1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ÔN TẬP CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

42 339 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 81,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Bạn hãy phân định biển và đại dương theo hướng dẫn của Công ước quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1982 về Luật Biển và nêu rõ quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn t

Trang 1

Câu 1: Bạn hãy phân định biển và đại dương theo hướng dẫn của Công ước quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1982 về Luật Biển và nêu rõ quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven bờ? 2 Câu 2: Bạn hãy lấy ví dụ về 1 điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết để chứng minh vai trò của điều ước quốc tế đối với Việt Nam trong hội nhập quốc tế hiện nay? 2 Câu 3: Có quan điểm cho rằng: 4

“ Quan hệ do Luật quốc tế điều chỉnh là quan hệ giữa các quốc gia hoặc các thực thể quốc tế khác như các tổ chức quốc tế liên quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, nảy sinh trong các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, xã hội …) của đời sống quốc tế” Bạn cho ý kiến bình luận

và làm rõ sự khác biệt giữa quan hệ do Luật quốc tế điều chỉnh với quan hệ do Luật quốc gia điều chỉnh 4 Câu 4: Có ý kiến cho rằng 5

“Thực thi Luật quốc tế là quá trình các chủ thể áp dụng cơ chế hợp pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của Luật quốc tế được thi hành và được tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế”.

5

Câu 6: Chỉ rõ con đường hình thành pháp luật quốc tế và mỗi quan hệ biện chứng giữa luật quốc tế và luật quốc gia? 8 Câu 9: Hình thức của điều ước quốc tế tồn tại dưới nhiều dạng tên gọi khác nhau như 9 Câu 11 Khi bàn về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, có ý kiến cho rằng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Bạn hãy chỉ

rõ biểu hiện của mối quan hệ này? 12 Câu 12 13 Luật quốc tế, giống như Luật quốc gia, cũng có các chế tài, nhưng việc áp dụng chế tài của Luật quốc tế do chính quốc gia tự thực hiện bằng cách thức riêng lẻ hoặc tập thể 13 Câu 13 Mọi điều ước quốc tế có hiệu lực kể từ khi tất cả các bên tham gia đàm phán và soạn thảo ký vào bản thảo cuối cùng của Điều ước này 15 Nhận định trên Đúng hay Sai? Giải thích 15 Câu 14 Nêu các đặc điểm của 1 tổ chức quốc tế liên chính phủ? Với mỗi loại tổ chức quốc tế liên chính phủ, bạn hãy kể tên 1 tổ chức quốc tế tương ứng mà bạn biết? 16 Câu 15 Nêu vai trò và giá trị pháp lý của điều ước quốc tế Khi có sự vi phạm điều ước quốc tế của 1 chủ thể thì các chủ thể khác của điều ước quốc tế sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý quốc tế như thế nào? 17 Câu 16 Phân tích các trường hợp mất quốc tịch theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Với mỗi trường hợp, bạn hãy nêu một ví dụ minh họa? 19 Câu 19: Phân tích chế độ pháp lý quốc tế về vùng trời quốc gia, phương tiện bay và phi hành đoàn? 20 Câu 21: Phân tích khả năng thực thi Phán quyết của Toà Trọng tài PCA về vụ kiện Philippines

và Trung Quốc tranh chấp trên biển Đông 21

Trang 2

Câu 22: Phân tích về quốc gia và các tập đoàn đa quốc gia với vai trò là các chủ thể của Luật

quốc tế 21

Câu 23: Phân tích về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Chính phủ và nhà đầu tư nước ngoài tại Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Quốc tế về Đầu tư (ICSID) 23

Câu 24: Phân tích vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và cơ chế biểu quyết của Hội đồng này trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế 24

Câu 25: Phân biệt quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao với quyền ưu đãi và miễn trừ lãnh sự? 25

Câu 26: Phân biệt quy phạm pháp luật quốc tế với quy phạm chính trị và chỉ rõ mối quan hệ giữa chúng? 27

Câu 4: Tại sao nói biển cả không phụ thuộc vào chủ quyền và quyền TP của bất kỳ quốc gia nào? 28

Câu 5 : Tại sao nói quốc gia là chủ thể cơ bản và chủ yếu của CPQT 29

Câu 29: Philippin muốn thi công đường ống dẫn dầu ở thềm lục địa Việt Nam Hỏi: 31

a Philippin có quyền đặt đường ống dẫn dầu ở thềm lục địa Việt Nam không? Tại sao? 31

b Philippin có bắt buộc phải bàn bạc, thỏa thuận và thống nhất với nhà nước Việt Nam trước khi đặt ống dẫn dầu không? Tại sao? 31

Câu 30: Trong thực tế, có các cá nhân hoặc pháp nhân kinh tế, xã hội có tham gia vào một số loại quan hệ pháp luật quốc tế, chẳng hạn như họ đầu tư công; họ thuê đất ở quốc gia khác để sản xuất, kinh doanh; họ cho nhà nước nước ngoài vay tiền, v.v… nhưng không vì thế mà cho rằng những thực thể này là chủ thể của Luật quốc tế 33

Bạn hãy cho ý kiến bình luận! 33

Câu 32: Trình bày hiểu biết về các nguyên tắc cơ bản của Luật kinh tế quốc tế và phân tích các ngoại lệ phổ biến của những nguyên tắc này 34

Câu 33:Từ năm 2002 tới năm 2007, X là Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán nước A tại thủ đô của nước B Năm 2003 X thuê một người phụ nữ quốc tịch A tên là Y làm người giúp việc, bảo lãnh cho Y có được Visa của nước B và mang người phụ nữ này sang nước B cùng gia đình mình Trong suốt ba năm từ 2003 tới 2006, X có nhiều hành động ngược đãi, biến Y thành nô lệ cho gia đình mình 39

Câu 35: Nước A và nước B cùng là thành viên của Liên hợp quốc, có quan hệ tại biên giới chung hai nước rất căng thẳng Ngày 12/12/2016, ba binh lính bảo vệ biên giới của nước A sử dụng vũ khí hạng nặng khiêu khích và tấn công làm bị thương một binh lính của nước B Nước B ngay sau đó đã tiến hành một cuộc tấn công trả đũa và gây ra cuộc xung đột vũ trang giữa hai nước kéo dài một tháng Cuối cùng, nước A bị đánh bại hoàn toàn và bị buộc phải ký một hiệp ước hòa bình với nước B với hai nội dung chính: (i) chấm dứt toàn bộ hoạt động quân sự gây căng thẳng giữa hai nước và (ii) nhường lại một phần lãnh thổ nước A cho nước B 41

Trang 3

hôiÔN TẬP CÔNG PHÁP QUỐC TẾCâu 1: Bạn hãy phân định biển và đại dương theo hướng dẫn của Công ước quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1982 về Luật Biển và nêu rõ quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven bờ?

Phân định vùng biển và đại dương chép Giáo trình từ trang 84 Vùng biển có chủ quyền toànvẹn, đầy đủ và tuyệt đối là nội thuỷ, nếu hỏi thì chỉ chép nội thuỷ thôi

Phân định biến và đại dương theo hướng dẫn của Công ước quốc tế của LHQ năm 1982 về Luật biển :

- Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

 Nội thủy

 Lãnh hải

- Các vùng biển quốc gia có quyền chủ quyền và quyền tài phán

 Vùng tiếp giáp lãnh hải

 Vùng đặc quyền kinh tế

 Thềm lục địa

- Các vùng biển không thuộc quyền tài phán quốc gia

 Biển cả

 Vùng –di sản chung của loài người

- Các vùng biển đặc thù

 Vùng nước quần đảo

 Eo biển quốc tế

Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của quốc gia ven bờ

Điều 8, khoản 1 Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 định nghĩa nội thủy là “cácvùng nước ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” Trong vùng nộithủy, các quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đấtliền của mình Tàu thuyền nước ngoài muốn ra vào vùng nội thủy phải xin phép quốc gia venbiển và phải tuân theo luật lệ của quốc gia đó

Câu 32 trong tập ôn thi công pháp

Câu 2: Bạn hãy lấy ví dụ về 1 điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết để chứng minh vai trò của điều ước quốc tế đối với Việt Nam trong hội nhập quốc tế hiện nay?

-Trên bình diện chung, hệ thống quốc tế được tạo thành bởi nhiều yếu tố, như các quốc gia;các tổ chức quốc tế liên quốc gia; các thực thể quốc tế khác (và các thiết chế quốc tế củanhững tổ chức này); luật quốc tế và các quy phạm khác của hệ thống quốc tế Giữa các yếu tốnày có sự gắn kết với nhau trong những mối quan hệ tương tác, tạo thành hệ thống quốc tế -Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống quốc tế được thể hiện qua yếu tố trung tâm là quốc gia vànhững mối quan hệ, liên kết giữa quốc gia với yếu tố khác, thông qua sự điều chỉnh của cácloại quy phạm mang tính pháp lý - chính trị và với những phương thức nhất định Liên quanđến quốc gia và sự phát triển của hệ thống quốc tế, luật quốc tế hiện đại giữ vai trung tâm, bởiđược các quốc gia và thực thể quốc tế khác sử dụng với tính chất là công cụ pháp lý để duy trì

sự phát triển của hệ thống này trong một trật tự pháp luật nhất định và có sự bao quát tới hầuhết các lĩnh vực của đời sống quốc tế Hình thành và tồn tại trong hệ thống quốc tế như vậy,kết hợp với xu thế phát triển của thời đại (xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở

cả hai cấp độ, khu vực và toàn cầu, dựa trên cơ sở nền kinh tế trí thức), luật quốc tế hiện đại

Trang 4

trong những thập nguyên đầu của thế kỉ XXI là kết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc tếtrong điều kiện hợp tác, phát triển của cộng đồng thế giới đang có những thay đổi to lớn vềmọi phương diện, cấp độ, tuân theo quy luật vận động khách quan ở từng quốc gia cũng nhưtrên phạm vi toàn cầu

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, ĐƯQT là một trong những công cụ hiệu quả nhấtmà các quốc gia có thể sử dụng để thiết lập các quan hệ đối ngoại Chính vì thế, trong phápluật các nước nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng, ĐƯQT đóng một vai trò quan trọng vàthường được ưu tiên áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột giữa các quy định của văn bảnquy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về cùng một vấn đề

Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký vào ngày 14-7-2000 bắt đầu có hiệu lực tháng 2001

12-Nội dung Hiệp định gồm 4 vấn đề:

- Thương mại dịch vụ

- Thương mại hàng hoá

- Sở hữu trí tuệ

- Các quan hệ về đầu tư

Thông qua Hiệp định này, hàng xuất khẩu Việt Nam và thị trường này được hưởng ưu đãitối huệ quốc MFN (Most Favoured Nation Treatment) có đi có lại Thuế đánh vào hàng hoáViệt Nam nhập khẩu vào Mỹ sẽ giảm từ 40% xuống còn 0-5% (không kể thuế đánh vào cácmặt hàng bị xử lý vì thua kiện bán phá giá) Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (BTA)được ký kết và có hiệu lực hơn 1 năm sau đó, thương mại luôn là điểm sáng trong quan hệsong phương Việt - Mỹ Hiện nay Hoa Kỳ cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ViệtNam, kim ngạch thương mại song phương đã tăng từ 1,2 tỉ USD vào năm 2000 lên 45 tỉ USDnăm 2015

Công ước Đa dạng sinh học (CBD)

Công ước CBD được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển doLiên hợp quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de Janeiro (Braxin) và chính thức có hiệu lực từtháng 12/1994 Đến tháng 11/2011, đã có 193 thành viên tham gia Công ước CBD Công ướcCBD được coi là công ước quốc tế đầu tiên và duy nhất giải quyết một cách toàn diện các vấnđề về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học Việc điều tra và tư liệu hóa nguồn gen làmột trong những nội dung quan trọng của Công ước Công ước cũng đã đưa ra vấn đề quản lýtiếp cận nguồn gen, tri thức truyền thống và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen, tri thứcđó Bên cạnh đó, vấn đề an toàn sinh học đã được đặt ra và cụ thể hóa bằng Nghị định thưCartagena về an toàn sinh học Các nội dung trong Công ước là cơ sở cho các bên tham giaxây dựng hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế phù hợp nhằm bảo tồn, phát triển và sửdụng bền vững tài nguyên di truyền của mỗi quốc gia

Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên của Công ước này từ ngày 16/11/1994 Kể từ đóđến nay, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm và đầu tư nguồn lực để thực thi các cam kết vànghĩa vụ đối với Công ước và quan trọng hơn nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tàinguyên sinh vật vô cùng phong phú và quý giá của quốc gia Sau gần 20 năm thực hiện Công

Trang 5

ước CBD, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinhhọc (ĐDSH) đã được xây dựng và ban hành tương đối đầy đủ; điều tiết nhiều mảng khác nhaucủa lĩnh vực bảo tồn, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Công ước CBD và các Công ướckhác mà Việt Nam là thành viên Những nỗ lực này đã giúp Việt Nam bảo tồn hiệu quả tàinguyên sinh vật, đảm bảo an toàn môi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo, hướng đến mụctiêu phát triển toàn diện và bền vững.

Câu 3: Có quan điểm cho rằng:

“ Quan hệ do Luật quốc tế điều chỉnh là quan hệ giữa các quốc gia hoặc các thực thể quốc tế khác như các tổ chức quốc tế liên quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, nảy sinh trong các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, xã hội …) của đời sống quốc tế” Bạn cho ý kiến bình luận và làm rõ sự khác biệt giữa quan hệ do Luật quốc tế điều chỉnh với quan hệ do Luật quốc gia điều chỉnh.

Luật quốc tế Hiện đại

Nguồn gốc của luật quốc tế: nguồn gốc vật chất

+Sự hình thành các nhà nước và pháp luật

+Sự xuất hiện các quan hệ giữa các Nhà nước ở những khu vực khác nhau

+Sự xuất hiện các mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia vì nhu cầu khách quan của sự tồntại và phát triển ở từng quốc gia

- Cơ sở hình thành và phát triển: Đây là thời kỳ quan hệ hợp tác quốc tế diễn ra vô cùng mạnh

mẽ cùng với sự xuất hiện của xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực trong những thập kỷsau của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI

Luật quốc tế bắt đầu xuất hiện khi giữa các Nhà nước có sự thiết lập quan hệ bang giao vớinhau Lúc đầu chỉ là quan hệ mang tính chất khu vực và bó hẹp trong một số lĩnh vực nhấtđịnh như chiếm đoạt tài sản, chiến tranh, cướp bóc nô lệ của nhau Dần dần những quan hệgiữa các quốc gia được mở rộng, vượt ra khỏi phạm vi khu vực và phát triển thành các quanhệ có tính chất liên khu vực hay cộng đồng quốc tế Ngày nay, khi quá trình toàn cầu hóa vàkhu vực diễn ra mạnh mẽ thì các quốc gia không còn là các ốc đảo riêng biệt mà gắn bó vớinhau ngày càng chặt chẽ thông qua vô vàn các mối liên kết khác nhau từ kinh tế chính trị đếnvăn hóa giáo dục, Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập màkhông có quan hệ với các quốc gia khác Trong mạng lưới liên kết này quyết định và hànhđộng của một quốc gia, ngay cả khi chúng chỉ mang tính chất nội bộ cũng tạo ra các hậu quảtrực tiếp hoặc gián tiếp đến quốc gia khác và cộng đồng quốc tế Nói cách khác quan hệ hợptác quốc tế không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩymạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, mà còn là trách nhiệm - nghĩa vụ của cácquốc gia xét dưới góc độ pháp luật quốc tế Chính vì thế, những quan hệ này phải được điềuchỉnh bằng hệ thống các quy phạm tương ứng khác với các quy phạm của luật quốc gia vớitên gọi là Luật quốc tế

Luật quốc tế là một hệ thống pháp luật độc lập bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng trên cơ sở

tự nguyện bình đẳng đấu tranh thương lượng, luật quốc tế được đảm bảo thực hiện bằngcưỡng chế riêng lẻ hoặc cưỡng chế tập thể hoặc thông qua dư luận tiến bộ thế giới.Hiện nay,Luật Quốc tế điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể kháccủa Luật Quốc tế trên nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu và quan trọng nhất vẫn là chính trị Do

Trang 6

Luật Quốc tế là hệ thống luật công nên Luật Quốc tế điều chỉnh các vấn đề chung nhất, phổbiển nhất giữa các quốc gia Khác với các quan hệ do luật quốc gia điều chỉnh, quan hệ thuộcphạm vi tác động của LQT là quan hệ mang tính chất liên quốc gia, liên chính phủ, phát sinhtrong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống quốc tế Những quan hệ đó đòi hỏi phải được điềuchỉnh bằng các quy phạm luật quốc tế Tuy nhiên, không phải tất cả các quan hệ quốc tế đềulà đối tượng điều chỉnh của luật quốc tế Trong quan hệ quốc tế, do các chủ thể LQT bìnhđẳng với nhau về chủ quyền cơ quan quyền lực nào có thể đứng trên các quốc gia để ấn định,hay áp đặt ý chí của mình cũng như các quy phạm pháp lý buộc các quốc gia phải tuân theo.Thay vào đó, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận thỏa thuận là phương thức duy nhất để hìnhthành hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế Thông thường hoạt động xâydựng pháp luật quốc tế thường thông qua hai giai đoạn, giai đoạn thỏa thuận của các quốc giavề nội dung quy tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã hìnhthành Việc hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế theo hai giai đoạn này không nhằm tạo

ra ý chí tối cao, duy nhất mà là sự tự nguyện thỏa thuận của các quốc gia dựa trên nguyên tắcbình đẳng về chủ quyền

Câu hỏi: Vậy, tại sao các quốc gia có nền kinh tế, có xu hướng chính trị khác nhau lại có thểcùng nhau thỏa thuận xây dựng nên các nguyên tắc và quy phạm LQT? Sở dĩ các quốc gia đạtđược sự thoả thuận này tất cả đều xuất phát từ lợi ích của chính họ Các quy phạm LQT đượchình thành là kết quả của sự thỏa thuận, tự nguyện, và nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể,hướng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, cũng như vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế Sosánh với bản chất của pháp luật quốc gia ta thấy: Luật quốc gia phản ánh và đáp ứng nhu cầulợi ích của giai cấp thống trị nhà nước đó, vì vậy, mọi sự phát triển, thay đổi của pháp luậtquốc gia đều xuất phát từ ý chí của nhà nước khi thực hiện chủ quyền quốc gia trong các mốiquan hệ đối nội, đối ngoại Đặc trưng của pháp luật quốc gia không phải là sự thỏa thuận trên

cơ sở bình đẳng, tự nguyện về ý chí, mà là tính giai cấp, tính xã hội và là sự thể hiện sâu sắc ýchí của giai cấp cầm quyền Còn LQT là luật của cả cộng đồng quốc tế, nó không bàn đến vấnđề ý chí giai cấp, không có sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia, mà chủ yếu là sự thể hiện ýchí chung của các chủ thể LQT

Nhận định trên là sai bởi Luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ của quốc gia của từ này Tức lànhững mối quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, …mà chủ yếu là quan hệ mang tính chính trị Tuy nhiên không phải mọi mối quan hệ quốc tếđều là đối tượng điều chỉnh của Luật Quốc tế Chẳng hạn, quan hệ quốc tế theo con đườngcác tổ chức chính trị, xã hội… không do Luật Quốc tế điều chỉnh

* Phân biệt quan hệ do Luật quốc tế điều chỉnh và luật quốc gia điều chỉnh:

Câu 4: Có ý kiến cho rằng

“Thực thi Luật quốc tế là quá trình các chủ thể áp dụng cơ chế hợp pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của Luật quốc tế được thi hành và được tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế”.

Bằng kiến thức về xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật tại Việt Nam bạn hãy chứng minh tính đúng đắn của nhận định trên.

Trang 7

Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốcgia xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình và trong các điềuước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Việc áp dụng các quy phạm xung đột cũng đồngnghĩa với việc quốc gia đó thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây làmột đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đaphương, đa diện của quốc gia với nước ngoài Thực tiễn tư pháp quốc tế đã chứng tỏ rằng, ởnhững mức độ và với những điều kiện khác nhau, tất cả các nước đều thừa nhận và cho phépáp dụng pháp luật nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là không tránh khỏi, là đặcthù của tư pháp quốc tế Khi áp dụng pháp luật nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền phải tuânthủ các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý nhất định Mỗi quốc gia các điều kiện, cơ sở vàthể thức pháp lý về áp dụng luật nước ngoài là khác nhau Tuy nhiên, phạm vi cho phép ápdụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bình đẳngchủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nướcngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật của nước mình.Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là một trong những vấn đề cơ bản

của Luật quốc tế Mối quan hệ này thường được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia Về mối quan hệ giữa điều ước của CHXHCN Việt Nam và pháp luật Việt Nam: Cho tới

nay nước ta đã ký được hơn 1000 điều ước quốc tế song phương và là thành viên của gần 200điều ước quốc tế đa phương Ngày 10/10/2001 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thứccủa Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế Điều 26 Phần III Công ước Viên về LuậtĐiều ước năm 1969 quy định nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau: “Mọi điều ước đã cóhiệu lực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành với thiện ý”.Đồng thời, Công ước Viên cũng đã xác định mối quan hệ giữa pháp luật trong nước và việctôn trọng các điều ước quốc tế mà quốc gia đã cam kết, như sau: “Một bên kết ước không thểviện những quy định của pháp luật trong nước của mình làm lý do để không thi hành một điềuước mà mình đã cam kết” (Điều 27 - Công ước Viên) Việt Nam cũng đã ban hành Pháp lệnhvề ký kết và thực hiện điều ước quốc tế Điều 24, Pháp lệnh Ký kết và thực hiện điều ướcquốc tế năm 1998 của Việt Nam cũng đã quy định nguyên tắc tuân thủ điều ước quốc tế(Pacta sunt servanda) như sau: “Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nghiêm chỉnhtuân thủ điều ước quốc tế mà mình đã ký kết là thành viên của Công ước Viên 1969, ViệtNam cam kết thực thi những “điều ước quốc tế được ký kết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳngvà cùng có lợi, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và các quy địnhcủa Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh về

ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế) Nhìn tổng thể vị trí của điều ước quốc tế trong hệthống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam đều được ghi nhận bằng một côngthức chung nhất đó là: trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kếthoặc tham gia có quy định khác với quy định của luật (Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định) này, thìáp dụng các quy định của điều ước quốc tế ( Khoản 2, Điều 795, Bộ luật Dân sự năm 2005;Điều 3, Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997; Khoản 2, Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đìnhnăm 2000; Khoản 2, Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; Điều 5 Luật Hải quan năm2001; Điều 5, Luật Thương mại năm 2005; Điều 8, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm

2003 v.v ) Như vậy, Việt Nam đã chấp nhận quan điểm về giá trị ưu thế của điều ước quốctế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia so với pháp luật trong nước và coi điều ước quốc tế là

Trang 8

một bộ phận cấu thành của pháp luật Việt Nam, và về phương diện hiệu lực thi hành, điều ướcquốc tế giữ vị trí thứ hai sau các quy định của hiến pháp và trước các quy định của bộ luật.Tuy vậy, việc xác định vị trí cụ thể của điều ước quốc tế trong pháp luật trong nước là chưađược quy định một cách rõ ràng Về việc (cách thức) áp dụng các quy phạm điều ước quốc tế,cho đến nay pháp luật Việt Nam cũng chưa có quy định cụ thể Vì vậy, việc quy định áp dụngđiều ước quốc tế, trường hợp nào thì áp dụng trực tiếp, trường hợp nào phải thông qua thủ tụcchuyển hoá bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, cần phải đượcquy định rõ và cần có cách tiếp cận linh hoạt, mềm dẻo Nên chăng chỉ chuyển hoá nhữngđiều ước quốc tế có nội dung quá phức tạp hoặc chỉ quy định các nguyên tắc chung, còn cácđiều ước quốc tế có các nội dung quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết thì nên áp dụng trực tiếpmà không cần phải thông qua thủ tục chuyển hoá nhằm giảm bớt gánh nặng của công tác lậppháp, lập quy của Nhà nước vốn đã rất đồ sộ hiện nay Tóm lại, về vị trí của quy phạm điềuước quốc tế, cũng như phương thức áp dụng điều ước quốc tế cần phải được quy định rõ ràngvà chặt chẽ trong đạo luật cao nhất của Nhà nước ta - Hiến pháp, và đạo luật chuyên ngành -Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế Như vậy, một đòi hỏi cấp bách và khôngthể trì hoãn là cần tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và Pháp lệnh về ký kết và thựchiện điều ước quốc tế năm 1998 của Nhà nước ta Làm được điều đó, là góp phần tạo lập mộthành lang pháp lý cần thiết, làm bệ đỡ cho công cuộc hội nhập một cách sâu sắc và toàn diệncủa Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia trên

cơ sở các nguyên tắc của pháp luật và tập quán quốc tế hiện đại

Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật năm 2008, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quyphạm pháp luật mới là phải "không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên." Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho việc thựchiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ nghiêm túc tạiViệt Nam Tiến hành chuyển hoá quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước.Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề chuyển hoá (nội luậthoá) các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hoálà bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế Nhà nước CHXHCN Việt Namkhẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kếthoặc gia nhập Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơquan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việcthực hiện điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là một bên ký kết Như vậy, nhận thức vềnghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hoá thànhpháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơquan nhà nước Xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, Nhà nước của mỗiquốc gia là thành viên của ĐƯQT đều có quyền hạn và trách nhiệm xác định cách thức thựcthi các điều khoản của ĐƯQT trong phạm vi quyền lực pháp lý của mình

Câu 5: Có ý kiến cho rằng:

“Con đường hình thành Luật quốc tế là quá trình mang tính chất tự nguyện của các quốc gia, thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành hoặc theo phương thức thỏa thuận công khai bằng quan hệ điều ước, hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong luật tập quán”.

Bình luận ý kiến trên.

Trang 9

PHÂN TÍCH NGUỒN LUẬT

Câu 6: Chỉ rõ con đường hình thành pháp luật quốc tế và mỗi quan hệ biện chứng giữa luật quốc tế và luật quốc gia?

Sự hình thành LQT khác với trình tự xây dựng LQG, bởi vì việc hình thành luật quốc tế làquá trình mang tính chất tự nguyện của các quốc gia, thể hiện ở sự tự điều chỉnh quan hệ lậppháp mà các quốc gia tiến hành theo phương thức thỏa thuận công khai bằng quan hệ điềuước hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong tập quán

Tính tự điều chỉnh trong hoạt động xây dựng luật quốc tế thông qua 2 giai đoạn:Giai đoạn thỏa thuận của quốc gia về nội dung quy tắc

Giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã được hình thành

Việc tạo ra hai giai đoạn này không nhằm tạo ra ý chí tối cao, duy nhất mà là sự tự nguyệnthảo thuận của các quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền

So sánh với LQG:

Khi tiến hành LQT thiếu vắng cơ quan lập pháp (LQG có cquan xây dựng luật là Quốc hội),hệ thống lập pháp mà các cơ quan tiến hành theo phương thức thỏa thuận công khai Việchình thành LQT là quá trình tự nguyện của các quốc gia, thể hiện ở sự tự điều chỉnh bằngquan hệ điều ước hoặc mặc nhiên thừa nhận quy tắc xử sự trong tập quán Qt

+ Không có cơ quan lập pháp để xây dựng các qui phạm pháp luật của Luật quốc tế

+ Con đường hình thành Luật quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia dưới hình thức kýkết

các điều ước quốc tế hoặc cùng nhau thừa nhận các tập quán quốc tế

Đây là đặc điểm chỉ tìm thấy trong quá trình xây dựng các nguyên tắc và quy phạm pháp lýcủa LQT Thông thường, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia chủ yếu do các cơ quan lậppháp (quốc hội, nghị thể hiện sâu sắc tính giai cấp và tính xã hội Tuy nhiên, trong"viện) banhành không có"quan hệ quốc tế, do các chủ thể LQT bình đẳng với nhau về chủ quyền cơquan quyền lực nào có thể đứng trên các quốc gia để ấn định, hay áp đặt ý chí của mình cũngnhư các quy phạm pháp lý buộc các quốc gia phải tuân theo Thay vào đó, cộng đồng quốc tế

đã thừa nhận thỏa thuận là phương thức duy nhất để hình thành hệ thống các nguyên tắc vàquy phạm pháp lý quốc tế Thông thường hoạt động xây dựng pháp luật quốc tế thường thôngqua hai giai đoạn, giai đoạn thỏa thuận của các quốc gia về nội dung quy tắc và giai đoạn thỏathuận công nhận tính ràng buộc của các quy tắc đã hình thành Việc hình thành các quy phạmpháp luật quốc tế theo hai giai đoạn này không nhằm tạo ra ý chí tối cao, duy nhất mà là sự tựnguyện thỏa thuận của các quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền

Câu hỏi: Vậy, tại sao các quốc gia có nền kinh tế, có xu hướng chính trị khác nhau lại có thểcùng nhau thỏa thuận xây dựng nên các nguyên tắc và quy phạm LQT? Sở dĩ các quốc gia đạtđược sự thoả thuận này tất cả đều xuất phát từ lợi ích của chính họ Các quy phạm LQT đượchình thành là kết quả của sự thỏa thuận, tự nguyện, và nhượng bộ lẫn nhau giữa các chủ thể,hướng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, cũng như vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế

2 Nội dung mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Cơ sở của mối quan hệ

Trang 10

+Luật quốc gia và Luật quốc tế có mối quan hệ bản chất với các phương diện hoạt độngthuộc chức năng của nhà nước: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

+Các chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau

+Việc thực hiện chức năng đối ngoại luôn xuất phát từ tình hình thực hiện

chức năng đối nội

+Kết quả của việc thực hiện chức năng đối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành chứcnăng đối nội

+Sự tác động qua lại giữa luật quốc tế và luật quốc gia

+Luật quốc gia ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của luật quốc tế thôngqua sự tham gia của từng quốc gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế Luật quốc gia chi phốivà thể hiện nội dung của luật quốc tế

+Luật quốc gia chính là phương tiện thực hiện luật quốc tế

+Luật quốc gia cũng đóng vai trò là cơ sở đảm bảo cho các ngành luật truyền thống của luậtquốc tế tiếp tục phát triển, đồng thời tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và phát triển củanhững ngành luật mới (luật hàng không dân dụng quốc tế, luật môi trường quốc tế, luật kinhtế quốc tế )

+Luật quốc tế thúc đẩy quá trình phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia Điều này đượcthể hiện thông qua nghĩa vụ thực hiện luật quốc tế và việc chuyển hóa luật quốc tế vào pháp

lu ật quốc gia

+Luật quốc tế tạo điều kiện cho luật quốc gia phát triển theo chiều hướng tiến bộ(ảnh hưởngcủa những nguyên tắc tiến bộ của luật quốc tế, các vấn đề quyền con người ) Tính chất tácđộng của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụthành viên diều ước quốc tế, tổ chức quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hoạt động cụ thểkhác nhau trong đó có hành vi sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của luật quốcgia sao cho phù hợp với những cam kết quốc gia đó đã ký kết hoặc tham gia Chính vì thế, cácquy định có nội dung tiến bộ thể hiện thành tựu mới của khoa học pháp lý quốc tế sẽ dầnđược chuyển tải vào văn bản quy phạm pháp luật quốc gia Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy sựphát triển của pháp luật quốc gia để quốc gia vừa có thể hội nhập vào nền tảng pháp lý chungvừa có thể thiết lập được một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh Bên cạnh đó, luật quốctế còn tác động đến luật quốc gia thông qua vai trò của hệ thống này đối với đời sống pháp lýtại mỗi quốc gia, phản ánh tương quan giữa hai hệ thống khi điều chỉnh những vấn đề thuộclợi ích phát triển và hợp tác quốc tế của quốc gia

Câu 9: Hình thức của điều ước quốc tế tồn tại dưới nhiều dạng tên gọi khác nhau như

HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC

Ký ngày 26/06/1945 tại San Francisco

Trang 11

+ Quy chế

QUY CHẾ TÒA ÁN QUỐC TẾ: Tòa án quốc tế được thành lập theo Hiến chương Liên hợpquốc là cơ quan xét xử chính của Liên hợp quốc, được tổ chức và hoạt động theo đúng cácnghị quyết được đưa ra trong bản quy chế trên

+ Nghị định thư:

Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Công ước khung Liên Hiệp Quốc vềBiến đổi Khí hậu tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gâyhiệu ứng nhà kính Bản dự thảo được ký kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị cácbên tham gia lần thứ ba khi các bên tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính thức có hiệu lựcvào ngày 16 tháng 2 năm 2005

+ Thỏa ước:

Thoả ước Madrid VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

Thông qua tại Madrid ngày 27 tháng 6 năm 1989

+ Tuyên ngôn

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đạihội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ởParis, Pháp

+ Định ước

Ngày 01-8-1975, Định ước an ninh và hợp tác châu Âu được ký tại Helsinki, thủ đô của PhầnLan, với sự tham dự của 33 quốc gia châu Âu có thể chế chính trị khác nhau cùng Mỹ vàCanda

Câu 10: Khoa học Luật quốc tế quan niệm, quốc gia là thực thể được hình thành trên

cơ sở có lãnh thổ, dân cư và quyền lực nhà nước, với thuộc tính chính trị - pháp lý bao trùm là chủ quyền quốc gia.

Bằng kiến thức của mình bạn hãy phân tích chủ quyền của quốc gia Việt Nam đối với lãnh thổ, đối với dân cư nhằm góp phần làm sáng tỏ nội dung của nhận định trên?

1 Vị trí và giới hạn lãnh thổ.

Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo) là phần mặt đất và lòng đất của đất liền(lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia ; bộ phận quan trọng nhất cấuthành nên lãnh thổ quốc gia, làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, nội thuỷ, lãnh hải

Trang 12

Vùng đất quốc gia có thể gồm những lục địa ở những điểm khác nhau (tách rời nhau), nhưngcác vùng đất đó đều thuộc lãnh thổ thống nhất của quốc gia ; hoặc cũng có thể chỉ bao gồmcác đảo, quần đảo ở ngoài biển hợp thành quốc gia quần đảo Việt Nam là một quốc gia nằmtrên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa là đất liền,vừa là đảo, vừa là quần đảo, bao gồm từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến mũi Cà Mau ; các đảonhư Phú Quốc, Cái Lân và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Việt Nam có ba mặt trông ra biển: Đông, Nam và Tây Nam, với bờ biển dài 3.260 km,từ Móng Cái đến Hà Tiên Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đôngvà Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc Riêng Vịnh Bắc Bộ đãtập trung một quần thể gần 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long; cácđảo Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ; xa hơn là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phía TâyNam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc và Thổ Chu

Nội thuỷ là vùng biển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải.Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thuỷ triềuthấp nhất dọc theo bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam xác định và công bố1 Vùng nước thuộc nội thuỷ có chế độ pháp lí như lãnh thổtrên đất liền Nội thuỷ của Việt Nam bao gồm: Các vùng nước phía trong đường cơ sở; vùngnước cảng được giới hạn bởi đường nối các điểm nhô ra ngoài khơi xa nhất của các côngtrình thiết bị thường xuyên là bộ phận hữu cơ của hệ thống cảng

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lí nhưlãnh thổ đất liền Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển Trong lãnh hải,tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theotuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển Lãnh hải của Việt Nam bao gồm lãnhhải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo Nước ta có thềm lục địa rộng lớn, làvùng đất và lòng đất đáy biển kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ đất liền ra đến bờ ngoài của rìa lụcđịa, giới hạn 200 hải lí tính từ đường cơ sở lãnh hải Việt Nam có chủ quyền và quyền tàiphán quốc gia đối với thềm lục địa; chủ quyền của nước ta đối với thềm lục địa là đươngnhiên, không phụ thuộc vào việc có tuyên bố hay không

Lãnh thổ quốc gia đặc biệt là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháptrong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế Ví dụ như trụ sở làmviệc và nơi ở của cơ quan đại diện ngoại giao

– Đất liền: diện tích 331.212 km2

+Điểm cực Bắc : vĩ độ 23độ23’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, +Điểmcực Nam : vĩ độ 8độ34’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau +Điểm cực Tây :kinh độ 102độ09’Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên

+Điểm cực Đông : kinh độ 109độ24’Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa – Kéo dài theo chiều B – N 1650km, tương đương 15o vĩ tuyến

Trang 13

– Biên giới :4500km

– Phần biển: Diện tích trên 1 triệu km2

Có 2 quần đảo lớn là: Hoàng Sa và Trường Sa

-vùng trời quốc gia: vùng không gian phía trên vùng đất và vùng biển quốc gia

chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lậppháp, hành pháp và lập pháp trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Quốc gia thể hiện chủquyền của mình trên mọi phương diện chính trị kinh tế xã hội ngoại giao

chủ quyền lãnh thổ quóc gia là mmột bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng định quyền làmchủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình, mỗi nước có toàn quyền định đoạt trên lãnhthổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việc nội bộ của quốc giakhác chủ quyền lãnh thổi quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia, mọi tư tưởng và hành độngthể hiện chủ quyền quốc gia vượt qua biên giới quốc gia mình bị coi là xâm phạm chủ quyềnlãnh thổi của quốc gia khác trái với công ước quốc tế chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệtđối, bất khả xâm phạm, tôn trọng chủ quyền quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ vàluật quốc tế

Câu 11 Khi bàn về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế, có ý kiến cho rằng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Bạn hãy chỉ rõ biểu hiện của mối quan hệ này?

Sự tác động qua lại giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tê

Về mặt lịch sử, tập quán quốc tế xuất hiện sớm hơn điều ước quốc tế, nhưng giữa hai loạinguồn luôn có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau, cùng thựchiện chức năng điều chỉnh các quan hệ liên quốc gia phát sinh trong đời sống quốc tế Cơ sởcủa mối quan hệ qua lại này thể hiện ở quá trình hình thành quy phạm của chúng

Trước hết tập quán pháp lý quốc tế tác động đến sự hình thành và phát triển của điều ướcquốc tế Việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của luật quốc tế cho phép khẳng địnhrằng, nhiều quy phạm điều ước quốc tế có nguồn gốc từ quy phạm tập quán quốc tế Cùng với

sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế, nhiều quy phạm tập quán được thay thế hoặc phát triểnthành quy phạm điều ước Trong quá trình soạn thảo điều ước quốc tế, hàng loạt quy phạmtập quán được các nhà làm luật tập hợp và pháp điển hoá trong điều ước quốc tế Ví dụ : cácquy định về luật biển quốc tế trong Công uớc Luật biển 1982 như chế độ qua lại vô hại củatàu thuyền nước ngoài trong vùng lãnh hải, quyền tài phán của quốc gia trong nội thuỷ củamình, nhiều nội dung trong quy chế vùng trời hoặc quy định của luật ngoại giao và lãnh sựtrong điều ước quốc tế đa phương có nguồn gốc, cơ sở từ tập quán quốc tế

Sự tác động qua lại giữa hai loại nguồn của luật quốc tế thể hiện tiếp theo ở chỗ điều ướcquốc tế tác động trở lại đến sự hình thành và phát triển của tập quán quốc tế Sự tác động nàythường xuất hiện chủ yếu từ các điều ước quốc tế có tính phổ cập Ví dụ chứng minh cho lậpluận này là có những điều ước quốc tế như công ước viên 1961 về quan hệ ngoại giao, côngước viên năm 1982 … có sự ký kết và tham gia của đa số các quốc gia trên thế giới, nhưngvẫn không phải tất cả các quốc gia Thực tiễn cho thấy, các quốc gia không ký kết hoặc tham

Trang 14

gia những công ước này cũng đều áp dụng các quy phạm của chúng, coi đó là quy phạm pháp

lý ràng buộc mình với tư cách là tập quán Như vậy, trong những trường hợp này quy phạmđiều ước của luật quốc tế chung lại trở thành quy phạm tập quán điều chỉnh nhiều mối quanhệ phát sinh giữa các quốc gia với nhau trong đời sống quốc tế

Câu 12.

Luật quốc tế, giống như Luật quốc gia, cũng có các chế tài, nhưng việc áp dụng chế tài của Luật quốc tế do chính quốc gia tự thực hiện bằng cách thức riêng lẻ hoặc tập thể.

Bạn hãy cho biết:

1 Các biện pháp chế tài do quốc gia áp dụng trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật quốc gia của chủ thể khác.

2 Chỉ rõ sự khác biệt giữa các biện pháp chế tài của Luật quốc tế với hệ thống chế tài trong pháp luật quốc gia.

1 Mỗi quốc gia độc lập và có chủ quyền đều có hệ thống luật pháp riêng của mình, baogồm cả Luật Hình sự Do sự khác nhau về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, phongtục, tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đối với cùng một hành vi phạm tội,mỗi quốc gia có sự đánh giá mức độ nguy hiểm, hình phạt đối với hành vi (tội phạm)đó khác nhau Chẳng hạn buôn bán ma túy (heroin) bất hợp pháp từ 100gr trở lên,theo luật ở một số quốc gia này (Singapore, Viêt Nam) có thể là hành vi phạm tội cóthể phải chịu hình phạt đến mức tù chung thân hay tử hình; trong khi ở các quốc giakhác (Úc, Lào…), đối với mức độ vi phạm như vậy hình phạt lại lại chỉ là một số nămtù Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, hiện không cònáp dụng hình phạt tử hình

Về mức độ chế tài: Chính sách Hình sự của Việt Nam chủ trương xử lý rất nghiêm khắc đốivới hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” Điểm (b) khoản 4 Điều 194 (“Tội tàng trữ, vậnchuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”) của Bộ Luật Hình sự Việt Nam

1999 được sửa đổi bổ sung 2009, khi số lượng heroin trong một vụ tàng trữ, vận chuyển, muabán trái phép đạt từ 100gr trở lên, thì hình phạt có thể là tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình.Trong khi đó, với hành vi “Buôn bán ma túy trái phép” heroin ở trên lãnh thổ Lào trong một

vụ, với khối lượng từ 100gr đến 300 gr, thì theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 146 củaLuật Hình sự sửa đổi ngày 09/11/2005 của Lào, sẽ chỉ phải chịu mức án tối đa 15 năm tù vànộp phạt tối đa 500.000.000 Kip (đơn vị tiền tệ của Lào)

Về Thẩm quyền tài phán (xét xử) hình sự đối với hành vi phạm tội của công dân nước ngoài:Theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế, hầu như mỗi quốc gia đều dànhcho mình quyền xử lý về mặt hình sự theo pháp luật của nước mình đối với hành vi phạm tộicủa công dân nước khác trong phạm vi lãnh thổ của nước mình

Đối với các trường hợp công dân nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt nam, mà không phảilà người thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi vàmiễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, hay có thân phận

Trang 15

ngoại giao; thì họ cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật Hình sự Việt nam, theoquy định tại Điều 5, Chương II của Bộ Luật Hình sự hiện hành (Ban hành năm 1999, sửa đổi

bổ sung năm 2009) của Việt Nam Về vấn đề này, Điều 3 của Luật Hình sự 2005 của Làocũng có quy định tương tự: Công dân nước ngoài phạm tội ở Lào, mà không phải là người cóthân phận ngoại giao hay đối tượng được miễn trừ tư pháp theo các Điều ước quốc tế mà Làolà thành viên, CÓ THỂ bị xét xử ở Lào, theo Pháp luật của nước CHDNND Lào

Về việc một quốc gia xử lý hình sự đối với công dân nước mình mà phạm tội ở nước ngoài:Pháp luật của mỗi nước cũng có quy định về (khả năng) thực hiện việc xử lý hình sự theo luậtcủa nước mình, đối với hành vi phạm tội của công dân nước mình trên lãnh thổ nước khác.Khoản 1 Điều 6, Chương II của Bộ Luật Hình sự hiện hành của Việt Nam có quy định: “Côngdân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CÓ THỂbị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này” Tương tự, Điều 4 Luật hình

sự 2005 của Lào cũng có quy định việc chịu trách nhiệm hình sự của với công dân Lào cóhành vi phạm tội ở nước ngoài, nhưng chỉ trong trường hợp hành vi đó cũng được coi là tộiphạm theo Luật hình sự của Lào

Như vậy, mỗi quốc gia, trong khi theo đuổi nguyên tắc chủ quyền quốc gia, dành cho mìnhquyền ưu tiên xét xử hành vi phạm tội của công dân nước ngoài trên lãnh thổ của mình, cũngcó khuynh hướng muốn xét xử và trừng phạt theo Luật hình sự của chính nước mình đối vớicác hành vi phạm tội của công dân nước mình ở nước ngoài Nếu quốc gia nào cũng khư khưgiữ lấy nguyên tắc “vơ vào” của mình khi xử lý tội phạm, thì rất nhiều nhiều khi sẽ xảy ra

“xung đột pháp luật” (Conflict of Law) liên quan đến quyền tài phán hình sự giữa các quốcgia Giải pháp phổ biến trên thế giới là giải quyết qua đường ngoại giao, hoặc thực hiện theoquy định của các Điều ước quốc tế song phương, đa phương về Hỗ trợ Tư pháp (LegalAssistance), bao gồm cả việc Dẫn độ (Extradition)…

2 Những đặc trưng của LQT về phương pháp xây dựng luật và so sánh với luật quốcgia

* Luật QT được hình thành dựa trên cơ chế thỏa thuận Trong hoạt động xây dựng quiphạm LQT thường thông qua hai giai đoạn: giai đoạn thỏa thuận giữa các QG về nộidung qui tắc và giai đoạn thỏa thuận công nhận tính ràng buộc của các qui tắc đã được

* Khi LQT không được một chủ thể thực thi theo đúng yêu cầu (vi phạm về nghĩa vụ

Trang 16

thành viên hoặc vi phạm qui định của LQT), thì pháp luật sẽ ràng buộc chủ thể viphạm vào những trách nhiệm pháp lý QT cụ thể để buộc chủ thể đó phải có nghĩa vụkhôi phục lại trật tự pháp lý QT đã bị xâm hại.

* Chủ thể của LQT áp dụng nhiều cách thức, biện pháp để bảo đảm thi hành luật như:

sử dụng điều ước QT và các cách thức pháp lý khác, tận dụng các yếu tổ chính trị, xãhội để tạo động lực cho sự thực thi LQT

* Khác so với LQG, LQT không có cơ quan hành pháp trong việc cưỡng chế thi hànhluật, không có cơ quan giám sát việc thi hành luật (như Viện kiểm sát) Những đặc trưng của LQT về các chế tài và so sánh với luật quốc gia

* Luật QT có những chế tài nhưng việc áp dụng chế tài của LQT do chính QG tự thựchiện bằng những cách thức riêng lẻ hoặc tập thể Các biện pháp chế tài do QG ápdụng trong trường hợp có sự vi phạm quy định QT của một chủ thể khác (VD: cấmvận, cắt đứt quan hệ ngoại giao, sử dụng các biện pháp hạn chế trong lĩnh vực kinh tế,thương mại, khoa học…sử dụng các sức mạnh quân sự để thực hiện quyền tự vệ hợppháp hoặc để chống lại các hành động tấn công vũ trang…) Hiện nay LQT mở rộngcác biện pháp chế tài do các tổ chức QT đảm nhiệm với vai trò chủ yếu của LHQ

* So sánh với luật Quốc gia: LQG có cơ quan hành pháp thực hiện các chế tài thườngtrực như cảnh sát, công an, quân đội, tòa án…còn LQT thì các chế tài do chính cácquốc gia tự thực hiện

Câu 13 Mọi điều ước quốc tế có hiệu lực kể từ khi tất cả các bên tham gia đàm phán và soạn thảo ký vào bản thảo cuối cùng của Điều ước này.

Nhận định trên Đúng hay Sai? Giải thích.

Sai

Thời hạn có hiệu lực của điều ước do các bên thỏa thuận và ghi nhận trong điều ước

Đối với các điều ước quốc tế không cần phê chuẩn thì hiệu lực của nó phát sinh ngay sau khi

ký đầy đủ

Tuy nhiên, đối với các điểu ước quốc tế phải phê chuẩn, phê duyệt thì hiệu lực của nó từ saukhi các bên trao đổi thư phê chuẩn hoặc sau khi có một số quốc ga phê chuẩn theo quy địnhcủa điều ước đó, cụ thể như sau:

- Điều ước song phương có hiệu lực sau khi các bên trao đổi văn kiện phê chuẩn, phê duyệt

- Điều ước đa phương có hiệu lực sau khoảng thời gian nhất định khi có đủ số lượng quốc giaquy định của điểu ước giữ văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt đến cơ quan có thẩm quyềnbảo quản điểu ước

Cũng có trường hợp về những quy định khác của thời hạn có hiệu lực của điều ước quốc tế,

ví dụ như Công ước Luật Biển năm 1982 quy định công ước sẽ có hiệu lực sau khi quốc giathứ 60 phê chuẩn 1 năm Công ước về Quyền trẻ em quy định công ước sẽ có hiệu lực 30ngày sau khi có 20 quốc gia phê chuẩn

Trang 17

Ngoài ra, nếu nội dung của điều ước quốc tế vi phạm đến các nguyên tắc cơ bản của Luậtquốc tế hiện đại, kí kết không dựa trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thì điều ước quốc tếđó sẽ bị coi là vô hiệu (đọc thêm bài giảng trang 10)

Câu 14 Nêu các đặc điểm của 1 tổ chức quốc tế liên chính phủ? Với mỗi loại tổ chức quốc tế liên chính phủ, bạn hãy kể tên 1 tổ chức quốc tế tương ứng mà bạn biết?

Theo luật quốc tế hiện đại, tổ chức quốc tế liên quốc gia (liên chính phủ) là tổ chức mà thànhviên là các quốc gia, được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế phù hợp với luật quốc tế hiệnđại nhằm thực hiện những mục đích nhất định, có hệ thống các cơ quan có các quyền vànghĩa vụ khác với quyền và nghĩa vụ của các nước thành viên Từ định nghĩa trên, có thể thấy

tổ chức quốc tế có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây (tr154 155) -> đang phân vân

nên lấy của cô hay trên mạng?

Đặc điểm của tổ chức quốc tế liên chính phủ :

-Tổ chức quốc tế là thực thể liên kết các quốc gia : đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt với tổchức quốc tế phi chính phủ vì tổ chức quốc tế phi chính phủ thì thành viên là cá nhân,phápnhân, các tổ chức khác nhau vì mục đích chung nào đó Nhưng có một số trường hợp ngoại lệthành viên không phải là các quốc gia VD :WTO bao gồm thành viên là cả các vùng lãnhthổ,vùng nội vụ,thuế quan đặc biệt như Hồng Kông ,Ma Cao…

- Hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế (để thành lập một tổ chức quốc tế các quốc gia thànhviên bắt buộc phải ký kết một điều ước quốc tế để thành lập tổ chức quốc tế đó ).không như

tổ chức quốc tế phi chính phủ được hình thành trên cơ sở thoả thuận quốc tế VD : Liên hợpquốc- hiến chương liên hợp quốc,ASEAN -tuyên bố Băng Cốc năm 1962

- Có quyền năng chủ thể riêng biệt với quyền năng chủ thể của các quốc gia: và được ghinhận trong điều lệ của tổ chức đó Tuỳ vào từng tổ chức khác nhau thì sẽ có giới hạn cũngnhư phạm vi quyền năng chủ thể khác nhau

- Có một hệ thống bộ máy tổ chức chặt chẽ để duy trì hoạt động : VD WHO có ba cơ quanchính đó là : Hội nghị bộ trưởng, đại hội đồng và ban thư ký…

Các tổ chức liên chính phủ có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau.

- Theo thành phần tham gia, tổ chức quốc tế được phân thành tổ chức quốc tế toàn cầunhư Liên Hiệp Quốc (UN), hay tổ chức quốc tế khu vực, như Liên minh Châu Âu(EU), Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)…

- Theo lĩnh vực chuyên môn thì tổ chức quốc tế được phân loại dựa trên lĩnh vực hoạtđộng, như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chứcNăng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA)…

- Theo chức năng, tổ chức quốc tế được phân thành tổ chức hợp tác và tổ chức hộinhập Tổ chức hợp tác thường có cơ cấu gọn nhẹ, nhiệm vụ rõ ràng, tạo thuận lợi choviệc phát triển hợp tác giữa các quốc gia Trong khi đó tổ chức hội nhập thường có cơ

Trang 18

cấu chặt chẽ và có nhiệm vụ phát huy quyền quyết định của tổ chức quốc tế và tạođiều kiện hội nhập cho các quốc gia.

Chia theo Wiki:

- Tổ chức toàn cầu - mọi quốc gia có thể gia nhập miễn là đáp ứng được các tiêu chí đề

ra Ví dụ: Liên Hiệp Quốc và các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc nhưLiên minh Bưu chính Quốc tế, Interpol, Tổ chức Thương mại Thế giới, Tổ chức Thuếquan Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế

- Tổ chức khu vực - dành cho các thành viên từ một khu vực hoặc châu lục cụ thể Vídụ: Ủy hội châu Âu, Liên minh châu Âu, NATO, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu

Âu, Liên minh châu Phi, Tổ chức Các quốc gia châu Mỹ, Hiệp hội Các quốc gia ĐôngNam Á, Liên đoàn Ả Rập và Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ

- Tổ chức văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo hoặc lịch sử - dành cho các thành viêntrên cơ sở mối liên kết về văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc, tôn giáo hoặc lịch sử Ví dụ:Khối Thịnh vượng chung Anh, Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh Latin và Tổ chức Hộinghị Hồi giáo

- Tổ chức kinh tế: một số vì mục tiêu thương mại tự do, cắt giảm rào cản thương mại(Tổ chức Thương mại Thế giới), Quỹ tiền tệ Quốc tế Một số khác tập trung vào pháttriển quốc tế Các tổ chức hợp tác công khai (cartel) quốc tế cũng được xếp vào loạinày, ví dụ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu lửa Ngoài ra còn có Tổ chức Hợp tác vàPhát triển Kinh tế và Tổ chức Ngân hàng Phương nam

- Tổ chức giáo dục: ví dụ Đại học Liên Hiệp Quốc

Câu 15 Nêu vai trò và giá trị pháp lý của điều ước quốc tế Khi có sự vi phạm điều ước quốc tế của 1 chủ thể thì các chủ thể khác của điều ước quốc tế sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lý quốc tế như thế nào?

Vai trò của điều ước quốc tế:

Xuất phát từ bản chất của điều ước là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lýquốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:

- Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổn định các cơ

sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển Trong mọi trườnghợp, chủ thể của luật quốc tế luôn phải đặt câu hỏi rằng, đối với quan hệ xã hội cụ thể này cầnphải được điều chỉnh bằng quy phạm nào của luật quốc tế Do vậy việc thỏa thuận tự nguyệnvà bình đẳng giữa các chủ thể của luật quốc tế để ký kết các điều ước quốc tế điều chỉnh cácvấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế là rất quan trọng Nó tạo cơ sở pháp lý cho việc xâydựng và ổn định các mối quan hệ pháp luật quốc tế,

- Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tếgiữa các chủ thể Điều 26 công ước viên năm 1969 quy định : “mọi điều ước đã có hiệu lựcđều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hành một cách thiện chí”

Sự tận tâm, thiện chí của các chủ thể tham gia điều ước là cơ sở, là bảo đảm quan trọng đểchủ thể ký kết tự ràng buộc vào nghĩa vụ thực hiện các quy định của luật quốc tế

Trang 19

- Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT mọiđiều ước quốc tế khi được thực thi sẽ áp dụng công bằng cho tất cả và có hiệu lực pháp lýnhư nhau, không có ngoại lệ cho bất cứ quốc gia nào Có thể thấy, sự tự nguyện và bình đẳngtrong các quan hệ điều ước đã trở thành một căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của một điềuước quốc tế Theo đó, những điều ước được ký kết mà có sự lừa dối, có sử dụng vũ lực hoặcép buộc sẽ không có giá trị pháp lý (Điều 49,52 công ước Viên năm 1969)

- Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệu quảviệc pháp điển hóa LQT(Luật quốc tế) Điều 38 quy chế tòa án quốc tế liên hợp quốc đã quyđịnh : “tòa án có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp đưa ra trước tòa trên cơ sở luật quốc tế,áp dụng : a)công ước quốc tế, chung hoặc riêng, trong đó các quy tắc được các quốc gia tranhchấp thừa nhận rõ ràng…”

Trách nhiệm pháp lý quốc tế là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể vi phạm phải loại bỏ thiệt hại

gây ra đối với chủ thể khác từ hành vi trái pháp luật của mình

Nếu như trong mối quốc gia trách nhiêm pháp lý là biện pháp tác dộng vê mặt pháp lý đốivới chũ thế vi phạm và được báo đám thực hiện có hiệu qua thông qua bộ máy cưỡng chèNhà nước, thi trong quan hệ quốc té* trách nhiệm quốc tế là nguyên tắc chung trèn cơ sơđó cáo quốc gia mong muốn cùng nhau thực hiện nhứiìg cam kết quốc tê\ thổng nhất, giảiquyết các bất đông và tránh gây thièt hại lấn nhau

1 Trách nhỉệm phỉ vật chất.Nếu quốc gia có hành vi vi phạm gây thiệt hại phỉ vật

chất (như làm tổn hại đến danh dự, uy tín của quốc gia khác) cho quốc gia khácnhất thiết phải làm cho quốc gia bị thièt hại được thoả mân vê chính trị, tỉnh thần, uytín Thể loại trách nhiệm này cũng có thể được đật ra trong trường hợp gãy rathiệt hại vặt chất mà nếu chi bồi thường vặt chất khỏng thôi vẳn chưa thoá đáng.Trongthè loại trách nhiệm phi vật chất có hai hình thức trách nhiệnì cụ thể.4 ặơ Khôiphục nguyên trạng.Đíẻu ước Khôi phục nguyên trạng là việc quốc gia vi phạmhoàn trả lại hiện trạng ban đàu nhửng gì đã gây ra cho quốc gia bị hại, đông thời pháigánh chịu mọi hàu qua bất lợi để thực hiện nghĩa vụ trên Ví dụ, quốc gia chiếm đóngtrái phép viing dất của quốc gia khác thì phải rút qưàn khói vùng đất chiếm đóng đó,đông thời phải chịu mọi chi phí cho việc rút quân nêu trên.b Làm thoả mãn yêu c'ôuquốc gia bị hại.Điêu ước Làm thoả mãn yêu câu quốc gia bị hại là viêc quốc gia viphạm làm thoả mãn nhửngyêu cầu có tính chất phi vật chất của quốc gia bị hại màkhông thế thực hiện được việc khôi phục nguyên trạng.Mục đích cùa việc làm thoamãn yêu cầu của quốc gia bị hại trước hết là bảo vệ danh dự và uy tín của quốc giabị hại.'•Có rất nhiều cách thức làm thoả mãn yêu cầu của quốc gia bị hại, nhưngthườiig gặp nhất là nhứng cách thức như: Chính thức gửi điện chia buồn và thôngcảm, chính thức xin lỗi và hứa rằng những hành vi tương tự sé khòng tái phát, treoquốc kỳ, cử quốc ca trong bầu không khí long trọng, cử đoàn dại biểu thăm hỏi vàxin lỗi, ban hành các vàn bản pháp luật phòng ngừa nhđng vi phạm pháp luật và xét

xử tighiêm-minh nhứng cá nhân vi phạm

2 Trách nhiệm vật chất.ẹ •Có hai hình thức cụ thé trong thể loại trách nhiệm vậtchất: hoàn lại vật và bồi thường.a Hoàn lọi vật.♦ 4Điêu ước Đó là việc quốc gia viphạm bồi hoàn lại những thiệt hại vật chất đúng như ban đâu Ví dụ, như trả lại cho quốcgia bị m ất nhứng tác phầm văn hoá nghệ thuật, nhửng phương tiện giao thõng bị mất

Trang 20

v.v Nghĩa là quốc gia bị hại sẽ được nhận lại chính vặt đã bị mất đi, hoặc sẽ được nhậnlại những vật đúng dặc điếm, tính chất, thông sô' kỹ thuật v.v như ban đầu,b Bòi thườngchiến phi.Bồi thưèmg chiến phí là việc bồi thuừng thiệt hại vật chất bàng tiên, bÀnghàng hoá v.v được đặt ra trong trường hợp không thể bồi thường thiệt hại vật chấttheo nguyên mẫu.Việc bồi thường thiệt hại do chiến tranh xâm iược của Mỹ gây ra choViệt nam được quy định trong đíẽu 21 cùa Hiêp định Paris ngày 27-01.1973 vê chấm dứtchiốn tranh và lập lại hoà binh ở Việt nam Điều 21 cúa Hièp định quy định rằng "Hoa Kỳcó nghĩa vụ đóng góp vào công cuộc hàn gán vết thương^chiến tranh và xây dựng lại sauchiến tranh *việt nam và trên toàn cõi Đông Dương" Trong các cuộc phán trước đây giữa

Mỹ và Việt nam, phía Mỹ đã phải )ồi thường cho Việt nam bằng cách tham gia vào côngcuộc xây dựng lại Việt nam với trị giá 2 ty đô Ih Việc bồi thường này, theoliiiặt quốftế là bồi thường chi'Vn phi đối vđi nhứng thiệt hại do hành vi xâm lược gây ra.3 T rừ n g

p h ạ t quổc tế.Trong trường hợp quốc gia thực: hiện nhiĩiig lội ác quốc tế như xâmlược, thực hiện chinh sách diệt chung v.v thì ngoài việc chịu trách nhiệm bồi thườngvật chất và thoa mãn yêu cầu phục hồi danh dự, uy tin cho quốc gia bị hại, còn phai chịuhình thức trừng phạt cá thể hoặc tập thè Sụ trừng phạt này gọi là trừng phạt quốctế.Trừng phạt <'ấ thế là sự trừng phạt do một quổc gia tỉiục hiên đối vdi quốc gia gây ramột trong những tội ác quốc tế Việc trOrng phạt này còti được gọi là biện pháp tra đũa,Khi thực hiện biẹn piiáp Lià (lũa chi Irung mọi trường hợp quốc gia bị thiệt hại khôngđược sứ dụng lực lượng vũ trang đánh chiếm hay chiếm đóng lãnh thô cua quốc gia vịphạrr., không dược ném bom, đánh phá lảnh thổ, phong toá bờ biến, đánh chiếm tâubiến đang hành trìn h trên vùng biển quốc tế v.v vì tàt ca những hành vi đó đêu bị coilà xâm lược, trừ trường hợp thực hiện quyền tự vệ trước cuộc xâm lược được quy địnhtrong điêu 51 Hiến chương Lièn Hợp Quốc.Luật quốc tế quy định những biẾn pháp tráđúa hợp pháp là: cắt đứt quan hệ ngoại giao, trục xuất đại sứ, đóng cửa lãnh sự v.v ậTrừiìg phạt tập thé của một nhóm nước hav nhíèu nước !à biện pháp nhăm làm chấmdứt sự vị phạm pháp ^Iiật quốc tê cúa một hay nhóm nước nào đó

Câu 16 Phân tích các trường hợp mất quốc tịch theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Với mỗi trường hợp, bạn hãy nêu một ví dụ minh họa?

Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý chính trị giữa người dân với một nước nhất định Mối liên hệnày được biểu hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đó được nhà nước quy địnhvà đảm bảo thực hiện Quốc tịch là một hiện tượng pháp lý mang tính chất giai cấp rõ rệt vàsâu sắc Việc quy định một bộ phân dân cư được hưởng chế độ pháp lý nào là hoàn toàn phụthuộc vào ý chí của giai cấp thống trị

Có 3 trường hợp mất quốc tịch: (Phần định nghĩa ở Tài liệu trang 121, dưới đây là anh

cóp trên mạng để tham khảo thêm)

- Thôi quốc tịch:

Pháp luật các nước đều quy định một số điều kiện chủ yếu để xin thôi quốc tịch như:

• Đã hoàn thành hoặc được miễn nghĩa vụ quân sự

• Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế hoặc các nghĩa vụ tài chính cho quốc gia mà họxin thoi quốc tịch

• Không phải thi hành các phán quyết dân sự

Trang 21

• Không bị truy tố hình sự trong thời gian xin thôi quốc tịch

Ví dụ: Một người ở HCM mang quốc tịch Việt Nam nhưng sau đó xin thôi với mục

đích để nhập quốc tịch nước ngoài Người này nộp 3 bộ hồ sơ với đầy đủ các giấy tờvà lệ phí lên cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Sở Tư Pháp thành phố HCM Sau khi hồ sơđược giải quyết, khi được phép thôi quốc tịch, người này sẽ không còn là công dâncủa Việt Nam nữa

- Đương nhiên mất quốc tịch Đương nhiên mất quốc tịch là trường hợp công dân của

một quốc gia bị mất quốc tịch một cách mặc nhiên chứ không phải là hành vi trừngphạt từ nhà nước

Ví dụ: Một người Việt Nam nếu gia nhập quân đội

- Bị tước quốc tịch

Tước quốc tịch là việc công dân bị chính quốc gia mà mình mang quốc tịch tước bỏquyền được mang quốc tịch trên cơ sở những hành vi vi phạm pháp luật của nước đó,thông thường đó là những hành vi gây phương hại đến lợi ích và uy tín của quốc gia Tước quốc tịch là biện pháp trừng phạt mà quốc gia thi hành đối với công dân nướcmình khi họ không còn xứng đáng với danh hiệu công dân nữa Như vậy việc mộtngười có quốc tịch cũng chính là vấn đề liên quan đến danh dự cá nhân Vì vậy chỉkhi nào công dân có hành vi vi phạm cụ thể và được luật quy định mới có thể bị tướcquốc tịch Trình tự thủ tục và điều kiện tước quốc tịch được quy định trong pháp luậtquốc gia của mỗi nước và hoàn toàn phải tôn trong nguyên tắc đã được đưa ra trongTuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 Theo đó, "mọi người đều có quyền cómột quốc tịch; không ai bị tước quôc tịch một cách vô cớ và bị từ chối quyền đượcđổi quốc tịch"

Ví dụ: Nhà giáo Phạm Minh Hoàng bị tước quốc tịch do có hành vi phản động, chống

Ngày đăng: 08/06/2019, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w