1.6 Kết cấu của đề tàiNgoài các phần: Lời nói đầu, Danh mục viết tắt, các tài liệu tham khảo, Phụ lục và Kết luận, kết cấu của đề tài gồm 4 chương sau: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Khi các rào cản quan thuế được dỡ bỏ theo quy định của WTO để tiến tới một thịtrường cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế thì trên thực tế, nhiều quốc giakhông ngừng dựng lên những rào cản phi thuế quan nhằm ngăn chặn dòng hàng hóatrong kinh doanh ngoại thương với nhiều hình thức và mức độ khác nhau nhằm bảo hộsản xuất nội địa Đặc biệt với lợi thế về khoa học kỹ thuật và công nghệ các nước pháttriển đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra những rào cản phi thuế quan gây bất lợi cho thươngmại của các quốc gia nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong thương mại quốc tế Việcthắng hay thua trên thị trường quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực của chính phủ
và các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tại các quốc gia đang phát triển
Gia nhập WTO đã mở ra những triển vọng to lớn cho hoạt động xuất nhập khẩucủa Việt Nam Tuy nhiên, song song với những thuận lợi, hoạt động xuất nhập khẩucủa các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp phải không ít các rào cản thương mại, đặcbiệt là các rào cản phi thuế quan Làm thế nào để đối phó và vượt qua các rào cản phithuế quan đang là vấn đề không mới mẻ nhưng vẫn hết sức khó khăn đối với cácdoanh nghiệp nước ta Để đảm bảo thực hiện mục tiêu chiến lược xuất khẩu, đòi hỏiphải có sự nghiên cứu một cách toàn diện các rào cản phi thuế quan trong thương mạiquốc tế nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc đàm phán, yêu cầu đối tác mở cửathị trường và tìm ra các biện pháp thích hợp để vượt được các rào cản, qua đó đẩymạnh xuất khẩu
Với những kết quả tích cực đã đạt được trong hoạt động XK đồ gỗ trong nhữngnăm gần đây, hình ảnh của VN đang ngày càng được các nhà nhập khẩu trên thế giớiquan tâm Trong số những thị trường nhập khẩu, Mỹ được xem là thị trường lớn nhất
và rất tiềm năng của ngành gỗ nước ta Tuy nhiên, sự hiện diện của vô số những ràocản xuất khẩu vào thị trường Mỹ khiến cho nhiều DNXK gỗ nước ta gặp khó khăn, dovậy việc đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu là điều kiện cần thiết trước tiên
để các DN giữ vững vị trí của mình và tiếp tục phát triển
Để đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đề tài nghiên cứu khoa học “Giải phápđáp ứng các quy định phi thuế quan nhằm thúc đẩy xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ
gỗ của Việt Nam vào thị trường Mỹ” đã nghiên cứu những quy định phi thuế quan đốivới mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ của thị trường Mỹ và thực trạng đáp ứng các quy
Trang 2định đó của các doanh nghiệp Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp với mongmuốn nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng này vào Mỹ
Với nền tảng kiến thức có hạn và dữ liệu thực tế chưa nhiều, vì thế đề tài nghiêncứu có thể còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cácthầy cô để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Bộ NN&PTNT- Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
2 Vifores - Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam
3 TMQT- Thương mại quốc tế
4 GATT - Hiệp đinh chung về Thuế quan và thương mại
5 TBT – Rào cản kỹ thuật đối với thương mại
6 NTBs - Rào cản phi thuế quan
7 OECD - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
8 UNCTAD- Cơ quan Liên hợp quốc về Hợp tác và phát triển quốc tế
9 PECC - Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương
10 ASEAN- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
11 ASCM - Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Mỹ
12 SCM - Hiệp định về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng của WTO
13 DOC - Bộ Thương mại Mỹ
14 USITC - Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ
15 ALSC - Ủy ban tiêu chuẩn gỗ Mỹ
16 ALS - Hệ thống tiêu chuẩn gỗ của Mỹ
17 NGRC - Ủy ban Quy tắc phân loại quốc gia
18 EPA - Cơ quan bảo vệ môi trường
19 APHIS - Cục kiểm định y tế động thực vật
20 CPCA - Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng
21 CPSIA - Luật cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng
22 CPSC - Ủy ban an toàn tiêu dùng Mỹ
23 USDA - Bộ Nông nghiệp Mỹ
24 EU – Liên minh châu Âu
25 CoC - Chứng nhận quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm
26 EIA - Tổ chức Điều tra môi trường
27 NDT – Đồng nhân dân tệ
28 NGO - Tổ chức phi chính phủ
29 WTO – Tổ chức thương mại thế giới
30 FSC - Hội đồng quản trị rừng quốc tế
31 GFTN - Mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu
32 WWF- Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chương I: Tổng Quan Nghiên Cứu Đề Tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài :
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến một xu thế lớn chi phối sựphát triển của thế giới hiện đại, đó là quá trình toàn cầu hóa Ngày nay, toàn cầu hóa đãkhông còn là khái niệm mới mẻ bởi xu thế này đang dần trở nên rõ ràng và đậm néttrong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người Sự ra đời của các liên kết kinh
tế, các công ty đa quốc gia, sự phân công lao động quốc tế… là những đặc trưng cơbản của toàn cầu hóa kinh tế, nó khiến cho sự tác động và ảnh hưởng giữa các quốcgia, đặc biệt là về kinh tế, ngày càng sâu sắc, mọi quyết định kinh tế đưa ra dù ở bất kỳthời điểm nào và ở bất cứ nơi đâu đều phải tính tới các yếu tố quốc tế Tiến trình nàylàm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thờicũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt.Trong suốt tiến trình toàn cầu hóa đó, chắc chắn cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càngmạnh mẽ và quyết liệt hơn, điều này buộc các chủ thể muốn trụ vững và phát triển trênthị trường khu vực và thế giới phải có các chính sách hội nhập và cạnh tranh thích hợp.Phát triển đất nước theo đường lối đổi mới, với định hướng chiến lược trở thànhnước công nghiệp phát triển vào năm 2020, Chính phủ Việt Nam ngày càng nhận thấy
rõ hơn sự cần thiết phải tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế và cạnh tranh quốc
tế Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 nêu rõ, phải "Chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển Trong quá trình chủ động hộinhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, khôngngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm dần hàng rào bảo hộ" Đảng và Nhà nước ta
đã xác định đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hướng vàoxuất khẩu bằng cách tận dụng những lợi thế có sẵn như nguồn nhân công dồi dào, giá
Trang 5rẻ, nguồn nguyên liệu sẵn có.Trên cơ sở đó, xuất khẩu nông- lâm -thủy sản được chútrọng đầu tư và đạt được kết quả tích cực, trong đó ngành gỗ là một ví dụ Năm 2000,kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ mới chỉ là 219 triệu USD, tới năm 2011kim ngạch xuất khẩu đạt 3,9 tỷ USD, tăng gấp 17,8 lần trong vòng một thập kỷ và làmột trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, bên cạnh sự ổn định tương đối của một số mặt hàngxuất khẩu truyền thống của nước ta như gạo, cà phê, cao su … thì xuất khẩu gỗ và cácsản phẩm từ gỗ đã nổi lên nhanh chóng và đưa Việt Nam lên vị trí xuất khẩu gỗ hàngđầu khu vực Đông Nam Á Nguyên nhân tạo nên sự bứt phá của ngành gỗ nước tatrước hết là do nhà nước có cơ chế thông thoáng, cởi mở trong việc nhập khẩu nguyênliệu và xuất khẩu sản phẩm chế biến, cùng với đó là những thuận lợi có được từ việcnước ta trở thành thành viên của WTO
Việt Nam với chính sách mở cửa nền kinh tế và hội nhập sâu rộng đã mở ra nhiều
cơ hội cho mặt hàng đồ gỗ trong nước Sau nhiều năm phát triển, hiện nay sản phẩm
đồ gỗ nước ta đã có mặt tai hơn 100 quốc gia trên thế giới Mỹ, Nhật Bản, TrungQuốc, EU…là những thị trường nhập khẩu gỗ chủ yếu của Việt Nam, trong đó Mỹđược đánh giá là thị trường nhập khẩu chiếm tỷ trọng kim ngạch lớn nhất của ngànhhàng này Tại thị trường Mỹ, đồ gỗ Việt Nam được đánh giá là có chất lượng tốt, giá cảcạnh tranh, kiểu dáng sáng tạo so với nhiều nước khác, hiện nay Việt Nam đang đứngthứ năm trong số mười nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất vào Mỹ
Tuy nhiên, tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã làm giảmđáng kể nhu cầu đồ gỗ ở Mỹ, thêm vào đó, sự áp dụng và ban hành hàng loạt nhữngrào cản thương mại mới, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật tại thị trường này cùng vớinhững hạn chế nội tại của các doanh nghiệp trong nước đang đặt ngành công nghiệpchế biến gỗ Việt Nam trước những thách thức không nhỏ Tìm kiếm giải pháp nhằmkhắc phục những hạn chế và ứng phó với sự thay đổi của thị trường đồ gỗ Mỹ là vấn
đề cấp thiết đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam hiện nay
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu trong đề tài
Đặc điểm nổi bật của thị trường Mỹ chính là quy mô lớn, nhu cầu tăng thườngxuyên và đa dạng, đây cũng được đánh giá là một thị trường có độ mở cao, do vậy tấtyếu tồn tại sự cạnh tranh gay gắt ở thị trường này, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệpphải nỗ lực không ngừng và thật thận trọng trong chiến lược kinh doanh của mình.Không chỉ có vậy, để xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Mỹ, ngoài các định chế về hải
Trang 6quan và thuế, nhà xuất khẩu còn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định phi thuế quanđược đề ra và áp dụng một cách phổ biến như các quy định về chứng chỉ/ tiêu chuẩn
Mỹ, các phân tích kỹ thuật đối với mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, từ tháng 4/2010đạo luật LACEY sửa đổi của Mỹ chính thức có hiệu lực, theo đó các sản phẩm gỗ nhậpkhẩu vào Mỹ sẽ được kiểm soát chặt chẽ về nguồn gốc, xuất xứ, mục đích nhằm hạnchế việc khai thác gỗ trái phép và buôn bán gỗ bất hợp pháp khác
Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Mỹ đạt 1,435 tỷ USD,chiếm 36,7 % tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành là 3,905 tỷ USD (Tổng cụcHải quan) Thế nhưng một thực tế đáng buồn tại thị trường xuất khẩu đồ gỗ Việt Namhiện nay là doanh nghiệp trong nước chiếm đa số, khoảng 80% số lượng doanh nghiệptrong cả nước, nhưng doanh số chỉ chiếm 20-30%, trong khi đó doanh nghiệp nướcngoài có số lượng chỉ khoảng 20% nhưng lại chiếm đa số trong kim ngạch xuất khẩu.Điểm mấu chốt chính là ở chỗ các sản phẩm có giá trị cao, hướng tới các thị trườngkhó tính như Mỹ luôn đòi hỏi các quy trình nghiêm ngặt về nguồn gốc và kỹ thuật chếbiến, trong khi các doanh nghiệp trong nước chưa gây dựng được uy tín đối với thịtrường này Một số những vấn đề mà doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam gặp phải là
do quy mô nhà máy chế biến chưa đủ lớn, nguyên liệu phụ cho gia công như sơn phủ,vecni đều phải nhập khẩu là chính, rừng trồng trong nước chưa đáp ứng được các tiêuchuẩn và chất lượng gỗ rừng trồng của Mỹ, hầu hết các sản phẩm gỗ của nước ta đượcsản xuất từ gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ các nước lân cận trong khu vực sông Mekongnhư Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanma, vì thế có thể xảy ra khả năngmột số sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ có liên đới tới các hoạt độngkhai thác gỗ lậu và các vi phạm pháp lý khác, từ đó tạo ra rủi ro cho các nhà xuất khẩu
đồ gỗ có nguồn gốc đáng nghi ngờ từ Việt Nam, có thể khiến họ bị tịch thu hàng, bịphạt hoặc thậm chí bị bỏ tù theo các đạo luật, các quy định hiện hành có liên quan củachính phủ Mỹ So với các rào cản thuế quan, việc nắm bắt và đáp ứng các rào cản phithuế quan, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật của sản phẩm khi vào thị trường Mỹ của cácdoanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ nước ta còn nhiều yếu kém, do đó khiến cho các sảnphẩm gỗ xuất khẩu của ta mất đi nhiều lợi thế vốn có
Để góp phần giúp ngành gỗ phát triển bền vững, giải quyết những khó khăn gặpphải trong việc đáp ứng các yêu cầu của thị trường Mỹ, trong hoạt động NCKH củamình, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Giải pháp đáp ứng các quy định phi thuế
Trang 7quan nhằm thúc đẩy xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam vào thị trườngMỹ” Đề tài sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
1 Khái quát những kiến thức cơ bản và cập nhật về hàng rào phi thuế quan,trong đó tập trung vào rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗxuất khẩu vào thị trường Mỹ
2 Nghiên cứu khả năng đáp ứng các hàng rào phi thuế quan trong đó tậptrung vào rào cản kỹ thuật của mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ xuất khẩu vào thịtrường Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam
3 Từ đó đưa ra các kiến nghị với Chính phủ, Hiệp hội và các doanh nghiệpnhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ vào thị trường Mỹ
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1 Hệ thống hóa được các rào cản phi thuế quan của Mỹ đối với hàng gỗ vàsản phẩm từ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam
2 Xác định mức độ đáp ứng các rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với hàng gỗ
và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam
3 Đề xuất các giải pháp nhằm vượt qua những rào cản đó đối với mặt hàng
gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, đề tài tìm hiểu các rào cản phi thuế quan (tập trung chủ yếu vào rào cản
kỹ thuật) của Mỹ đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu
Thứ hai, nghiên cứu mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam đối với cácrào cản kỹ thuật của Mỹ đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đáp ứng các rào cản đó
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗcủa Việt Nam sang Mỹ trong giai đoạn 2006- 2011
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
1.5.1 Ý nghĩa lý luận:
Là cái nhìn tổng quan về những quy định phi thuế quan của thị trường đồ gỗ Mỹ,
về nguồn gốc của những khó khăn mà doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam gặp phảikhi tham gia vào thị trường Mỹ
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với mục tiêu đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ củaViệt Nam vào thị trường Mỹ, đề tài góp phần nâng cao năng lực của doanh nghiệp ViệtNam trong việc xuất khẩu mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ vào thị trường Mỹ
Trang 81.6 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần: Lời nói đầu, Danh mục viết tắt, các tài liệu tham khảo, Phụ lục
và Kết luận, kết cấu của đề tài gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận về đáp ứng các quy định phi thuế
quan đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ xuất khẩu vào Mỹ
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng đáp ứng các
quy định rào cản phi thuế quan đối với hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ xuất khẩu vào Mỹ
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp đáp ứng các quy định về rào cản phi
thuế quan đối với hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Trang 9Chương II: Tóm Lược Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Đáp ứng Các Rào Cản
Kỹ Thuật Với Mặt Hàng Gỗ Và Sản Phẩm Từ Gỗ Xuất Khẩu Vào Mỹ
Như đã đề cập ở trên, một trong những đối tượng nghiên cứu chính của đề tài làcác rào cản phi thuế quan của Mỹ đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ nhập khẩu,
do đó chương này sẽ tập trung làm rõ các rào cản phi thuế quan (chủ yếu là rào cản kỹthuật) mà Mỹ đang áp dụng đối với mặt hàng đồ gỗ nhập khẩu
A Một số khái niệm cơ bản.
1 TMQT và những đặc trưng cơ bản
Một thực tế không thể phủ nhận ở bất kỳ nền kinh tế hàng hóa nào, đó là sự tăngtrưởng kinh tế gắn liền với hoạt động TMQT, trong đó mỗi quốc gia là một mắt xíchcủa chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, tham gia vào quá trình phân công lao độngquốc tế Chính điều này là khởi nguồn của mọi hoạt động giao thương quốc tế, khiếncho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc hơn và sự cạnh tranh vìthế cũng ngày càng gay gắt hơn
Hiểu một cách đơn giản nhất, TMQT chính là việc mua bán, trao đổi hàng hóadịch vụ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau Đây là hoạt động thương mại làmphát sinh một nền kinh tế toàn cầu, trong đó giá cả, cung, cầu bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố, các sự kiện toàn cầu Sự thay đổi chính trị ở một số nước châu Á có thể dẫn tới
sự gia tăng chi phí lao động, làm thay đổi chi phí sản xuất của công ty giày Nike có trụ
sở tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Indonesia, Đài Loan, sẽ dẫn tới sự gia tăngmức giá bán mà một người Mỹ phải trả khi mua hàng ngay tại trung tâm thương mại ởNewyork, sự biến động trong nền kinh tế tài chính của các nước phát triển như EU,
Mỹ, Nhật Bản khiến cầu sản phẩm về ô tô Toyota giảm, từ đó sẽ kéo theo sự ngưngtrệ về sản xuất tại Mỹ, Mexico, Trung Quốc, Australia, Bỉ, nơi mà Toyota đặt cơ sởnghiên cứu, chế tạo, xưởng sản xuất, lắp ráp ở đó
TMQT cho phép người tiêu dùng và các quốc gia cơ hội được tiếp xúc với hànghoá và dịch vụ không có sẵn ở quốc gia của họ Hầu như tất cả các loại sản phẩm cóthể được tìm thấy trên thị trường quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng thay thế, dầu,
đồ trang sức, rượu vang, chứng khoán, tiền tệ và nước Dịch vụ cũng được giao dịchphổ biến: du lịch, ngân hàng, tư vấn, vận chuyển…
TMQT cho phép nước giàu sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả hơn,
từ lao động trình độ cao cho tới công nghệ hoặc vốn Còn các nước nghèo cũng có thể
Trang 10khai thác được các nguồn lực sẵn có của mình như lao động giá rẻ, tài nguyên dồi dào,tận dụng công nghệ, học hỏi kinh nghiệm Khai thác lợi thế so sánh quốc gia, từ đógia tăng hiệu quả đầu tư, thắt chặt mối dây liên hệ giữa các nước chính là một trongnhững đặc trưng cơ bản nhất của TMQT.
Một vấn đề nảy sinh trong TMQT nói chung và trong chính sách thương mại củacác nước nói riêng đó là tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại luôn luôn đi liềnvới nhau Nghịch lý này được tất cả các nước chấp nhận như một thực tế khách quan,
vì một mặt nước nào cũng muốn tự do hoá thương mại nhằm khai thác tối đa hiệu quảcủa hoạt động ngoại thương, nhưng mặt khác bất cứ nước nào cũng có nhu cầu phảibảo hộ một số ngành sản xuất trong nước của mình Do vậy các nước thường sử dụngmột hệ thống các công cụ điều chỉnh những ảnh hưởng của hoạt động TMQT đến thịtrường nội địa, đó là các rào cản thương mại
Kết quả vòng đàm phán thương mại đa phương và song phương trong khuôn khổcủa WTO và trước đây là Hiệp đinh chung về Thuế quan và thương mại (GATT) về
mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại đã chỉ ra rằng rào cản trong TMQT xuấthiện trong hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất đa dạng và tinh vi Trong các vănbản của WTO, thuật ngữ rào cản lần đầu tiên được đề cập đến trong Tiêu chuẩn Mãnăm 1979, là kết quả của vòng đàm phán thương mại Tokyo, tiêu chuẩn này còn được
gọi là Hiệp định TBT đầu (TBT - Technical Barriers to Trade ): “rào cản TMQT là bất
kỳ biện pháp, hành động hay chính sách của chính phủ gây cản trở đối với hoạt động TMQT” Rào cản thương mại được chia làm hai loại, rào cản thuế quan (Tariff
Barriers- TBs) và rào cản phi thuế quan (Non-Tariff Bariers-NTBs) Rào cản thuế quan
là biện pháp mà WTO cho phép sử dụng để bảo hộ thị trường trong nước nhưng phảicam kế rang buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm Rào cảnphi thuế quan được các nước cố gắng tạo ra và duy trì nhằm bảo hộ sản xuất trongnước và thị trường nội địa Rào cản phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa quan trọngtrong việc bảo hộ thị trường nội đia, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nên kinh tế
mà còn là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại của các nước
2 Biện pháp phi thuế quan (Non-Tariff Measures-NTM)
Để hiểu được thế nào là biện pháp phi thuế quan, trước hết cần phải hiểu rõ thuế
quan là gì Một cách chung nhất, “thuế quan trong TMQT là khoản thu do các nước đặt ra đối với hàng nhập khẩu và xuất khẩu khi hàng hóa đó làm thủ tục thông quan
Trang 11tại cửa khẩu hải quan hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu” Trong khuôn khổ WTO, “biện pháp phi thuế quan là biện pháp ngoài
thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước”(Hàng rào phi thuế quan trong TMQT- Nguyễn Hữu Khải- ĐH kinh tế quốc dân)
Một cách cụ thể hơn, biện pháp phi thuế quan được hiểu là tất cả các biện phápkhông phải là thuế quan, được qui định cụ thể trong hệ thống chính sách luật pháp hayphát sinh từ thực tiễn quản lý hoạt động thương mại, có ảnh hưởng đến hoạt động nhậpkhẩu thì được gọi là các biện pháp phi thuế quan Ví dụ như với một số lượng được ấnđịnh sẵn, hạn ngạch sẽ không cho phép hàng hóa nhập/xuất khẩu vào/ra một nước vượtquá số lượng đó trong bất kì trường hợp nào, hàng nhập/ xuất vượt quá số lượng phảitái xuất hoặc lưu kho chờ hạn ngạch năm sau
3 Hàng rào phi thuế quan (Non- Tariff Barriers- NTB)
Hiện nay có nhiều khái niệm về hàng rào phi thuế quan, Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) năm 1997 đã định nghĩa “Hàng rào phi thuế quan là những biệnpháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thôngthường dựa trên cơ sở lựa chọn nhằm hạn chế Nhập khẩu” Tương tự như vậy, cơ sở
dữ liệu của Hệ thống phân tích và thông tin thương mại (TRAINS) thuộc Cơ quanLiên hợp quốc về Hợp tác và phát triển quốc tế (UNCTAD) cũng chủ yếu chỉ đề cậptới các biện pháp biên giới mà bỏ qua những biện pháp liên quan tới xuất khẩu nhưnhững nguyên tắc về kiểm soát số lượng, hàm lượng trong nước, các khoản trợ cấp Nghiên cứu của Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1995đưa ra khái niệm “Hàng rào thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vàothương mại bằng cách này hay cách khác làm biến dạng sản xuất trong nước” (theonghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải- Hàng rào phi thuế quan trong TMQT)
Định nghĩa của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về các rào cản phithuế quan bám sát hệ thống phân loại của UNCTAD Tuy nhiên có những sự bỏ sótđáng kể trong định nghĩa của tổ chức này Một số biện pháp tài chính và kiểm soát giá
đã không được ASEAN đề cập đến, ví dụ như các biện pháp kiểm soát số lượng, chốngbán phá giá, các khoản phí phi thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu
Từ khái niệm về các biện pháp phi thuế quan đã đề cập ở trên, WTO đã đưa rakhái niệm về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế quan là những biện
Trang 12pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sởpháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Như vậy khi một biện pháp phi thuế quan được áp dụng gây cản trở cho thươngmại mà không giải thích được theo bất kỳ một định chế hay nguyên tắc nào của WTOthì biện pháp đó được coi là một hàng rào phi thuế quan gây cản trở hay bóp méothương mại
Về mặt lý thuyết thì có sự khác nhau giữa hàng rào phi thuế quan và các biệnpháp phi thuế quan, tuy nhiên trong thực tiễn người ta thường dùng cụm từ rào cản phithuế quan để chỉ chung một ý nghĩa là các biện pháp phi thuế quan và cả các hàng ràophi thuế quan Các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như một sự đồngnghĩa với các biện pháp phi thuế quan mà nên coi hàng rào phi thuế quan là tập hợpmột số biện pháp phi thuế quan Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biệnpháp phi thuế quan, song không phải tất cả các biện pháp phi thuế quan đều là hàngrào phi thuế quan Các biện pháp phi thuế quan có thể bao gồm cả các biện pháp thúcđẩy xuất khẩu, chúng không gây cản trở đối với hoạt động TMQT, do vậy nó khôngphải là rào cản với thương mại Trong thực tế việc xác định những biện pháp phi thuếquan nào là các hàng rào phi thuế quan khá khó khăn, mục đích sử dụng các công cụ,chính sách là quan trọng, song có những chính sách biện pháp mà tác dụng của chúngkhó xác định được chính xác nếu không có sự điều tra kỹ lưỡng về kết quả, bản chất
và quy chế hoạt động thực sự của nó
Tại Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế thường sử dụng khái
niệm về rào cản phi thuế quan của Bộ thương mại như sau: “ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan” Mỗi
rào cản phi thuế quan có một hoặc nhiều thuộc tính như áp dụng tại biên giới hay nộiđịa, được duy trì một cách chủ động hay bị động, phù hợp hoặc không phù hợp vớithông lệ quốc tế, nhừm bảo hộ hay không bảo hộ
Có thể thấy rằng thuật ngữ rào cản phi thuế quan hay hàng rào phi thuế quan,biện pháp phi thuế quan tuy được sử dụng nhiều nhưng hiện vẫn chưa có định nghhĩachính thức nào về rào cản phi thuế quan, việc định nghĩa cũng như phạm vi tác độngcủa chúng hoàn toàn phụ thuộc vào các nhà nghiên cứu, các quốc gia và các tổ chứcquốc tế Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, cụm từ “rào cản phi thuế quan” sau đây
Trang 13được sử dụng với nghĩa là bất kỳ các biện pháp, quy định ngoài thuế quan nào, bao gồm việc sử dụng các biện pháp,công cụ, quy định thuộc pháp lý và kỹ thuật gây cản trở đối với TMQT nhằm phân biệt đối xử, chống lại sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài và bảo vệ thị trường nội địa Mục tiêu lý thuyết của các rào cản pqt
là bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường trong nước Tuynhiên, phần lớn các nước công nghiệp phát triển lợi dụng lý do này để đạt tới mục đíchsâu xa cuối cùng về mặt kinh tế là giảm thiểu lượng hàng hóa nhập khẩu để bảo vệ sảnxuất trong nước
B Một số lý thuyết liên quan đến các rào cản phi thuế quan đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ xuất khẩu vào Mỹ
1 Phân loại rào cản phi thuế quan (Non-tariff barriers, NTBs)
Sự phổ biến và những biến dạng của các rào cản phi thuế quan khiến cho việcphân loại nó chưa được thống nhất Hiện vẫn chưa có một cách phân loại cố định nào
và cũng chưa thể thống kê được hiện có bao nhiêu loại rào cản phi thuế quan tồn tạitrong TMQT Sau đây là một số phương thức phân loại rào cản phi thuế quan phổ biếntrên thế giới
Theo nghiên cứu của Robert E.Baldwin (1970) được trích dẫn trong Dee andFerrantino (2005), đây là tài liệu đầu tiên có sự phân loại các rào cản phi thuế quan,tuy nhiên phương thức phân loại của Baldwin không chỉ ra được các biện pháp cụ thể,
nó chỉ đưa ra sự phân loại dựa trên các đặc điểm chung về chinh sách có tác động ngăncản việc hình thành một thị trường chung, cản trở tự do hóa thương mại, bao gồm:
•Hạn ngạch và các chính sách hạn chế thương mại quốc gia
•Trợ cấp xuất khẩu và thuế
•Các chính sách phân biệt đối xử giữa nhà nước và tư nhân
•Các loại thuế gián thu có chọn lọc
•Các hình thức trợ giá trong nước có chọn lọc
•Các thủ tục hải quan nhằm hạn chế thương mại
•Các quy định về chống bán phá giá
•Các quy định về hành chính và kỹ thuật nhằm hạn chế thương mại
•Các tập quán kinh doanh nhằm hạn chế thương mại
•Các biện pháp kiểm soát đầu tư nước ngoài
•Các chính sách xuất nhập cảnh nhằm hạn chế thương mại
•Các biện pháp kiểm soát tiền tệ có chọn lọc và các chính sách phân biệt đối xử
về tỷ giá hối đoái
Trang 14Laird and Vossenaar (1991) cũng được trích dẫn bởi Dee and Ferrantino (2005)đưa ra hệ thống phân loại dựa trên mục tiêu và tác động trực tiếp của từng rào cản phithuế quan, được chia thành năm loại:
•Các biện pháp kiểm soát khối lượng nhập khẩu
•Các biện pháp kiểm soát giá cả hàng nhập khẩu
•Các biện pháp giám sát cả về giá cả và khối lượng (điều tra và theo dõi)
•Các biện pháp sản xuất và xuất khẩu
•Rào cản kỹ thuật
Deardorff and Stern (1997) xây dựng một hệ thống các phân loại dựa trên giá cả
và các biện pháp hạn chế định lượng tại cửa khẩu, rào cản phi thuế quan được chiathành năm nhóm như sau:
•Hạn chế định lượng và những giới hạn cụ thể tương tự đối với hàng xuất- nhậpkhẩu
•Các khoản phi thuế quan và phí có liên quan ảnh hưởng tới hàng nhập khẩu
•Sự tham gia của Chính phủ vào cá hoạt dộng thương mại, các thông lệ mangtính hạn chế và các chính sách chung
•Thủ tục hải quan và các thông lệ hành chính
•Các rào cản kỹ thuật thương mại
Hệ thống mã kiểm soát cá biện pháp thương mại của UNCTAD đã chia rào cảnphi thuế quan thành hơn 100 biện pháp khác nhau, trong đó đã loại trừ cá biện pháp vềsản xuất và xuất khẩu Các phân loại này là :
•Nhóm các biện pháp tùy chỉnh gần giống thuế quan, phụ thu hải quan, thuế vàphí bổ sung, định giá hải quan
•Nhóm các biện pháp hành chính kiểm soát giá cả- định giá, hạn chế xuất khẩu
tự nguyện, áp dụng lệ phí tùy biến
•Nhóm các biện pháp tài chính- các yêu cầu tạm ứng, thanh toán, quy định vềđiều kiện thanh toán hàng nhập khẩu, làm chậm trễ khâu giao hàng
•Nhóm các biện pháp kiểm soát định lượng- cấp phép phi tự động, hạn ngạch,cấm, các thỏa thuận hạn chế xuất khẩu, hạn chế cụ thể đối với doanh nghiệp
•Nhóm các biện pháp độc quyền- kênh nhập khẩu duy nhất, dịch vụ bắt buộc đốivới quốc gia
•Nhóm các biện pháp kỹ thuật- các quy định về kiểm tra trước khi xuất hàng, cácthủ tục hải quan đặc biệt
Nếu so sánh giữa phân loại của Deardorff and Stern và của UNCTAD, có thể thấy
sự giống nhau giữa một số tiêu đề như “hạn chế định lượng”, “rào cản kỹ thuật thương
Trang 15mại” với “biện pháp kỹ thuật”, tuy nhiên lại có sự khác nhau giữa các biện pháp cụ thểtrong mỗi nhóm.
Tại Việt Nam, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) đã phân loại các rào cảnphi thuế quan thành bảy nhóm:
•Nhóm các biện pháp hạn chế định lượng (cấm, hạn ngạch, giấy phép)
•Nhóm cá biện pháp quản lý giá (như trị giá tính thuế hải quan tối thiểu, giánhập khẩu tối đa, phí thay đổi, phụ thu)
•Nhóm các biện pháp quản lý đầu mối (như đầu mối xuất- nhập khẩu)
•Nhóm các biện pháp kỹ thuật (như quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, thủ tục xácđịnh sự phù hợp, yêu cầu về nhãn mác, kiểm dịch động thực vật)
•Nhóm các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (như tự vệ, trợ cấp và các biệnpháp đối kháng, biện pháp chống bán phá giá)
•Nhóm các biện pháp liên quan tới đầu tư (như thuế suất, thuế nhập khẩu phụthuộc tye lệ nội địa hóa, hạn chế tiếp cận ngoại tệ, yêu cầu xuất khẩu, ưu đãi gắn vớithành tích xuất khẩu)
•Nhóm các biện pháp khác (như tem thuế, biểu thuế nhập khẩu hay thay đổi, yêucầu đảm bảo thanh toán, yêu cầu kết hối, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, muasắm của chính phủ, quy tắc xuất xứ)
2 Rào cản phi thuế quan đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ nhập khẩu vào thị trường Mỹ
Nhìn chung rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được ápdụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính hay biện pháp kỹ thuật, cónhững biện pháp bắt buộc phải thực hiện và có những biện pháp tự nguyện chính vì
có sự phức tạp trong hình thức và cách áp dụng như vậy nên việc phân loại chi tiết làrất khó khăn Như khái niệm đã nêu ở trên, trong khuôn khổ của đề tài, có thể chia ràocản phi thuế quan thành hai bộ phận cấu thành, đó là các rào cản pháp lý (bao gồm cácbiện pháp liên quan tới việc thanh toán, định giá hải quan, hạn ngạch, trợ giá…) và cácrào cản kỹ thuật (tiêu chuẩn, quy định vệ sinh an toàn dịch tễ; các quy định chế biếnsản xuất; các yêu cầu về nhãn mác; các yêu cầu về đóng gói bao bì, nguồn gốc xuấtxứ…).Cách phân loại này cũng dựa trên cở sở những nghiên cứu, những quy định liên
quan như Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại Rào cản pháp lý thường
được thể hiện dưới hình thức là các quy định hành chính, chỉ áp dụng riêng cho hànghóa nhập khẩu trong một số điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt và không liên quan gì tới
hàng hóa sản xuất trong nước, còn Rào cản kỹ thuật thì lại được thể hiện dưới hình
Trang 16thức là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, có thể được áp dụng đối với cả hàng hóanhập khẩu cũng như hàng hóa sản xuất trong nước Sự phân loại này không có nghĩađây là hai loại rào cản phi thuế quan độc lập, tách biệt với nhau bởi giữa hai loại ràocản này không có một ranh giới thật sự rõ ràng, xét cho cùng thì nền tảng của các quyđịnh kỹ thuật luôn là các quy định pháp lý, các quy định kỹ thuật được ban hành và ápdụng dưới sự cho phép của các cơ quan pháp lý Cách phân loại này chỉ nhằm mụcđích phục vụ cho việc làm rõ những rào cản phi thuế quan, đặc biệt là các rào cản kỹthuật mà Mỹ áp dụng đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ nhập khẩu.
2.1 Các quy định về rào cản pháp lý đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ
gỗ nhập khẩu vào thị trường Mỹ
2.1.1 Những vấn đề chung về hải quan
Hải quan Mỹ hoạt động ở 50 bang cùng với đặc khu Colombia và Puerto Rico, cótrụ sở chính tại thành phố Washinton D.C, trực thuộc Bộ tài chính Mỹ và được chiathành 7 vùng địa lý Ở mỗi vùng hải quan lại được chia nhỏ về các quận phụ trách cáccửa khảu biển và sân bay
Hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ nói chung được phân thành 3 loại chủ yếu: hàng hóa
để sử dụng ngay, hàng hóa được lưu giữ trong kho hàng và hàng quá cảnh Yêu cầunhập khẩu cho cả ba loại hàng này như nhau, nhưng thời gian để hoàn tất các thủ tụchải quan cho mỗi loại khác nhau
Để nhập khẩu hàng hóa, nhà nhập khẩu (thường là người mua hàng hay nhà môigiới hải quan) ngoài việc phải trả một khoản lệ phí hải quan, phải trình những giấy tờkhác, gồm: Vận đơn, hóa đơn thương mại của nhà xuất khẩu, bản kê khai hàng hóachở trên tàu (mẫu hải quan số 7533) hoặc đơn xin và giấy phép đặc biệt cho giao hàngngay (mẫu hải quan số 3461), phiếu đóng gói
Theo quy định của Hải quan Mỹ, sau khi xuất trình các chứng từ trên, hàng hóa
sẽ được thông quan nếu không có vi phạm gì về pháp luật hoặc hành chính Hồ sơnhập khẩu sẽ được lưu và thuế nhập khẩu ước tính phải được thanh toán trong vòng 10ngày làm việc kể từ lúc giải phóng hàng hóa ở trạm hải quan được chỉ định
Đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ (HST44), các thủ tục rời bến được cho làquá nhiều khó khăn cho các nhà xuất khẩu Hải quan Mỹ đã thay đổi phân loại gỗ dán(HS 4412) và nhiều loại đã bị tăng thuế từ 0% lên 8% Còn với hàng gỗ nội thất (HS94), thủ tục hải quan không quá khó khăn Việc nhập khẩu hàng gỗ và gỗ nội thất phụ
Trang 17thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định chung như được xác định trong các bộ luậtcủa các quy định liên bang (các văn bản nhập khẩu – 19 CRF 141; điều tra Hải quan –
19 CFR 151 và thuế Hải quan 19 CFR – 159)
2.1.2 Quy định về định giá hải quan:
Theo quy định của luật pháp Mỹ, trị giá hải quan (tức là trị giá chịu thuế nhậpkhẩu) của Mỹ cơ bản được dựa trên trị giá giao dịch mà người mua đã thực trả hoặc sẽphải trả cho người bán
Những chi phí sau đây không coi là trị giá giao dịch để áp thuế nhập khẩu nếuđược tách bạch trên hóa đơn bán hàng:
• Cước phí vận tải quốc tế và phí bảo hiểm;
• Cước phí vận tải nội địa từ nhà máy đến cảng ở nước xuất khẩu nếu giao hàngđược thực hiên bằng một vận đơn suốt;
• Chi phí hợp lý cho xây lắp, lắp ráp, duy tu và trợ giúp kỹ thuật đối với hàng hóasau khi đã nhập vào Mỹ hoặc chi phí vận tải hàng hóa sau nhập khẩu;
• Các loại thuế nhập khẩu và thuế liên bang khác
Ngược lại, những chi phí sau đây (nếu có và chưa nằm trong giá mà người mua
đã trả hoặc sẽ phải trả cho người bán) sẽ được cộng vào trị giá giao dịch để tính thuếnhập khẩu:
• Các chi phí đóng gói hàng hóa mà người mua phải chịu;
• Hoa hồng bán hàng mà người mua phải chịu (hoa hồng người mua trả cho đại
lý của người bán hoặc của nhà sản xuất);
• Phí bản quyền hoặc licence mà người mua phải trả như là một điều kiện củahợp đồng;
• Các khoản tiền phải trả cho người bán xuất phát từ việc bán lại hoặc sử dụnghàng hóa nhập khẩu;
• Trị giá hỗ trợ của người nhập khẩu dành cho nhà xuất khẩu - Trong thực tế cónhiều trường hợp người nhập khẩu cung cấp dụng cụ, khuôn mẫu, nguyên liệu hoặclinh kiện hoặc các mặt hàng khác với giá hạ hoặc miễn phí cho nguời xuất khẩu để sửdụng sản xuất ra hàng hóa Các thông số kỹ thuật và các bản vẽ thiết kế không phảiđược làm ở Mỹ được người nhập khẩu cung cấp cho người xuất khẩu cũng coi lànhững trợ giúp và trị giá của nó được công vào thành trị giá hải quan
Trang 18Như vậy, trị giá tính thuế nhập khẩu có thể khác với giá mà người mua và ngườibán đã thoả thuận.
2.1.3 Quy định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng:
Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Mỹ (Agreement onSubsidisiesand Countervailing Measures-ASCM) được xây dựng dựa trên các quyđịnh về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (cụ thể là Hiệp định về Trợ cấp
và Các biện pháp đối kháng của WTO (SCM) được thông qua tại vòng đàm phánTokyo) Hiệp định này được áp dụng vơi các sản phẩm phi nông nghiệp, bao gồm baloại trợ cấp: trợ cấp bị cấm hoàn toàn (trợ cấp đèn đỏ); trợ cấp có thể đối kháng (trợcấp đèn vàng); và trợ cấp được phép áp dụng (trợ cấp đèn xanh)
Mục đích của thuế chống trợ cấp là triệt tiêu lợi thế cạnh tranh không bình đẳngcủa những sản phẩm nước ngoài được chính phủ nước ngoài trợ giá xuất khẩu vào Mỹ
Do vậy, mức thuế chống trợ giá được áp đặt bằng với mức trợ giá Luật của Mỹ cũngnhư qui định của WTO cho phép một số loại trợ cấp được miễn trừ áp dụng luật chốngtrợ giá như một số trợ cấp nghiên cứu và phát triển, một số trợ cấp cho những vùngkhó khăn, một số trợ cấp bảo vệ môi trường WTO gọi những loại trợ cấp được phépnày là “trợ cấp đèn xanh”
Thuế chống trợ giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện (1) Bộ Thương mại Mỹ(DOC) phải xác định sản phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Mỹ được trợ giá trực tiếphoặc gián tiếp cho việc chế tạo, sản xuất, hoặc xuất khẩu ở nước hoặc lãnh thổ xuất xứ.Trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất các yếu tố đầu vào của sản phẩm cũng làđối tượng điều tra theo luật này (thường gọi là trợ giá ngược chiều), và (2) Uỷ banTMQT Mỹ (USITC) phải xác định hàng nhập khẩu được trợ giá đã gây thiệt hại vậtchất, hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất, hoặc ngăn cản hình thành ngành công nghiệptương tự tại Mỹ “Thiệt hại vật chất” được định nghĩa trong luật không phải là nhữngthiệt hại vụn vặt, vô hình, hoặc không quan trọng
2.1.4 Quy định về chống bán phá giá:
Chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO: Điều VI của GATT năm 1994 cho
phép các thành viên WTO áp dụng biện pháp chống bán phá giá Các biện pháp này
có thể được áp dụng với việc nhập khẩu một loại hàng hóa có giá xuất khẩu thấp hơn
so với giá bình thường Một trong những rào cản lớn nhất đối với nhiều doanh nghiệpViệt Nam khi xuất hàng sang thị trường này là nguy cơ bị áp thuế chống bán phá giá
Trang 19Thuế chống phá giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện (1) DOC phải xác định hàngnước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ được bán phá giá ở thị trường Mỹ,
và (2) USITC phải xác định hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại vật
chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc ngăn cản hình thành ngành công nghiệptương tự tại Mỹ
Luật thuế chống phá giá của Mỹ: được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợgiá Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được xác định làhàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Mỹ, hoặc sẽ bán phá giá ở Mỹ với giá “thấphơn giá trị thông thường” Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá xuất khẩu vào
Mỹ thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ hoặc ở nước thứ 3 thay thế thíchhợp
2.2 Các quy định về rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ
gỗ nhập khẩu vào thị trường Mỹ
“Rào cản kỹ thuật đối với thương mại thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹthuật mà một nước áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sựphù hợp của hang hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó” (TBTAgreement)
Là một cường quốc về kinh tế nhưng trong quan hệ TMQT Mỹ cũng phải đối mặtvới cạnh tranh ngày càng gay gắt từ phía các nước thành viên trong WTO, do vậy việcbảo hộ chặt chẽ thị trường trong nước cũng được Mỹ tiến hành dưa trên cơ sở các ràocản phi thuế quan ngày càng tinh vi và nghiêm ngặt Với đặc thù là ngành hàng mangtính kỹ thuật là chủ yếu, sản phẩm đã qua nhiều công đoạn từ khai thác, vận chuyểncho tới sản xuất, chế biến bằng các quy trình khác nhau, do vậy mặt hàng gỗ và sảnphẩm gỗ khi vào thị trường Mỹ bị kiểm soát chặt chẽ bằng các rào cản thương mại của
Mỹ mà chủ yếu là các rào cản kỹ thuật Sau đây sẽ liệt kê ra một số các rào cản kỹthuật mà Mỹ đang áp dụng đối với mặt hàng gỗ và cá sản phẩm từ gỗ nhập khẩu, cácrào cản này được Mỹ đưa ra và sửa đổi dựa trên Hiệp định tự do Bắc Mỹ năm 1992(NAFTA) và các văn bản luật áp dụng hiệp định này; Hiệp định của WTO sau vòngđàm phán Urugoay năm 1994 như Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại(hiệp định TBT), Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch (Hiệp định SPS) và luật ápdụng các hoạt động của WTO…
2.2.1 Chứng chỉ/Tiêu chuẩn Mỹ
Trang 202.2.1.1 Hệ thống tiêu chuẩn gỗ Mỹ:
Các công ty nhập khẩu chủ yếu gặp khó khăn về các quy tắc phân loại gỗ.Chương trình phân cấp gỗ này do Ủy ban tiêu chuẩn gỗ Mỹ (ALSC) thực hiện Ủy bannày bao gồm các nhà sản xuất, phân phối, sử dụng và người tiêu dùng, hoạt động nhưmột ủy ban thường trực về tiêu chuẩn gỗ của Mỹ (tiêu chuẩn sản phẩm tự nguyện PS20) Ủy ban này cũng phụ trách quản lý các chương trình ủy nhiệm phân loại cấp bậc
gỗ được sản xuất theo PS 20 Hệ thống tiêu chuẩn gỗ của Mỹ (ALS) là một bộ phậnthống nhất của nền kinh tế công nghiệp gỗ, là cơ sở cho giao dịch thương mại của tất
cả các loại gỗ tại khu vực Bắc Mỹ Hệ thống này cũng đưa ra các tiêu chuẩn chấpthuận gỗ và giá trị kiểu dáng gỗ thông qua việc xây dựng một bộ luật chung cho toànliên bang
Chức năng của hệ thống ALS là để đảm bảo các tiêu chuẩn gỗ thông của Mỹ Ủyban ALSC theo thủ tục phát triển các tiêu chuẩn của hàng hóa một cách tự nguyện của
Bộ Thương mại Mỹ, thông qua quá trình đồng thuận thiết lập nên các tiêu chuẩn kích
cỡ, các khoản điều tra, các chính sách, các yêu cầu dán nhãn phân loại và các chế tàicho chương trình chứng nhận Các hoạt động trên được Ủy ban ALSC thực hiện hoặcthông qua khuôn khổ do ALSC, PS 20 và Ủy ban Quy tắc phân loại quốc gia (NGRC)thành lập Ủy ban NGRC là một cơ quan có thẩm quyền hoạt động theo quyết định củaALSC trong một số lĩnh vực cụ thể liên quan đến viêc đảm bảo các quy tắc phân loạiquốc gia cho hàng gỗ kích thước lớn Việc tôn trọng các tiêu chuẩn này sẽ gây ra cácchi phí bổ sung cho các công ty xuất khẩu, bởi vì họ sẽ phải tiến hành những cuộc thửnghiệm mới và phải lắp đặt máy móc mới
Theo chính sách đối với gỗ ngoại nhập của ALSC, các văn phòng công ty nướcngoài có thể được chứng nhận, phân loại hàng gỗ Đối với gỗ có nguồn gốc nướcngoài được phân loại theo hệ thống ALSC Việc phân loại này phải được thực hiện trên
cơ sở các thủ tục đã được ALSC quy định và các quy định phân cấp quốc gia cho gỗ cókích thước lớn hoặc quy tắc phân loại do Văn phòng hoạch định quy tắc Mỹ ban hành.Cùng với chương trình chứng nhận gỗ chưa được xử lý, Ủy ban ALSC cũng quản
lý chương trình chứng nhận dán nhãn chất lượng cho gỗ đã qua xử lý được sản xuấttheo tiêu chuẩn do Hiệp hội bảo tồn gỗ Mỹ ban hành và giám sát, chương trình dánnhãn gỗ nguyên liệu đóng gói không có nguồn gồc công nghiệp do Hiệp ước bảo vệ gỗ
Trang 21quốc tế quy định Từ tháng 7/2001, chương trình đóng gói gỗ không có nguồn gốccông nghiệp đã được áp dụng.
Ngoài ra còn rất nhiều những tiêu chuẩn riêng lẻ của các tiểu bang khác nhau của
Mỹ Ví dụ tiêu chuẩn CARD (California Air Resourào cảnes Board - Ban kiểm soát tàinguyên không khí của tiểu bang California) kiểm soát độc chất trong không khí nhằmgiảm sự thải formaldehyde từ sản phẩm composite gỗ và đã hoàn thiện có chứa vậtliệu composite gỗ được bán, rao bán, cung cấp, sử dụng, hoặc sản xuất trong tiểu bangCalifornia bao gồm: ván ép MDF ( bao gồm loại ép mỏng tỷ trọng cao);Ván ép gỗ dăm(PB);Ván ép có lõi là composite sợi gỗ cứng (HWPWCC) và ván ép có lõi là gỗ cứng(HWPW-VC)
2.2.1.2 Chứng nhận vệ sinh dịch tễ và an toàn tiêu dùng
Các quy định về vệ sinh dịch tế được kiểm soát bởi hai trong bốn cơ quan phụtrách về vệ sinh dịch tễ của Mỹ: Cơ quan bảo vệ môi trường (EnvironmentalProtection Agency - EPA) EPA có nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe của con người, bảo vệmôi trường thông qua việc ngăn cản những tác động từ bên ngoài có ảnh hưởng tác hạiđến môi trường, và Cục kiểm định y tế động thực vật (Animal and Plant HeathInspection Service - APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp APHIS đưa ra những quy địnhnhằm bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và động vật khỏi những bệnh tật từ bênngoài
Mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ khi nhập khẩu vào Mỹ cần có giấy chứngnhận vệ sinh dịch tễ Giấy chứng nhận này có thể do nhà xuất khẩu cung cấp Giấychứng nhận cần xác nhận rằng các sản phẩm không bị nhiễm bệnh hay dịch của gỗ.Quy định này do Văn phòng điều tra sức khỏe động thực vật ban hành tại các điềukhoản của 7 CFR 300 và 7 CFR 319 Giấy chứng nhận xử lý nhiệt cũng được yêu cầuđối với việc nhập khẩu các nguyên liệu đóng gói bằng gỗ
2.2.1.3 Chứng nhận FSC (Forest Stewardship Council):
FSC là tên của Hội đồng quản trị rừng quốc tế và cũng là một loại chứng chỉ rừng
do chính Hội đồng này quản lý FSC là chương trình toàn cầu kiểm định chuỗi hànhtrình sản phẩm từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm Gỗ rừng trồng có chứng chỉ FSC
là sản phẩm được chứng nhận đã được kiểm soát chặt chẽ theo tiêu chí phát triển rừngbền vững, có thể tự do lưu thông trên thị trường quốc tế mà không hề bị bất cứ 1 ràocản thương mại nào
Trang 22FSC trong ngành chế biến gỗ giống như chứng chỉ ISO, hệ thống quản lý chấtlượng quốc tế áp dụng cho các ngành nghề hoặc như HACCP, tiêu chuẩn chất lượngcủa ngành thuỷ sản, GMP đối với ngành dược, hoặc SA 8000 tiêu chuẩn về sử dụnglao động và trách nhiệm xã hội trong ngành giày da và dệt may
Chứng nhận này cũng được Mỹ áp dụng như một yêu cầu về việc chứng minhmặt hàng gỗ nhập khẩu phải là hợp pháp và đảm bảo phát triển bền vững đối với môitrường
dễ nhận thấy, đồng thời phải khó tẩy xóa và lâu bền cùng sản phẩm Tuy nhiên bất kỳmột biện pháp hợp lý trong dãn nhãn đều được chấp nhận kể cả mác dính Chỉ có mộtđiều kiện duy nhất đó là mác dính luôn phải dính trên sản phẩm và chỉ có thể bị pháhủy bởi các hành động có chủ ý
Các hàng hóa được yêu cầu phải dán nhãn xuất xứ nếu nhập vào Mỹ mà không cónhãn mác xuất xứ sẽ phảỉ nộp thuế phụ thu hoặc bị phá hủy theo yêu cầu điều tra củahải quan trước khi đưa vào Mỹ Các nhà xuất khẩu nếu không dán nhãn xuất xứ vàosản phẩm một cách chính xác có thể bị phạt và nộp phí bổ sung tại Hải quan Thôngthường, trong các trường hợp này mức phạt vào khoảng 10% (áp dụng 19CFR 134).Hàng gỗ nội thất cần được dán nhãn theo đúng Luật dán nhãn và đóng gói hợp lý -15CFR, mục 500-503
Luật dán nhãn và đóng gói hợp lý yêu cầu mỗi kiện hàng hóa tiêu dùng dành cho
hộ gia đình (mặt hàng mà được đưa vào đạo luật) phải mang nhãn hiệu hàng hóa, theođó:
1 Tuyên bố xác định hàng hóa
2 Tên và địa chỉ của nơi sản xuất, đóng gói hoặc phân phối
3 Khối lượng tịnh của sản phẩm về mặt trọng lượng, kích thước hay sốđếm (kích thước phải được đo bằng đơn vị inch và cm)
Trang 23Liên quan đến đồ nội thất gia đình, Ủy ban Thương mại Liên bang đã thông quamột hướng dẫn liên ngành công nghiệp đồ gỗ gia dụng Hàng nội thất và các bộ phậncủa nó phải tuân thủ với các quy định cụ thể với mục đích bảo vệ người tiêu dùng(16CFR) Hướng dẫn này dự báo từng nhãn hàng hóa cụ thể miêu tả đồ gỗ và hàngnhái cũng như nhãn hiệu liên quan đến đặc điểm của hàng hóa Nhãn hiệu cần chứađựng các thông tin về kiểu dáng và nguồn gốc xuất xứ hàng hóa Mặc dù các quy địnhnày không bắt buộc phải tuân thủ đối với thủ tục qua hải quan nhưng doanh nghiệpvẫncần phải tuân thủ nếu muốn bán được hàng tại Mỹ
2.2.1.5 Một số đạo luật quan trọng:
Đạo luật Nông nghiệp Farm Bill (2008) đặt ra các quy định ngăn ngừa hoạt động
đốn gỗ bất hợp pháp Cụ thể, mục 8204 quy định trong thương mại giữa các bang vàvới nước ngoài, cấm mọi hoạt động xuất nhập khẩu, vận chuyển, mua bán bất kỳ thựcvật nào được đốn hạ, thu hoạch, sở hữu, vận chuyển, hoặc mua bán trái với bất kỳ luậthoặc quy định của bất kỳ bang nào hoặc bất kỳ luật pháp nước ngoài nào về bảo vệ,quản lý thực vật hoặc về các loại thuế và phí liên quan đến việc khai thác thực vật.Phạm vi điều chỉnh của luật rất rộng, bao gồm đồ nội thất (bằng gỗ, bìa…), đồ làm bếp
có cán bằng gỗ, hàng may mặc với khuy gỗ, giấy và bìa, tăm và rất nhiều sản phẩm.Ngoài ra, Farm Bill 2008 cũng chú ý đến việc sử dụng lao động trong sản xuất nônglâm sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ Đạo luật này còn đưa ra Chương trình khai báokhi nhập khẩu như,Giá trị hàng nhập khẩu, phí xuất khẩu ước tính, khối lượng thựcvật, trong đó bao gồm đơn vị đo lường, tên của nước nơi mà thực vật đó được đốn hạ,thu hoạch
Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng (CPCA) và mới đây là Luật cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSIA) do Ủy ban an toàn tiêu dùng Mỹ (CPSC) đưa ra Theo đó, bất
cứ hàng tiêu dùng nào muốn nhập khẩu vào Mỹ cũng đều bị từ chối nếu sp đó khôngtuân thủ một trong các tiêu chuẩn an toàn hiện hành hoặc yêu cầu về nhãn hiệu đượcquy định, được chứng nhận hoặc được xác đinh là có hại Khi sản phẩm được xác định
là sản phẩm nguy hại, nhà sản xuất/xuất khẩu buộc phải thông báo cho công chúngbiết, phải sửa chữa, thay thế sản phẩm, trả lại tiền cho người tiêu dùng, bị phạt dân sựhoặc hình sự tùy mức độ nguy hại của sản phẩm
Luật kiểm soát chất độc (Toxic Substances Control Act): Luật này hạn chế việc
nhập khẩu các chất có nguy cơ gây nguy hiểm không hợp lý đối với sức khỏe hay môi
Trang 24trường, nó xác lập một chương trình quốc gia để bảo vệ con người và môi trường tránhnhững nguy hại do chất độc gây ra, cho phép từ chối việc nhập vào Mỹ bất kỳ chất nào
vi phạm đạo luật này Nếu nhà nhập khẩu không tái xuất, chất độc vi phạm luật có thể
bị hủy hay thu giữ, và nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại và phítổn từ việc hủy chất độc đó Vi phạm đạo luật kiểm soát chất độc có thể dẫn đến phạtdân sự trên cơ sở thiệt hại được đánh giá hàng ngày hoặc các hình phạt hình sự nếu cốtình vi phạm Cụ thể, luật này quy định kiểm soát các chất nguy hiểm có thể có trongsản phẩm, như: cadmium, PCP bị hạn chế dư lượng, các chất amiăng, PCB, PCT bịcấm, hóa chất gây thủng tầng ozôn (bị cấm từ 2015) và cho kiểm soát theo chế độ đặcbiệt khắt khe làm từ gỗ gụ, thông Chilê, gỗ hồng sắc của Braxin
Luật liên bang về các chất nguy hiểm (Federal Hazardous Substances Act): Luật
liên bang về các chất nguy hiểm, được sửa đổi năm 2008, do CPSC giám sát thực thi,quy định về việc dán nhãn những sản phẩm độc hại dùng trong gia đình có thể gâythương tích hoặc bệnh tật đáng kể cho người sử dụng khi sử dụng chúng một cách bìnhthường và hợp lý Các chất đó bao gồm các chất độc, chất ăn mòn, chất dễ cháy hoặc
nổ, chất gây khó chịu cho người, hoặc chất gây nhậy cảm mạnh Để xác minh việctuân thủ các quy định của Luật liên bang về các chất nguy hiểm, CPSC có thể điều tracác địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói, kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu.CPSC cũng có thể kiểm tra các phương tiện dùng để vận chuyển hoặc cất giữ các chấtnguy hiểm Các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu về nhãn hàng của Luật liên bang
về các chất nguy hiểm sẽ không được nhập khẩu vào Mỹ Nếu sau khi dán lại nhãn màvẫn không đạt yêu cầu, hàng sẽ phải tái xuất nếu không sẽ bị tiêu hủy.Luật này buộccác doanh nghiệpsản xuất/ xuất khẩu đồ gỗ phải đăng ký cam kết hóa chất trongnguyên liệu sử dụng là gỗ, vecni, sơn, keo… không có độc hại hay tỷ lệ nồng độ cácloại hóa chất này được phép là bao nhiêu
Luật về vải dễ cháy (Flammable Fabrics Act): CPSC cũng giám sát thực thi Luật
về vải dễ cháy Luật này nghiêm cấm việc nhập khẩu, sản xuất, vận chuyển hay báncác loại quần áo, đồ trang trí nội thất, vải hay các chất liệu liên quan không phù hợpvới các tiêu chuẩn phòng cháy do CPSC đề ra Việc không tuân thủ đạo luật về vải dễcháy có thể dẫn đến việc tịch thu hay sung công sản phẩm Ngoài ra, CPSC có thể ápdụng các hình phạt dân sự hoặc hình sự ở mức nhẹ nếu cố ý vi phạm các quy địnhtrong luật về vải dễ cháy
Trang 252.2.1.6 Đạo luật Lacey sửa đổi năm 2008 (Lacey Act):
Đạo luật Lacey ra đời năm 1900, được sửa đổi lần cuối vào tháng 05/2008 vàchính thức có hiệu lực từ tháng 4/2010 đã củng cố thêm những quy tắc xuất xứ đối vớimặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ đã được quy định trong đạo luật Nông nghiệpFarm Bill 2008 Lacey nghiêm cấm việc buôn bán thực vật hoặc sản phẩm từ thực vật– bao gồm cả gỗ và sản phẩm từ gỗ bất hợp pháp xuất xứ từ bất kỳ bang nào của Mỹhoặc từ nước ngoài vào Mỹ, đòi hỏi nhà nhập khẩu phải khai báo xuất xứ gốc và tênloài gỗ có trong sản phẩm của họ, nhất là với các sản phẩm nội thất dành cho trẻ em,
đồ nội thất có thành phần dệt và đồ nội thất chiếu sáng (bao gồm tên khoa học của mọiloài thực vật được sử dụng trong sản phẩm, nước khai thác/ xuất xứ, số lượng và cách
đo, giá trị) (Tờ khai nộp cho APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), đồng thờithiết lập hình phạt cho hành vi vi phạm luật này, bao gồm tịch thu hàng hóa, phạt tiềnhoặc tống giam, cấm xuất khẩu, tịch thu các thiết bị, phương tiện vận chuyển trong cáctrường hợp nghiêm trọng như buôn lậu sản phẩm có nguồn gốc bất hợp pháp hoặc giảmạo giấy tờ Điều đó có nghĩa doanh nghiệpphải chứng minh gỗ được khai thác, sởhữu, vận chuyển, bán hoặc xuất khẩu mà không vi phạm bất kỳ một đạo luật liên quannào tại quốc gia sản xuất gỗ, kể cả gỗ được chế biến tại quốc gia khác Cụ thể, Đạo
luật Lacey đòi hỏi chứng nhận quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm CoC (chain of custody) để nhà chức trách Mỹ có thể dễ dàng kiểm tra toàn bộ quy trình, từ khai thác
gỗ ở một nước, vận chuyển qua các cửa khẩu, cảng biển nào trước khi đến nhà máychế biến gỗ, nếu doanh nghiệpsử dụng một phần gỗ nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràngnhưng có dùng thêm gỗ bất hợp pháp, không rõ nguồn gốc, để chế biến đồ gỗ xuấtsang Mỹ mà bị phía Mỹ phát hiện sẽ bị tịch thu hàng hoá, phạt tiền; vi phạm nặng cóthể bị phạt đến 5 năm tù giam…Ngoài đòi hỏi khắt khe về giấy tờ chứng minh nguồngốc hợp lệ, nhà chức trách Mỹ còn tiến hành điều tra thực tế đối với tính hợp pháp củasản phẩm Lacey là đạo luật đầu tiên nghiêm cấm nhập khẩu, bán hoặc kinh doanh gỗ
và sản phẩm từ gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp vào Mỹ, tuy vậy, so với các rào cản kỹthuật khác thì việc đáp ứng được các điều khoản trong đạo luật Lacey không có gì làvướng mắc nếu doanh nghiệpxuất khẩu đã tuân thủ đầy đủ và nghiêm túc luật phápnước mình
Sau đây là bảng tổng quan các luật liên quan cần tuân thủ trong quá trình xuất khẩu mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường Mỹ Các luật liên quan bao
Trang 26gồm cho tất cả các giai đoạn khác nhau của chuỗi cung cấp từ rừng tới điểm xuất khẩu
(Nguồn: Chương trình tiểu vùng Mekong mở rộng của mạng lưới kinh doanh Lâm sản toàn cầu WFF)
Đạo luật Lacey
Các luật liên quan cần tuân thủ Ví dụ về sự tuân
thủ
tháchợp pháp
1 Trộm cắp thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn);
2 Khai thác thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn) từ các khu rừng được bảo vệ chính thức,như vườn quốc gia hay khu bảo tồn;
3 Khai thác thực vật (gỗ tròn) từ các “vùng được quy hoạch chính thức” khác theo luật hoặc quy định của một quốc gia;
4 Khai thác thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn) mà không có, hoặc trái với thẩm quyền
1 Xác minh rằng cógiấy phép khai thác hợp pháp
2 Đảm bảo rằng cácloài gỗ khai thác là các loài có thể khai thác hợp pháp
tháchợp pháp
1 Trộm cắp thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn);
2 Khai thác thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn) từ vùngđược chính thức bảo vệ, như vườn quốc gia hay khu bảo tồn;
3 Khai thác thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn) từ các
“vùng được quy hoạch chính thức” khác theo luật hoặc quy định của một quốc gia;
1 Đảm bảp rằng việc khai thác được tiến hành theo đúng giấy phép
2 Đảm bảo rằng việc khai thác diễn
ra tại đúng địa điểm quy định trong giấy phép
3 Đảm bảo rằng cáccây được khai thác
Trang 274 Khai thác thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn) mà không có, hoặc trái thẩm quyền
nằm trong phạm vi quy định của giấy phép
khoảnthuế và phí
1 Chưa nộp đầy đủ các loại thuế hoặc phí liên quan tới
việc khai thác, vận chuyển hay buôn bán thực vật (bao
gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn)
1 Đảm bảo rằng tất
cả các khoản thuế
và phí liên quan đã được đơn vị quản lýrừng hoặc công ty khai thác nộp đầy đủ
Vận chuyển Tính hợp
pháp của việc sở hữu
và vận chuyển
1 Các luật quy định việc vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu hoặc vận chuyển quá cảnh, như lệnh cấm xuất khẩu và nhập khẩu
gỗ tròn
2 Chưa nộp đầy đủ các khoản thuế hoặc phí liên quan tới việc khai thác, vận chuyển hay buôn bán thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn)
1 Đảm bảo rằng tất
cả các yêu cầu có liên quan đã được đáp ứng trong quá trình vận chuyển gỗ tròn (kể cả từ nhập khẩu) hoặc sản phẩm gỗ từ rừng, xưởng, nhà máy hoặc cảng trước khi xuất khẩu
2 Đảm bảo rằng tất
cả các khoản thuế hoặc phí liên quan
đã được đơn vị vận chuyển nộp đầy đủ.Chế biến Tính hợp
pháp của việc sở hữu
và vận chuyển
1 Các luật quy định nhập khẩu, xuất khẩu hay vận chuyển quá cảnh, như luật cấm xuất khẩu gỗ tròn
1 Đảm bảo rằng cácxưởng hoặc nhà máy được thành lập một cách hợp pháp
và có cấp ép phù hợp về chế biến lâmsản
Chế biến Nộp các 1 Chưa nộp đầy đủ các loại phí, 1 Đảm bảo rằng tất
Trang 28khoảnthuế và phí
thuế liên quan tới việc khai thác, vận chuyển, buôn bán, nhập khẩu
và xuất khẩu thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn);
cả các loại thuế, phí liên quan đã được công ty chế biến gỗ nộp đầy đủ
Xuất khẩu Tính hợp
phápcủa việc bán và
xuất khẩu
1 Các luật quy định việc xuất khẩu hay vận chuyển quá cảnh, như luật cấm xuất khẩu gỗ tròn
2 Không đăng ký việc xuất khẩu các loài được liệt kê trong các công ước quốc tế (như Công ước CITES)
1 Đảm bảo rằng công ty đóng vai trò
là nhà xuất khẩu được thành lập một cách hợp pháp và được cấp phép phù hợp về xuất khẩu lâm sản
2 Đảm bảo rằng cácgiấy phép xuất khẩutheo yêu cầu đã đầy
đủ, chính xác và có sẵn
Xuất khẩu Nộp các
khoảnthuế và phí
1 Chưa nộp đầy đủ các khoản thuế hoặc phí liên quan tới việc khai thác, vận chuyển và buôn bán thực vật (bao gồm nguyên cây hoặc gỗ tròn)
1 Đảm bảo rằng tất
cả các khoản tiền thuế hoặc phí liên quan đã được công
ty xuất khẩu nộp đầy đủ
2.1.1.7 Một số các quy định phi thuế quan cụ thể của Mỹ về gỗ và đồ gỗ như sau:
Đối với nhóm hàng HTS 44 (Gỗ và sản phẩm gỗ) Bao gồm gỗ củi, gỗ đốt lấy
than, gỗ cây, gỗ vụn, mạt gỗ, gỗ làm đường ray, gỗ xẻ, gỗ băm, gỗ lạng, gỗ ván ép, gỗ
ép từ vụn gỗ, gỗ làm khung, gỗ đóng thùng hàng, gỗ mỏ, gỗ xây dựng… và các đồdùng dụng cụ bằng gỗ, như mắc áo, đồ gỗ nhà bếp…
Với danh mục này, việc nhập khẩu phải:
Trang 291 Phù hợp với quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) về giám định tạicảng đến.
2 Phù hợp với Luật liên bang về sâu bệnh ở cây
3 Phù hợp với quy định của Hội đồng thương mại Liên bang (FTC) và Hộiđồng an toàn tiêu dùng (nếu là hàng tiêu dùng
4 Phù hợp với các quy định về lập hóa đơn (đối với một số hàng gỗ)
5 Phù hợp với các quy định của FWS về giấy phép nhập khẩu, giấy phépxuất khẩu của nước xuất xứ, các quy định về tài liệu giao hàng và hồ sơ theo dõi (nếu
là gỗ quý hiếm)
6 Nhập vào cửa khẩu/cảng theo chỉ định của FWS và phù hợp với các quyđịnh của FWS và Hải quan về việc thông báo hàng đến và giám định tại cảng đến (nếuthuộc loại quý hiếm)
7 Nhập khẩu gỗ cây phải xin giấy phép của APHIS thuộc USDA
8 Nhập khẩu gỗ quý hiếm phải ghi nhãn (Marking) rõ ràng bê ngoàicontainer tên và địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu, mô tả chính xác chủngloại gỗ
Bảng 1: Những văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng hóa thuộc
nhóm HTS44
Số văn bản Loại biện pháp áp dụng Cơ quan nhà nước điều
hành
15 USC 1263 Quy chế an toàn tiêu dùng APHIS PPQ, FWS, USCS
16 USC 1531 Cấm nhập khẩu thịt thú dữ APHIS PPQ, FWS, USCS
16 USC 3371 et seg Cấm nhập khẩu động vật
quý mà nước khác cấm
APHIS PPQ, FWS, USCS
18 USC 42 et seg
19 CFR 12.10 et seg
Thủ tục khai báo hải quan APHIS PPQ, FWS USCS
Trang 30Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện; các đồ đạc trong nhà, vănphòng, giường tủ, bàn ghế, đệm; đèn và các tám ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồdùng này có thể làm hoàn toàn bằng kim loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vảihoặc các vật liệu khác.j
Với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1 Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban an toàn tiêudùng (CPSC) về an toàn tiêu dùng
2 Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory(UL), do CPSC quản lý
3 Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA vềxác định nguồn gốc vải
Bảng 2: Những văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng hóa thuộc
nhóm HTS94
15 USC 1191-1204 Luật về hàng dệt
15 USC 1263 Quy chế an toàn tiêu
Trang 31nhà xuất khẩu Rào cản kỹ thuật dựa trên cơ sở bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Mỹnói riêng và người tiêu dùng ở mọi thị trường khác (đạo luật Lacey quy định nếu sảnphẩm đồ gỗ nếu là bất hợp pháp sẽ bị tiêu hủy ngay bởi nếu nó không đảm bảo an toàncho người tiêu dùng Mỹ thì cũng không an toàn đối với người tiêu dùng nước khác),nhà xuất khẩu lấy người tiêu dùng làm gốc sẽ tìm cách đáp ứng các rào cản kỹ thuậtnày, từ đó mà nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, gián tiếpthúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng.
Thúc đẩy hội nhập: việc áp dụng những tiêu chuẩn, quy chuẩn về hàng hóa nhậpkhẩu vào Mỹ trên cơ sở Hiệp định TBT giúp cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Namvào Mỹ nói chung và mặt hàng đồ gỗ nói riêng được quy chuẩn hóa, từ đó thúc đẩyviệc hội nhập về thị trường cũng như về kỹ thuật của các sản phẩm
Kích thích nhu cầu thị trường: đây là sự cụ thể hóa của việc gia tăng kim ngạchxuất khẩu Rào cản kĩ thuật ra đời dựa trên cơ sở bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, bảo vệmôi trường sinh thái… Với những quốc gia phát triển, nhận thức của người tiêu dùng
về ý thức cộng đồng, trách nhiệm xã hội ngày càng được nâng cao Vì thế việc đápứng đầy đủ các rào cản kĩ thuật cũng chính là cách mà nhà sản xuất cung cấp thông tin
và loại bỏ các trở ngại về tâm lý với người tiêu dùng Điều này góp phần thúc đẩy sựhoàn thiện của sản phẩm và gia tăng nhu cầu tiêu dùng trên phạm vi toàn thế giới.Lacey là đạo luật đầu tiên của Mỹ yêu cầu sản phẩm phải có nguồn gốc hợp pháp, còn
ở thị trường EU, bắt đầu từ tháng 3/2013 Quy định về trách nhiệm giải trình FLEGTnhằm ngăn chặn gỗ bất hợp pháp sẽ có hiệu lực, cả hai đều đòi hỏi doanh nghiệp chếbiến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ phải có chuỗi hành trình truy xét nguồn gốcnguyên liệu gỗ (CoC), do đó nếu đáp ứng được Lacey, doanh nghiệp sẽ không phải lolắng về FLEGT Tiêu chuẩn CoC sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi trong việc tiêu thụsản phẩm ở cả 2 thị trường lớn này
Tác động trực tiếp tới quá trình chọn lọc của thị trường trong nước: các rào cảnphi thuế quan giúp loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn bất hợp pháp Yêu cầu về sảnphẩm có nguồn gốc “sạch” về pháp lý sẽ tạo cơ hội cạnh tranh với các sản phẩm cónguồn gốc không minh bạch, qua đó tác động tích cực tới việc bảo vệ tài nguyên thiênnhiên và môi trường trong nước, tạo cơ hội cho Việt Nam trong việc tăng cường thựcthi lâm luật về quản trị rừng Về dài hạn, điều này sẽ tạo lợi thế quan trọng cho hoạtđộng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam trong tương lai
Trang 323.2 Tác động tiêu cực
Thứ nhất, Hiện nay, Việt Nam vẫn bị Mỹ coi là nền kinh tế phi thị trường Lý do
Mỹ đưa ra để giải thích cho quyết định này là mặc dù Việt Nam đã có những bước mởcửa thị trường đáng kể và cho phép có giới hạn qui luật cung cầu tác động tới sự pháttriển kinh tế, song mức độ can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế vẫn còn ở mức làmcho giá cả và chi phí sản xuất không phải là thước đo thực sự đối với giá trị Qui chếkinh tế này sẽ tiếp tục tồn tại và sẽ được áp dụng cho các vụ kiện chống bán phá giá vàcác đợt xem xét lại hàng năm cho đến khi có quyết định thay đổi của Bộ thương mại
Mỹ Các vụ kiện chống bán phá giá của Mỹ đối với Việt Nam không nằm ngoài tácđộng tiêu cực của luật chống bán phá giá hiện hành của Mỹ, Do vậy có thể nói rủi rolớn nhất đối với doanh nghiệpcủa Việt Nam nói chung khi kinh doanh tại thị trườngnày là bị kiện bán phá giá Theo cảnh báo của Hội đồng Tư vấn về phòng vệ thươngmại (TRC) thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đồ gỗ nội thấtphòng ngủ từ Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ đang đối mặt với nguy cơ kiện phòng vệthương mại (chống phá giá, chống trợ cấp).Trong những năm gần đây, lượng nhậpkhẩu hàng đỗ gỗ nội thất phòng ngủ từ Việt Nam vào Mỹ đang tăng đều và đáng kể,đang đối mặt với nguy cơ kiện phòng vệ thương mại (chống phá giá, chống trợ cấp) tạithị trường này
Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu đồ gỗ vào Mỹ gặp khó khăntrong suốt cả quá trình từ tìm kiếm nguyên liệu tới đáp ứng các yêu cầu vệ sinh dịch tễ,yêu cầu khai báo nguồn gốc xuất xứ…việc đáp ứng một loạt các yêu cầu kỹ thuật đốivới sản phẩm trong khi trình độ khoa học kỹ thuật trong nước còn thấp, ví dụ doanhnghiệpcần phải bỏ nhiều chi phí để đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại của Mỹ, hay đốivới mặt hàng gỗ chưa qua xử lý, phía Mỹ yêu cầu sản phẩm phải được tiệt trùng trongkhi các thiết bị để tiệt trùng lại rất đắt Hơn thế, máy móc thiết bị sản xuất phải đượcvăn phòng do Mỹ ủy quyền kiểm tra Đặc biệt, việc đáp ứng các rào cản về nguồn gốcxuất xứ là vấn đề hết sức nan giải Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Viforest)trung bình mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu trên 80% nguyên liệu gỗ, chiếm khoảng60% giá thành sản phẩm từ các nước trong khu vực ASEAN, châu Phi, Nam Mỹ, BắcMỹ…Năm 2009, để xuất khẩu gỗ đạt 2,989 tỷ USD phải nhập 904,8 triệu USD gỗnguyên liệu Năm 2010, để xuất khẩu đạt 3,435 tỷ USD phải nhập 101,75 tỷ USD gỗnguyên liệu và năm 2011 để xuất khẩu 3,905 tỷ USD thì con số gỗ nguyên liệu phải
Trang 33nhập là 1,3 tỷ USD Số liệu này cho thấy nguy cơ tăng trưởng không ổn định củangành gỗ Việt Nam Hiện nay, nguồn gỗ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á nhưCampuchia, Lào, Indonesia, Malaysia thường không ổn định do chính sách lâm sảncủa các quốc gia này luôn thay đổi, trong khi nguồn nhập khẩu từ các quốc gia khácnhư New Zealand, Australia, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canada, Mỹ, Châu Philại cách xa nên chi phí vận chuyển cao làm cho giá thành nguyên liệu tăng, giảm khảnăng cạnh tranh của đồ gỗ Việt Nam Trong khi đó, một số tổ chức môi trường cònđang có những nghi ngờ về tính hợp pháp của gỗ từ các thị trường Đông Nam Á đưa rabằng chứng rằng gỗ có nguồn gốc từ các nước này thường là không hợp pháp, hay nóicách khác là “không sạch”, vì các quy định trong đền bù cho cộng đồng, khai thác, vậnchuyển, chế biến, an toàn lao động, v.v không được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, vàthông thường quá trình này thường có sự bao che đi liền với tham nhũng của các quanchức địa phương tại các quốc gia này Thêm vào đó, chưa nhiều doanh nghiệp ViệtNam hiện nay có chứng chỉ tiêu chuẩn về chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững(FSC-CoC) Điều này thực sự là một trở ngại lớn cho các doanh nghiệpgỗ Việt Namkhi tìm cách đáp ứng các rào cản kỹ thuật đối với đồ gỗ nhập khẩu của Mỹ.
Việc hình thành nên một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệpcó quy mô lớn,tiềm lực tài chính mạnh và các doanh nghiệpquy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính hạnchế có thể coi là tác động hai mặt của các rào cản phi thuế quan này Sự chọn lọc sẽdiễn ra, các doanh nghiệplớn sẽ càng ngày lớn mạnh, còn doanh nghiệpvừa và nhỏ cóthể sẽ bị loại bỏ.Tuy nhiên, trong trường hợp có một hoặc một vài doanh nghiệpxuấtkhẩu đồ gỗ Việt Nam gặp phải vấn đề về nguồn gốc gỗ thì cả ngành gỗ của Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng Do vậy, có thể nói rằng các quy định của thị trường có thể là cơ hộiđối với nhóm doanh nghiệpnày nhưng lại là thách thức đối với các nhóm doanhnghiệpkhác nhưng trên góc độ vĩ mô hơn, tác động và ảnh hưởng của nhóm các ràocản kỹ thuật này là rất lớn, nó không chỉ giới hạn ở việc doanh nghiệptuân thủ nó haykhông mà còn là việc tất cả các doanh nghiệpphải chắc chắn đảm bảo được rằng sảnphẩm của mình là hợp pháp và không có bất kỳ dấu hiệu vi phạm nào
C Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu
Trang 34Trong hoạt động ngoại thương, để chủ động, điều đầu tiên là doanh nghiệpcầnphải nắm thật chắc các quy định và phải tuân thủ nghiêm ngặt, cần phải nhanh chóng
tổ chức lại sản xuất và kinh doanh theo yêu cầu của nước nhập khẩu Tuy nhiên, thực
tế hiện nay các doanh nghiệp chỉ biết và thực hiện các quy định mới khi đối tác yêucầu mà không có một đầu mối quản lý một cách hệ thống và cập nhật các yêu cầumang tính quy chuẩn tại thị trường nhập khẩu Nếu không đáp ứng được những yêucầu này thì hàng xuất sang có thể bị trả về, tịch thu hoặc bị phạt rất nặng
Kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực năm 2001, hàng hóa từViệt Nam xuất khẩu vào thị trường này được hưởng mức thuế tối huệ quốc vô điềukiện, đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn với các doanh nghiệp Do vậy việctìm hiểu các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ
là điều hết sức cần thiết Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các rào cản thươngmại có ảnh hưởng tói hoạt động xuất khẩu của nước ta vào thị trường này, ví dụ nhưcuốn “ Rào cản trong TMQT” và đề tài nghiên cứu cấp bộ“Nghiên cứu các rào cảntrong TMQT và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam” năm 2005 của PGS.TS ĐinhVăn Thành; “Hàng rào phi thuế quan trong TMQT” năm 2005 của T.S Nguyễn HữuKhải, luận án tiến sĩ “Các biện pháp vượt rào cản phi thuế quan để đẩy mạnh xuấtkhẩu hàng hóa của Việt Nam” năm 2008 của Đào Thu Giang… và rất nhiều các nghiêncứu về rào cản thương mại trong các ngành hàng cụ thể như thủy sản, dệt may Tuynhiên, những nghiên cứu này hoặc vẫn chỉ ở phạm vi chung, hoặc chưa có nghiên cứu
cụ thể nào về ngành gỗ, nếu có thì cũng chỉ là những nghiên cứu được thực hiện từtrước năm 2007, là thời điêm Việt Nam gia nhập WTO và sau đó đã có rất nhiều nhữngthay đổi trong chính sách thương mại của cả hai nước Việt – Mỹ
Bên cạnh các rào cản phi thuế quan đã được dựng lên từ trước đó thì từ năm 2008
là thời điểm Mỹ tiến hành sửa đổi và thực thi hàng loạt những quy định mới về các ràocản phi thuế quan: Đạo luật cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng (CPSIA); Luật nôngngiệp Farm Bill; Luật Lacey ; Luật liên bang về các chất nguy hiểm (FHSA); Luật vềvải dễ cháy (FFA) Thực chất đây là những rào cản kỹ thuật, là những hành vi bảo hộthương mại mà Mỹ dựng lên một cách tinh vi, nhằm hạn chế nguồn hàng Xuất khẩucủa các nước khác vào thị trường nội địa, nhằm bảo hộ sản xuất và tiêu dùng nội địa.Đây là những quy định mới có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu đồ gỗ nước
ta vào thị trường Mỹ Việc nghiên cứu những đạo luật này đã được các tổ chức, cá
Trang 35nhân thực hiện trong nhiều công trình nghiên cứu nhưng nhìn chung đều chỉ ở mức độgiới thiệu, phổ biến những quy định mới này tới các doanh nghiệp Thậm chí, với đạoluật Lacey, là đạo luật đầu tiên nghiêm cấm nhập khẩu, bán hoặc kinh doanh gỗ và sảnphẩm từ gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp vào Mỹ, mặc dù việc sửa đổi được phía Mỹ
hoàn tất từ tháng 5/2008 và phía Việt Nam đã được thông tin để có thể có thời gian
chuẩn bị ứng phó, theo lộ trình thực hiện, từ ngày 1/4/2010 đạo luật này sẽ chính thức
có hiệu lực thế nhưng cho tới tháng 3/2010 Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam(Vifores) mới đang cùng các chuyên viên của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôngấp rút dịch đạo luật này sang tiếng Việt và cũng chưa có văn bản hướng dẫn doanhnghiệpthực thi luật này
Tóm lại, đề tài được chọn đề cập tới vấn đề khá mới bởi hiện vẫn chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu vào một thị trường cụ thể (thịtrường Mỹ), với những quy định phi thuế quan cụ thể (tập trung vào tiêu chuẩn kỹthuật, quy tắc xuất xứ), tình hình đáp ứng các quy định đó trong thời gian qua, đồngthời cập nhật các quy định mới có thể có tác động rất lớn tới hoạt động xuất khẩu gỗtrong thời gian tới của Việt Nam vào thị trường Mỹ nói riêng và thị trường thế giới nóichung
D Các nghiên cứu có liên quan
1 Sách “Hàng rào phi thuế quan trong TMQT” năm 2005 của T.S Nguyễn HữuKhải: hệ thống lại những vấn đề liên quan đến hàng rào phi thuế quan như: khái niệm,phân loại và sự cần thiết áp dụng những biện pháp này để bảo hộ sản xuất trong nước.Sách đã cung cấp nững kinh nghiệm sử dụng hàng rào phi thuế quan của một số nướctrên thế giới, hệ thống và đánh giá việc sử dụng những hàng rào phi thuế quan của ViệtNam Trên cơ sở những kinh nghiệm thu thập được trong quá trình nghiên cứu, kinhnghiệm của các nước, tác giả đã đưa ra kiến nghị về những biện pháp phi thuế quan
mà Việt Nam có thể áp dụng trong thời gian tới
2 Sách "Rào Cản Trong Thương Mại Quốc Tế" năm 2005 của PGS.TS Đinh VănThành: sách là hệ thống lý luận về các rào cản thương mại quốc tế và nêu lên thựctrạng các rào cản trong thương mại quốc tế theo một số ngành, mặt hàng và thuộc một
số thị trường xuất khẩu chủ yếu ở Việt Nam và thực trạng rào cản trong thương mạiquốc tế của Việt Nam Sách cũng đề xuất một số giải pháp nhằm vượt rào cản để đẩy