Do đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệtmay Việt Nam sang thị trường Mỹ nên phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ mở rộng ratoàn ngành dệt may Việt Nam, tì
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là mục tiêu xuyên suốt thời kỳ quá độ lên Chủnghĩa xã hội ở nước ta Mục tiêu là năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nướccông nghiệp Để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn dân, của mọi thànhphần kinh tế Trong đó có công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nhẹ là ngành có vai tròquan trọng trong tiến trình này Để sản phẩm trong nước có thể đứng vững trên thịtrường, các doanh nghiệp phải không ngừng cố gắng, nỗ lực, nâng cao chất lượng sảnphẩm, giảm giá thành, nâng cao trình độ quản lý của các cấp quản lý cũng như củangười lao động, đổi mới các trang thiết bị…giúp sản phẩm trong nước có thể cạnhtranh với sản phẩm nước ngoài
Ngành dệt may có thể nói là ngành đi đầu trong các ngành công nghiệp nhẹ Từkhi đổi mới, ngành đã có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế Thực tế, vàinăm gần đây, dệt may đã có những bước phát triển vượt bậc Thị trường chủ yếu củangành may hiện nay là xuất khẩu ra nước ngoài Song càng ngày, các thị trường càngtrở nên khó tính hơn, cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn Do đó, việc mở rộng thị trườngcho ngành dệt may trở nên không hề dễ dàng Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để có thể
mở rộng và khẳng định tên tuổi của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường thế giới?
Mỹ là một trong những thị trường lớn nhất, tiềm năng nhất cho hàng dệt mayViệt Nam từ trước tới nay, luôn chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngànhdệt may, bằng khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước sang thị trường này
Và cũng như các thị thị trường nước ngoài khác, để đưa hàng dệt may vào thị trường
Mỹ ngày càng trở nên khó khăn hơn, việc Việt Nam hội nhập quốc tế, mở cửa thịtrường, gia nhập WTO mang lại nhiều thuận lợi nhưng đồng thời cũng là thách thức tolớn đối với xuất khẩu dệt may vào thị trường Mỹ Mặt hàng dệt may của chúng ta sẽphải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh mạnh hơn, do đó nâng cao năng lực cạnhtranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và thị trường Mỹnói riêng là vấn đề cấp thiết đặt ra đối với ngành dệt may của nước ta để từ đó tìm rađược những thuận lợi để phát huy và quan trọng hơn để tìm ra những giải pháp nhằm
Trang 3khắc phục được những bất cập nhằm giúp hàng dệt may nước ta đứng vững và chiếmlĩnh được thị phần trên thị trường quốc tế cũng như thị trường trong nước.
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu trong đề tài.
- Đề tài đề cập đến những vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
- Tìm hiểu và phân tích năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ
- Đưa ra các kiến nghị, định hướng và các giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
1.3 Mục tiêu nghiên cứu.
- Hệ thống hóa và bổ sung một số vấn đề lý luận chủ yếu về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may
- Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thịtrường Mỹ của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay để tìm ra những kết quả,hạn chế và nguyên nhân nhằm tạo lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các địnhhướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị chủ yếunhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sang thị trường Mỹ của các doanhnghiệp dệt may Việt Nam trong thời gian tới
1.4 Phạm vi nghiên cứu.
Do đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệtmay Việt Nam sang thị trường Mỹ nên phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ mở rộng ratoàn ngành dệt may Việt Nam, tình hình xuất khẩu và cạnh tranh của ngành dệt mayViệt Nam từ năm 2006 – 2011, tình hình nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ thị trườngViệt Nam và các đối thủ khác trong giai đoạn này Để cho đề tài đạt hiệu quả nghiêncứu tốt hơn, chúng tôi sẽ nêu ra định hướng, mục tiêu cho toàn ngành trong việc nângcao năng lực cạnh tranh hàng dệt may sang thị trường Mỹ giai đoạn 2012 – 2020
Trang 41.5 Ý nghĩa của nghiên cứu.
- Trong giai đoạn hiện nay, tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ rất cógiá trị, và có tiềm năng nên cần đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của hàng dệt mayViệt Nam giúp cho việc xuất khẩu và cạnh tranh trên thị trường đạt hiệu quả
- Rút ra được bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp dệt may Việt Namkhi xuất khẩu sang thị trường Mỹ
1.6 Kết cấu đề tài.
Với vấn đề đặt ra như vậy, đề tài sẽ có kết cấu như sau:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương II: Một số lý thuyết về cạnh tranh của sản phẩm dệt may vào thị trường Mỹ.
Chương III: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Mỹ.
Chương IV: Định hướng và những giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
Trang 5Chương II: Một số lý thuyết về cạnh tranh của sản phẩm dệt may
vào thị trường Mỹ.
2.1 Một số khái niệm về cạnh tranh.
2.1.1 Cạnh tranh.
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh.
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnhvực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao…do đó nó được sự quantâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có nhiều khái niệm khácnhau về cạnh tranh Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xét trên lĩnh vực kinh tế và cạnh tranhtrong kinh tế nói riêng cũng có nhiều cách hiểu khác nhau trong phạm vi doanhnghiệp, ngành, giữa các quốc gia, giữa các khu vực…
Theo Michael Porter: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh
là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanhnghiệp đang có Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trongngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980)
Theo Cac-Mac: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tưbản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa đểthu được lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa
và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tưbản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thànhnên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chiphí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu đựơclợi nhuận
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt độngtranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điềukiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất
Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa nhữngchủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trongsản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho
Trang 6Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó,dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩmhàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm vànâng cao được thu nhập thực tế.
Như vậy, cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất năng động, nhạy bén,tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện
tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnhtranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thị trường trì trệ và kém phát triển
2.1.1.2 Phân loại cạnh tranh.
• Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá củamình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất,còn người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quátrình thương lượng giữa hai bên
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vàoquan hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nêngay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao đểmua được hàng hoá hoá mà họ cần
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giậtkhách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua Trongcuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phảirút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn
• Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành (cạnh tranh dọc): là cuộc cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ.Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển
- Cạnh tranh giữa các ngành (cạnh tranh ngang): Là cuộc cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp trong các nghành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kếtquả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
• Căn cứ vào tính chất cạnh tranh:
Trang 7- Cạnh tranh hoàn hảo: là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là mộtmẫu kinh tế thị trường lý tưởng, ở đó không có người sản xuất hay tiêu dùng nào cóquyền hay khả năng khống chế được thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong các thị trường khi cácđiều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn
• Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh:
- Cạnh tranh không lành mạnh: là bất cứ hành động nào trong hoạt động kinh tếtrái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng Và cũng gầnnhư không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộcchiến Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một đai dương đỏ đầy máucủa những địch thủ tranh đấu trong một bể lợi nhuận đang cạn dần Hậu quả thườngthấy sau các cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự giảm sút mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi.Mục đích của nhà kinh doanh là luôn luôn mang lại những điều có lợi cho doanhnghiệp mình Đôi khi nó là sự trả giá của người khác Đây là tình huống “cùng thua”
- Cạnh tranh lành mạnh: Căn cứ theo những gì người ta hay nói về kinh doanhngày nay, doanh nghiệp sẽ không tiếp tục nghĩ theo kiểu truyền thống là đánh bại đốithủ nữa Doanh nghiệp cần phải lắng nghe khách hàng, hợp tác với các nhà cung cấp,lập ra các nhóm mua hàng và xây dựng những quan hệ đối tác chiến lược (thậm chí làvới đối thủ cạnh tranh)
Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thànhcông Đây là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là cạnh tranh làm hại lẫn nhau.Tình huống này được gọi là “cùng thắng”
2.1.2 Lợi thế cạnh tranh.
Một thuật ngữ có liên quan đến cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh là sở hữu củanhững giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi.Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc giađang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là mộtkhái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia)
Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mụctiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thànhcông lâu dài cho doanh nghiệp Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanhnào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững Theo Michael Porter, lợi
Trang 8thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thịtrường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được.
2.1.3 Năng lực cạnh tranh.
2.1.3.1 Một số quan điểm về năng lực cạnh tranh.
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp
và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,
… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh
và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới
Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra đượclợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnhtranh, chiếm lĩnh thị phần lớn và tạo ra thu nhập cao và phát triển bần vững
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình thì chưa đủ, bởi trongđiều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tếchứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trongyếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiệnnay
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợithế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực
và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn ngườitiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí sovới các đối thủ cạnh tranh trên thị trường
2.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.
Theo Michael Porter thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm bốn yếu tố:
Trang 9Các yếu tố bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con người (chất
lượng, kỹ năng); các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường);các yếu tố về vốn… các yếu tố này chia làm 2 loại:
• Loại 1: các yếu tố cơ bản như: môi trường tự nhiên, địa lý, lao động;
• Loại 2: các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động trình độ cao…
Trong đó, yếu tố thứ 2 có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Chúng quyết định lợi thế cạnh tranh ở độ cao và những công nghệ có tính độcquyền Trong dài hạn thì đây là yếu tố có tính quyết định phải được đầu tư một cáchđầy đủ và đúng mức
Nhu cầu của khách hàng: Đây là yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển
của doanh nghiệp Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thõamãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế
về mặt này thì có hạn chế về mặt khác Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biếtđược điều này và cố gắng phát huy tốt nhất những điểm mạnh mà mình đang có để đápứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanhnghiệp có thể tận dụng được lợi thế theo quy mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinhdoanh và dịch vụ của mình Nhu cầu khách hàng còn có thể gợi mở cho doanh nghiệp
để phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ mời Các loại hình này có thể đượcphát triển rộng rãi ra thị trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là người trước tiên
có được lợi thế cạnh tranh
Các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ: Sự phát triển của doanh nghiệp không thể
tách rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như: thị trường tài chính, sựphát triển của công nghệ thông tin… Ngày nay, sự phát triển của công nghệ thông tin,các ngân hàng có thể theo dõi và tham gia vào thị trường tài chính 24/24 giờ trongngày
Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh: Sự phát
triển của hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu được quản lý và tổ chức trong mộtmôi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế cạnh tranh của nó Sự cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải tiến và thay đổi nhằm hạ thấp chiphí, nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 10Trong bốn yếu tố trên, yếu tố 1 và 4 được coi là yếu tố nội tại của doanh nghiệp,yếu tố 2 và 3 là những yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy sự phát triển củachúng.
Ngoài ra, còn hai yếu tố mà doanh nghiệp cần tính đến là những cơ hội và vaitrò của Chính Phủ Vai trò của Chính Phủ có tác động tương đối lớn đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp nhất là trong việc định ra các chính sách về công nghệ, đào tạo
và trợ cấp
2.2 Tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh.
2.2.1 Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter.
Michael Porter, nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiệnnay, đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích Trong đó, ông mô hình hóa cácngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của nămlực lượng cạnh tranh Các nhà chiến lược đang tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ
có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mìnhđang hoạt động
Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh được ra đời với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ralợi nhuận trong kinh doanh Đây được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìmhiểu nguồn gốc lợi nhuận Quan trọng hơn cả, mô hình này cung cấp các chiến lượccạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận
Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sảnxuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:
2.2.1.1 Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp:
Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áplực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thịtrường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởngtới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp: Trong vấn đề này ta nghiên cứukhả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyểnđổi nhà cung cấp
Trang 11Thông tin về nhà cung cấp : Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân tốthúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tớiviệc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp.
Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ có quy
mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế những nhà cungcấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ sẽ có rất ít quyền lực đàm phán đối với các doanhnghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng họ lại thiếu tổ chức
Khách hàng được gọi là có lợi thế trong đàm phán nếu:
- Người mua rất tập trung – tức là có một số người mua nhưng họ chiếm một thịphần đáng kể
- Nhóm ít khách hàng mua với một khối lượng lớn sản phẩm của ngành sản xuất
Đó là sự phân bổ lượng mua hoặc nếu sản phẩm được tiêu chuẩn hóa
- Người mua có khả năng gia nhập thị trường phía trước và tạo ra nguy cơ gia nhậptheo chiều dọc Tức là người mua có khả năng can thiệp vào hệ thống phân phối haysản xuất bằng cách mua các nhà sản xuất hoặc tự giao dịch trực tiếp với nhà sản xuấtkhông thông qua trung gian phân phối
Người mua có quyền lực thấp nếu:
- Các nhà sản xuất có khả năng gia nhập theo chiều dọc về phía sau bằng cách can
Trang 12- Chi phí chuyển đổi đối với người mua rất lớn, sản phẩm ít hoặc không được tiêuchuẩn hóa và người mua rất khó tìm được nhà cung cấp mới hoặc có nhưng với chi phírất cao.
- Người mua rất phân tán (rất nhiều hoặc rất khác nhau) và không có người muanào có ảnh hưởng đáng kể đối với sản phẩm hoặc giá cả
- Người bán cung cấp một phần quan trọng nhu cầu đầu vào của người mua – đó là
sự phân bổ lượng mua
Khách hàng được phân làm 2 nhóm:
+ Khách hàng lẻ+ Nhà phân phối
Cả hai nhóm đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm,dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông quaquyết định mua hàng
Tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp ta xem xét các tác động đến áp lựccạnh tranh từ khách hàng đối với ngành
+ Quy mô
+ Tầm quan trọng
+ Chi phí chuyển đổi khách hàng
+ Thông tin khách hàng
2.2.1.3 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Theo Michael Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trêntrong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiềuhay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ suấtsinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành
+ Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vàomột ngành khó khăn và tốn kém hơn:
- Kỹ thuật
- Vốn
- Các yếu tố thương mại: Hệ thống phân phối, thương hiệu, hệ thống kháchhàng
Trang 13- Các nguồn lực đặc thù: Nguyên vật liệu đầu vào (bị kiểm soát ), bằng cấp,phát minh sáng chế, nguồn nhân lực, sự bảo hộ của chính phủ
2.2.1.4 Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế:
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhucầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành
Áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu
so với các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng , cácyếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới
sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Tính bất ngờ, khó dự đoán của sản phẩm thay thế : Ngay cả trong nội bộ ngànhvới sự phát triển của công nghệ cũng có thể tạo ra sản phẩm thay thế cho ngành mình
Chi phí chuyển đổi: chi phí chuyển đổi tỏng trường hợp này đề cập đến khảnăng chuyển đổi sản phẩm từ phía khách hàng Chi phí chuyển đổi thấp làm gia tăng
sự cạnh tranh trên thị trường Khi một khách hàng có thể chuyển đổi dễ dàng từ sảnphẩm này sang sản phẩm khác, các doanh nghiệp phải luôn cố gắng giành giật kháchhàng mới và chăm sóc, giữ gìn khách hàng quen thuộc
2.2.1.5 Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành:
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhautạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Trong một ngành cácyếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ
+ Tình trạng ngành : Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng ,số lượng đối thủ cạnhtranh
+ Cấu trúc của ngành : Ngành tập trung hay phân tán
• Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhaunhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại
• Ngành tập trung : Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vaitrò chi phối
+ Các rào cản rút lui: giống như các rào cản gia nhập ngành, rào cản rút lui làcác yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn:
• Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư
• Ràng buộc với người lao động
Trang 14• Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan.
• Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch
2.2.2 Một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và
có hạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này
và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất nhữngđòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệpđược biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nhưmarketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuynhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định đượccác yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cầnthực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Các doanh nghiệp hoạt độngsản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá nănglực cạnh tranh khác nhau
Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một việc làm nếu được tổchức tốt sẽ giúp doanh nghiệp nhận định rõ hơn về khả năng của mình Để đánh giánăng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều tiêu chí
để đánh giá Trong đó có 5 tiêu chí tổng quát nhất có thể áp dụng chung cho việc đánhgiá năng lực cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, đó là:
2.2.2.1 Sản lượng, doanh thu.
Đây là tiêu chí tổng quát nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh cảu doanhnghiệp Thông qua sản lượng và doanh thu có thể nói lên được lợi nhuận thu được củadoanh nghiệp là cao hay thấp, có thể cho biết được mức độ sản xuất của doanh nghiệp
có hiệu quả hay không, tuy nhiên nếu chỉ xét về sản lượng và doanh thu thì vẫn chưa
đủ, phải xem xét thêm các yếu tố khác nữa
Sản lượng là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một doanhnghiệp, quốc gia được tính bằng sản lượng được sản xuất ra từ các mức khác nhau củamột yếu tố đầu vào kết hợp với các mức cố định của các yếu tố khác
Trang 15Khi xem xét các nhân tố tác động đến sản lượng, nhà quản lý có thể đi đếnquyết định dịch chuyển nhân tố nào để tối ưu hóa quá trình sản xuất.
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm,cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp
2.2.2.2 Thị phần (trong và ngoài nước).
Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệphần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cảcác doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc
tỉ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số muavào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trườngliên quan theo tháng, quý, năm
Thị phần phản ánh khả năng chiếm lĩnh thị trường, qui mô hoạt động xuất khẩucủa doanh nghiệp Đây cũng là tiêu chí rất quan trọng trong việc đánh giá triển vọngtăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp Những số liệu về tổng số thị phần trong vàngoài nước nói lên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác,hiệu quả của hoạt động thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường, tiếp thị, bán hàng và sau bánhàng, mức độ áp dụng nhu cầu của người tiêu dùng và tính năng động của doanhnghiệp
Ngoài ra, thị phần cũng phản ánh mức độ tập trung trong sản xuất – kinh doanhđối với loại sản phẩm hàng hóa đó của doanh nghiệp trên thị trường Thị phần cànglớn, sức mạnh tập trung vốn đầu tư sản xuất càng lớn, thiết lập được các kênh phânphối sản phẩm càng có hiệu quả, giảm bớt các rủi ro khó lường trên thương trường
Mặt khác, thị phần cũng biểu hiện mức độ liên kết giữa các vị thế của doanhnghiệp với vị thế của người mua đối với loại sản phẩm hay hàng hóa nhất định Biểuhiện uy tín của doanh nghiệp, sự tin cậy của người mua trong việc cung ứng, thanhtoán, giá cả, chất lượng, dịch vụ sau bán hàng của hàng hóa đó trên thị trường
Công ty nào chiếm được thị phần lớn sẽ có lợi thế thống trị thị trường Vì chiếnlược chiếm thị phần, nhiều công ty sẵn sàng chi phí lớn và hy sinh các lợi ích khác
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh Thị phần =
Trang 16Hay Thị phần =
Thị phần nói rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sảnphẩm tiêu thụ trên thị trường Để giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanhnghiệp thường phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất
là khi bắt đầu thâm nhập thị trường mới
2.2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận là số lợi nhuận so với tổng doanh thu hoặc so với vốn đầu tư,vốn chủ sở hữu…Khi cùng bỏ ra một số vốn đầu tư, nếu tỷ suất lợi nhuận thu đượccàng lớn thì doanh nghiệp đó càng kinh doanh có lãi và ngược lại
2.2.2.4 Lợi nhuận hay hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu tư sau khi đã trừ đicác chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội, là phần chênh lệch giữatổng doanh thu và tổng chi phí
2.2.2.5 Chiến lược phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (phản ánh khả năng phát triển bền vững, lâu dài và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế).
Ở Việt Nam, chiến lược phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp nhìn chungchưa có hiệu quả cao, còn nhiều sự ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước Mục tiêu chỉgiới hạn ở mức ngắn hạn trước mắt, lợi thế so sánh bằng nguồn lao động rẻ, tài nguyênsẵn có, tuy nhiên công nghệ còn lạc hậu, chưa thiết lập được mối quan hệ trực tiếp vớingười tiêu dùng, chưa nắm giữ được một phần nhất định trong các kênh phân phốiquốc tế Vậy muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải xây dựngđược chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả phù hợp với yêucầu phát triển và tiến trình hội nhập quốc tế
Ngoài các chỉ tiêu định lượng trên, năng lực cạnh tranh còn được đánh giá quacác chỉ tiêu định tính như:
• Chất lượng hàng hoá - dịch vụ của doanh nghiệp so với đối thủ cạnhtranh
Đây là một tiêu chí khá quan trọng vì khi một quốc gia muốn xuất khẩu hànghóa với một sản lượng lớn nhưng chất lượng kém, không cạnh tranh được thì các nước
Trang 17nhập khẩu sẽ không nhập loại hàng hóa đó của quốc gia đó, thay vào đó là nhập hànghóa của quốc gia khác với chất lượng cao hơn, đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêudùng Mặt khác, khi chất lượng hàng hóa tốt hơn sẽ kéo theo giá cả cũng cao hơn Bêncạnh đó, chất lượng hàng nhập khẩu cũng sẽ đánh giá trình độ sản xuất của nước xuấtkhẩu, đánh giá được công nghệ sản xuất mà họ sử dụng, đánh giá được trình độ quảnlý…Đây là mục tiêu theo đuổi của nhiều quốc gia xuất khẩu và Việt Nam cũng nằmtrong số đó.
• Thương hiệu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnhtranh
Để có được thương hiệu, uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp thì cần phải có mộtthời gian dài để xây dựng Đó là thời gian mà người tiêu dùng mua và sử dụng sảnphẩm của doanh nghiệp, đánh giá được chất lượng của hàng hóa đó là tốt và kéo theođám đông người sử dụng sản phẩm này Một khi doanh nghiệp đã có được thương hiệuthì doanh nghiệp đó dễ dàng cạnh tranh được với các đối thủ khác
•Trình độ công nghệ
Mỗi quốc gia khi xuất khẩu một lượng hàng hóa nào đó đều phải có một trình độcông nghệ nhất định, nó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hàng hóa, phản ánh đượctrình độ sản xuất và từ đó ảnh hưởng đến tư duy của những nhà nhập khẩu, liệu xemhàng hóa đó có tốt hay không? Liệu có nên nhập khẩu tiếp hay không? …
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may 2.3.1 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp.
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp là một trong những nhân tố có ảnh hưởngtrực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sức cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng Doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩmcàng nhanh Sức cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp, trình độ công nghệ và tay nghề người lao động, trình độ quản lýdoanh nghiệp, chính sách marketing của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất quan trọng
Trang 18
2.3.1.1 Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Để thực hiện được những chương trình sản xuất và xuất khẩu cần rất nhiều vốn.Vốn là yếu tố quyết định đến quy mô sản xuất và xuất khẩu Nếu doanh nghiệp có đủkhả năng về vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất từ
đó giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm và vì vậy sẽ nâng cao khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp cũng như của sản phẩm
Doanh nghiệp cũng phải có một cơ cấu vốn hợp lý nhằm phục vụ tốt cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình Nếu như cơ cấu vốn không hợp lý, vốn quá nhiều
mà không có lao động hoặc ngược lại, lao động nhiều mà không có vốn thì doanhnghiệp sẽ không phát triển được hoặc phát triển mất cân đối Vốn là một trong nhữngnhân tố quan trọng trong sản xuất và nó quyết định tăng sản lượng doanh nghiệp Cơcấu vốn hợp lý giúp cho doanh nghiệp phát huy được những lợi thế của mình trong sảnxuất từ đó tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
2.3.1.2 Trình độ công nghệ và tay nghề của người lao động.
Công nghệ là hệ thống quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất hoặc thông tin
Để đầu tư sản xuất kinh doanh, công nghệ có vai trò quyết định Để sản xuất một sảnphẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và cạnh tranh được trên thị trường phải có máymóc, thiết bị công nghệ tiên tiến Ngày nay, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiềucông nghệ tiên tiến đã ra đời và được áp dụng tiến ngay vào sản xuất tạo ra những lợithế cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến Vì vậymỗi doanh nghiệp không ngừng phải đổi mới thiết bị công nghệ để sao cho phù hợpvới mỗi doanh nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò đặc biệt quan trọng tronghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Chúng ta có thể bỏ hàng chục triệu USD để xây dựngnhững nhà máy hiện đại, nhưng nếu bộ máy lãnh đạo điều hành kém năng lực, tập thểlao động trực tiếp sản xuất không thành thạo, trình độ tay nghề không cao thì nhà máyhoạt động không thể có hiệu quả, do vậy sẽ không có khả năng cạnh tranh hoặc sứccạnh tranh rất yếu Chất lượng, trình độ tay nghề nguồn nhân lực sẽ ảnh hưởng trựctiếp tới giá trị của hàng hóa Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuấthàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó Giá trị hàng hóa thay đổi phụ thuộc vào năng suất
Trang 19lao động Năng suất lao động là hiệu suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩmtạo ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian lao động hao phí để tạo ra mộtđơn vị sản phẩm Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của người laođộng, mức trang bị kỹ thuật của người lao động, phương pháp tổ chức, quản lý và cácđiều kiện tự nhiên.
Khi chất lượng, trình độ tay nghề của nguồn nhân lực nâng cao sẽ giúp cho tăngnăng suất lao động Việc tăng năng suất lao động được thể hiện ở chỗ: hao phí laođộng không tăng, nhưng số sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, do đógiá trị hàng hóa của một đơn vị giảm xuống khiến cho giá của một đơn vị hàng hóagiảm, do đó sẽ giúp tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
2.3.1.3 Trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Ban lãnh đạo của doanh nghiệp: là bộ phận đầu não của doanh nghiệp, là nơixây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp, đề ra mục tiêu đồng thời giám sátkiểm tra việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra Trình độ quản lý, kinh doanh của banlãnh đạo có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Một chiến lược doanh nghiệp đúng đắn phù hợp với tình hình thực tế của thị trường,của doanh nghiệp sẽ là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: cơ cấu tổ chức đúng đắn sẽ phát huy được trítuệ của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp, phát huy tinh thần đoàn kết và sứcmạnh tập thể đồng thời vẫn đảm bảo cho việc ra quyết định sản xuất kinh doanh đượcnhanh chóng và chính xác Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việcphối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh, đối phó được với những biến động của môitrường kinh doanh và nắm bắt kịp thời các cơ hội một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Đội ngũ cán bộ: đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại củadoanh nghiệp trên thương trường bởi vì đội ngũ cán bộ, lao động là những người trựctiếp thực hiện nghiệp vụ chuyên môn
2.3.1.4 Chính sách marketing của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đang phải đối đầu với một cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thịtrường Do đó, việc nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường cũng chính là lẽ sinh tồncủa các doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, bên cạnh các yếu tố chính như giá
Trang 20cả, chất lượng thì chính sách marketing rất được voi trọng đặc biệt trong giai đoạn hiệnnay.
Marketing là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thỏa mãn, gợi
mở những nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường để đạt mục tiêu lợi nhuận Cácchính sách marketing giúp nâng cao thế lực của doanh nghiệp trước các đối thủ cạnhtranh, marketing giúp các doanh nghiệp quảng cáo các sản phẩm của mình cho nhiềungười biết đến, biện pháp marketing giúp cho các doanh nghiệp nâng cao uy tín củamình bằng quảng cáo, xúc tiến bán hàng, giới thiệu cho người tiêu dùng biết chấtlượng, giá cả và những lợi thế sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác
Để có thể giành được thắng lợi trước đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp phải ápdụng một cách linh hoạt các chính sách marketing đó là:
- Chính sách sản phẩm
Chính sách về sản phẩm là nền tảng của chính sách marketing hỗn hợp, được xácđịnh dựa trên kế hoạch kinh doanh quy mô lớn dành cho sản phẩm mới và chiến lượcmarketing tổng thể cho mọi sản phẩm đang có của doanh nghiệp Khi xem xét chínhsách sản phẩm, doanh nghiệp cần quan tâm đến những vấn đề sau:
+ Quản lý chất lượng tổng hợp
+ Phát triển nhãn hiệu và bao bì sản phẩm
+ Quyết định lựa chọn bao gói sản phẩm
- Chính sách giá
Ngày nay, giá cả không phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầu nhưng vẫn luôn đượccoi là yếu tố cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút khách hàng đặc biệt là ở nhữngthị trường mà thu nhập của dân cư còn thấp Trong việc phát triển sản phẩm mới doanhnghiệp phải có chính sách giá thích hợp để tạo cho sản phẩm có chỗ đứng vững chắctrên thị trường
Trong chính sách giá đối với sản phẩm mới, doanh nghiệp có thể theo đuổi nhữngmục tiêu cơ bản sau đây:
+ Để tồn tại (giá cao hơn chi phí)
+ Để tối đa hóa lợi nhuận trước mắt
+ Để tăng thị phần
+ Để thu hồi vốn nhanh
Trang 21+ Để dẫn đầu về chất lượng
+ Các mục tiêu khác: một doanh nghiệp có thể dùng giá để phục vụ cho một
số mục tiêu cụ thể hơn Doanh nghiệp có thể đặt giá ở mức thấp để ngăn chặn cạnhtranh hay đặt giá bằng giá của đối thủ cạnh tranh để giữ ổn định thị trường Giá có thểđược quyết định ở mức giữ uy tín cũng như hỗ trợ các hang buôn hay để tránh sự canthiệp của Chính phủ
- Chính sách phân phối
Nội dung cơ bản của chính sách phân phối trong marketing sản phẩm mới là thiết
kế và quản lý mạng lưới bán hàng trong giai đoạn đầu của doanh nghiệp tung sảnphẩm ra thị trường
Mạng lưới bán hàng đó là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thể khácnhau có sức mạnh và uy tín khác nhau để đưa hàng hóa từ doanh nghiệp sản xuất đếncác khách hàng một cách thành công Việc thiết kế và quản lý các kênh bán hàng hóamới của doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản:
+ Phù hợp với tính chất của sản phẩm
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng trong việc tiếp cận và tìmmua sản phẩm một cách dễ dàng
+ Xem xét kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh
+ Các kênh phân phối cần đảm bảo tăng doanh số bán của công ty và thiếtlập mối quan hệ bền vững với các trung gian
- Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh có vai trò to lớn trong marketing Nhờ
có các công cụ của chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh thúc đẩy nhanh việc chàohàng, bán hàng, thâm nhập thị trường làm tăng doanh thu, quay vòng vốn nhanh vàgóp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh giúpcho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trở nên thuận lợi và có hiệu quả hơn nhờkhối lượng hàng bán ra tăng lên, đồng thời giúp cho doanh nghiệp thâm nhập được thịtrường mới, tăng thị phần trên thị trường, thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng vàđem lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi hơn, từ đó giúp doanh nghiệp vững vàng vàlớn mạnh hơn qua những thất bại và thành công trên thương trường
Trang 22Hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý, sựthích thú và tạo tâm trạng thoải mái cho người mua đối với sản phẩm mà còn nâng cao
uy tín cũng như danh tiếng của doanh nghiệp Điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp cóđược lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với các doanh nghiệp khác Mục đích của chínhsách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh là truyền đạt thông tin về doanh nghiệp và sảnphẩm đến người tiêu dùng để tác động lên họ Muốn làm được điều đó nhà kinh doanhphải hiểu được quá trình lôi kéo khách hàng và tác động của các yếu tố môi trường lênquá trình đó Mặt khác, nếu không có chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh thìdoanh nghiệp không thể có được thông tin phản hồi từ phía người tiêu dùng đối vớichất lượng, mẫu mã sản phẩm, các dịch vụ trước và sau khi bán hàng, giá cả, mạnglưới phân phối… Mà chính những thông tin này sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại vàphát triển được đồng thời nâng cao được năng lực cạnh tranh
2.3.2 Các nhân tố thuốc về thị trường Mỹ
2.3.2.1 Thực trạng thị trường dệt may Mỹ.
Đặc điểm nổi bật nhất của thị trường hoa Kỳ là quy mô lớn, nhu cầu tăngthường xuyên và rất đa dạng sản phẩm Nhưng đây cũng là khó khăn cho nhiều quốcgia đang phát triển, trong đó có Việt Nam vì các đơn hàng thường rất lớn nên khó đápứng được yêu cầu
Đây là thị trường nhập khẩu và tiêu thụ khổng lồ đối với hàng hóa nói chung vàhàng dệt may nói riêng Ngành dệt may của Mỹ đứng thứ 10 trong các ngành côngnghiệp và đứng thứ 2 trong các ngành sản xuất hàng hóa có thời hạn sử dụng khôngdài Công nghiệp dệt của Mỹ luôn gắn với thị trường sản phẩm dệt và quần áo may sẵncủa thế giới Hàng may mặc của Mỹ chủ yếu là các sản phẩm cao cấp, giá cao cho cácnước phát triển hoặc một phần là nguyên phụ liệu, bán sản phẩm xuất đi các nước khác
để gia công lắp ráp thành phẩm để tái xuất lại vào Mỹ hoặc xuất khẩu đi các nước thứ
ba Trong năm 2010, nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ đã đạt được mức tăng trưởngđáng kể, một phần do nhu cầu tiêu dùng của thị trường này đã được cải thiện khánhiều, một phần là do đơn giá nhập khẩu giảm nên đẩy mạnh nhập khẩu trong năm…
Do vậy, so với năm 2009 nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ các thị trường đều đạttăng khá cao trong năm 2010; duy chỉ có hai thị trường là Hàn Quốc giảm 7,93% vàIsrael giảm 3,65%
Trang 23Các sản phẩm dệt may được sản xuất tại Mỹ chủ yếu tập trung ở một số nhómhàng chính như thêu ren, đồ dùng trong nhà như thảm, rèm cửa và vải bọc cho các sảnphẩm nội thất Các công ty lớn của Mỹ chủ yếu chuyên sâu vào các dòng sản phẩmchất lượng cao, trong khi đó các công ty vừa và nhỏ lại thành công với những sảnphẩm dệt may hàng loạt.
2.3.2.2 Nhu cầu nhập khẩu dệt may của Mỹ.
Đối với những mặt hàng chính như quần áo may sẵn, hàng thêu ren, trang trí vàvải sợi, nhập khẩu dệt may của Mỹ chỉ tăng 1,8% trong năm 2007 Trong đó, các sảnphẩm dệt tăng 4,5%, hàng thêu ren tăng 3,5%, tuy nhiên nhập khẩu vải giảm 2,9% vàsợi giảm 9,8% Hàng thêu ren vẫn tiếp tục chiếm thị phần lớn nhất trong tổng sảnlượng nhập khẩu hàng dệt may với 43,9% Mặc dù vậy, các sản phẩm từ vải dệt đangngày càng trở nên quan trọng trong những năm qua với thị phần tăng đều theo các năm
từ 16,8% năm 1997 lên đến 33,7% năm 2007
2.3.2.3 Một số nhà cung cấp sản phẩm dệt may chủ yếu trên thị trường.
Bảng 2.1: Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ năm 2010.
Thị trường Lượng (triệu
m 2 )
So 2009 (%)
Trị giá (triệu USD) So 2009 (%)
Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ
Các nước xuất khẩu hàng dệt may chính sang Mỹ là Trung Quốc, Mexico, Ấn
Độ, Việt Nam, Indonesia… Trung Quốc là nước cung cấp nhóm hàng này lớn nhất cho
Mỹ cả về số lượng lẫn kim ngạch Tuy nhiên, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc vào
Mỹ đang có xu hướng giảm
Trang 24Nhập khẩu dệt may từ Mexico, nước cung cấp lớn thứ hai của Mỹ, năm 2007giảm cả về số lượng và kim ngạch Trong khi đó, mặc dù mới chỉ chiếm 13,6% về kimngạch và 14,9% về số lượng của thị trường nhập khẩu dệt may của Mỹ, song sản phẩmdệt may đến từ các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Pakistan đang tăng mạnh, đặc biệt làViệt Nam Năm 2007, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dệt may vào
Mỹ nhanh nhất cả về kim ngạch (tăng 34%) và số lượng (tăng 31%).đến năm 2009 dệtmay Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 3 trong số các nước xuất khẩu hàng dệt may sangthị trường Mỹ
Theo thống kê của Bộ thương mại Mỹ, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sang
Mỹ đang giảm xuống, thị phần của Trung Quốc đang thu hẹp lại, tạo cơ hội cho cácsản phẩm dệt may đến từ Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam Trong 6 tháng đầu năm
2008, xuất khẩu dệt may sang Mỹ tăng hơn 20%, Ấn Độ tăng 8,2%, trong khi đóTrung Quốc chỉ tăng 0,2%, thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng 14,8% năm2007
Cũng theo đó, nhập khẩu hàng dệt may của nước này trong năm 2010 đạt xấp xỉ93,3 tỷ USD, tương đương với 55,44 tỷ m2 quy đổi; tăng 18,96% về lượng và tăng15,15% về trị giá so với năm 2009 Đơn giá nhập khẩu bình quân hàng dệt may của thịtrường này trong năm 2010 đạt 1,68 USD/ m2 quy đổi, giảm 3,2% so với năm 2009.Trong đó, nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Việt Nam đạt xấp xỉ 6,3 tỷ USD, tươngđương với 2,88 tỷ m2 quy đổi; so với năm 2009 tăng 31,17% về lượng và tăng 17,95%
về trị giá
Hiện nay, Hội đồng Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) đang xếp Việt Namnằm trong top 5 nhà xuất khẩu dệt may lớn nhất vào Mỹ Theo Bộ Công Thương ViệtNam, mặc dù trong thời gian gần đây thị trường dệt may trên thế giới có nhiều biếnđộng, song ngành dệt may của Việt Nam vẫn đặt ra chỉ tiêu doanh thu xuất khẩu năm
2008 đạt 9,5 tỉ USD, trong đó xuất khẩu sang Mỹ đạt 5,4 tỉ USD Kim ngạch này sẽđưa Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu dệt may lớn thứ hai vào Mỹ, chỉ sau TrungQuốc (6,1 tỉ USD)
2.3.2.4 Thị hiếu tiêu dùng hàng dệt may ở Mỹ.
Đối với mặt hàng dệt may, thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ có những đặc điểmsau:
Trang 25* Có nhu cầu mua sắm định kỳ vào các dịp lễ hoặc cuối năm ở những đợt bángiảm giá.
* Đối với đồ dùng cá nhân như quần áo, may mặc và giày dép, nói chung người
Mỹ thích sự đơn giản và tiện dụng, nhưng hiện đại, hợp mốt và với yếu tố khác biệt,độc đáo thì càng được ưa thích và được mua nhiều Mọi người có thể mặc đồ gì họthích Ở những thành phố lớn, nam giới thường mặc comple, nữ giới mặc váy hoặc jypkhi đi làm; trong khi đó ở nông thôn thì thường ăn mặc khá xuyềnh xoàng; quần jean
và quần vải thô rất phổ biến Tuy vậy, hầu hết người Mỹ kể cả lớn tuổi, ngoài giờ làmviệc thường ăn mặc thoải mái theo ý họ
* Kiểu mẫu phù hợp thị hiếu thẩm Mỹ, thay đổi theo thời gian và khí hậu
* Sản phẩm độc đáo và nhạy bén với thời trang
Xác định rõ phân đoạn thị trường mình sẽ thâm nhập để xuất khẩu là một chìakhóa để đi đến thành công, nếu không, tốt nhất nhà xuất khẩu nên tham gia vao một hệthống phân phối sẵn có va theo các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như thương mại mangtính toàn cầu mà họ đề ra
Bảng 2.2: Tham khảo nhập khẩu các nhóm hàng dệt, may của Mỹ từ các thị trường năm 2010.
(triệu m 2 )
So 2009 (%)
Trị giá (triệu USD)
So 2009 (%)
Đơn giá (USD/m 2 )
So 2009 (%)
Tổng 55.441,35 18,96 93.278,33 15,15 1,68 -3,20Hàng may mặc 24.744,31 16,08 71.398,28 13,14 2,89 -2,53Hàng dệt 30.697,04 21,38 21.880,04 22,23 0,71 0,70Sợi 2.887,17 21,43 1.402,22 29,44 0,49 6,60Vải 9.135,82 23,47 4.769,47 22,7 0,52 -0,62Không dệt 18.674,05 20,38 15.708,35 21,48 0,84 0,91Sản phẩm bông 22.208,63 13,2 51.873,04 12,35 2,34 -0,75Hàng may mặc bông 14.340,05 13,73 43.328,47 11,14 3,02 -2,28Hàng dệt bằng bông 7.868,59 12,24 8.544,57 18,87 1,09 5,91
Đồ len 344,43 17,75 4.415,05 13,58 12,82 -3,54Hàng may mặc len 271,23 16,63 3.495,99 13,6 12,89 -2,60Không phải hàng may
mặc len 73,20 22,08 919,06 13,52 12,55 -7,01Sản phẩm từ sợi nhân tạo 32.356,53 23,58 35.397,26 20,62 1,09 -2,40Hàng may mặc chất liệu 9.821,70 20,17 23.287,64 18,14 2,37 -1,69
Trang 26nhân tạo
Không phải hàng may
mặc chất liệu nhân tạo 22.534,83 25,13 12.109,62 25,69 0,54 0,45Sản phẩm lụa 531,75 3,77 1.592,98 -0,46 3,00 -4,08Hàng may mặc lụa 311,33 2,82 1.286,19 -3,44 4,13 -6,09
Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ
Về chất liệu, cotton hiện vẫn rất được ưa chuộng tại Mỹ Năm 2007, số lượngnhập khẩu mặt hàng quần áo chất liệu cotton chiếm 60,2% tổng số lượng hàng dệt maycủa Mỹ
2.3.2.5 Tổ chức hệ thống phân phối hàng dệt may của Mỹ.
Tại Mỹ có rất nhiều công ty lớn nhỏ với các kênh phân phối thị trường khácnhau Đối với các công ty lớn, họ có hệ thống phân phối riêng và tự làm lấy tất cả cáckhâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và tự nhập khẩu sản phẩm về để bán.Các công ty loại này thường tác động mạnh đến các chính sách của chính phủ Còn cáccông ty vừa và nhỏ được sự hỗ trợ từ phía chính phủ và vận động xung quanh hệ thốngthị trường
Các công ty vừa và nhỏ có nhiều cách bán hàng nhập khẩu tại Mỹ Họ thườngnhập khẩu hàng hoá về để bán theo các hình thức phổ biến sau đây:
- Bán sỉ cho các cửa hàng bán lẻ: Các loại quần áo thời trang đều có thể bán trựctiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu hay những người bán hàng cótính chất cá nhân và các công ty nhập khẩu hay các tổ chức buôn bán hàng hoá chuyênnghiệp Đây là một trong những cách bán hàng có hiệu quả đối với hàng hoá có nhucầu mạnh, đặc biệt trong trường hợp ngành hàng đa dạng, có thể đáp ứng được hết cácchủng loại có liên quan
- Bán cho nhà phân phối: Thay thế cho hình thức bán lẻ, người ta có thể bán hàngcho các nhà phân phối vì họ có hệ thống phân phối rộng khắp một khu vực nào đóhoặc nằm trong một nhóm ngành công nghiệp nào đó Tuy nhiên, với hệ thống phânphối này, người ta phải chia sẻ bớt một phần lợi nhuận của mình cho nhà phân phối
- Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp: Đây là cách mà các nhà máy, công xưởngtrực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ ở nước sở tại khi họ không có điềukiện để mua trực tiếp của các nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc mua qua các nhà nhậpkhẩu trong nước
Trang 27- Bán sỉ qua đường bưu điện: Đây là phương pháp được sử dụng đối với một sốsản phẩm nhỏ không đắt lắm Lợi điểm của phương pháp này là không phải qua khâutrung gian phân phối hay bán buôn Tuy nhiên, những sản phẩm hàng dệt may tiêu thụhàng loạt thường không thích hợp khi sử dụng phương pháp này
- Bán lẻ qua đường bưu điện: Các nhà nhập khẩu sẽ gửi trực tiếp bưu kiện đến tayngười mua mà không cần phải qua khâu trung gian Song, để thực hiện một cách cóhiệu quả thì công ty phải có hệ thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và thiết kế thịtrường một cách chi tiết
- Bán hàng qua catalogue: Một số nhà nhập khẩu thường bán hàng qua các nhàbuôn theo kiểu này hoặc trực tiếp lập công ty để bán hàng theo catalogue Chìa khoácho phương thức này là phải biết được địa chỉ của người hay công ty có nhu cầuthường xuyên về mặt hàng mà mình kinh doanh
- Bán lẻ: Nhà nhập khẩu sẽ tự tổ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng hoá theo khảnăng về thị trường, tài chính của mình và tự gánh chịu mọi rủi ro về nhu cầu của thịtrường, bù lại, họ sẽ thu được toàn bộ lợi nhuận do hoạt động nhập khẩu mang lại.Hình thức này chứa đựng nhiều rủi ro vì nó đòi hỏi nhà nhập khẩu phải nắm rõ xuhướng của thị trường, đồng thời phải tiến hành mọi hoạt động trong các khâu buôn bán
và nhập khẩu
- Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình: Đây làhình thức mới và có thể áp dụng đối với hàng may mặc thời trang, do loại hình quảngcáo này dễ dàng thu hút được đông đảo người tiêu dùng Phương pháp náy đòi hỏiphải có hàng tức thời và bán theo giá công bố
- Bán hàng trực tiếp cho các nhà máy, công xưởng với các điều kiện tương tự nhưbán cho các nhà bán lẻ
- Làm đại lý bán hàng: Đối với những thương nhân hay công ty ở Mỹ có quan hệtốt cả hai chiều với thương nhân, các nhà xuất khẩu nước ngoài và hệ thống bán buôn,bán lẻ trong nước thì họ thường đứng ra làm đại lý cho bên nước ngoài Điểm thuậnlợi là ở chỗ họ không phải đảm nhận vấn đề tài chính cho kinh doanh Điều khoản L/Cchuyển nhượng có thể giúp giải quyết được điều này
- Bán hàng qua buổi giới thiệu bán hàng (Ball Imports Party): Một số nhà nhậpkhẩu mua một lượng nhỏ hàng hoá về và mời những người thân quen đến dự buổi giới
Trang 28thiệu bán hàng tại chỗ Cũng có trường hợp những nhà nhập khẩu sẽ trả hoa hồng chonhững người đứng ra tổ chức và giới thiệu bạn hàng cho họ
- Bán ở chợ ngoài trời: Cách thức này đòi hỏi công ty phải có quan hệ rộng vớinhững người bán ở nhiều nước khác nhau và phải trả một phần lợi tức cho người bánhàng, đồng thời phải đặt giá trực tiếp đến người tiêu dùng
- Bán hàng qua các hội chợ, triển lãm tại Mỹ: Có những công ty mua hàng về khocủa mình và quanh năm đi tham dự các hội chợ triển lãm trên khắp mọi miền đất nước
để tìm kiếm các đơn đặt hàng tại quầy rồi gửi hàng cho người mua qua bưu điện hoặcphát chuyển nhanh Cách này chỉ mới có thể vận dụng ở qui mô nhỏ với hàng đặcchủng, hàng mới và giá cao
- Cuối cùng là bán hàng qua Internet như Amazon.com Nghiên cứu hệ thống phânphối ở Mỹ sẽ giúp các nhà xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này có khái niệmchung về cách thức buôn bán, nhập khẩu hàng hoá vào Mỹ và cách đưa hàng đến tayngười tiêu dùng Đối với từng loại sản phẩm trong từng điều kiện cụ thể, các nhà xuấtkhẩu sẽ cân nhắc giữa các cách thức trên và lựa chọn hệ thống phân phối sao cho phùhợp với sản phẩm và đặc điểm riêng của doanh nghiệp mình
Trang 292.3.2.6 Những quy định pháp lý của chính phủ Mỹ đối với hàng dệt may.
•Chính sách
Dệt may luôn là một mặt hàng có vị trí quan trọng trong chính sách thương mạicủa Mỹ và thực tế này trong thời gian trước mắt vẫn sẽ không thay đổi Dưới góc độquan hệ thương mại quốc tế, có thể thấy chính sách hàng dệt may của Mỹ gồm 2 chiếnlược chủ đạo:
- Kiềm chế các nước xuất khẩu thông qua các hiệp định dệt may song phươnghay các thỏa thuận khống chế số lượng Trước 1/1/2005, Mỹ đã sử dụng biện pháp nàyvới nhiều nước tại các nhóm hàng khác nhau Tuy nhiên, cho đến hiện nay, nhiều nướcxuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ đã là thành viên của WTO nên không bị
Mỹ áp dụng chính sách này nữa
- Sử dụng những ưu đãi về hàng dệt may để mặc cả trong các thỏa thuận ưuđãi thương mại, các hiệp định thương mại tự do song phương hoặc khu vực Về bảnchất, Mỹ chủ trương liên minh với các quốc gia trong khu vực châu Mỹ thông qua cácchương trình ưu đãi thương mại (NAFTA, DR-CAFTA, FTAA…) và một số đối táckhác ngoài châu Mỹ qua các FTA trong đó có các ưu đãi đối với hàng dệt may Vớichủ trương này, Mỹ mong muốn kiềm chế xuất khẩu dệt may ồ ạt từ các nước châu Á
và các nước mà Mỹ không có nhiều lợi ích thương mại song phương
Tính toán của họ là thay vì phải trực tiếp chống trọi với tất cả các nước xuấtkhẩu dệt may trên thế giới (đặc biệt là Trung Quốc và các nước Đông Á), Mỹ chỉ cầnmặc cả với các nước “lệ thuộc” và các đồng minh chiến lược của họ Ưu đãi của Mỹđối với sản phẩm dệt may từ các nước này sẽ được đổi lại bằng ưu đãi của các nướcđối với những sản phẩm xuất khẩu sở trường của Mỹ
Tuy thất bại trong việc bảo hộ sản xuất trong nước, song chính sách đối vớihàng dệt may nhập khẩu vẫn là một trong những phương tiện hữu hiệu của Mỹ trongđàm phán thương mại, đặc biệt là với những nước đang phát triển Dệt may kể từ khikhông còn là một sản phẩm hàng hóa đem lại công ăn việc làm và mang lại lợi nhuậntrực tiếp cho nền kinh tế đã được sử dụng như một món hời để Mỹ đổi chác trongthương mại quốc tế
Cho tới trước 1/1/2005, thời điểm hạn ngạch được bãi bỏ đối với tất cả cácnước thành viên của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO), Mỹ có tới 46 Hiệp định
Trang 30khác nhau về hàng dệt may theo tinh thần của Hiệp định về Hàng dệt và May mặc củaWTO Các hiệp định này điều tiết nhập khẩu thông qua việc trực tiếp khống chế lượnghàng dệt và may mặc mà các đối tác thương mại của Mỹ có thể xuất vào thị trường nàyhàng năm.
Sau thời điểm 1/1/2005, các quy định của Mỹ ảnh hưởng tới xuất khẩu dệt mayvào Hoa Kỳ chỉ còn là các điều khoản liên quan tới hàng dệt may trong các Hiệp địnhThương mại tự do (FTA) song phương và khu vực, hay một số “sáng kiến thươngmại” (về bản chất vẫn là một dạng hiệp định thương mại tự do) mà Mỹ ký với các đốitác như FTA với Chile, Singapore, Israel, Jordani; Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ(NAFTA); Luật Phát triển và Cơ hội châu Phi; Luật Ưu đãi Thương mại Vùng vịnhCaribe Các thỏa thuận và hiệp định này cho phép hàng dệt và may mặc của các nướckhác tiếp cận thị trường Mỹ với những ưu đãi nếu thỏa mãn các điều kiện nhất định
Do vậy, mặc dù không còn bị khống chế bởi hạn ngạch sau 1/1/2005, phần lớncác nước thành viên WTO vẫn phải trả thuế nhập khẩu cho hàng dệt may vào Mỹ nếukhông thuộc diện được ưu đãi theo các hiệp định và luật kể trên
Biểu thuế của Mỹ có các cột khác nhau biểu thị mức độ ưu đãi khác nhau tùytheo quan hệ thương mại với nước xuất khẩu Giá các sản phẩm dệt may nhập khẩuvào thị trường Mỹ vì thế có sự chênh lệch bởi sự khác biệt về nguồn gốc xuất xứ Mỹ
đã chuyển hướng chính sách sang gián tiếp điều tiết nhập khẩu bằng cách gây ảnhhưởng tới giá hàng dệt may của các nước xuất khẩu
Điều tiết tới lượng và giá là hai đặc điểm chính dễ nhận thấy nhất trong chínhsách của Mỹ Chúng được thay đổi để áp dụng phù hợp với từng giai đoạn của quátrình phát triển thương mại hàng dệt và may mặc toàn cầu và xu thế phân công laođộng quốc tế
•Các quy định liên quan đến nhập khẩu hàng may mặc hiện nay vào Mỹ.Hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ được kiểm soát rất chặt chẽ bởi một hệ thống luậtpháp tương đối hoàn bị, nếu không nói là phức tạp Một số hàng hóa bị cấm nhập khẩuhoặc hạn chế nhập khẩu để bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia, bảo đảm antoàn, vệ sinh cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường,…một số hàng phải xin hạnngạch hoặc visa nhập khẩu và phải tuân thủ những quy định về nhãn mác, những quichế đối với sản phẩm hoặc chịu sự điều tiết của những hiệp định thương mại song
Trang 31phương và đa phương Nhiều mặt hàng còn phải tuân thủ những yêu cầu khác của hảiquan, các luật lệ và quy định của các cơ quan chính phủ Các luật lệ và quy định này
có thể cấm nhập, giới hạn nhập vào một số cửa khẩu nhất định, qui định vận chuyểntheo tuyến và nơi lưu kho nhất định, yêu cầu xử lý, dán nhãn lại hoặc tái xử lý trướckhi được làm thủ tục hải quan và nhận hàng Chính sự phức tạp này đã gây không ítkhó khăn cho các nước muốn xuất khẩu hàng sang Mỹ Hàng dệt may là một trongnhững mặt hàng chịu sự điều tiết của khá nhiều các biện pháp quản lý cũng như cácqui chế pháp lý của chính phủ Mỹ
Trong khuôn khổ mối quan hệ thương mại song phương Việt – Mỹ, ngoàinhững qui định chung đối với hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ còn những tiêu chuẩn
và biện pháp quản lý áp dụng riêng đối với hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thịtrường này Đây là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm nhằm nâng caohiệu quả xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Quy định về hạn ngạch
Hạn ngạch: nói chung, Mỹ không có giới hạn về hạn ngạch trừ phi trong mộthiệp định hàng dệt may có quy định Tuy nhiên, luật thương mại Mỹ cho phép chínhphủ Mỹ đơn phương áp đặt các hạn ngạch mang tính hành chính đối với các loại hàngdệt may Có hai loại hạn ngạch:
- Hạn ngạch tuyệt đối: Là hạn ngạch hạn chế về số lượng nên trong suốt thời gian
áp dụng hạn ngạch, chỉ một số lượng hàng hoá đã được ấn định mới được phép nhậpkhẩu Một số hạn ngạch tuyệt đối được áp dụng trên toàn thế giới, còn một số chỉ ápdụng đối với một vào quốc gia nào đó Số hàng nhập khẩu nào vượt hơn hạn ngạch sẽ
bị giữ lại tại một khu “ngoại thương” để bổ sung cho phần hạn ngạch sau đó hoặcđược đưa vào khu ngoại quan hoặc cũng có thể bị trả về, hoặc tiêu huỷ dưới sự giámsát của hải quan Các hiệp định về hàng dệt may có qui định gia tăng hạn ngạch theotừng thời điểm cụ thể
- Hạn ngạch thuế suất: Áp dụng cho một số lượng hàng nhập khẩu được qui địnhvới mức thuế thấp trong một thời hạn nào đó Không có giới hạn về số lượng hàngnhập khẩu trong suốt thời hạn này nhưng nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng chophép hưởng mức thuế thấp thì số hàng dư đó sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn
Quy định về hạn ngạch (visa) dệt may và giấy phép xuất khẩu.
Trang 32Visa dệt may là một chứng nhận bổ sung dưới dạng một tem/ dấu do một chínhphủ nước ngoài đóng trên hóa đơnhoặc trên giấy phép xuất khẩu Visa được dùng đểkiểm soát nhập khẩu các sản phẩm dệt may vào Mỹ và ngăn cấm nhập khẩu hàng hóatrái phép vào Mỹ Visa có thể dùng cho mặt hàng cần quota (hạn ngạch) hoặc khôngcần quota Ngược lại mặt hàng cần quota có thể cần hoặc không cần visa, tùy theonước xuất xứ.
Tuy nhiên, có visa không có nghĩa là hàng chắc chắn được làm thủ tục nhập vào
Mỹ Nếu hạn ngạch bị hết hạn trong thời gian vận chuyển (tức là giữa thời gian sau khihàng đã được đóng dấu visa ở nước xuất khẩu và thời gian hàng đến Mỹ), thì ngườinhập khẩu ở Mỹ cũng không được làm thủ tục nhận hàng cho đến khi hạn ngạch được
bổ sung hoặc gia hạn lại
Quy định về nhãn mác sản phẩm.
Luật áp dụng chủ yếu về nhãn hàng hóa đối với hàng dệt may nhập khẩu vào
Mỹ là Luật xác định sản phẩm sợi dệt Trừ một số trường hợp ngoại lệ, tất cả các sảnphẩm sợi, dệt khi nhập vào Mỹ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín và ghi nhãnhoặc ghi những thông tin sau: tên riêng các loại sợi và tỷ lệ phần trăm trọng lượng củacác chất sợi trong sản phẩm, tên của nhà sản xuất hoặc tên hay số đăng ký “chứngminh” của một hay nhiều người phụ trách tiếp thị hoặc điều hành sản phẩm sợi dệt do
Ủy ban Thương Mại Liên Bang Hoa Kỳ cấp, tên quốc gia nơi sản phẩm được gia cônghoặc sản xuất Ngoài ra, đối với chuyến hàng sợi, dệt có giá trị trên 500 USD thì trênhóa đơn thương mại phải ghi những thông tin sau: chất liệu sợi hoặc tổng hợp các sợi,xác định theo tên chủng loại cho mỗi loại sợi thiên nhiên hoặc sợi sản xuất (nhân tạo)theo thứ tự tỷ lệ trọng lượng từ thấp đến cao nếu loại sợi đó có trọng lượng từ 5% hoặchơn trong tổng trọng lượng sản phẩm, tỷ lệ trọng lượng của mỗi loại sợi có trong sảnphẩm, tên hoặc đặc điểm nhận dạng khác của nhà sản xuất hoặc cuẩ một hay nhiềungười theo quy định tại phân 3 của Luật xác định sản phẩm sợi dệt được cấp và đăng
ký tại Ủy ban Thương Mại Liên Bang Hoa Kỳ, ký tên của quốc gia gia công hay sảnxuất
Luật xác định sản phẩm sợi dệt cũng qui định các chi tiết như: loại nhãn hànghóa, cách thức gắn, vị trí của nhãn hàng hóa trên sản phẩm và nhãn hiệu trên bao bì
Trang 33Quy định về chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm (ISO, SA 8000, tiêu chuẩn hàng dễ cháy).
Thị trường Mỹ cũng đặt ra hàng loạt những tiêu chuẩn và qui định về chấtlượng sản phẩm nhập khẩu vào Mỹ, phổ biến là tiêu chuẩn chất lượng ISO (9000,14000) Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO đặt ra những chuẩn mực về quản lý chấtlượng sản phẩm nhằm đảm bảo sản phẩm tiêu thụ trên thị trường phù hợp với nhữngquy định được đề cập theo từng chuẩn mực ISO mà doanh nghiệp đã đăng ký chứngnhận Ngoài ra, tiêu chuẩn ISO 14000 còn đưa ra những yêu cầu về môi trường, theo
đó, các doanh nghiệp sản xuất phải đảm bảo tuân thủ những yêu cầu nhất định về môitrường thì sản phẩm được tiêu thụ mới được xem là đảm bảo chất lượng
Quy định về thuế quan.
Thuế quan là biện pháp quản lý nhập khẩu đầu tiên và cơ bản nhất Mọi hànghoá nhập khẩu vào Mỹ sẽ bị đánh thuế hay được miễn thuế theo phân loại trong biểuthuế nhập khẩu HTS của Mỹ Hệ thống phân loại mức thuế này sử dụng một hệ thống
mã số quốc tế tiêu chuẩn gồm 6 chữ số để xác định loại hàng hoá Mặc dù đã thực hiệnviệc giảm mức thuế nhập khẩu theo thoả thuận vòng đàm phán Uruguay và theo xu thế
tự do mậu dịch trên toàn thế giới nhưng Mỹ vẫn là một trong những nước áp dụng mứcthuế nhập khẩu cao đối với nhiều hàng khác nhau trong đó có hàng dệt may Từ saukhi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ chính thức có hiệu lực vào năm 2001, hàng hoáViệt Nam xuất khẩu sang Mỹ được hưởng qui chế tối huệ quốc (MFN), do đó thuế suất
2.4 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu và các nghiên cứu có liên quan 2.4.1 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu.
Thực tế cho thấy, đây là vấn đề quan trọng của đất nước ta, do đó đã có không ítcác bài báo, các luận án, đề tài nghiên cứu về hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ, năng
Trang 34lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may vào thị trường Mỹ nhưng vẫn còn có những hạnchế nhất định, chưa sát với thực tế hiện nay Bên cạnh đó, tình hình thị trường thế giớithay đổi liên tục với nhiều tác động mới, đòi hỏi phải có những nghiên cứu cập nhậttình hình Do vậy, ở đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu cụ thể từng vấn đề, đặt từngvấn đề trong từng hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với tình hình trong nước và trên thế giới,
hi vọng sẽ mang lại kết quả cao nhất
2.4.2 Các nghiên cứu có liên quan.
Đã có một số đề tài nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuấtkhẩu cũng như nghiên cứu về thị trường hàng dệt may Mỹ như các đề tài:
- Lê Đăng Doanh (2002), Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của Việt Nam – Nhân tố quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế,
Báo cao Hội thảo, Tạp chí Cộng sản và Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam, Hà Nội
- Phạm Thu Hương, Đào Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Hồng Hải (2006), Chiến lược vànăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt nam sau khi dỡ bỏ hệthống hạn ngạch dệt may – một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu, Báocáo nghiên cứu Dự án hợp tác nghiên cứu Việt Nam – Đan Mạch
Trang 35Chương III: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu vào
thị trường Mỹ.
3.1 Phương pháp nghiên cứu vấn đề
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong công trìnhnghiên cứu là:
- Phương pháp thu thập dữ liệu, chủ yếu là các dữ liệu thứ cấp trên các websites,giáo trình cũng như các công trình nghiên cứu khoa học, sử dụng các bài báo, tạp chítrong nước, chọn những dữ liệu cần thiết cho đề tài giúp phân tích đúng đắn vấn đề.Thu thập số liệu xuất khẩu hàng dệt may của nước ta vào thị trường Mỹ trong giaiđoạn 2006 – 2011 qua các than Thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia về cácvấn đề một cách chính xác nhất, từ đó giúp đề tài có những ý kiến trên nhiều phươngdiện hơn
- Phương pháp so sánh số liệu, so sánh năng lực cạnh tranh của nước ta với các đốithủ xem mức độ cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam như thế nào đồng thời phântích tổng hợp phù hợp với từng nội dung nghiên cứu của đề tài
3.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ.
3.2.1 Thực trạng khả năng cạnh tranh sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường Mỹ.
3.2.1.1 Khái quát tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
Mỹ từ năm 2006 đến nay.
Kim ngạch xuất khẩu.
Thị trường Mỹ được đánh giá là thị trường xuất khẩu hàng dệt may có tiềmnăng của Việt Nam Như đã phân tích về đặc điểm thị trường hàng dệt may của Mỹ ởtrên, Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng dệt may hết sức khổng lồ (hàng năm Mỹ nhậpkhẩu từ 90 – 95 tỷ USD) Đây thực sự là thị trường cực kỳ hấp dẫn đối với các doanhnghiệp dệt may của Việt Nam khi xuất khẩu các sản phẩm của mình sang thị trườngMỹ
Tuy còn gặp nhiều trở ngại trên con đường thâm nhập vào thị trường Mỹ,
Trang 36năm với một tốc độ tăng trưởng khá cao và dần dần khẳng định được vị trí của mìnhtrên thị trường Mỹ.
Bảng 3.1 : Số liệu xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ giai đoạn 2006-2010.
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước sang Mỹ Nước ta xuất khẩu nhiều loại mặt hàng sang
Mỹ như gỗ, thủy sản, giày dép, nông sản nhưng riêng ngành dệt may đã chiếm khoảng43-44% trong giai đoạn 2006 – 2010 Trong vài năm gần đây, dệt may luôn giữ vị trítop đầu trong các mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ cho thấy vị trí quan trọng của dệt maytrong hoạt động thương mại của Mỹ với Việt Nam
Trang 37Bảng 3.2 : Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn
2006 – 2011
ngạch(triệuUSD)
Tăng giảmtuyệt đối(triệu USD)
Tăng giảmtương đối(%)
Tỷ trọng trong tổng giá trịxuất khẩu hàng dệt may của
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam.
Như ta có thể thấy được, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta sang thịtrường Mỹ trong giai đoạn 2006 – 2011 luôn chiếm trên 50% trong tổng giá trị xuất hàng dệtmay của Việt Nam, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là năm 2007 lên tới 57,6% Do ảnhhưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu làm giảm số lượng đơn đặt hàng dệt may từ nước Mỹvào năm 2009 và 2011, nên năm 2009 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ giảm 111triệu USD hay 2,17% so vs năm 2008 Năm 2011 là năm tỷ trọng trong tổng giá trị hàng dệtmay xuất khẩu sang Mỹ đạt giá trị thấp nhất, chỉ đạt 51,06%
Trang 38Biểu đồ 3.1 : Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn 2006 – 2011.
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam.
Ngay sau khi hiệp định dệt may được dỡ bỏ đến năm 2006, kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ khoảng 3045 triệu USD, chiếm tỷtrọng 53.9% trong tổng giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam Đây có thể coi là mộtkết quả bất ngờ khi ngành dệt may phải đối phó với sự cạnh tranh ngày càng lớn vànhiều hàng rào kỹ thuật mới được dựng lên Sau đó, kim ngạch xuất khẩu tăng mạnhtrong năm 2007, tăng 1420 triệu USD, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu sang
Mỹ năm 2006 Năm 2007, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dệt mayvào Hoa Kỳ nhanh nhất cả về kim ngạch (tăng 34%) và số lượng (tăng 31%) Đây làkết quả của việc Việt Nam gia nhập WTO, trở thành thành viên của WTO, thị trườngnước ta được mở rộng, có thể tự tin hơn khi xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng dệtmay nói riêng vào thị trường này, mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa Việt Nam từ đócũng được tăng cường giúp cho các đơn đặt hàng từ Mỹ tăng cao và cũng hứa hẹn mộtkết quả tốt đẹp về kim ngạch xuất khẩu trong các năm tới
Cho đến năm 2008, mặc dù giá nguyên liệu tăng cao trong những tháng đầunăm cộng với sự suy giảm về kinh tế ở Mỹ, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thịtrường này vẫn tiếp tục đi lên một cách mạnh mẽ so với nhiều nền kinh tế khác trong
Trang 39khu vực và vẫn xuất khẩu được 2,4 tỉ USD kim ngạch sản phẩm dệt may sang thịtrường Mỹ trong 6 tháng đầu năm, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái
Tuy nhiên đến năm 2009 có sự sụt giảm, nguyên nhân có thể do các nhà sảnxuất giảm giá hàng bán để khuyến khích người mua trong điều kiện nhu cầu tiêu thụsụt giảm và do người mua chuyển sang sử dụng các sản phẩm rẻ tiền hơn để cắt giảmchi tiêu trong tình hình kinh tế khó khăn Đến năm 2010, giá trị xuất khẩu dệt may củaViệt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trở lại với tốc độ tăng khoảng 20% do các đơn đặthàng gia công được chuyển dần từ Trung Quốc sang Việt Nam Tại thời điểm này, ViệtNam là nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 3 vào Mỹ và chiếm 5,19% thị phần so với4,71% năm 2009 Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,5% đạt khoảng 6,3 tỷ USD
Sau năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 và 2011 tăng đều mặc dùnước ta cũng phải chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới do kinh nghiệmtrong quản lý tăng cao, kinh nghiệm trong đầu tư phát triển sau nhiều năm xuất khẩusang thị trường này làm cho hiệu quả của hoạt động xuất khẩu được nâng lên, tránhđược những tác động không tốt từ môi trường bên ngoài Tuy nhiên, xét về kim ngạch
cụ thể trong từng tháng thì tình hình xuất khẩu cũng có những biến động thất thường
Trang 40Biểu đồ 3.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ Việt Nam sang Mỹ từ 2009 – 2011theo tháng.
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam.
Theo dõi tình hình xuất khẩu hàng dệt may từ năm 2009 đến 2011 theo cáctháng ta thấy rõ được chu kỳ xuất khầu, thường có xu hướng tăng dần từ quý II hàngnăm và đạt giá trị cao nhất trong quý III Và chu kỳ này cũng được thể hiện khá rõ rệttrong những năm 2006, 2007 và 2008
Trong 11 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may tiếp tụctăng trưởng cao ( gần 15.09% so với cùng kỳ năm ngoái) Theo Hiệp hội dệt may, giáxuất khẩu dệt may tăng cao vào quý III/2011, đến tháng 11 có dấu hiệu suy giảm Đặcbiệt ta có thể thấy được sự sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu vào tháng 3/ 2011 dotại thời điểm đó, tình hình kinh tế, xã hội của Mỹ không được ổn định: giá dầu tăng,thảm họa thiên tai tại Nhật Bản và hàng loạt các thỏa thuận cắt giảm ngân sách
Trong quý 4 năm 2011 kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may đã có dấu hiệusụt giảm, trong đó có thị trường Mỹ Cụ thể, trong tháng 8/2011, kim ngạch xuất khẩuđạt hơn 716 triệu USD thì sang tháng 9/2011 đã giảm chỉ còn hơn 700 triệu USD.Theo ông Trường, những năm trước, chỉ trong quý III các doanh nghiệp dệt may đã cóđược đơn đặt hàng sản xuất đến hết quý IV, tuy nhiên năm 2011, những dấu hiệu khó