tồn tại lâu đời của một không gian

tự nhiên làng quê với cảnh vườn thiên nhiên bát ngát mênh mông che phủ Nhưng không gian làng quê đó đã bị xóa nhòa chỉ trong chốc lát khi xuất hiện

hình ảnh được gọi là thành phố Nghệ thuật đối lập của hai vế câu “Đã từng có

một ngôi làng châu thổ nghìn năm? Đã từng có một vườn đào bát ngát mấy trăm năm?” – “Bước chân của nó xóa sạch mấy nghìn năm chỉ trong chốc lát”, một

vế sử dụng hai câu với những từ ngữ chỉ thời gian tồn tại lâu dài đã từng có,

nghìn năm, mấy trăm năm với một vế chỉ có một câu với từ xóa sạch trong chốc lát cho thấy sức mạnh lấn át ghê gớm của không gian đô thị Trong những trang

viết về đô thị, Đỗ Phấn rất ít khi bày tỏ trực tiếp thái độ của mình Nhưng chỉ qua cách viết của mình, Đỗ Phấn đã gián tiếp bày tỏ thái độ của mình Mặc dù về mặt

ngữ nghĩa thì hai câu “Đã từng có… trăm năm?” thuộc câu khẳng định nhưng về

mặt hình thức thì là câu hỏi tu từ Hai dấu chấm hỏi ấy thể hiện sự day dứt, băn khoăn, tiếc nuối: liệu làng quê xanh mát, trong lành có còn tồn tại hay không hay

chỉ có trong quá khứ? Và câu cuối “Bước chân của nó xóa sạch mấy nghìn năm

chỉ trong chốc lát” là câu trả lời thẳng thắn nhưng đau lòng cho sự băn khoăn ấy

Như đã nói, các nhà phê bình sinh thái tìm hiểu sự tương tác của tác phẩm văn học với hiện thực vật chất của môi trường tự nhiên Tác phẩm văn học được xem như là một “mã văn hóa”, “mã ngôn ngữ” hay một “đạo đức về môi trường” hay

Trang 40

một “ẩn dụ mang tính văn học” về thiên nhiên Và trong tác phẩm của mình, Đỗ Phấn đã sử dụng một số biện pháp tu từ hay diễn ngôn “chống đô thị”; ông coi đô thị và làng mạc là đối lập nhau Điều này vang vọng vấn đề “tu từ chống đô thị” (anti-urban rhetoric) và sự “ẩn ý về sinh thái đô thị” trong văn học thế giới từ nửa cuối thế kỉ XX mà Schliephake Christopher (2005) đề cập trong bài tổng quan của mình về hướng nghiên cứu trong phê bình sinh thái Theo đó, những khái niệm và giả thiết sai lầm về thành phố và cộng đồng đô thị tiếp tục có những ảnh hưởng tiêu cực rộng lớn lên các vùng nghèo đói của thành phố, gây ra bệnh tật và

ô nhiễm Cũng như vậy, với Đỗ Phấn, đô thị như một nỗi ánh ảnh với sự phát triển, lan tỏa, lấn át, che lấp làng quê và không gian thiên nhiên

Chàng trai trong truyện ngắn Phai nhạt sắc đào có hơn nửa đời người gắn

bó với làng mạc, nông thôn, với cánh đồng bát ngát, những mảnh vườn xanh mát

Vì cuộc sống mưu sinh, hắn phải chuyển lên thành phố sinh sống Hắn chán ngán không gian ngột ngạt tù túng nơi thành phố, muốn chạy ra ngoài thành phố để tìm một không gian yên tĩnh thanh bình lấy lại cân bằng cho cuộc sống Nhưng tất cả chỉ còn trong kí ức, lâu lâu hiện về trong giấc mơ đầy khao khát của hắn Trong mơ, hắn mơ đang đi trong một ngôi làng có “đàn chim khuyên hối hả luồn lách trong những khóm đào cất tiếng kêu huyên náo như lũ trẻ đến trường Những mặt ao xanh rì bèo tấm lõm bõm tiếng cá rô đớp nước” (Đỗ Phấn, 2009, tr.193) Khi tỉnh dậy, hắn bàng hoàng thất vọng: “Không có một ngôi làng nào ở đấy cả Không có những bụi tre khum khum như những chiếc cổng Chẳng có bất

cứ một mặt ao lõm bõm bèo tấm và cá rô Đường phố vuông vức đến ức chế mọi tưởng tượng” (Đỗ Phấn, 2009, tr.194) Một loạt điệp ngữ phủ định “không có, chẳng có” đi liền nhau chính là sự khẳng định lực át ghê gớm của không gian đô thị đối với không gian làng quê Giữa những ồn ào, chật chội của phố thị, hình ảnh thôn quê trong truyện ngắn của Đỗ Phấn trở thành nỗi hoài niệm, tiếc nuối của nhiều người

Michael Benett (1999) trong bài viết “Vật chất hóa Ghetto: Xu hướng chống đô thị và Không gian hóa của Chủng tộc” khẳng định rằng xu hướng

Ngày đăng: 21/06/2021, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Rueckert, William (1978). “Literature anh Ecology: An Experiment in Ecocriticism.” Inova Review số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Literature anh Ecology: An Experiment in Ecocriticism.” "Inova Review
Tác giả: Rueckert, William
Năm: 1978
30. Đỗ Văn Hiểu (2016). Tính “khả dụng” của phê bình sinh thái, Truy cập ngày 18/6/2018 từ https://dovanhieu.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: khả dụng
Tác giả: Đỗ Văn Hiểu
Năm: 2016
34. Nguyễn Tham Thiện Kế (2010). Đỗ Phấn, ông “xe ôm” đa tài”, báo Tiền Phong ra ngày 28/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: xe ôm” đa tài
Tác giả: Nguyễn Tham Thiện Kế
Năm: 2010
40. Đỗ Hải Ninh (2017). Khủng hoảng môi trường và số phận của cộng đồng thiểu số trong tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 của Thuận, in trong kỉ yếu “Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu” của Viện Văn Học, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr781-797 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu
Tác giả: Đỗ Hải Ninh
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 2017
41. Lê Phong (2018). Kênh Nhiêu Lộc- Thị Nghè lại thành dòng “kênh chết”, Bản tin của báo Người lao động ngày 03/04/2018. Truy cập ngày 28.7.2018 từ https://nld.com.vn/thoi-su/kenh-nhieu-loc-thi-nghe-lai-thanh-dong-kenh-chet-20180403164559395.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: kênh chết
Tác giả: Lê Phong
Năm: 2018
46. Lê Hương Thủy (2017). Cảm quan sinh thái trong sáng tác của Đỗ Phấn, in trong kỉ yếu “Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu”của Viện Văn Học, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tr830-848 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình sinh thái- Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu
Tác giả: Lê Hương Thủy
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 2017
66. Bennett, Michael (1999). “Manufacturing the Ghetto: Anti-urbanism and the Spatialization of Race, The Nature of Cities.” Ecocriticism and Urban Environment. Ed. Michael Bennett and David W. Teague. Tucson: The U of Arizona P, 1999. 169-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manufacturing the Ghetto: Anti-urbanism and the Spatialization of Race, The Nature of Cities
Tác giả: Bennett, Michael
Năm: 1999
69. Buell, Lawrence (2003). Writing for an Endangered World (Viết cho mọt thế giới đang có nguy cơ tuyệt chủng). Cambridge: Harvard University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết cho mọt thế giới đang có nguy cơ tuyệt chủng)
Tác giả: Buell, Lawrence
Năm: 2003
72. Phillips, Dana (2010). “Introduction: Special Issue on Animal Studies and Ecocriticism.” Safundi: The Journal of South African and American Studies Vol. 11, Nos 1–2, January–April 2010, 1–2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction: Special Issue on Animal Studies and Ecocriticism
Tác giả: Phillips, Dana
Năm: 2010
75. Verderame, Michael. “The shape of ecocriticism to come.” New Directions in Ecocriticism (Sept. 2010). WebTÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Sách, tạp chí
Tiêu đề: The shape of ecocriticism to come
4. Frederick Turner(2012).Thi pháp sinh thái, Nguyễn Tiến Văn dịch, Truy cập ngày 14/07/2018 từ http://nhavantphcm.com.vn Link
14. Minh Anh (2017). Dân số của Hà Nội năm 2017 tăng lên 1,8% so với năm trước, Tin tức in trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ Thủ đô Hà Nội ngày 22/12/2017, Truy cập ngày 30.07.2018 từ http://thanglong.chinhphu.vn/dan-so-cua-ha-noi-nam-2017-tang-len-1-8-so-voi-nam-truoc Link
15. Nguyễn Duy Bình (2011). Những nét tươi mới trong phê bình văn học, Chuyên mục Góc nhìn văn hóa của báo Văn hóa Nghệ An online, Truy cập ngày 14/07/2018 từ http://www.vanhoanghean.com.vn Link
16. Phạm Phương Chi (2017). Phê bình sinh thái như là một nội dung của phê bình hậu thuộc địa Đọc tiểu thuyết Thủy triều đói, (The Hungry Tide, 2005) của Amitav Ghosh, Chuyên mục nghiên cứu của báo điện tử ĐHSP Hà Nội khoa Ngữ Văn, Truy cập ngày 31/12/2017 từ http://nguvan.hnue.edu.vn Link
17. Đỗ Chu (2013). Để có một nhà văn, Bài viết trên nico-paris.com, ngày 9/10/2013, Truy cập ngày 25.5.2018 từ http://nico-paris.com/tin-tuc- 502/de-co-mot-nha-van---do-chu.vhtm Link
24. Đặng Thị Thái Hà (2015). Vấn đề sinh thái đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới, Chuyên mục bình luận văn nghệ của báo Văn nghệ quân đội online ngày 3/8/2015, Truy cập ngày 6-8-2018 từ http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/van-de-sinh-thai-do-thi-trong-van-xuoi-viet-nam-thoi-doi-moi-7607.html Link
42. Đình Phú (2018). Cá lại chết trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Bản tin xã hội của báo Thanh niên ngày 03/04/2018, Truy cập ngày 28.7.2018 từ https://thanhnien.vn/thoi-su/ca-lai-chet-tren-kenh-nhieu-loc-thi-nghe-948717.html Link
44. Trần Đình Sử (2010). Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc, Chuyên mục Góc nhìn văn hóa của báo Văn hóa Nghệ Anonline, Truy cập ngày 14/07/2018 từhttp://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/chuyen-huong-van-hoa-trong-nghien-cuu-van-hoc-trung-quoc Link
54. Bình Nguyên Trang (2014). Đỗ Phấn- Người cất giấu nỗi buồn đô thị, Bài viết trên nico-paris.com, ngày 23/11/2014,Truy cập ngày 25.5.2018 từ http://nico-paris.com/tin-tuc-647/do-phan---nguoi-cat-giau-noi-buon-do-thi---binh-nguyen-trang.vhtm Link
55. Nguyễn Thùy Trang (2017a). Tính đối thoại- phương thức kết nối với thế giới tự nhiên trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Truy cập ngày 26/11/2017 từ http://www.khoanguvandhsphue.org Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w