1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá kết quả giáo dục học sinh

24 197 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 244,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đo lường: Đo lường trong giáo dục (Educational measurement) là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá (thí sinh). Đo lường trong giáo dục có một bộ phận chồng gối với đo lường trong tâm lý (tâm trắc học - Psychometrics). - Đánh giá: Đánh giá trong dạy học là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành những nhận định, rút ra những kết luận, phán đoán về trình độ, phẩm chất của người học hoặc đưa ra những quyết định để cải thiện quá trình dạy học dựa trên cơ sở thông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình dạy học. - Trắc nghiệm: Công cụ đo lường dùng để đo biểu hiện của nội tâm rồi căn cứ vào số đo của những biểu hiện đó mà suy ngẫm, nhận định, đánh giá, phán đoán về nội tâm người được đánh giá.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

KHOA HÓA HỌC - -

BÀI TẬP NHÓM MÔN ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC CỦA HỌC SINH

GVHD: Cô Nguyễn Thị Thùy Trang SVTH nhóm 3

1 Nguyễn Thị Kim Lành

2 Nguyễn Thị Hồng Khuyên

3 Đinh Thị Bích Hạnh

4 Trương Thị Thanh Huyền

5 Huỳnh Thị Thu Thảo

6 Trần Thị Ánh Nguyệt

7 Vương Thị Thảo Diệu

Huế, tháng 03 năm 2019

Trang 3

CHƯƠNG 3: KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Giới thiệu một số khái niệm chung:

I Đo lường trắc nghiệm đánh giá:

1 Khái niệm:

- Đo lường: Đo lường trong giáo dục (Educational measurement) là một nhánhkhoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích số liệu đánh giá trong giáo dục đểsuy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá (thí sinh) Đo lường tronggiáo dục có một bộ phận chồng gối với đo lường trong tâm lý (tâm trắc học -

Psychometrics) Đo lường là gán các con số vào các cá thể sự vật theo một hệ

thống quy tắc nào đó để biểu diễn đặc tính của sự vật đó

- Đánh giá: Đánh giá trong dạy học là thuật ngữ chỉ quá trình hình thành nhữngnhận định, rút ra những kết luận, phán đoán về trình độ, phẩm chất của ngườihọc hoặc đưa ra những quyết định để cải thiện quá trình dạy học dựa trên cơ sởthông tin đã thu thập được một cách hệ thống trong quá trình dạy học

 Như vậy, đo lường chỉ để thu được các con số chứ chưa phán xét về sựvật gắn với con số đó ở mức độ giá trị hoặc chất lượng nào; còn đánhgiá là phán xét về mức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật, tức là nhậnđịnh sự vật là lớn hay bé, cao hay thấp, tốt hay xấu …ở mức độ nào

 Quan hệ giữa đo lường và đánh giá là: Đo lường nhằm cung cấp số liệu

để đánh giá, kết quả đo lường là căn cứ để đánh giá

- Trắc nghiệm: Công cụ đo lường dùng để đo biểu hiện của nội tâm rồi căn cứvào số đo của những biểu hiện đó mà suy ngẫm, nhận định, đánh giá, phánđoán về nội tâm người được đánh giá

Ví dụ: Sau khi học hết chương nitơ - phốt pho, giáo viên cho lớp làm bài kiểm tra

15 phút để đánh giá mức độ hiểu bài cũng như khâu học tập ở nhà của học sinh.Sau khi chấm bài xong giáo viên sẽ thống kê được các điểm số của học sinh (khâu

đo lường), từ đó đánh giá mức độ học tập chung của lớp cũng như của từng cánhân học sinh (đánh giá)

Trang 4

Trắc nghiệm bao hàm cả đo lường và đánh giá.

+ Trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa

+ Trắc nghiệm do giáo viên soạn

2 Tính chất:

- Tính tin cậy: tính ổn định vững chãi về số đo khi ta dùng công cụ đó để đonhiều lần trên cùng một đối tượng

- Tính giá trị/tính hiệu lực: tính chính xác về đối tượng muốn đo, cần đo

Tính tin cậy là điều kiện cần của tính giá trị

II Các loại mục tiêu cụ thể của hoạt động học tập:

Hệ thống phân loại các mục tiêu học tập của Bloom:

- Theo Từ điển tiếng Việt:

+ Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vàthực tế

+ Kĩ xảo là kĩ năng đạt đến mức thuần thục

+ Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn có để thực hiệnmột hoạt động nào đó

Như vậy kĩ năng và kĩ xảo thuộc cùng một phạm trù, chỉ khác nhau ở trình độ cao thấp,

đó là phạm trù hoạt động học và làm, hay nói rõ hơn là hoạt động học tập các kiến thức

và vận dụng chúng vào trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, coi đó là hành động cầnthiết cho

việc đạt được thành tích

Trang 5

Kĩ năng và kĩ xảo có cơ sở trong những nghiên cứu về tâm lí học Các nhà tâm lí học(Bloom, Krathwohl ở Mỹ và Dave ở Anh) đã từng chỉ rõ ba lĩnh vực khác nhau, bao trùmmọi phạm trù đạt thành tích, đó là:

- Lĩnh vực nhận thức: Ở đó các mục đích học tập liên quan đến kiến thức

- Lĩnh vực cảm xúc: Ở đó các mục đích học tập liên quan đến hứng thú, các thái

1 Lĩnh vực nhận thức :

Lĩnh vực nhận thức (tư duy) liên quan đến các mục đích về kiến thức và các kĩ năng trítuệ, bao gồm 6 mức độ sau đây:

a Nhớ: Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học Điều đó có nghĩa là một

người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyếtphức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là cấp độ thấp nhấtcủa kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức

b Thông hiểu : Được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Kết quả

học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sựvật

c Vận dụng : Được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn

cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phươngpháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vựcnày đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu

d Phân tích : Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần

của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều đó có thể baogồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích môí quan hệ giữa các bộ phận, vànhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể

Trang 6

hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sựthấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu.

e Tổng hợp: Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình

thành một tổng thể mới Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành

vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấutrúc mới

f Đánh giá: Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu Việc đánh giá

dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức)hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xácđịnh hoặc được cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là caonhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác.Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi tiết hơn vàcho đến nay riêng trong lĩnh vực nhận thức ở trình độ đại học có đến 15 thang bậc

Ví dụ: Đối với bài Oxi-Ozon ở chương trình hóa 10, khả năng nhận thức bài học

được thể hiện qua 6 mức độ:

Nhớ: Nhớ được khái niệm, tính chất vật lí, tính chất hóa học, trạng thái tự

nhiên và cách điều chế oxi và ozon

Thông hiểu: Hiểu được ý nghĩa của oxi và ozon với đời sống sinh vật, hiểu

được các phản ứng hóa học của oxi và ozon với các chất

Ứng dụng: Biết được ứng dụng của oxi và ozon vào các lĩnh vực công nghiệp,

y học và đời sống

Phân tích: Phân tích được các tài liệu về oxi và ozon, mối quan hệ giữa oxi và

ozon với sinh vật, với các chất khác, với các hệ thống sinh hóa trong tự nhiêncũng như trong công nghệ

Tổng hợp: Hệ thống được kiến thức liên môn liên quan đến oxi và ozon Biết

nghiên cứu thêm các mô hình có sự ứng dụng của oxi và ozon giúp cải thiệnđời sống và nâng cao khoa học kĩ thuật

Trang 7

Đánh giá: Sau khi học bài oxi và ozon, kết hợp với các kiến thức liên môn hay

sẵn có, học sinh có khả năng tự đánh giá được hầu hết các tài liệu liên quan đếnoxi và ozon, biết đánh giá được độ chính xác và tính ứng dụng của tài liệu

2 Lĩnh vực cảm xúc:

Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến các mục đích thuộc về hứng thú, các thái độ và giá trị,bao gồm 5 mức độ sau đây:

a Tiếp thu: Nhạy cảm với một sự động viên khuyến khích nào đó và có một sự tự

nguyện tiếp thu hoặc chú tâm vào đó

b Đáp ứng : Lôi cuốn vào một chủ đề hoặc hoạt động hoặc sự kiện để mở rộng việc

tìm tòi nó, làm việc với nó và tham gia vào đó

c Hình thành giá trị : Cam kết tiến tới một sự vững tin vào các mục tiêu, tư tưởng và

niềm tin nào đó

d Tổ chức: Tổ chức các giá trị thành một hệ thống, có sự nhận thức hoặc sự xác

đáng và các mối quan hệ của các giá trị phù hợp, và xây dựng nên các giá trị cánhân nổi bật

e Đặc trưng hoá bởi một tập hợp giá trị: Tích hợp các niềm tin, tư tưởng và thái

độ thành một triết lí tổng thể hoặc tầm nhìn rộng như thế giới quan

Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi tiết hơn, vàcho đến nay riêng trong lĩnh vực cảm xúc có đến 13 thang bậc

3 Lĩnh vực tâm vận:

Lĩnh vực tâm vận liên quan đến các kĩ năng thao tác chân tay dùng đến cơ bắp hoặcnhững sự đáp ứng vận động hoặc đòi hỏi có sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh, baogồm 5 mức độ sau đây:

a Bắt chước : Làm theo một hành động đã được quan sát nhưng thiếu sự phối hợp

giữa cơ bắp và hệ thần kinh

b Thao tác : Làm theo một hành động đã được quan sát thường theo sự chỉ dẫn, thể

hiện một số sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh

c Làm chuẩn xác : Thực hiện một hành động thể lực với sự chuẩn xác, cân đối và

chính xác

Trang 8

d Liên kết : Thực hiện thành thạo một hành động thể lực có sự phối hợp của một loạt

các hành động khác

e Tự nhiên hoá : Biến một hành động thể lực thành công việc thường làm để mở

rộng nó ra và làm chonó trở thành một sự đáp ứng tự động, không gò bó và cuốicùng thành một sự đáp ứng thuộc về tiềm thức hay bản năng

Hiện nay chưa tìm thấy một tài liệu phân chia tỉ mỉ các mức độ tâm vận thành các thangbậc tỉ mỉ hơn như ở hai lĩnh vực nhận thức và cảm xúc, có lẽ đó là vấn đề đang đượcnghiên cứu

III Các nhóm phương pháp đánh giá trong giáo dục:

1 Đánh giá kiểu lựa chọn trả lời - trắc nghiệm khách quan (TNKQ):

a Khái niệm:

- Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc nghiệm viết,

kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của con ngườitrong nhận thức, hoạt đông và cảm xúc Phương pháp trắc nghiệm khách quan đãđược ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực như y học, tâm lý, giáo dục… ở nhiềunước

- Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm khách quan đã được sử dụng rất phổ biến tạinhiều nướctrên thế giới trong các kỳ thi để đánh giá năng lực nhận thức của ngườihọc, tại nước ta trắc nghiệm khách quan được sử dụng trong các kỳ thi tuyển sinhcao đẳng, đại học và kỳ thi kết thúc học phần tại nhiều trường

b Sơ đồ quá trình xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm:

Để ứng dụng trắc nghiệm khách quan đánh giá năng lực nhận thức của người họcmột việc vô cùng quan trọng là cần phải xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm có chấtlượng, có thể mô tả qua lưu đồ (Flowchart) sau:

Trang 9

: Tiến hành kiểm tra, thi với số lượng đủ lớn.

: Căn cứ vào bài làm của người học, thu thập số liệu cho từng câu hỏi từng đềthi

: Sử dụng máy tính và các phần mềm: Excel, SPSS, Eview,… Để phân tíchđánh giá chất lượng từng câu hỏi, từng đề thi theo các tiêu chuẩn như độ khó, độphân biệt, độ tin cậy…

Cần sửa Không đạt

Bắt đầu

Xây dựng ngân hàng câu hỏi, bộ đề

Tổ chức kiểm tra đánh giá người học

Đánh giá chất lượng câu hỏi và bộ đề

Hoàn thiện câu hỏi,

bộ đề Thu thập số liệu

thống kê

Loại bỏ

Kết thúc

Trang 10

: Loại bỏ những câu không đạt yêu cầu.

: Đối với những câu, đề đạt yêu cầu, tiến hành hoàn thiện để trở về bước  tiếptục kiểm tra, đánh giá

Qua sơ đồ trên ta thấy quá trình xây dựng và triển khai đánh giá bằng trắc nghiệmkhách quan cần có thời gian chuẩn bị và thực hiện, nó chỉ chấm dứt khi người dạynhận thấy hình thức này không còn phù hợp với học phần đang giảng dạy

Một số ưu nhược điểm của loại câu đúng - sai

Điều kiện sử dụng câu Đ-S:

- Các trường hợp Đ-S phải chắc chắn, không tùy thuộc vào quan niệm riêng củatừng người

- Lựa chọn những câu phát biểu mà 1 thí sinh có khả năng trung bình không thểnhận ra ngay là đúng hay sai mà không có đôi chút suy nghĩ

- Mỗi câu chỉ miêu tả một ý duy nhất

- Không chép nguyên văn từ SGK

Trang 11

- Tránh dùng các từ “tất cả”, “không bao giờ”, “đôi khi”, v.v…

Ví dụ : Đánh dấu x vào vô tương ứng

Câu TNKQ nhiều lựa chọn.

Đưa ra một nhận định và 4-5 phương án trả lời, thí sinh chọn để đánh dấu vào mộtphương án đúng hoặc phương án tốt nhất

 Cấu trúc gồm:

- Phần gốc: Được viết ngắn gọn, sáng sủa, có thể được trình bày dưới dạng một câuhỏi hay câu bỏ lửng (chưa hoàn tất), phải hàm chứa vấn đề mà ta muốn hỏi

- Phần lựa chọn: Gồm 1 câu trả lời đúng và nhiều câu trả lời sai

 Yêu cầu khi viết câu nhiều lực chọn

- Các phương án sai phải có vẻ hợp lý, phải có một yếu tố nào đúng trong đó, họcsinh phải cân nhắc kỹ và so sánh với các lực học khác

- Tránh tạo phương án đúng quá khác biệt với các phương án sai

- Sắp xếp các phương án theo thứ tự ngẫu nhiên

- Tránh lạm dụng kiểu “tất cả điều đúng”,v.v…

Ví dụ 1: Kim loại nào sau đây thuộc nhóm IA?

Đ/án: D

Ví dụ 2: Phản ứng đặc trưng của este là:

Trang 12

A Phản ứng thuỷ phân B Phản ứng nitro hoá

Đ/án: A

Câu ghép đôi.

- Là dạng của câu nhiều lựa chọn, loại câu này thường có hai dãy thông tin gọi làcác câu dẫn và các câu đáp Chúng cần được ghép lại với nhau theo kiểu tươngứng một - một Hai dãy thông tin này không nên có số câu bằng nhau để cho cặpghép cuối cùng không chỉ đơn giản là kết quả của sự loại trừ liên tiếp

- Loại câu này dễ viết và dễ dùng Tuy nhiên nếu soạn những câu đo mức độ kiếnthức cao đòi hỏi phải mất nhiều công phu Nếu có nhiều thông tin ứng mỗi cột thìngười làm test sẽ phải mất nhiều thời gian đọc và lựa chọn tìm câu ghép đôi

- Cấu trúc gồm: Hai cột chứa các yếu tố có thể liên quan hoặc không liên quan đếnnhau

 Chú ý: Nên cho số lượng các yếu tố ở hai bên không bằng nhau, để tránh thísinh dùng phương pháp loại trừ

Ví dụ 1: Hãy ghép các nội dung ở cột (A) với nội dung ở cột (B) cho phù hợp:

1 CaO tác dụng với nước

2 Dẫn từ từ khí CO2 vào cốc đựng dd

nước vôi trong dư

3 Cho dd BaCl2 vào dd HNO3

4 Cho viên kẽm vào dd axit HCl

a xuất hiện kết tủa trắng

b không có hiện tượng gì

c xuất hiện bọt khí

d tạo thành dd làm quỳ tím hóa xanh,tỏa nhiều nhiệt

Đ/án: 1-d; 2-a; 3-b; 4-c.

Câu điền khuyết.

Cấu trúc: là một câu hay một đoạn với một hay nhiều chỗ trống để thí sinh điền vào

1 từ hay một nhóm từ ngắn thích hợp

Ví dụ 1: Hoàn thành nội dung sau: “Trong máu người luôn luôn có nồng độ

……… không đổi là 0,1%”

A muối khoáng B sắt

Trang 13

C vừa có tính khử vừa có tính oxi hóa.

D không có tính khử và không có tính oxi hóa

Đ/án: C

Trả lời ngắn: là câu trắc nghiệm đòi hỏi trả lời bằng nội dung rất ngắn

Ví dụ 1: Một oxit của nitơ có phân tử khối bằng 108 Công thức hóa học của oxit

đó là gì?

 Đ/án: N2 O 5

Ví dụ 2: Khí chủ yếu gây nên hiệu ứng nhà kính là?

 Đ/án:khí CO2

Câu thí sinh tự tạo đáp án (student - produced responses item) là loại câu hỏi

có đáp án bằng số mà trắc nghiệm SAT cải tiến mới đưa vào năm 2005 để giảmbớt sự lệ thuộc của thí sinh vào cái khung trả lời định sẵn Thí sinh có thể tô giátrị trả lời bằng số vào phiếu trả lời có dạng thức xác định, do đó có thể chấmbằng máy

- Trong các kiểu câu trắc nghiệm đã nêu, kiểu câu hỏi đúng- sai và kiểu câu hỏinhiều lựa chọn có cách trả lời đơn giản nhất Câu hỏi đúng - sai cũng chỉ là trườnghợp riêng của câu hỏi nhiều lựa chọn với 2 phương án trả lời

- Dễ dàng thấy rằng khi một người hoàn toàn không có hiểu biết chỉ đánh dấu húhọa để trả lời một câu hỏi đúng - sai thì xác suất để người đó làm đúng câu hỏi là50%, cũng vậy nếu anh ta đánh dấu hú họa để trả lời câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa

chọn với n phương án trả lời thì xác suất để làm đúng câu đó là 1/n.

- Trong các kiểu câu hỏi trắc nghiệm, kiểu câu nhiều lựa được sử dụng phổ biến hơn

cả vì, một mặt, chúng có cấu trúc đơn giản, dễ xây dựng thành các đề thi, dễ chấmđiểm tự động, mặt khác, chúng cho phép đánh giá được nhiều cấp độ nhận thức từ

Trang 14

thấp đến cao.Vì vị trí quan trọng của kiểu câu hỏi nhiều lựa chọn nên sau đâychúng ta sẽ nói kĩ hơn về chúng Loại câu hỏi nhiều lựa thường dùng nhất là loại

có 4 hoặc 5 phương án trả lời, vì số phương án như vậy vừa đủ để giảm xác suấtlàm đúng do đoán mò hú họa xuống tương ứng còn 25%, 20%, đồng thời việc chếtác chúng cũng không quá phức tạp

- Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có hai phần, phần đầu được gọi là câu dẫn (stem),nêu vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc đặt một câu hỏi; phần sau là cácphương án chọn, thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D… hoặc cácchữ số 1,2,3,4… Kiểu câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa đơn giản nhất quy định trongcác phương án chọn chỉ một phương án đúng duy nhất hoặc một phương án đúngnhất; các phương án khác được đưa vào có tác dụng “gây nhiễu” đối với thí sinh

- Nếu câu hỏi nhiều lựa chọn được soạn tốt thì một người không nắm vững vấn đề

sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án để chọn đâu là phương ánđúng, đâu là phương án nhiễu Trong khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, người tathường cố gắng làm cho các phương án nhiễu đều có vẻ dường như “có lý” tựanhư phương án đúng

- Về nguyên tắc, đối với người có kinh nghiệm chế tá câu hỏi, một nội dung bất kìnào cần kiểm tra đều có thể được thể hiện vào một câu hỏi trắc nghiệm theo mộtkiểu nào đó Vì thế đối với tất cả các môn học người ta đều có thể chế tác câu hỏitrắc nghiệm Tuy nhiên, do đặc thù của từng môn học mà việc chế tác câu hỏi trắcnghiệm cho môn này có thể khó hơn cho môn kia

- Cũng cần lưu ý rằng không phải bất cứ ai có kiến thức chuyên môn cũng chế tácđược câu hỏi trắc nghiệm có chất lượng cao cho chuyên môn đó Muốn chế tác câuhỏi trắc nghiệm tốt phải suy nghĩ sâu sắc về chuyên môn, phải có những hiểu biết

cơ bản về trắc nghiệm và cần tích lũy kinh nghiệm sau một thời gian luyện tập lâudài

d Kết luận:

Trắc nghiệm khách quan ngày càng được áp dụng rộng rãi do tính ưu việt của nó vàtrong giai đoạn thực hiện cuộc vận động 2 không do ngành Giáo dục phát động hiện

Ngày đăng: 06/06/2019, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w