Sau một thời gian chuẩn bị lâu dài, năm 1826, Châu Anụ – vua xứ Vientiane –đã liên kết với Sampátxắt phát động cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Xiêm.Đang lúc giành được những th
Trang 2I TÌNH HÌNH LÀO TRƯỚC KHI BỊ THỰC DÂN PHÁP XÂM CHIẾM
I.1 Tình hình chính trị
Giữa thế kỷ XIV, sau khi thống nhất được các tiểu vương quốc khác, Pha Ngừmlên ngôi vua và đặt tên nước là Lạn Xạng Đất nước này đạt đến đỉnh phát triển caonhất của nó dưới triều vua Surya Vangxa (1687 – 1694)
Đó là mộtø nhà nước phong kiến tập quyền, được xây dựng trên nền tảng sứcmạnh quân sự và yêu cầu chống ngoại xâm Trong suốt nửa sau thế kỷ XVI, Lạn Xạngphải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại Thái Lan và ba lần chống chiến tranh xâmlược từ Miến Điện Khi yêu cầu chống ngoại xâm không còn nữa, thì nếu muốn tiếptục tồn tại và được củng cố tăng cường sự thống nhất đó phải dựa trên nền tảng kinhtế-xã hội vững chắc Chính đây lại là nhược điểm của nước Lạn Xạng nói riêng và củanhững nhà nước phong kiến nói chung, vì tuy phát triển một cách phồn thịnh, nền kinhtế Lạn Xạng khó có thể mau chóng vươn đến trình độ cao hơn vì thiếu những cơ sở bềnvững Vẫn còn tồn tại nhiều tàn tích của xã hội nguyên thủy, tính chất tự cung tự cấpvà đóng kín vẫn còn là nét thống trị trong sinh hoạt kinh tế
Sau khi Surya Vangxa qua đời, đất nước Lạn Xạng rơi ngay vào tình trạng hỗnloạn do những cuộc tranh giành ngôi vua diễn ra một cách quyết liệt giữa các tập đoànphong kiến Kết quả là đến đầu thế kỷ XVIII, Lạn Xạng bị phân rã thành ba tiểu quốcriêng biệt và cừa địch nhau: vương quốc Luang Prabang ở miền Bắc, vương quốcVientiane ở miền Trung và vương quốc Sampátxắt ở miền Nam Ngay trong mỗi tiểuquốc lại tồn tại thêm những thế lực phong kiến cát cứ khác Để củng cố chỗ đứng vàlấn át những kẻ đối địch, mỗi tiểu quốc lại quay sang cầu viện các nước phong kiến lânbang như Thái Lan, Miến Điện và Việt Nam Hậu quả là lãnh thổ Lạn Xạng nhiều lần
bị quân lính nước ngoài xâm lăng và tàn phá nặng nề
Năm 1778, quân Xiêm xâm chiếm Vientiane và biến tiểu quốc này thành chưhầu Tiểu quốc Sampátxắt cũng chịu chung số phận
Sau một thời gian chuẩn bị lâu dài, năm 1826, Châu Anụ – vua xứ Vientiane –đã liên kết với Sampátxắt phát động cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Xiêm.Đang lúc giành được những thắng lợi to lớn, thì ông bị vua Luang Prabang phản bội và
do không đủ lực lượng để đối phó nên cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt Xứ của ông bịbiến thành một tỉnh của Xiêm và bị cai trị bởi các quan lại bổ nhiệm từ Bangkok CònSampátxắt cũng bị biến thành thuộc quốc của Xiêm
Tình cảnh của tiểu quốc Luang Prabang cũng không sáng sủa hơn Bị gây sứcép, năm 1778, vua Sotika Koumane (1776 – 1781) chịu nhận làm chư hầu của Xiêm.Trong thế phụ thuộc đó, vua Manta Tourat (1817 – 1836) đã từ chối không chịu liênkết với Châu Anụ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Xiêm
Trang 3Tình trạng phụ thuộc đó của ba tiểu quốc trên kéo dài cho đến khi thực dânPháp chiếm đóng Lào
I.2 CẤU TRÚC XÃ HỘI LÀO
Sự tan rã của quốc gia Lạn Xạng, chính sách bành trướng của các lân quốc, nhấtlà của Xiêm trong các thế kỷ XVIII – XIX, mối quan hệ thù địch và tình trạng cô lậplẫn nhau giữa các tiểu quốc Lào đã kiềm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nướcnày, khiến cho cấu trúc xã hội của nó vào cuối thế kỷ XIX hầu như không có gì khác
so với 200 năm trước đó
Thành phần xã hội đông nhất trong xã hội Lào là số nông dân cá thể, đóng thuếcho chính phủ bằng các sản vật tự nhiên và đi lao dịch, xây dựng cầu đường, đền đài,miếu mạo Còn những dân tộc miền núi thì không đóng thuế theo từng cá nhân, màtheo từng làng Cách thu thuế thay đổi theo từng vùng: vùng này phải nộp nô tì, vùngkia nộp sản vật hay một số tiền nào đó Nếu vùng nào mà chính quyền sở tại tỏ rakhắc nghiệt thì dân làng phải đi lao dịch
Giai cấp thống trị tức quý tộc quan liêu phong kiến là thành viên của hoàng tộc,quan lại Họ, gia đình và nô tì của họ được miễn thuế và mọi thứ nghĩa vụ khác
Bên cạnh quan lại phong kiến, còn sót lại không ít những tàn dư của quan hệtiền phong kiến, chế độ nô tì vẫn tồn tại nhưng không đóng vai trò đáng kể trong đờisống kinh tế Hoạt động của nô tì giới hạn trong việc phục dịch trong nhà, do đó chế độnô tì mang tính chất gia trưởng rõ rệt Gốc tích của nô tì là tù binh hoặc con nợ
Một đặc điểm trong xã hội Lào trước chế độ thực dân là không có chế độ sở hữu
tư nhân đất đai, trừ một trường hợp ngoại lệ là số đất đai của nhà vua Chính quyềnquan liêu-phong kiến trung ương cấm cản sự xuất hiện của bất kỳ hình thức sở hữu tưnhân nào, ngoại trừ của nhà vua Các vua Lào không phân chia ruộng đất cho nhữngngười thân cận của mình, người nào có công trạng chỉ được bổ nhiệm vào chức vụ caocấp Ở tiểu quốc Vientiane và Sampátxắt trong thế kỷ XIX, vua Xiêm đã tìm cách cảntrở sự xuất hiện chế độ sở hữu vì ông ta không muốn thấy thế lực của quý tộc Làođược tăng cường Ngoài ra, vì ở nước này số ruộng đất còn bỏ hoang lại quá lớn so vớisố dân quá ít ỏi nên giá trị của nó bị giảm sút, không mấy ai nghĩ đến việc chiếm cứ vàtập trung ruộng đất Số lợi tức của quý tộc lệ thuộc vào vị thế trong xã hội và chức vụcủa họ trong bộ máy hành chính vì chúng cho phép họ bóc lột nông dân
Ở mức độ đáng kể, nền kinh tế nông dân mang tính chất khép kín, tựnhiên Thủ công nghiệp, chưa tách khỏi nông nghiệp Gia đình là hạt nhân sản xuấtchính vì nó tự sản xuất lấy những vật phẩm cần thiết nhất
Trang 4Quan hệ trao đổi sản vật giữa các làng và các bộ lạc với nhau rất kém phát triểnvà chủ yếu giới hạn ở địa phương Quan hệ kinh tế giữa làng xã và tụ điểm dân cư làkhông đáng kể
II THỰC DÂN PHÁP XÂM CHIẾM LÀO
Người Pháp bắt đầu có mặt ở Lào thời vua Tianthata Tianta Kuman (1851 –1869) của Luang Prabang Chưa kịp đứng vững ở bờ biển của bán đảo Trung Ấn, thựcdân Pháp đã vội săn tìm con đường xâm nhập vào miền Trung bán đảo để từ đó có thểvào miền Nam Trung Quốc Cho rằng triền sông Mêkông là con đường thích hợp nhất,các đoàn thám hiểm đã được phái đến đây thăm dò Năm 1861, người Pháp đưa đếnLuang Prabang nhà nghiên cứu Henri Mouhot
Trong các năm 1866 – 1868, một đoàn thám hiểm do thuyền trưởng Doudart deLagrée chỉ huy đã phát xuất từ Campuchia băng ngang qua Sampátxắt và Vientiane đểkhảo sát lưu vực sông Mêkông đến tận kinh đô Luang Prabang
Doudart de Lagrée đã được lệnh rõ ràng là đoàn khảo sát của ông ta có nhiệmvụ nghiên cứu tài nguyên của những vùng mà đoàn đi qua, nghiên cứu phương tiện cóhiệu lực để có thể hợp nhất, về mặt thương mại, vùng thượng lưu sông Mékong vớiCampuchia và Nam Kỳ Khi đến Luang Prabang, Doudart de Lagrée đã đàm phán vớinhà vua nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập của Pháp vàoLuang Prabang Đây chỉ là bước đầu tiên nhằm mở rộng ảnh hưởng của thực dân Pháp,đối thủ của thực dân Anh, ở Đông Dương
Sau đó, Pháp còn cử đến đây các đoàn thám hiểm khác sục sạo khắp cả nước.Bên cạnh đó, các đoàn truyền giáo cũng đã dự phần vào việc tăng cường ảnh hưởngcủa Pháp ở Lào, nhất là ở vùng Đông Bắc
Năm 1869, Um Kham trở thành vua Luang Prabang Lúc này, tình hình trên bánđảo Trung Ấn đã trải qua những biến chuyển lớn Ở phía tây người Anh đã sáp nhậpHạ Miến (những năm 1850) và chuẩn bị chinh phục cả Thượng Miến; ở phía nam,Malaya cũng sắp chịu chung số phận tương tự (những năm 1870) Ở Đông Nam bánđảo, người Pháp đã áp đặt chế độ bảo hộ ở Campuchia (1863),và chiếm bán đảo NamKỳ (1867), đang chuẩn bị tích cực chiếm đất Trung Kỳ và Bắc Kỳ Xiêm lúc này cũngcó xu hướng muốn bành trướng sang Luang Prabang để ngăn chặn tham vọng củaPháp Để bảo vệ các thuộc địa Ấn Độ và Miến Điện khỏi sự dòm ngó của Pháp đangtừ phía Tây lần đến, Anh tỏ ra thuận tình với tham vọng của Xiêm đối với LuangPrabang
Năm 1872, sự xâm nhập của các đoàn quân “Cờ Đỏ” từ Trung Quốc tràn sang Lào là cơ hội để Xiêm thực hiện những tham vọng của mình QuânXiêm đã ào ạt sang đánh đuổi “Cờ Đỏ” và đóng quân tại Luang Prabang Vua Xiêm
Trang 5đã phái đến triều vua Un Kham hai phái viên có toàn quyền kiểm tra việc cai trị củavua Lào
III PHÁP XÂM CHIẾM LÀO
III.1 Các hoạt động dọn đường của Auguste Pavie
Sau khi chiếm xong Việt Nam, Pháp đã dựa vào “quyền” của Việt Nam đối vớiLào để chuẩn bị xâm lăng nước này Vì sợ gây rắc rối đối với Anh nếu buộc Xiêmthừa nhận ngay “quyền” của Việt Nam đối với lãnh thổ Lào, nên lúc đầu Pháp chỉ đòithành lập một ủy ban hỗn hợp Pháp-Xiêm nhằm phân định ranh giới giữa LuangPrabang và Việt Nam Tháng 1.1886, Pháp và Xiêm ký Công ước Sơ bộ cho phépthành lập ở Luang Prabang cơ quan phó lãnh sự do Auguste Pavie phụ trách Nhiệm vụ
của ông ta là cùng với đại diện Xiêm xác định ranh giới, nhưng cái chính là “điều tra
về tình hình mà Pháp chưa biết, tìm những đường giao thông nối liền những vùng mà chúng ta đòi quyền sở hữu với Trung Kỳ và Bắc Kỳ” Tuy nhiên Công ước đã không
được Paris phê chuẩn và Pavie chỉ được phái đến Luang Prabang như là một “đại diện
bình thường” Tại đây, Pavie đã cố tìm cách kết bạn với giới thân cận của vua Lào
Tháng 6.1887, tiểu vương quốc Luang Prabang bị quân của lãnh tụ người Tháitrắng là Đèo Văn Trì tiến công Kinh đô bị cướp bóc và tàn phá Sau khi cứu thoát nhàvua khỏi cung điện đang cháy và đưa vua đến Paklay, A Pavie đã lợi dụng cơ hội nàyđể cố thuyết phục Un Khan nhận để Pháp đỡ đầu và bảo hộ Ông ta còn tìm cách lôikéo các quan mục, châu mường
Tháng 10, Xiêm và Pháp đã thoả thuận thành lập một ủy ban xác định biên giới
giữa Xiêm và “vùng lãnh địa của Pháp” Đầu năm 1888, Pháp đã điều hai binh đoàn từ
Hà Nội qua Lào để làm chỗ dựa cho Pavie
Vững bụng, Pavie quay về Luang Prabang và tuyên bố với đại diện Xiêm rằngPháp có ý định sáp nhập 12 khu vực trú ngụ của người Thái nằm giữa biên giới phíađơng Luang Prabang và sông Đà vào lãnh địa của Pháp ở Đông Dương vì trước kia đâylà vùng đất lệ thuộc Việt Nam Ngày 13.12.1888, đại diện của Xiêm đã thuận để choPavie sáp nhập những vùng đất vừa kể
Cuối năm 1889, Pavie đã tổ chức đoàn khảo sát thứ hai ở Đông Dương, bao gồm
các chuyên gia về thương mại và công nghiệp Đoàn được giao nhiệm vụ “tìm kiếm
những đường bộ và đường sông, lập các văn phòng thương mại, thu nhập mẫu hàng, nghiên cứu các phương thức thương mại đang hiện hành, xác định tính chất và giá trị của các sản phẩm vùng lưu vực sông Mékong”
Lo lắng, chính quyền Bangkok gấp rút chuẩn bị gây chiến ở hữu ngạn Mékong.Sau khi những mưu toan đàm phán với Xiêm bị thất bại, tháng 7.1891, A Pavie đã xin
phép được đề ra “đường lối tiến hành sao cho phù hợp với tình thế”
Trang 6Đường lối trên mau chóng ra đời Đầu năm 1892, Pháp biến toà phó lãnh sự đãkhông hoạt động được gì ngay từ đầu thành cơ quan thương mại và mở thêm một số cơquan khác mang tính chất nửa thương mại, nửa chính trị trên lãnh thổ Lào Còn toàlãnh sự ở Bangkok được biến thành cơ quan phái bộ ngoại giao Pháp, do Pavie cầmđầu
Như vậy Pháp đã chuẩn bị xong mọi điều kiện để sáp nhập Lào Bây giờ chỉ còntìm cớ, và đó không phải là chuyện khó làm: hai viên chức phòng thương mại Pháp,một bị chính quyền Xiêm trục xuất, còn một bị bắt
III.2 Pháp xâm chiếm Lào và quan hệ Pháp-Xiêm quanh vấn đề biên giới Xiêm-Lào.
Tháng 5.1893, Toàn quyền Liên bang Đông Dương đã ra lệnh xâm chiếm Lào.Quân Pháp đã chia làm ba cánh: cánh thứ nhất phát xuất từ Hà Nội vào Bắc Lào, cánhthứ hai từ Vinh vào Trung Lào, cánh thứ ba từ Campuchia vào Nam Lào Càng tiến sâuvào nội địa Lào, quân đội Pháp càng đụng độ nhiều hơn với quân Xiêm Pavie đã pháiđến Bangkok một đặc phái viên toàn quyền với nhiệm vụ đòi Xiêm phá bỏ các đồn lũy
ở hữu ngạn sông Mékong nào gây phương hại đến “quyền lợi” của Campuchia và ViệtNam và bồi thường những thiệt hại đã gây ra cho người Pháp trong những biến cố vừaqua Nếu Xiêm không ưng thuận, tàu chiến Pháp trong vịnh Xiêm La sẽ phong toảBangkok
Hy vọng sẽ được Anh giúp đỡ, chính phủ Xiêm đã bác bỏ yêu sách trên và bắtđầu tăng cường cửa sông Mênam
Ngày 20.7, chính phủ Pháp gửi tối hậu thư cho Xiêm, đòi:
1 Xiêm thừa nhận chủ quyền của Việt Nam và Campuchia đối với các lãnh thổnào của Lào nằm ở tả ngạn sông Mékong ;
2 Nội trong vòng một tháng quân đồn trú Xiêm phải di tản khỏi các đồn lũynằm ở tả ngạn sông Mékong ;
3 Xiêm bồi thường 2 triệu francs về những thiệt hại gây ra cho lực lượng Pháp
Lúc đầu, Anh có tỏ ra lo lắng trước tham vọng về lãnh thổ của Pháp ở Lào, vìnếu yêu sách đầu tiên được thực hiện thì lãnh thổ Liên bang Đông Dương của Pháp sẽtiếp giáp với miền Bắc Miến Điện của Anh Tuy nhiên, sau khi được Pháp trấn an rằngPháp sẽ tôn trọng độc lập của Xiêm và như vậy tính toán của Anh về việc thành lậpmột quốc gia trái độn giữa hai vùng ảnh ưởng của Anh và Pháp trên bán đảo Trung Ấnsẽ được thực hiện, Anh đã thôi không ủng hộ Xiêm nữa
3 Hiệp ước Pháp-Xiêm (1893)
Trang 7Bò cođ laôp, ngaøy 3.10, Xieđm buoôc phại kyù hieôp öôùc vôùi Phaùp, theo ñoù Xieđm töø boûvieôc chieâm ñoùng toaøn boô laõnh thoơ Laøo naỉm tạ ngán sođng Meùkong vaø caùc cuø lao tređnsođng; Xieđm khođng ñöôïc ñöa lính vaøo vaø xađy döïng caùc cođng trình quađn söï trong vuøngdại ñaât roông 25km cháy dóc bôø höõu ngán sođng Meùkong; taøu chieân Xieđm khođng ñöôïc đilái tređn sođng naøy Phaùp ñöôïc chieâm ñoùng cạng lôùn thöù hai cụa Xieđm laø Chantaburi ñeơlaøm vaôt ñạm bạo vieôc Xieđm thi haønh hieôp öôùc(1).
Hiệp ước Phâp-Xiím 1893 đê đặt nền móng cho âch đô hộ của Phâp ở Lăo Tiếp`
đó, sau một thời gian thương lượng, ngăy 15.1.1896, Phâp vă Anh kí hiệp ước phđn chiavùng ảnh hưởng Theo đó, Xiím bị phđn thănh ba vùng: vùng thứ nhất (lưu vực sôngMenam) lă vùng trung lập, vùng thứ hai ( miền bắc vă đông chạy dọc bờ hữu ngạnMekong, nghĩa lă vùng của Lăo vă Campuchia từng bị Xiím xđm chiếm trước đđy) lăvùng ảnh hưởng của Phâp, vung thứ ba ( câc tiểu quốc Malaya nằm ở phía nam Xiím) lăvùng thuộc ảnh hưởng của Anh
IV AÙCH THOÂNG TRÒ CỤA PHAÙP ÔÛ LAØO (1895 – 1917)
1 Toơ chöùc haønh chính
Auguste Pavie laø ngöôøi ñaău tieđn ñöôïc cöû ra phú traùch boô maùy cai trò thuoôc ñòacụa Phaùp ôû Laøo vôùi chöùc vú “toơng ụy vieđn” töø naím 1894 ñeân naím 1895 Pavie vaên ñeơcho Un Khan tái vì, vaø sau ñoù con laø Khan Sukha (1894 – 1907) noẫi ngođi, nhöng taâtnhieđn laø khođng coøn quyeăn haønh Pavie döï tính chia Laøo thaønh ba vuøng khaùc nhau: Baĩc,Trung vaø Nam ÔÛ mieăn Baĩc, ngöôøi ta ñeă nghò thaønh laôp hai vuøng coù chính quyeăn töï trò,saùp nhaôp mieăn Trung vaø mieăn Nam vaøo Vieôt Nam vaø Campuchia Nhöng ñeă nghò naøychöa kòp thöïc hieôn thì naím 1895, Bouloche thay Pavie
OĐng ñaõ ñaõ toơ chöùc lái toaøn boô maùy cai trò thuoôc ñòa ôû Laøo Laõnh thoơ nöôùc naøỵöôïc chia thaønh hai vuøng lôùn: Thöôïng Laøo vaø Há Laøo Thöôïng löu goăm 6 ñôn vò haønhchính (5 tưnh vaø vöông quoâc Luang Prabang), Nam Laøo ñöôïc caâu thaønh 7 tưnh Ñöùngñaău moêi tưnh laø moôt ụy vieđn ngöôøi Phaùp, coù quyeăn haønh raât lôùn
Nhöng caùch toơ chöùc tređn khođng toăn tái lađu vì gađy khoù khaín vaø toân keùm do tìnhtráng cöïc kyø phađn taùn cụa dađn cö ; do ñoù ngaøy 19.4.1899, toaøn quyeăn Ñođng Döông ñaõhôïp nhaât hai mieăn lái vaø ñaịt toaøn boô laõnh thoơ döôùi quyeăn cai trò duy nhaât cụa khađm söù.Luùc ñaău, dinh khađm söù ñaịt tái Xavannakhét, nhöng sau dôøi veă Vientian Cuõng trong
1 () Vaân ñeă bieđn giôùi giöõa Laøo vaø Xieđm coøn tieâp túc ñöôïc giại quyeât trong nhieău naím sau ñoù Naím
1904, hai beđn kyù Hieôp öôùc, theo ñoù Phâp seõ saùp nhaôp vaøo Laøo caùc laõnh thoơ naỉm ôû bôø phía Tađy , moôt phaăn vöông quoâc Luang Prabang (ôû phía Baĩc) vaø moôt phaăn cụa vöông quoâc Sam Paùt Xaĩt (ôû phía Nam) Naím 1907, bieđn giôùi phía Tađy giöõa tưnh Baĩcxaùc (cöïu vöông quoâc Sam Paùt Xaĩt) vaø Xieđm ñöôïc xaùc ñònh dóc theo daõy nuùi Dangrek Naím 1925-1926, hai beđn ñaõ kyù Hieôp öôùc vaø Cođng öôùc keøm theo, theo ñoù Phaùp ñöôïc nhaôn moôt soâ cuø lao tređn sođng Meùkong, töø boû quyeăn taøi phaùn ñoâi vôùi caùc Phaùp kieău soâng ôû Thaùi Lan vaø ñoăng yù thieât laôp vuøng phi quađn söï trong laõnh thoơ Laøo cháy dóc theo sođng Meùkong Bieđn giôùi giöõa Laøo vaø Xieđm dóc theo sođng Meùkong cuõng ñöôïc xaùc ñònh vaø hai beđn ñaõ thaønh laôp ụy ban chung nhaỉm giại quyeât caùc vaân ñeă lieđn quan ñeân cheâ ñoô cụa con sođng bieđn giôùi naøy
Trang 8năm 1900, Lào được thu gộp vào Liên bang Đông Dương như là nước “bảo hộ tự trị”nhưng thực chất cũng chỉ là một nước thuộc địa Tính đến năm 1917, nền tảng tổ chứcvà chế độ cai trị của Pháp coi như đã hoàøn tất và cơ bản không thay đổi cho đến Chiếntranh thế giới thứ hai
Lúc này lãnh thổ Lào được chia thành 10 tỉnh và một khu quân sự Đứng đầumỗi tỉnh là công sứ, còn khu quân sự là tư lệnh Tuy nhiên, việc tổ chức bộ máy hànhchính của Pháp hầu như không đụng đến cấp hành chính trung gian và địa phương
Cũng giống như trước kia, tỉnh được chia thành nhiều mường, mà đứng đầu là
“châu mường” và các viên chức giúp việc Tất cả đều được công sứ bổ nhiệm và chịutrách nhiệm trước ông ta Dưới mường là tà xẻng, dưới nữa là bản Người cầm đầutrong các đơn vị này được chọn trong giới dân làng có của và có uy tín
Cũng như ở Việt Nam, lãnh thổ Lào cũng được chia thành những vùng theo chếđộ cai trị khác nhau: trong số 10 tỉnh, 7 do Pháp trực tiếp cai trị, 3 tỉnh còn lại là LuangPrabang, Hứa Phàn và Phong Xalỳ (tỉnh này là Quân khu 5 theo cách tổ chức của quânđội thực dân) theo hiệp định kí ngày 24.4.1917 giữa vua Lào và toàn quyền Đông
Dương vẫn thuộc quyền cai trị của nhà vua nhưng trên thực tế vua chỉ được “phát biểu
ý kiến về những cải cách hành chính, tài chính và kinh tế” và chỉ được thực hiện sau khi
“chính quyền thực dân xét thấy là cần thiết” Nhà vua cũng có quyền thăng bậc cho các
viên chức trong bộ máy hành chính hoàng gia, bổ nhiệm và hoán chuyển họ, nhưng tấtcả những đạo dụ liên quan đến các vấn đề này phải được khâm sứ phê chuẩn
Như vậy vẫn chưa đủ, bên cạnh nhà vua còn có một “đại diện của khâm sứ”.Quyền hành của khâm sứ rất rộng: ra các sắc lệnh điều hành hết mọi hoạt động củaLào, bổ nhiệm các viên chức thuộc bộ máy chính quyền của thực dân và bản xứ (ngoạitrừ vương quốc Luang Prabang), sử dụng ngân sách, có quyền quyết định trong mọivấn đề kinh tế và xã hội, có quyền giải tán các cơ quan tư vấn hay đình chỉ hoạt độngcủa chúng Cũng theo hiệp ước, nhà vua hàng năm được cấp 4 sau tăng 5 vạn đồngĐông Dương để tiêu xài
Chế độ cai trị gián tiếp như trên cho phép Pháp tranh thủ được tầng lớp quý tộcquan liêu phong kiến và bộ lạc bản xứ và đã biến giới này thành chỗ dựa xã hội vàchính trị
2 Kinh tế
Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp hầu như chưa đầu tư gì cảvào Lào Trong thời kỳ đề cập ở đây, thực dân Pháp còn coi Lào như một thuộc địa dựtrữ, chưa cần khai thác ngay, họ chủ trương vơ vét những tài nguyên sẵn có và chỉ làmnhững gì mang lại lợi nhuận ngay và không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư
Trang 9Ngay sau khi áp đặt xong bộ máy cai trị, chế độ thu thuế đã được hoàn chỉnhngay Năm 1907, tất cả những người Lào phải đóng món thuế thân hàng năm là 5 francvàng và 20 ngày sưu dịch (riêng vùng Hạ Lào là 10 ngày) Những dân tộc khác đóng2,5 fr và 10 ngày sưu dịch Tuy ngân sách Lào từ năm 1898 thường xuyên bị thiếu hụt,chính phủ thực dân vẫn phải cắt ra khoảng 1/6 (324.000 fr vàng trên tổng số khoảng 2triệu hàng năm) để tài trợ cho cơng ty tư nhân “Messageries fluviales”, trong khi đóchi phí của y tế là 23.000 fr vàng năm 1910 , còn của giáo dục năm 1902 là 13.800 fr
V PHONG TRÀO NHÂN DÂN KHÁNG PHÁP
Phong trào phản kháng chống ách thống trị của thực dân diễn ra dưới nhiều hìnhthức: chẳng hạn như nông dân sống ở những vùng xa trung tâm thường tìm cách chegiấu người thân để đóng thuế ít đi, thỉnh thoảng họ tạm rời bỏ quê hương và sang sinhsống ở những nước lân cận để tránh chế độ lao dịch Nhưng đáng kể nhất là nhữngcuộc đấu tranh vũ trang quần chúng thu hút nhiều dân tộc khác nhau
2 Cuộc khởi nghĩa ở Xavanakhẹt của Phò Cà Đuột
Chính sách vơ vét bằng thuế má, sưu dịch nặng nề đã đè lên cuộc sống củangười Lào Theng ở Nam Lào, chủ yếu trong tỉnh Xavanakhẹt Tháng 3.1901, dưới sựlãnh đạo của nông dân Phò Cà Đuột, mà nhân dân thường gọi bằng biệt danhPhumibun (người có phúc), hàng ngàn nông dân đã chiếm dinh Công sứ ở thành phốXaravẳn Mau chóng được người Lào Lùm hưởng ứng, cuộc khởi nghĩa đã lan rộngtrên địa bàn các tỉnh Xaravẳn, Xavanakhẹt và Kham Muộn Quy mô của cuộc khởinghĩa đã làm cho Vientian lo sợ Sáng ngày 19.4.1902, những người khởi nghĩa đượcvũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đã tấn công dinh công sứ tỉnh Xavanakhẹt Để trấnáp cuộc khởi nghĩa, bọn thực dân đã huy động lưc lượng chính quy Bị thiệt mất 150người, quân khởi nghĩa đã phải rút vào rừng sâu Cuộc khởi nghĩa còn kéo dài thêm 5năm nữa Mãi đến năm 1907, sau khi người lãnh đạo bị giam, trong đó có cậu bé ÔngKômađăn mới 13 tuổi mà sau đó sẽ trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào khángchiến
Cuộc khởi nghĩa ở Boloven của Ôâng Keo và Komađăn
Hầu như cùng lúc với cuộc khởi nghĩa trên, ở các tỉnh cực Nam quanh caonguyên Boloven, nơi cư ngụ của dân tộc Lao Theng đã diễn ra một cuộc khởi nghĩa nổitiếng, kéo dài trên 30 năm Đây là vùng đất rộng lớn, đất đai phì nhiêu, thuận lợi chocanh tác, chăn nuôi và trồng những loại cây công nghiệp Ngoài ra, giá trị chiến lượccủa nó quan trọng không kém giá trị kinh tế do chỗ nó án ngữ ngã ba biên giới Lào-Campuchia-Việt Nam
Ngay từ buổi đầu thống trị, thực dân Pháp không chỉ chú ý nắm chặt cao nguyênBoloven như là vùng chiến lược quan trọng, mà còn chú trọng khai thác nó như một
Trang 10vùng kinh tế giàu có Kết quả là người Lào ở đây phải chịu đựng một ách bóc lột rấtđỗi nặng nề, biểu hiện qua chế độ thuế mà và sưu dịch Nhiều thứ thuế mới ra đời,thuế thân tăng gấp ba, số người được miễn thuế giảm hẳn đi
Nhân dân Boloven rất căm hận chế độ thống trị tàn bạo của thực dân, và chỉchực chờ cơ hội nổi dậy Đầu năm 1901, lác đác đã thấy trong những buổi lễ những lờikhích bác chế độ thuộc địa
Lãnh tụ nổi tiếng nhất của phong trào đấu tranh là Ông Keo Cuộc khởi nghĩabùng nổ vào ngày 12.4.1901, khi nghĩa quân tấn công một đơn vị quân đội Pháp trong
chùa Thatong Chỉ ít ngày sau “toàn thể nhân dân cao nguyên đã nổi loạn”, “tất cả các
làng, không phân biệt dân tộc” đã đi theo nghĩa quân “Tất cả không trừ một ai với một sự nhất trí tuyệt diệu, đều cùng một lòng với Phu Mibun” và “điều quan trọng duy nhất đối với họ là: tống cổ nhanh chóng và hoàn toàn tất cả người Pháp” Cuộc khởi
nghĩa mau chóng phát triển thành cuộc chiến tranh du kích thật sự
Dù có bị trấn áp bởi một lược lượng đông đảo quân lính thực dân được huy độngtừ cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu bền bỉ, lúc sôi nổi, lúctrầm lắng Căn cứ chính của những người khởi nghĩa là Boloven đã trở thành pháo đàibất khả xâm phạm, dù bọn thực dân đã dùng đến những biện pháp như phong toả kinhtế, tuyệt đường tiếp tế lương thực
Cuối năm 1910, thực dân Pháp đã mời Ông Keo đến đàm phán rồi bày mưu hãmhại ông Một lãnh tụ khác là Kômađăn đã lên thay Ông đã tìm cách mở rộng quy môcủa cuộc khởi nghĩa bằng cách cử nhiều phái viên đến các bộ lạc người Lào Thengvùng Boloven và những tỉnh khác để vận động họ nổi dậy chống thực dân Nhờ đĩ,phong trào đã có thể kéo dài thêm 20 năm, dù người khai sinh ra nó không còn nữa
Lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ được những vùng rộng lớn ở miền Nam Ở đó,mọi thứ nghĩa vụ mà thực dân bày ra đều bị hủy bỏ, trường học được xây dựng, dạybằng tiếng Lào Theng mà chữ viết đã được chính Kômađăn đặt ra
Cuối cùng thực dân đã phải huy động một lực lượng lớn gồm ba tiểu đoàn bộbinh, 200 voi, nhiều đơn vị kỵ binh, chó săn để tấn công vào các căn cứ trung tâm đặttại Phù Luổng Thực dân còn tìm cách mua chuộc những kẻ phản bội rồi tung vào căncứ của nghĩa quân làm nhiệm vụ gián điệp; đó là chưa kể những biện pháp tàn bạo nhưđốt phá, giết chóc dân những vùng xung quanh nhằm cách ly căn cứ trung tâm Đượcmột kẻ phản bội dẫn đường, quân Pháp đã vào tận bản doanh của Kômađăn và giếtđược ông trong một trận đánh cuối tháng 9.1936 Những người con ông còn tiếp tụcchiến đấu cho đến khi bị bắt vào cuối tháng 7.1937
Các cuộc khởi nghĩa khác
Trang 11Ngoài hai cuộc khởi nghĩa lớn trên, trong giai đoạn đầu thế kỷ XX còn có cáccuộc khởi nghĩa sôi nổi khác ở vùng cực Bắc Lào, chủ yếu là ở Mường Xinh và PhongXalỳ từ năm 1908 đến 1917, và cuộc khởi nghĩa ở Sâm Nưa trong những năm 1914-1915.
Trong các năm 1908 – 1910, đã nổ ra hai cuộc khởi nghĩa: một dưới sự lãnh đạocủa Phia Khamlu ở Mường Xinh, một của Chậu Vana Pum ở Phong Xalỳ Năm 1914,dưới sự lãnh đạo từ Pha Ong kham ở Mường Xinh, nhân dân ở đây lại khởi nghĩa saukhi Ong Kham giết chết viên công sứ Mãi đến tháng 4.1916, cuộc khởi nghĩa mới bị dậptắt
Năm 1915, một phong trào đấu tranh vũ trang lại bùng ra ở Phong Xalỳ do OngSen lãnh đạo Sau 10 tháng chiến đấu, nghĩa quân đã khống chế được một vùng rộnglớn ở cực Bắc Lào gần những khu quan trọng nhất như Phong Xalỳ, Phayaxumphu,Mộc Pha Tháng 11 – 12.1915, thực dân đã tập trung một lực lượng rất lớn gồm 2700lính và sĩ quan tiến công vào dinh lũy của nghĩa quân Tuy có gây cho quân đội thựcdân những thiệt hại lớn, lựïc lượng nghĩa quân đã phải phân tán để tiếp tục chiến đấucho đến năm 1927
Diễn ra đồng thời với cuộc nổi dậy Phong Xalỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang ởSầm Nứa Đêm 10 rạng 11.11.1914, nghĩa quân đã đánh chiếm thị xã Sầm Nứa vàchiếm giữ đến ngày 11.12 Sau đó để tránh bị bao vây, nghĩa quân kéo sang tiến cônglược lượng Pháp đóng trong thị xã Sơn La Nhưng dần dần cuộc khởi nghĩa cũng tànlụi, giống như những cuộc khởi nghĩa trước đó
Ý nghĩa
Các cuộc khởi nghĩa mang nội dung chống thực dân rõ rệt và đều nhằm mụcđích là giành lại độc lập dân tộc Tuy nhiên chúng đều kết thúc trong thất bại Đó làkết quả khó tránh khỏi vì chúng còn mang tính chất tự nhiên, lắm khi còn mang vẻ tôngiáo và người lãnh đạo thường là người đứng đầu các châu mục, làng bản Giữa cáccuộc khởi nghĩa không có mối quan hệ gì, dù chúng có diễn ra cùng lúc và cũng khôngđược dân thành thị ủng hộ
Dù vậy, các cuộc khởi nghĩa đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhận thức của nhândân Lào Chúng đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển và củng cố những truyềnthống tự do, trong việc đoàn kết các lược lượng dân tộc và xây dựng nền tảng cho việcthành lập một mặt trận thống nhất phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộcvà xã hội sau này
Trang 12CHƯƠNG
I CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ
Giống như những nước khác trong Liên bang Đông Dương, Lào cũng bị coi lànguồn cung cấp nguyên liệu rẻ tiền, nhân công rẻ mạt và thị trường tiêu thụ hàng hoácủa chính quốc
Trước hết, thực dân Pháp tìm cách bóc lột nhân dân bằng phương thức ít tốnkém nhất: tăng cường thu thuế Năm 1929, thuế thân mỗi đầu người từ 0,25 lên 2,5đồng; năm 1940, lên đến 1,5 – 20 đồng Từ năm 1923, những người nước ngoài sinhsống tại Lào phải đóng thuế từ 60 đến 130 đồng Ngoài ra, người dân còn phải gánhchịu những sắc thuế khác: ruộng đất, lợi tức, môn bài, xe cộ
Độc hại hơn cả là mỗi người dân bị bắt buộc phải tiêu thụ hàng năm 2kg thuốcphiện do chính phủ thuộc địa độc quyền mua bán
Lấy cớ mỗi gia đình người Lào đều có cất rượu để dùng trong các ngày lễ làmcho chính sách độc quyền chưng cất và bán rượu của chính quyền không thực hiệnđược, chính quyền thuộc địa đã buộc mỗi gia đình phải nộp 20 đồng thuế mỗi năm chomột bình chưng cất
Phương sách bóc lột thứ hai là cưỡng bức lao dịch Chính thức thì mỗi người LàoLùm và Lào Thung hàng năm phải đi lao dịch 16 ngày, người Lào Theng – 20 ngày ;nếu khơng phải nộp tiền từ 0,12 đến 0,3 đồng Nhưng thường thì họ bị huy động đến 60ngày và bị ép đóng tiền cho 40 ngày nữa
Điều kiện đi lao dịch rất nặng nề và khắc nghiệt Do đó không ít người dân đãbỏ trốn sang Xiêm để tránh bị huy động đi lao dịch Họ còn tìm đủ cách để trốn thuếnhư không khai đủ nhân số trong gia đình, bỏ trốn vào rừng khi nhân viên thu thuế đếnlàng, hoặc đôi khi bỏ sang Xiêm
Không chỉ bị chính quyền thực dân bóc lột, người dân còn bị cả giới quý tộc bảnxứ bòn rút thành quả lao động Họ bị bọn này thu thuế, huy động xây cất nhà cửa chochúng, nộp tô tức
Trang 13Phương sách bóc lột thứ ba là cướp đoạt tài nguyên tự nhiên Cũng giống nhưtrường hợp hai nước Đông Dương còn lại, chỉ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất khichính sự tồn tại của hệ thống thuộc địa bị đặt thành vấn đề sau thắng lợi của Cáchmạng tháng Mười thì tư bản Pháp mới chú trọng tăng cường đầu tư để có phương tiệnkhai thác tài nguyên tự nhiên và “bảo vệ” Lào Nhưng ở nước này, việc cướp đoạt tàinguyên không mang lại nhiều lợi nhuận như là ở Campuchia hay Việt Nam vì khôngcó những điều kiện tối thiểu đảm bảo thu lại lợi nhuận nhanh (vùng rừng núi khó đi lại,thiếu phương tiện liên lạc thuận tiện, dân số ít ỏi, lựïc lượng lao động không đủ)
Năm 1928, Văn phòng Thương mại và Nông nghiệp hỗn hợp đã được thành lập
ở Vientian, gồm 10 thành viên – 8 người Pháp được chọn trong số những nhà kinhdoanh hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và thương mại và 2 nhàkinh doanh Lào, do tổng trú sứ bổ nhiệm Đây là cơ quan đại diện quyền lợi của thựcdân trong quá trình khai thác Lào về kinh tế, trong việc giải quyết những vấn đề khácnhau liên quan đến thương mại, công nghiệp, tài chính, nông nghiệp và tiến trìnhthuộc địa hoá
Trong quá trình khai thác thuộc địa, tư bản độc quyền Pháp quan tâm trước hếtđến những ngành nào vốn dĩ đòi hỏi số đầu tư tối thiểu nhưng mang lại lợi nhuận tối
đa Ở Lào, đó là ngành khai thác mỏ, đặc biệt là mỏ thiếc Vùng mỏ thiếc lớn nhấtnằm ở Trung Lào, ở phía Bắc thành phố Thà Khẹt Việc khai thác gặp nhiều thuận lợi
vì quặng thiếc hầu như nằm ngay dưới mặt đất và giao thông tương đối thuận tiện
Đi đầu trong việc khai thác thiếc là “Công ty nghiên cứu và khai thác quặngĐông Dương” (“Société d’Etudes et d' Exploitation minères de l'Indochine”) năm 1923được nhượng 5.500 ha Đây là công ty lớn nhất Sản lượng của nó chiếm 2/3 tổng sảnphẩm tinh quặng: từ 14 tấn (1923) lên 114 tấn (1940) và vốn đầu tư từ gần 01 vạn franc(1920) lên 23,5 triệu franc (1940)(2) Năm 1926, Công ty Thiếc Đông Dương (“Sociétédes Etains de l'Indochine”) được thành lập và được nhượng 2 vạn ha Năm sau, xuấthiện thêm Công ty thiếc Kham Muộn (“Société des Etains de Khammuan”) và haicông ty nhỏ khác Năm 1930, ba công ty “Société des Etains de l'Indochine”, “Sociétédes Etains de Khammuan” và “Société des Etains et Wolfram” đã cùng chung vốnthành lập “Công ty trưng thầu thiếc Viễn Đông” (“Compagnie formière des Etainsd’Extrême Orient) để mưu độc quyền khai thác các mỏ thiếc ở Lào
Toàn bộ bản chất của đường lối khai thác thuộc địa của tư sản Pháp thể hiện ởphương thức khai thác nguyên liệu khoáng sản này ở Lào: không một công ty nào chịubỏ vốn xây dựng nhà máy để tinh lọc quặng thiếc thành kim loại hẳn hoi Quặng thiếcchỉ được nghiền nhỏ ra, sàng lọc sạch cát bụi và các chất tạp và xuất sang Pháp vànhững nước khác dưới hình thức tinh quặng, chiếm 60 – 64% hàm lượng thiếc
2 () Bulletin quotidien de L’Indochine, Hà Nội, 1943, t.1, tr.112-113
Trang 14Để bóc lột các tài nguyên tự nhiên và góp phần duy trì ách thống trị thuộc địa,thực dân đã cho xây dựng một số đường xá Các đường chính là Đường số 6 nối liềnVientian với Hà Nội đi ngang qua Sầm Nứa, Đường số 7 nối liền Luang Prabang vớiVinh, ngang qua Xiêng Khoảng và Đường số 9 nối liền Xavanakhẹt với Quảng Trị vàĐường số 13 nối Luang Prabang, Vientian, Thà khẹt, Xavanakhẹt đến Pắc Xế Chođến trước Chiến tranh thế giới thứ hai, tổng chiều dài hệ thống đường xá ở Lào là3500km Chúng được bảo vệ rất tồi, khả năng vận chuyển rất thấp
Số xe ô tô rất ít, theo số liệu năm 1933 thì năm 1932 có tất cả 484 xe, trong đó
144 dùng làm phương tiện chuyên chở công cộng, 60 của chính phủ và số còn lại của
su không mang lại kết quả Dù đã cố gắng, thực dân Pháp vẫn không xây dựng đượcđồn điền nào đáng được coi là lớn theo kiểu tư bản chủ nghĩa
Trong quá trình khai thác nông nghiệp Lào, thực dân Pháp đã làm thay đổi tínhchất của quyền sở hữu tối cao đối với ruộng đất, tước đoạt quyền này từ giai cấp phongkiến cũ, quyền sử dụng đất đai từ nay thuộc quyền chính phủ thuộc địa Việc tự tiệnkhai thác đất hoang bị cấm chỉ Chỉ có những mảnh đất do công xã nông thôn hay nônghộ cày cấy mới không bị trưng thu Nhằm mục đích nắm rõ diện tích đất gieo trồng vàtăng cường quyền sở hữu cá nhân đối với chúng, chính quyền thực dân đã lập bảng kêkhai điền địa, trong đó những mảnh đất có chủ phải được chứng minh đầy đủ Ngoài ra,chính quyền còn quy định giá đất thay đổi tùy theo chất lượng, diện tích
Tất cả những biện pháp kể trên cũng tạo điều kiện tăng cường quyền sở hữu tựnhân đối với đất đai và biến ruộng đất trở thành vật mua bán Tuy nhiên, tiến trình nàykhông diễn ra nhanh và cũng không dẫn đến việc tập trung ruộng đất Hình thức sở hữuvà khai thác đất đai chính trong thời kì thuộc địa vẫn là nền kinh tế tiểu nông manhmún, đặt cơ sở trên lao động nông hộ vì sự ra đời và xác lập của quyền tư hữu ruộngđất không gây ra nạn kiêm tính ồ ạt ruộng đất của nông dân Họ không bị bần cùng hoánhư đã từng xảy ra ở Việt Nam Nguyên nhân nằm ở chỗ Lào còn thừa quá nhiều đấthoang vốn có thể biến thành đất trồng trọt bằng phương pháp hỏa canh rất đơn giản
Trang 15Nông dân không có ruộng đất và nông dân cấy rẽ không- phải là tầng lớp điểnhình ở nông thôn Chính vì vậy mà Lào không có lực lượng lao động dự trữ để cungcấp cho thị trường lao động tự do Vấn đề tìm công nhân cho các đồn điền, hầm mỏ làmột trong những vấn đề bức thiết nhất(3) Để giải quyết vấn đề này, thực dân Pháp đãmộ công nhân, kể cả công nhân không chuyên nghiệp ở những nước khác, chủ yếu là
ở Việt Nam Do đĩ, trong thời kì thống trị của Pháp, cơng nhân ở Lào chủ yếu là ngườinước ngồi Năm 1936, cĩ khoảng 27.000 người Việt sinh sống ở Lào Họ là thợ mỏ, thợlàm đường, cu li trong các đồn điền Theo số liệu năm 1929, công nhân Lào chỉ có
1303 người (trong đó công nhân nông nghiệp – 512, công nhân công thương nghiệp –
481, công nhân hầm mỏ – 310) ; trong khi đó công nhân hầm mỏ người Việt lên đếntrên 6.000(4)
Tình hình kinh tế kém phát triển trên cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai đãkhông gây ra những thay đổi đáng kể nào trong cấu trúc xã hội Lào
Chủ trương duy trì ách thống trị bằng chính sách ngu dân, thực dân Pháp đã đểcho hệ thống giáo dục tôn giáo được tiếp tục tồn tại Năm 1932, chính khâm sứ đã đích
thân yêu cầu “phát triển nền giáo dục sơ đẳng bằng các trường tôn giáo” Tuy nhiên,
do nhu cầu cần phải có cán bộ bản xứ chính quyền thực dân vẫn buộc phải phát triểnhệ thống giáo dục thế tục ở mức độ hạn chế nhất Năm học 1929 – 1930, cả nước Làochỉ có 11 trường sơ đẳng thế tục, đến năm 1940 có 92 trường sơ đẳng và một trườngtrung học Trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, cả nước có 7.000 học sinh theo học cáctrường thế tục và 5.600 ở các trường tôn giáo
Chính sách hạn chế giáo dục đã làm 95% dân số bị mù chữ Năm 1945, ở Làochỉ có 10 người tốt nghiệp bậc đại học Báo chí không có một tờ nào khác ngoài tờ
“Bulletin Adminstratif du Laos” (“Thông tin Hành chính Lào”) ra bằng tiếng Pháp, chỉ
đăng tải các văn kiện của chính quyền
Về y tế, năm 1930 Lào có 14 bệnh viện cấp tỉnh, 8 trạm cấp cứu, 52 trạm y tế.Một đất nước đông 1,5 triệu dân mà chỉ có 24 bác sĩ (12 Pháp, 12 người Đông Dương)và 146 y tá
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người Lào bị tước hết mọi quyền dân chủ,kể cả những quyền sơ đẳng nhất Năm 1930, chính quyền thuộc địa ra đạo luật quyđịnh người bản xứ tuổi từ 18 đến 60 bắt buộc phải nộp 3 đồng để nhận chứng minh thư.Đây là một số tiền rất lớn, nếu ta biết rằng lương của thợ công nhật chỉ có 20 – 25 xuvà họ chỉ có thể để dành nhiều lắm là 4-8 xu mỗi ngày
Khai thác sự hiện diện đông đảo của người Việt ở Lào, chính quyền thuộc địađã thi hành chính sách “chia để trị” cốt gieo rắc hằn thù dân tộc giữa người Lào và
3 (3) Un Empire Colonial Francais L’Indochina, dir de Mr G Masperé Vol.2, Paris, 1930, p.185
4 () Labour Condition in Indopchina, Geneva, 1937, p.288
Trang 16người Việt Không tuyển mộ đủ viên chức người Lào và cũng do họ không đủ nănglực, thực dân Pháp đã thu dụng nhiều người Việt vào làm trong các cơ quan hành chính
ở Lào Họ có mặt ở khắp nơi và như một tác giả người Pháp đương thời đã viết “ở bất
kỳ chức vụ phụ trách quan trọng nào, mà nếu không phải do người Pháp nắm giữ, thì chúng tôi hầu như đều gặp người Việt”(5)
Người Việt – cả các viên chức và những người lao động – đã trở thành đối tượng
bị người Lào thù ghét, vật bung xung đứng che chắn cho chính quyền thuộc địa
Ách thống trị khắc nghiệt của thực dân Pháp và đời sống thapá kém của nông dânlà những yếu tố thường xuyên gây ra tình trạng bất ổn trong những năm thực dân Phápcầm quyền ở Lào
III PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Từ năm 1915 đến năm 1922, người Mèo thuộc dân tộc Lào Xủng sống ở phíaBắc, dưới sự lãnh đạo của một trong những thủ lĩnh của họ là Chau Pha Pacha đã nổilên chống Pháp
Nguyên nhân là vì thực dân Pháp bắt họ phải nộp 2kg thuốc phiện, bất kể có húthoặc trồng hay không, và đi lao dịch Chính sách bóc lột nặng nề này đã khiến ngườiMèo bất mãn và oán thán
Cuộc khởi nghĩa đã khởi sự từ một làng trong tỉnh Sầm Nưa Thực ra cuộc khởinghĩa này là sự tiếp nối cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ trước đó, từ đầu năm 1918, củangười Lào sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam (Lào Cai, Lai Châu, Thuận Châu, SơnLa)
Từ mùa hè 1919, cuộc khởi nghĩa bắt đầu lan sang vùng Đông Bắc Lào, đặc biệtlà vùng lưu vực Nậm U, tỉnh Sầm Nưa và Xiêng khoảng Sau khi đánh bại một sốchiến dịch càn quét của quân lính thực dân, từ tháng 12.1919, cuộc đấu tranh giảiphóng của người Lào đã bao trùm một vùng lãnh thổ rộng lớn gồm các tỉnh Sầm Nưa,Luang Prabang, Trấn Ninh và Quân khu 5 và lan rộng sang phía Tây, đến tận cùngbiên giới Lào-Miên Cuộc khởi nghĩa, như một nhà sử học quân sự người Pháp viết,
“đã có xu hướng mất dần tính chất địa phương của nó và trở thành cuộc đấu tranh
chung của nhóm người Mèo phân bố trên toàn bộ miền Thượng Lào”(6)
Những người khởi nghĩa đã đòi độc lập, xoá bỏ chế độ thuế má và mọi thứnghĩa vụ Cuộc khởi nghĩa đã khiến chính quyền thực dân và chính phủ hoàng gia lolắng Mùa thu 1920, trước tình hình nghĩa quân tăng cường hoạt động đánh phá cáctrục lộ giao thông và tiến công liên tiếp vào các đơn vị quân đội, chính quyền thuộc địa
() Ch Fochet, Pays Laos, Le Laos dans le Tourmen to 1939 – 1945, Paris, 1946, p.25.
Trang 17đã quyết định tập trung một lực lượng lớn, gồm cả quân tiếp viện từ Sài Gòn và HàNội sang đánh thẳng vào khu căn cứ đầu não Phù Chom Chích, Phù Chom Chengnhằm bắt sống Pachay Được sự giúp đỡ của nhân dân và nhờ chiến thuật linh hoạt,nghĩa quân đã đánh bại những trận đánh lớn mà quân đội thực dân tổ chức nhằm tiêutiêu hao lực lượng khởi nghĩa Không đánh diệt được lực lượng nghĩa quân bằng bạolực, thực dân chuyển sang dùng phương sách phong toả, cắt đứt nguồn tiếp tế lươngthực cho nghĩa quân, đốt phá mùa màng, nương rẫy
Trước tình hình trên, để tránh những tổn thất lớn, đầu tháng 1.1921, nghĩa quânrời bỏ khu căn cứ đầu não và rút sâu vào vùng rừng núi Bị cắt lìa khỏi những khu dân
cư, các hoạt động quân sự của lực lượng khởi nghĩa giảm dần Cuối năm 1922, thựcdân Pháp đã bố trí cho tay sai làm nội ứng ám sát lãnh tụ Pachay Sau cái chết củaông, lực lượng khởi nghĩa tan rã dần
Năm 1920 chứng kiến một cuộc khởi nghĩa tiếng tăm khác được đi vào lịch sửvới tên gọi cuộc khởi nghĩa Khu Khama, tỉnh Vientian
Sau khi dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Chau Pachay và cuộc khởi binh ở MườngXinh, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng trấn áp cuộc khởi nghĩa của Ong KecCômađăng Nhiều đơn vị hùng hậu quân chính quy và cả không quân đã được huyđộng Đến năm 1934, quân khởi nghĩa đã bị dồn đuổi vào vùng Phù Luổng, gần biêngiới Việt Nam Trong suốt hai năm liền, quân của Cơmađăng đã bị các đơn vị thiệnchiến, có pháo binh, không quân và cả 200 thớt voi chiến bao vây Mãi đến năm 1936,những ổ kháng cự cuối cùng của nghĩa quân mới bị dập tắt, nhưng Cômađăng dù bịthương nặng, đã kịp thời chạy thoát Tháng 2.1937(7), vị lãnh tụ kiệt xuất của người LàoThung qua đời Cuộc khởi nghĩa lắng dần
Đến đây có thể coi như kết thúc thời kỳ của những cuộc khởi nghĩa tự phát,mang nặng tính chất tôn giáo, thường được lãnh đạo bởi các tù trưởng bộ lạc Tuykhông giành được chiến thắng, những cuộc khởi nghĩa này vẫn để lại những dấu ấn sâuđậm trong nhận thức của nhân dân Chúng đã đóng vai trò nổi bật trong việc củng cốvà phát triển các truyền thống yêu tự do, trong việc đoàn kết lực lượng dân tộc và đặtnền tảng cho một mặt trận dân tộc thống nhất trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộcvà giải phóng giai cấp sau này
Từ năm 1930, phong trào giải phóng dân tộc Lào bước sang giai đoạn mới, dướisự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời ngày 3.2 Bất chấp các biện phápcấm đoán nghiêm ngặt của chính quyền thuộc địa, nhiều chi bộ và tổ chức của ĐảngCộng sản đã được bí mật xây dựng ở nhiều thành phố Các đảng viên đã tìm đủ cáchtruyền bá chủ nghĩa Marx trong giới học sinh, tuyên truyền mục đích, tôn chỉ Đảngtrong quần chúng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh có tổ chức chống bọn thực dân
7 () Có tài liệu ghi là ông bị tử trận tháng 9.1936
Trang 18Ngày 12.2.1930, ở Vientian đã diễn ra một trong những cuộc bãi công đầu tiêncủa nhân dân lao động – cuộc bãi công của công nhân vận tải đường sông người ViệtNam và người Lào Trong các năm 1932 – 1933, ở các mỏ thiếc Bôneng và Phôngchiuđã diễn ra các cuộc bãi công lớn đòi tăng lương và cải thiện điều kiện lao động Trongnhững năm 1934 – 1935, nhiều cuộc bãi công và biểu tình đã bùng ra ở suốt các thànhphố lớn nằm dọc sông Mékong, thu hút sự tham gia của công nhân, tiểu thương, thợphụ trong các nhà hàng Trong một số vụ đã xảy ra các cuộc xung đột ác liệt vớichính quyền Những người cộng sản đã đóng vai trò tổ chức và lãnh đạo những cuộcđấu tranh này Chính quyền thực dân hiểu rõ rằng chính sự giúp đỡ của những ngườicộng sản Việt Nam đã cho phép dấy lên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ như vậy Báo
cáo của Khâm sứ Lào về tình hình 1933 – 1934 ghi rõ: “Sở mật thám chúng ta hoạt
động tích cực nhằm khám phá ra tất cả các phần tử An Nam khả nghi có thể xen lẫn trong dân chúng lao động”(8) Trong những năm 1938 – 1939, người ta ghi nhận đượcnhiều cuộc bãi công, đấu tranh của công nhân và phu làm đường trên các công trườngxây dựng con đường chiến lược số 13 (9)
Quy mô của những cuộc đấu tranh ở Lào trong những năm 1930 không lớn và sốlượng cũng không nhiều như ở Việt Nam Tỉ lệ và vai trò của công nhân Lào còn rấtkhiêm tốn, thành phần người Lào trong công nhân không đông Đa số công nhân cònlàm việc theo mùa, chưa đoạn tuyệt hẳn với nông thôn Công việc làm thuê đối với họchỉ là nguồn thu nhập bổ sung giữa hai vụ mùa Do đó, họ chưa thoát khỏi ảnh hưởngcủa các viên chức trong làng, vốn là nhân viên của chính quyền thực dân
Dù trình độ phát triển của nền kinh tế còn rất lạc hậu, xã hội Lào cho đến trướcChiến tranh thế giới thứ hai cũng đã trải qua những thay đổi nhất định Trước hết đãhình thành những tầng lớp xã hội mới như trí thức và tiểu tư sản Dù số lượng khôngđáng kể, trí thức Lào ngày càng giữ vai trò quan trọng vì một số đại diện của họ xuấtthân từ những gia tộc có thế lực như Sananiken, Voravong, Sasenit, Champassak và giađình hoàng tộc Tất cả bọn họ đều mong muốn chiếm giữ địa vị cao hơn trong bộ máyhành chính, đóng vai trò năng động trong việc điều hành đất nước Nhưng vị trí thuakém của họ so với các viên chức người Pháp và sự hiện diện ngày càng đông đảo củacác chuyên gia không phải người Lào trong bộ máy hành chính đã làm nẩy sinh thái độbất mãn trong giới trí thức Tất cả điều này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của xuhướng dân tộc chủ nghĩa trong giới quý tộc- trí thức đang hình thành
Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cũng bắt đầu thâm nhập cả vào giới tiểu tư sản vốnđang va chạm quyền lợi với tư sản Pháp, Hoa và Việt
Tuy nhiên, cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các tầng lớp trên chưa cómột hành động chính trị và tích cực nào cả
8 () Phạm Gia Bền, Đặng Bích Hà , Lược sử nước Lào, nxb KHXH, Hà Nội, 1978, tr.161
Trang 19III LÀO TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, Lào đã trở thành đối tượng bịxâm lược từ phía Nhật và Thái Lan
Lợi dụng việc nước Pháp bị Đức Quốc xã đánh bại hồi tháng 6.1940, Phát xítNhật đã gây sức ép buộc toàn quyền Decoux ngày 30.8.1940 ký hiệp ước thừa nhậnđặc quyền của Nhật ở Đông Dương để đánh đổi việc Nhật cam kết tôn trọng ách thốngtrị của Pháp trên bán đảo này Ngay trong tháng 9, Nhật đã đưa quân vào chiếm đóngmột số vị trí chiến lược của ba nước Đông Dương
Theo chân Nhật, chính phủ tư sản- quân phiệt Thái Lan, vốn lúc này đang nuôi
dưỡng tư tưởng bành trướng sôvanh-đại Thái và mơ tưởng xây dựng một “quốc gia
Thái vĩ đại” đã ngấp nghé một số vùng đất của Lào
Được khích lệ bởi Hiệp ước thân hữu kí kết với Nhật vào tháng 6, ngày 13.9,Thái Lan đòi chính phủ Pháp trao trả những phần đất phía Tây nào của Lào vàCampuchia vốn bị Thái Lan thống trị hồøi thế kỷ XIX Bị khước từ, từ ngày 30.11, TháiLan đã gây ra một số cuộc xung đột ở biên giới hai nước kéo dài đến tháng 1.1941
Bị Nhật gây sức ép nặng nề, ngày 28.1.1941, chính quyền Pháp ở Đông Dươngđồng ý thương lượng với chính phủ Thái Lan Ngày 9.5, tại Tokyo hai bên đã ký hoàước, theo đó Pháp thuận cắt giao một số lãnh thổ của Lào cho Thái Lan, gồm mộtphần vương quốc Luang Prabang và tỉnh Bátxắc, tổng cộng khoảng 58.000km2
Để chống trả lại phong trào đại Thái do Thái Lan phát động và ảnh hưởng ngàycàng tăng của Nhật ở Đông Dương nói chung, ở Lào nói riêng, chính quyền Decoux đãthực hiện một số nhượng bộ nhất định Ngày 29.8.1941, hoàng tử Châu XavangVathana, tổng thư ký vương quốc Luang Prabang và quyền khâm sứ Lào đã ký hiệpước, theo đó để bù lại số đất đai phía Tây bị mất, Pháp đã cho phép Luang Prabangđược cai trị thêm ba tỉnh nữa là Vientian, Xiêng Khoảng và Thượng Mékong (còn gọilà tỉnh Huôi Xài hay Nậm Tha), hoàng tử Châu Xavang Vathana được thừa nhận làngười chính thức nối ngôi vua cha, Hội đồng Hêsan Namthông được cải tổ thành Hộiđồng bộ trưởng, lương của nhà vua tăng 60% ; Toàn quyền Đông Dương còn lập rachức “chậu khương”, tức tỉnh trưởng, nghĩa là viên chức Lào từ đây có thể được giaoquyền cai trị tối cấp tỉnh, nhưng tất nhiên vẫn phải chịu sự giám sát của viên trú sứngười Pháp Chính quyền thuộc địa còn phát động phong trào “Phục hưng dân tộc Lào”
mà mục tiêu là “thống nhất người Lào quanh tư tưởng chính – tư tưởng quốc gia
Lào”(10) Phong trào bao gồm các hoạt động thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ, tổchức hội chợ
10 () Sisouk Na Champassak, Tempête sur le Laos, Paris, 1961, p.9
Trang 20Tuy có tạo ra một kết quả nhất định trong việc làm tăng thêm tình cảm thânPháp ở một số người, phong trào “Phục hưng dân tộc Lào” đã mở đường cho sự pháttriển của chủ nghĩa dân tộc, nhất là trong hàng ngũ trí thức, tiểu tư sản và một số quýtộc- phong kiến
Dù đã cố sức ve vãn tầng lớp thượng lưu bản xứ và thi hành các biện pháp mịdân đối với nhân dân, chính quyền thực dân Pháp vẫn không sao che lấp nổi đường lốiđầu hàng phát xít Nhật và bản chất áp bức của nó Dựa vào một loạt các hiệp ước vềkinh tế và quân sự mà Pháp bị buộc phải ký trong những năm 1940 – 1941, phát xítNhật đã lần lần tăng cường và củng cố vị trí của nó trên bán đảo Đông Dương Ngày29.7.1941, chính phủ Vichy đã ký với Nhật hiệp ước theo đó Nhật có quyền triển khailực lượng quân sự trên toàn cõi Đông Dương và quyền sử dụng những căn cứ khôngquân và hải quân có số quân trấn đóng không hạn chế Tiếp đo,ù ngày 8.12, chínhquyền Pháp ở Đông Dương đã ký với Bộ tư lệnh Nhật hiệp ước phòng thủ chung ĐôngDương, theo đó chính phủ Nhật thuộc địa phải đảm bảo trật tự trên lãnh thổ ĐôngDương Như vậy, kể từ nay Nhân dân Lào sống trong cảnh “một cổ hai tròng”
Tình cảnh trên đã ảnh hưởng rất xấu về mọi mặt đến cuộc sống của người dân.Để thoả mãn những nhu cầu thời chiến và có đủ tiền cung ứng cho quân đội chiếmđóng Nhật, chính quyền thực dân đã tăng cường bóc lột các nguồn vật lực và nhân lựccủa Lào Thuốc phiện đã được khuyến khích trồng bằng cách tăng giá thu mua(11) Hậuquả là ở miền Bắc thứ cây này đã đánh bạt hẳn hai loại cây lương thực là gạo và bắp.Pháp còn tăng các thứ thuế, đặt ra đủ các món quyên góp cưỡng bức để có đủ tiền giaonộp cho quân chiếm đóng Kết quả là trong 6 năm chiến tranh số thu của các ngânsách Đông Dương tăng gấp hai lần Còn quân phiệt Nhật thì cướp đoạt gia súc, buộcnông dân giảm diện tích trồng lúa để trồng những thứ cây chúng cần, ép buộc nôngdân phải đi lao dịch xây dựng các công trình chiến tranh
Tuy còn để chính quyền thực dân tiếp tục tồn tại, quân chiếm đóng Nhật luônngờ vực thái độ của người Pháp nhất là sau khi nước Pháp được giải phóng và chínhphủ De Gaulle lên cầm quyền ở nước này Ngày 8.12.1943, chính phủ lưu vong De
Gaulle đã ra tuyên bố “sẽ tiếp tục chiến đấu đến khi nào đánh tan quân xâm lược và
giải phóng hoàn toàn tất cả lãnh thổ Liên bang Đông Dương” Các phần tử thân De
Gaulle ở Lào đã tìm cách bắt liên lạc với người của ông ở Ấn Độ để cùng phối hợphành động chống Nhật Tình hình này đã làm cho quan hệ Nhật-Pháp ở Lào càng vềcuối cuộc chiến tranh càng trở nên căng thẳng Đêm 9 rạng ngày 10.3.1945, quân đội
Trang 21Nhật đã tổ chức đảo chính quân sự xoá bỏ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dươngnói chung, ở Lào nói riêng Ngày 5.4, Nhật thúc giục vua Xixavang Vong tuyên bốvương quốc Luang Prabang độc lập và sau đó cho phép cả nước Lào được “độc lập”.Nhưng hành động mị dân này mau chóng bị vạch trần vì chính sách chiếm đóng củaNhật vẫn không có gì thay đổi và hơn thế nữa nó đã tạo cơ hội cho phong trào khángchiến của Nhân dân Lào phát triển nhanh chóng dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản
Đông Dương, mà Hội nghị trung ương lần thứ VIII (5.1941) đã quyết định: “Đảng ta và
Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh, để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh” (12)
Đầu năm 1945, một tổ chức dân tộc mang tên “Lao pen Lao” (“Nước Lào củangười Lào”) đã được thành lập, bao gồm một số viên chức, trí thức, học sinh Lãnh tụcủa nó là bác sĩ thú y Un Sananikon, xuất thân từ một gia tộc đông đúc và có thế lực ởLào Tổ chức đề ra mục tiêu đấu tranh chống quân chiếm đóng Nhật để sau khi chiếntranh chấm dứt có quyền đòi các cường quốc đồng minh thừa nhận nền độc lập củaLào Lúc đầu “Lao pen Lao” gắn bó với phong trào “Seri Thái” (Thái tự do”) và đãnhờ phong trào này làm trung gian để đặt quan hệ với và để được cơ quan tình báoChiến lược Mỹ (Office of Strategic Service - OSS) cung cấp phương tiện hoạt động Từtháng 4 đến tháng 8.1945, ban lãnh đạo “Lao pen Lao” đã xây dựng được một số nhómkháng chiến và trại huấn luyện
Cũng trong năm 1945, thực hiện đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sảnĐông Dương, Mặt trận Neo Lào Itxala đã được thành lập, thu hút các lực lượng thuộcđủ mọi thành phần dân tộc và tầng lớp xã hội Bất chấp chính sách đàn áp gắt gao củachính quyền thống trị, Mặt trận đã tìm cách phát triển hàng ngũ, lập ra các đội tuyêntruyền, vũ trang chuẩn bị giành chính quyền Tháng 8.1945, khi Nhật tuyên bố đầuhàng quân Đồng minh, Mặt trận Neo Lào Itxala đã ra tuyên bố thủ tiêu ách thống trịcủa Pháp và quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền từ tay Nhật Cuộc khởinghĩa đã nhanh chóng bùng ra ở nhiều nơi trong nước Từ ngày 18.8 đến đầu tháng 9,chính quyền cách mạng đã lần lượt được thiết lập ở những thành phố quan trọng nhưVientian, Thà Khẹt, Xavanakhẹt, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa và Luang Prabang Caotrào khởi nghĩa của nhân dân tác động mạnh đến một số nhân vật có uy thế của tầnglớp trên Ngày 1.9, hoàng thân phó vương Phétxarẹt đã ra tuyên bố cắt đứt quan hệvới Pháp , không cho chính quyền Pháp can dự vào nội tình Lào và duy trì nền độc lậpcủa vương quốc Luang Prabang Ngày 15.9, ông tuyên bố thống nhất toàn bộ lãnh thổLào Để chống trả sức ép của phái đoàn quân sự Pháp đang có mặt ở Luang Prabangđòi duy trì chế độ bảo hộ của Pháp ở Lào , Ủy ban Nhân dân đã được thành lập tạiVientian
12 () Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần VII Đảng Cộng sản Đông Dương Trích theo Văn kiện Đảng
1930 – 1945, tr.111, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng trung ương, Hà Nội, 1977, tr.224
Trang 22Ngày 12.10 , Ủy ban đã thông qua bản Hiến pháp nước Lào độc lập, thành lậpChính phủ lâm thời và bầu ra Quốc hội lâm thời Ngay trong ngày đó , Chính phủ lâmthời tuyên bố nên độc lập của Lào mà từ nay sẽ mang tên Pathet Lào (Nước Lào).Ngày 20.10 , Quốc hội tuyên bố hạ bệ nhà vua Ngày 10.11, nhà vua tuyên bố thừanhận hiến pháp và Chính phủ lâm thời Pathet Lào
CHƯƠNG VI
I THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Thực dân Pháp chiếm lại Lào
Chính sách của Pháp đối với các nước Đông Dương đã được xác định rõ trong
bản Tuyên ngôn Brazzaville công bố ngày 24.3.1946: “Liên bang Đông Dương sẽ cùng
với Pháp và những phần lãnh thổ khác của cộng đồng, lập thành một “Liên hiệp Pháp” mà quyền lợi đối ngoại sẽ do Pháp đại diện” Ý đồ của Pháp đối với Đông Dương thật
rõ ràng: tái lập chế độ thuộc địa
Ngày 23.4.1946, được đế quốc Anh giúp đỡ, Pháp đã tung quân trở lại xâm lượcmiền Đông Nam Á, sau đó vào tháng 10, Pháp đã đến Phompenh ép buộc giai cấpphong kiến cầm quyền thừa nhận chế độ bảo hộ
Do phần lớn lãnh thổ Lào nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 16, mà theo quyết định củaHội nghị Postdam (7 – 8.1945) thì được giao cho chính phủ Tưởng Giới Thạch, vốncũng cùng có tham vọng can thiệp vào nội tình Đông Dương, trách nhiệm giải giápquân đội Nhật, nên Pháp chưa dám liều lĩnh ra mặt gây sức ép như ở Campuchia haygây chiến tranh ồ ạt như ở miền Nam Á Pháp chỉ cho biệt kích nhảy dù xuống chiếmmột số địa điểm quan trọng như thị xã Xiêng Khoảng, Pác Xắt để cố gắng kiểm soáttoàn bộ vùng Hạ Lào và một phần Trung Lào thuộc phía Nam vĩ tuyến 16
Ngày 26.2.1946, sau một thời gian thương lượng, Pháp và Tưởng ký hiệp ướctheo đó Tưởng giao cho Pháp quyền giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Đông Dương từ
Trang 23vĩ tuyến 16 trở ra Khai thác ngay cơ hội này, Pháp liền tung quân đánh chiếm vùngTrung Bắc và Thượng Lào còn thuộc quyền cai quản của chính phủ Pathet Vừa đượcthành lập, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, cơ cấu tổ chức còn rời rạc và không được trang
bị tốt, các đơn vị của quân đội Pathet Lào không đủ sức chống cự các cuộc tiến côngcủa quân đội Pháp Các thành phố, thị xã chính lần lượt rơi vào tay Pháp: Xavanakhẹt(10.3), Thà Khẹt (21.3), Vientian (24.4), Luang Prabang (13.5) Đến tháng 5, Pháp coinhư chiếm được gần hết các thành phố chính Lúc này, lực lượng Pathet Lào chia làmhai: một số rút vào rừng núi, chỉnh đốn lại đội ngũ, xây dựng căn cứ du kích, chuẩn bịbước sang thời kỳ kháng chiến lâu dài, một số vượt sông Mékong sang lãnh thổ TháiLan Chính phủ lâm thời và ban lãnh đạo của phong trào Lào Ítxala cũng dời sangBangkok
Giai cấp phong kiến Lào thoả thuận với thực dân Pháp
Chấp thuận thái độ tỏ ra sẵn sàng cộng tác của vua Xixavang Vông và cũng đểlàm suy yếu, dù là trên danh nghĩa tư cách chính trị của các lực lượng kháng chiến vàcủa chính phủ lâm thời Lào Ítxala, ngày 27.8.1946, sau một vài nhượng bộ nhỏ, Phápđã ký với Xixavang Vông Tạm ước thừa nhận Lào là một vương quốc thống nhất đặtdưới quyền cai trị tối cao của nhà vua và được hưởng một số quyền tự trị trong khuônkhổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp Vương quốc Lào sẽ có hiến pháp,chính phủ và quốc hội riêng Thật ra tất cả những thứ này chỉ có tác dụng che giấu việcthực dân Pháp đã lập lại ách thống trị ở Lào vì toàn bộ quyền hành thực tế đều nằmtrong tay “Ủy viên Cộng hoà Pháp quốc” Tất cả các đạo luật và văn kiện chính thức,ngoài chữ ký của nhà vua, còn phải được sự duyệt phê của Ủy viên thì mới có hiệu lực.Để tỏ rõ quyền lực của mình, ngày 17.11.1946, Pháp buộïc Thái Lan trao trả hai tỉnhXaynhabuli và Pátxắc, mà Pháp phải cắt giao cho Thái Lan hồi năm 1941 vì sức épcủa Nhật
Ngày 11.5.1947, Quốc hội lập hiến được bầu hồi đầu năm, đã thông qua bảnHiến pháp khẳng định sự tồn tại của chế độ quân chủ lập hiến và ủy quyền của Pháp ởLào Ngày 15.8, Quốc hội lập pháp được bầu ra Khi Bollaert, cao ủy Pháp ở ĐôngDương, sang tham dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội Lào (26.11.1940), vuaXixavang Vông đã nhờ ông ta chuyển đến tổng thống Pháp công hàm xin gia nhậpLiên hiệp Pháp Như vậy là quyền thống trị của Pháp ở Lào đã được tái lập đầy đủ, cảtrong thực tế lẫn trên pháp lý
Nhân dân Lào kháng chiến chống Pháp
Nhưng nước Lào của những năm 1940 không còn là nước Lào của những năm
1890 Sau khi rút khỏi các thành phố và thị trấn, các lực lượng vũ trang Lào Ítxala cốgắng tập hợp lại và xây dựng một loạt các căn cứ du kích ở các tỉnh Sầm Nưa, XiênKhoảng, Vientian, Xaynhabuli, Hứa Khổng, dọc theo biên giới Lào-Việt, Lào-Thái vànhiều địa phương khác Ngày 30.1.1949, tại chiến khu Xiềng Khọ, đơn vị chính quyđầu tiên của quân đội giải phóng Lào được thành lập mang tên Lát Xây
Trang 24Đây cũng là ngày thành lập Quân đội Giải phóng Nhân dân Lào Song song vớiviệc gầây dựng lực lượng vũ trang, những nhà lãnh đạo cách mạng Lào còn chú ý xâydựng các đoàn thể cứu quốc ở vùng các dân tộc ít người
Sự phát triển của phong trào kháng chiến đã làm thực dân Pháp thấy rõ khôngthể duy trì một cách quá lộ liễu ách thống trị như trước nữa và cũng nhằm mục đíchchia rẽ phong trào giải phóng dân tộc bằng cách tranh thủ những phần tử lưng chừng,ngày 19.7.1949, Pháp đã ký với chính phủ Vientian bản thoả ước mới, theo đó Phápchính thức thừa nhận nền độc lập của Lào và cho phép chính phủ Vientian quyền thamgia vào các cơ quan Liên hiệp Pháp, nhưng vẫn giữ lại quyền giải quyết những vấn đềliên quan đến việc phòng thủ biên giới Lào và cả toàn bộ Đông Dương, ngoại thươngvà tài chính của Lào Tất cả những hạn chế này làm cho nền độc lập của Lào chỉ còn làhình thức
Thoả ước trên là một thắng lợi của thực dân Pháp, vì sau khi nó được ký kết,phong trào “Lào tự do” đã bị tan rã Cho rằng đất nước đã được độc lập, ngày24.10.1949, các lãnh tụ phái hữu của phong trào đã thông qua nghị quyết giải tánphong trào và lực lượng vũ trang của nó, giải thể chính phủ Lâm thời, nhiều lãnh tụ,trong đó có Xuphanuvơng, Suvanna Phuma và Cà Tày, người mà năm 1940 đã xuất
bản ở Bangkok cuốn sách nhan đề “Lào, cột trụ lý tưởng chống chủ nghĩa Cộng sản” (13)đã quay về nước và cộng tác với chính phủ Liên bang Riêng hoàng thân Xuphanuvôngvà những người theo ông đã không tán thành hành động này Họ đã bí mật quay về nướctham gia phong trào kháng chiến
Cùng vào thời điểm trên, ở Trung Quốc đã xảy ra một sự kiện quan trọng: Cáchmạng giành được thắng lợi, chế độTưởng Giới Thạch bị đánh tan, nước Cộng hoà Nhândân Trung Hoa ra đời Đây là nhân tố hết sức thuận lợi góp phần không nhỏ vào chiếnthắng của chiến dịch Biên giới (1950) của phong trào kháng chiến chống Pháp ở ViệtNam Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chung của nhân dân banước Đông Dương
Từ ngày 13.8 đến ngày 15.8.1950, Đại hội Toàn quốc Neo Lào Ítxala đã đượctriệu tập tại một địa điểm trong tỉnh Huội Phàn (Sầm Nưa) Tham gia Đại hội có hơn
110 đại biểu từ các miền khác nhau của đất nước, thuộc các tầng lớp giai cấp các dântộc và các tổ chức chính trị, xã hội khác nhau Các đại biểu đã thông qua nghị quyếtthành lập Mặt trận Lào Tự do (Neo Lào Ítxala), soạn thảo và thông qua cương lĩnh vàĐiều lệ của Mặt trận, bầu ra chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Xuphanuvông lãnhđạo, Tuyên ngôn gửi Nhân dân Lào, Nhân dân thế giới
Cương lĩnh của Mặt trận xác định đường lối và chính sách trong giai đoạn trướcmắt của Cách mạng Lào gồm 12 điểm sau: